1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN việt nam

38 468 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 633,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quản lý đất nước và xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, có thể thấy Nhà nước pháp quyền gắn liền với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật. Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền, là công cụ quản lý của Nhà nước. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền nhân dân. Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta thì phạm vi điều chỉnh của pháp luạt ngày càng được mở rộng, vai trò của nó ngày càng được nâng cao, và không ngừng được củng cố, hoàn thiện, những điều này được thể hiện rõ trong các bản Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và gần đây nhất là bản Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian qua đã và đang xuất hiện những vấn đề hết sức phức tạp cần làm sáng tỏ và nỗ lực cao mới có thể giải quyết được. Giải quyết những vấn đề này là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Một số kiến nghị hoàn nhằm thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Một trong những yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quản lý đất nước và xã hội bằng pháp luật Vì vậy, có thể thấy Nhà nước pháp quyền gắn liền với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền, là công cụ quản lý của Nhà nước Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền nhân dân Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta thì phạm vi điều chỉnh của pháp luạt ngày càng được mở rộng, vai trò của nó ngày càng được nâng cao, và không ngừng được củng cố, hoàn thiện, những điều này được thể hiện rõ trong các bản Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và gần đây nhất là bản Hiến pháp năm 2013

Tuy nhiên, trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thời gian qua đã và đang xuất hiện những vấn đề hết sức phức tạp cần làm sáng tỏ và nỗ lực cao mới có thể giải quyết được Giải quyết những vấn đề này là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Một số kiến nghị hoàn nhằm thiện Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả thông qua viết đề tài, đã tìm hiểu, nghiên cứu điểm được và chưa được trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tình hình hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là các phương pháp nghiên cứu luật học như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học

4 Bố cục đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành hai chương:

Trang 2

Chương 1: Khái quát chung về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

Chương 2: Thực trạng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Trang 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền

1.1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, đó chỉ là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, một cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ Đó là một tổ chức công quyền được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhằm đưa lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội công dân, thông qua hệ thống các thể chế và yêu cầu dân chủ như đề cao chủ quyền nhân dân; có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước khoa học và hiệu quả; dân chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội…

1.1.2 Những đặc điểm của nhà nước pháp quyền

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của nhà nước pháp quyền, có th ể nêu những đặc điểm về nhà nước pháp quyền như sau:

- Nhà nước pháp quyền luôn đề cao chủ quyền của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

- Nhà nước pháp quyền đề cao hiến pháp và tính tối cao của hiến pháp

- Trong nhà nước pháp quyền pháp chế luôn được tăng cường

- Luật chiếm vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội

- Trong nhà nước pháp quyền con người là giá trị cao quý nhất, do đó sự phát triển của cá nhân con người là mục tiêu cao cả nhất

- Trong nhà nước pháp quyền, cơ chế tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước cần có sự phân công một cách rành mạch giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm soát về mặt nhà nước và xã hội trong việc thực hiện các quyền lực đó

- Giải quyết hợp lý mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân

- Dân chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội

1.2 Khái niệm và những đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 1.2.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” 1

1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013

Trang 4

Như vậy, nói tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nói tới một phương thức tổ chức nền chính trị xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà mục đích không ngừng duy trì bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm cho nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành.

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta có các đặc điểm cơ bản sau:

Đặc điểm thứ nhất: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước

của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân

Đặc điểm thứ hai: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và

hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp

Đặc điểm thứ ba: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội

bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội

Đặc điểm thứ tư: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và

bảo vệ quyền con người, các quyền tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ giữa nhà nước và công dân, giữa nhà nước và xã hội

Đặc điểm thứ năm: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm

quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước

Đặc điểm thứ sáu: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà

nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

1.2.3 Sự giống nhau và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và nhà nước pháp quyền tư sản

Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Trong khi đó, pháp luật bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc;

do đó, sẽ không có mô hình chung, những tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền cho tất

cả các nước khác nhau Bản chất của mỗi nhà nước pháp quyền phụ thuộc vào bản chất chế

độ xã hội, hệ thống quan điểm, mục đích, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của mỗi nước.

Trong lịch sử đã tồn tại hai loại hình nhà nước pháp quyền cơ bản Đó là Nhà nước pháp quyền tư sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Do có sự khác nhau về bản chất xã hội, nên hai loại nhà nước này khác nhau về chất Sự khác nhau đó thể hiện ở chỗ Trên cơ sở các tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền, chúng ta có thể nhận thấy tương đối rố ràng sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản.

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản đều thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định Tuy nhiên, bản chất

và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm khác

Trang 5

nhau rất cơ bản Sự khác biệt này thể hiện trong các quy phạm của hiến pháp và pháp luật về tố chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của bộ máy quyền lực Nhà nước như: Quốc hội và Nghị viện; Tống thống và Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Toà án, Toà án Hiến pháp, v.v Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra

các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ ) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu

của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính phủ hoặc tổ chức

ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới Trong khi đó, hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ

Thứ hai, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải thừa nhận

tính tối cao của pháp luật, mọi người phải sống và làm theo phap luật kể cả Nhà nước cũng tuân theo pháp luật vì pháp luật xâ hội chủ nghĩa thê hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Trái lại, trong nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, lợi ích của một bộ phận nhân dân, đó là giai cấp tư sản Nói cách khác, luật pháp của nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động - những người bị áp bức bóc lột Đây là nội dung khác biệt cơ bản nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản.

Thứ ba, nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là học thuyết cơ bản trong

việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan có chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền này Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, và phát huy hiệu lực cao nhất.

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN TAY

2.1 Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

2.1.1 Thực trạng về việc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp

Cùng với nguyên tắc dân chủ XHCN và chủ quyền nhân dân, nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 còn thể chế hóa một nguyên tắc chủ đạo nữa về tổ chức quyền lực nhà nước Đó là nguyên tắc về tính thống nhất, sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước

Tại lần sửa đổi vào năm 2001, Hiến pháp nước ta đã bổ sung một nguyên tắc rất

quan trọng của cơ chế quyền lực nhà nước: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân

công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2) Từ yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước

pháp quyền XHCN, Đại hội XI của Đảng năm 2011 đã bổ sung nội dung kiểm soát quyền

lực vào thành một yếu tố mới của cơ chế quyền lực nhà nước ở nước ta.

Tuy nhiên, việc hiến định tính chất, nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ đó đến nay chưa có những quy định về các yếu tố của cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước

Hiến pháp năm 2013 đã tiến thêm một bước mới nhằm tạo ra những yếu tố như vậy Theo đó: xác định rõ ba bộ phận của quyền lực nhà nước với những thiết chế thực hiện các

quyền đó: Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực

hiện quyền hành pháp; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Chính quyền địa

phương là chế định được thay cho các thiết chế HĐND và UBND trong Hiến pháp hiện hành; hai thiết thế hiến định độc lập mới ra đời là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước

Đáng chú ý, thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp với quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về sứ mệnh và vị trí của các cơ quan tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra những cơ sở pháp lý mới cao nhất

về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp

Trang 7

Khi bàn về cơ chế phân công và phối hợp quyền lực, không thể không nói đến những giới hạn của các bộ phận quyền lực nhà nước và nguyên tắc quan hệ qua lại về thẩm quyền Từ góc độ đó, có thể thấy một vài vấn đề sau đây cần được tiếp tục làm rõ.

Có thể thấy rằng, trong nhiều năm qua, một số đạo luật được ban hành nhưng hiệu lực thi hành còn thấp và khó đi vào cuộc sống, phải sửa đổi bổ sung nhiều lần trong một thời gian ngắn Vì thế, nhiều nội dung điều chỉnh của Luật đã phải dựa vào cơ chế ủy quyền lập pháp, đã chuyển cho Chính phủ và các bộ, các ngành quy định trong các văn bản quy phạm khác, trong khi chúng ta chưa thực sự có một cơ chế ủy quyền lập pháp đúng nghĩa

Thêm vào đó, cơ chế kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật qua nhiều năm vẫn chưa thật sự hình thành rõ nét và có hiệu quả Tất cả những yếu tố đó phần nào đã vô hiệu trên thực tế khả năng kiểm soát quyền lực trên bình diện lập pháp mặc dù Hiến pháp đã quy định thẩm quyền của QH là giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của QH, bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch Nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của QH (Điều 70)

Khi nói đến Chính phủ, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định Chính phủ là cơ

quan chấp hành của Quốc hội song song với quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Điều 94) Chính phủ là cơ quan

có quyền chủ động về mặt hiến định trong việc hoạch định chính sách trên cơ sở pháp luật

và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước Hiến pháp và pháp luật

Trong lĩnh vực lập pháp, sự phối hợp giữa Quốc hội với Chính phủ ở nước ta thường được lý giải bởi con số các dự án luật do Chính phủ trình Quốc hội Hiện nay, trên 90% các dự án luật, pháp lệnh là do Chính phủ trình Quốc hội, UBTVQH Sự phối hợp trong hoạt động lập pháp là điều kiện quan trọng để Chính phủ có thể chủ động đề xuất chính sách, đưa chính sách lên thành luật Đây cũng là con đường quan trọng để Quốc hội

có thể đứng trên lập trường của cơ quan đại diện cho nhân dân kiểm tra hoạt động của Chính phủ, kiểm tra định hướng hành động và sự thể hiện trách nhiệm và năng lực của cơ quan hành pháp trước nhân dân

Hiến pháp năm 2013 cũng đã có những bổ sung quan trọng bảo đảm vị thế và tính độc lập của hoạt động tư pháp - một yêu cầu không thể thiếu được trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực ở nước ta

Theo các quy định trước đây, chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của tất cả các Thẩm phán đều do pháp luật quy định Theo quy định mới của Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch Nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán TANDTC trên cơ

sở Nghị quyết phê chuẩn của QH và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó chánh án

Trang 8

TANDTC và Thẩm phán các tòa án khác (khoản 7 Điều 70 và khoản 3 Điều 88, Hiến pháp năm 2013).

Điểm mới và nổi bật của Hiến pháp năm 2013 là sự ra đời của hai thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng Bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước Rồi đây, các quy định của Chương X của Hiến pháp sẽ được các đạo luật cụ thể hóa Vì vậy, nhất thiết phải bàn đến nguyên tắc tổ chức của hoạt động đặc thù của các thiết chế hiến định độc lập này Tuân theo lý thuyết về tính chất của kiểm soát quyền lực, cơ chế kiểm soát nội tại nhất thiết phải được hỗ trợ bởi những cơ chế kiểm soát quyền lực từ phía ngoài có tính độc lập cao nhằm bảo đảm sự khách quan và tạo sự thống nhất, phối hợp của quyền lực nhà nước Các thiết chế hiến định độc lập cần có năng lực pháp lý cao trong việc thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, tạo mối liên hệ phối thuộc với các thiết chế cơ bản của bộ máy nhà nước và bảo đảm để các thiết chế cơ bản này vận hành có hiệu quả Cần giới hạn thẩm quyền của các thiết chế hiến định độc lập, bảo đảm để sự giám sát của các thiết chế này không cản trở hay can thiệp vào chức năng và thẩm quyền của các thiết chế quyền lực nhà nước

2.1.2 Thực trạng về tính tối thượng của Hiến pháp

Hoạt động bảo hiến ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước coi trọng, bởi vì bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội chính là bảo vệ đường lối của Đảng, góp phần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Gắn liền với sự ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, hoạt động bảo vệ Hiến pháp tiếp tục được ghi nhận trong Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 với quy định tại

khoản 3 Điều 4: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Namhoạt động

trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.” và khoản 1 Điều 8: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”

Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp 2013, vấn đề giám sát và bảo vệ Hiến pháp được quy định trong nhiều đạo luật quan trọng như Luật Tổ chức Quốc hội (năm 2001), Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (năm 2003), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Theo những quy định này, hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam về cơ bản gồm việc giám sát hoạt động của

cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; giám sát văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế; giải thích Hiến pháp; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; v.v Trách nhiệm giám sát và bảo vệ Hiến pháp được trao cho nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là cơ quan quyền lực nhà nước, Chủ tịch nước, các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp Trong đó, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của

Trang 9

Nhà nước, Quốc hội là trung tâm của thiết chế bảo hiến ở Việt Nam Giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực nhà nước, hướng tới mọi đối tượng, mọi chủ thể trong xã hội và bao trùm tất cả các lĩnh vực, các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp Kết quả của hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp trong thời gian qua đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm để các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phù hợp với Hiến pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp theo các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế Cụ thể:

Một là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan nhà nước,

cá nhân có thẩm quyền mà không giao cho một cơ quan chuyên trách có chức năng bảo vệ Hiến pháp Điều này dẫn đến tình trạng không xác định rõ phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nên hoặc là đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo trong thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp;

Hai là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp theo cơ chế hiện hành chủ yếu dựa vào

việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, trong khi đó giám sát tối cao của Quốc hội phụ thuộc vào các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Vì thế không tránh khỏi

sự ỷ lại trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo hiến;

Ba là, chúng ta chưa có một cơ chế hữu hiệu nào để giám sát chính hoạt động của

Quốc hội và giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành cũng như việc giải quyết và hệ quả pháp lý trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội

có dấu hiệu trái với Hiến pháp Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy

định “theo đề nghị của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các

Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp” Tuy nhiên, cho đến nay, Quốc hội vẫn chưa bãi bỏ một văn bản luật,

nghị quyết nào của mình với lý do văn bản đó trái Hiến pháp, mặc dù việc sửa đổi, bổ sung luật diễn ra liên tục hàng năm;

Bốn là, thẩm quyền huỷ bỏ, đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong thực tiễn hầu như chưa được áp dụng Hình thức kiến nghị thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự đem lại hiệu quả vì pháp luật chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục xử lý văn bản trái pháp luật;

Trang 10

Năm là, Hiến pháp Việt Nam không có hiệu lực áp dụng trực tiếp Các cơ quan, tổ

chức khi áp dụng pháp luật thường không viện dẫn quy định của Hiến pháp để giải quyết một vụ việc cụ thể, người dân cũng ít khi viện dẫn điều khoản của Hiến pháp để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi khởi kiện hoặc khiếu nại;

Sáu là, các quy định của pháp luật về giám sát và bảo vệ Hiến pháp còn thiếu, một

số lĩnh vực còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Hơn nữa, những quy định này lại nằm rải rác trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, từ Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến nội quy, quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội… Điều này phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp

Từ những hạn chế, bất cập trong việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp trên đây cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu để đề xuất giải pháp hữu hiệu phục vụ việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bởi vì, mục đích của Nhà nước pháp quyền là bảo

vệ các quyền của công dân được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong khi đó, cơ chế bảo hiến lại chính là bảo đảm để các quyền của công dân không bị vi phạm từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và là bảo đảm để mọi chủ thể phải chấp hành Hiến pháp và

pháp luật

2.1.3 Thực trạng về quyền con người ở nước ta hiện nay

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua

Về mặt nhận thức, cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn đề quyền con người cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng Hiến pháp năm 1992 (Điều

50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: “ở nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và

xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp

và luật” Và đến Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” Cùng với

khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ

nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn

Trang 11

bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước Điều đó cũng đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm quyền con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị, mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tố không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại.

Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, so với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013

đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 14 Hiến pháp năm 2013) cũng như bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực Xét trên lĩnh vực dân sự, chính trị, trong Hiến pháp 1992, và Hiến pháp hiện hành Hiến pháp năm

2013 có 5 quyền quan trọng về quyền con người, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm

cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị của công dân, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua một số Pháp lệnh có liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu

là Bộ Luật Hình sự 1999; Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003; Bộ Luật Dân sự 2005; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014); Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 Gần đây nhất, Quốc hội đang nghiên cứu dự thảo luật lấy phiếu tín nhiệm và luật biểu tình, nếu được thông qua sẽ là bổ sung pháp lý quan trọng để bảo đảm các quyền dân sự

Nội dung đảm bảo quyền dân sự – chính trị ở nước ta được thể hiện một cách cụ thể:

- Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân: Bình đẳng trong bầu cử,

ứng cử, tự ứng cử; bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và nhiều

Trang 12

dạng quan hệ dân sự khác, đặc biệt là bình đẳng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh; bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học – công nghệ như quyền được học tập của công dân, quyền nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của mọi công dân.

- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, cụ thể: ngăn ngừa những hành vi

xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người (trong đó kể cả những bị can, bị cáo và những phạm nhân đang thi hành án phạt tù)…

Ví dụ: khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm

phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nàokhác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

- Bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị khác: Quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Ví dụ: Điều 24 hiến pháp năm 2013:

“- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

- Nhà nước tôn trọng và bảo hộquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.”

- Bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, Nhà nước đã ban hành các văn bản luật quan trọng như: Hiến pháp năm 2013,

Bộ luật dân sự 2005, luật giáo dục năm 2005, Bộ luật lao động năm 2012…

Nội dung bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được cụ thể trong các quyền tiêu biểu nhất:

- Bảo đảm quyền làm việc: ở nước ta, quyền làm việc được ghi nhận trong các bản

Hiến pháp và được Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn

nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.” ( khoản 1 Điều 35).

- Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục: Ngay từ khi mới giành được độc lập,

Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân Quan

điểm này được thể chế hóa trong Điều 35 Hiến pháp năm 1992: “Giáo dục và đào tạo là

quốc sách hàng đầu”, khoản 1 Điều 61 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.” Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với giáo dục

của nhân dân trong thời kỳ mới

Trang 13

- Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế: Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ

bao cấp hoàn toàn của Nhà nước sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, thực hiện chế độ BHYT, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe Sự chuyển đổi này không có nghĩa là Nhà nước giảm bớt sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế của nhân dân, mà ngược lại, Nhà nước vẫn thừa nhận và nỗ lực bảo đảm quyền này, nhưng theo một cách thức phù hợp và hiệu quả hơn

- Quyền được bảo đảm xã hội: Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy

định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” Ban hành Luật BHXH (2006), hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 1/1/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 đối với bảo hiểm thất nghiệp

Mặc dù về cơ bản, pháp luật nước ta không mâu thuẫn với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và việc bảo đảm các quyền con người trên thực tế là phù hợp, thậm chí ở mức tiến bộ, so với thông lệ quốc tế; tuy nhiên, trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại nhất định

- Về nhận thức của cán bộ, công chức: Thực tế cho thấy, hiểu biết về nhân quyền ở

nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp Sự hạn chế như vậy có nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền

- Sự tham gia của các cơ quan thông tin đại chúng trong hoạt động tuyên truyền và đấu tranh chống vi phạm nhân quyền: Các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hiện

nay chủ yếu đề cập đến vấn đề nhân quyền dưới dạng phê phán sự xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để chống phá ta của các thế lực phản động, thù địch Nhân quyền được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn đề nhân quyền trong nước được đề cập một cách trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Cơ chế bảo đảm nhân quyền chưa hiệu quả: Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ

quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; chưa có một quy chế chặt chẽ trong việc xử lý các tố cáo và vi phạm nhân quyền

- Sự thiếu hụt các nguồn vật chất bảo đảm: Mặc dù đòi hỏi ở mức độ khác nhau,

song việc bảo đảm bất cứ quyền con người nào cũng không thể tách rời các điều kiện vật chất Do những khó khăn về kinh tế, ở nước ta hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc, giải quyết việc làm cho các đối tượng: những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người làm mại dâm, những người vi phạm pháp luật sau khi mãn hạn tù…

Trang 14

2.1.4 Thực trạng hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay

- Tính toàn diện của hệ thống pháp luật

Bên cạnh những mặt làm được, tính toàn diện của hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay ở nước ta vẫn còn hạn chế, bất cập, biểu hiện cụ thể là:

+ Việc thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm

2010, định hướng tới năm 2020 còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một số lĩnh vực mới chưa được ban hành kịp thời

+ Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn tình trạng chưa toàn diện về mặt nội dung

- Tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật

Sau hơn 60 năm hoạt động xây dựng pháp luật và hơn 20 năm đổi mới, đang từng bước hoàn thiện xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động xây dựng văn bản pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu tốt đẹp, đáng khích lệ Việc xây dựng

hệ thống pháp luật dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn bộc lộ nhiều thiếu sót, tồn tại; nhiều văn bản pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ, thể hiện:

+ Văn bản pháp luật có nội dung mâu thuẫn, không thống nhất, thiếu đồng bộ

+ Về hình thức của các văn bản pháp luật vẫn chưa thống nhất đồng bộ

- Tính phù hợp (ổn định) của hệ thống pháp luật

Thực tiễn hệ thống pháp luật trong thời gian qua đã từng bước hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, thể hiện rõ nét ở các lĩnh vực cơ bản: Lĩnh vực dân sự, kinh tế; lĩnh vực khoa học và công nghệ; lĩnh vực tài chính, tài chính công; lĩnh vực lao động và an sinh xã hội:

Vẫn còn những điểm bất cập như:

+ Pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước trong bản thân nó còn có những "mảng trống" Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ chưa được cụ thể hóa trong các đạo luật, nhất là trong các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như đất đai, xây dựng, ngân hàng, tiền tệ

+ Lĩnh vực dân sự kinh tế: trong xây dựng pháp luật, những giằng co và lẫn lộn giữa những quan niệm chính trị, ý thức hệ và nguyên tắc pháp lý đã dẫn tới những quy định chưa phù hợp thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Trong lĩnh vực lao động và an sinh xã hội: thể chế đảm bảo tính công bằng xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được hoàn thiện

+ Lĩnh vực khoa học và công nghệ: pháp luật về khoa học và công nghệ chưa tạo ra đầy đủ cơ chế chính sách về sự gắn gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu, đào tạo và sản

Trang 15

xuất, kinh doanh; hiệu quả ứng dụng các công trình khoa học thấp; thiếu chính sách và biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ.

+ Pháp luật trong lĩnh vực tài chính, tài chính công: chưa có cơ chế đảm bảo vai trò độc lập của Ngân hàng Nhà nước; Luật ngân hàng Nhà nước chưa có các thiết chế đủ mạnh

để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của Chính phủ đối với các quyết định của Ngân hàng nhà nước, ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ quốc gia Các cơ chế kiểm soát các khoản vay

nợ nước ngoài và chi tiêu ngoài ngân sách còn thiếu hiệu quả, trên thực tế, Chính phủ bảo lãnh cho nhiều doanh nghiệp nhà nước vay vốn (ví dụ, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam)…

- Tính áp dụng pháp luật

Hiện nay, trong quá trình áp dụng pháp luật tuy đã có nhiều tiến bộ song cũng còn không ít tồn tại, hạn chế Để đánh giá tồn tại, hạn chế trong thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay, cần đánh giá trên các lĩnh vực chủ yếu và những nội dung cơ bản, cụ thể:

Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực dân sự, thương mại cũng còn nhiều bất cập như: việc áp dụng Điều 677, điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 về vấn đề thừa kế Việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án

2.1.5 Một số yếu kém còn tồn tại trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

- Bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý, điều hành chưa cao; kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước ta

- Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới; chưa phát huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường Đất đai, vốn và tài sản nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, sử dụng lãng phí và thất thoát nghiêm trọng

- Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có

Trang 16

những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, phân cấp trung ương - địa phương còn một số mặt chưa cụ thể (như về quản lý đầu tư, tài chính, tổ chức bộ máy, kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ ), làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ chậm được khắc phục.

- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước vẫn còn tình trạng buông lỏng và bao biện, chống chéo nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy nhà nước

Có nhiều nguyên nhân gây nên những yếu kém của hệ thống chính trị, của bộ máy nhà nước, trong đó chủ yếu là:

- Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm

- Đảng chưa làm tốt việc lãnh đạo cụ thể hoá nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nước để có chủ trương kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn đổi mới, đặc biệt là những vấn đề nổi lên ngày càng bức xúc như tình trạng quan liêu, lãng phí, tham nhũng, thiếu trách nhiệm trong bộ máy nhà nước; thiếu những biện pháp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương kiên quyết, hợp lý và đủ mạnh để tạo chuyển biến tích cực nhằm khắc phục những khuyết điểm, yếu kém

- Chưa kịp thời tổng kết thực tiễn và còn thiếu cơ sở khoa học khi quyết định một số chủ trương về sắp xếp điều chỉnh tổ chức bộ máy ở trung ương và địa phương nên khi thực hiện có vướng mắc, hiệu quả và tác dụng còn hạn chế

- Các cơ quan nhà nước chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm trong việc quán triệt và

tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; trong việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn, bảo đảm sự trong sạch và nâng cao hiệu quả hoạt động ở từng cơ quan, đơn vị

Các đoàn thể quần chúng chưa chú trọng xây dựng các nội dung cụ thể, thiết thực

và đổi mới phương thức hoạt động để tổ chức vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ trong việc tham gia xây dựng chính quyền, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

ở nước ta hiện nay

Với thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, người viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tình hình hiện nay:

Trang 17

2.2.1 Giải pháp hoàn thiện việc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp

Để hoàn thiện việc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, người viết đề xuất một số kiến nghị sau:

+ Nên tăng cường thêm quyền lực cho Chủ tịch nước trong lĩnh vực hành pháp, nhất

là vấn đề liên quan đến nhân sự hoặc hoạt động của chính phủ đe dẫn dắt quốc gia vững bước trên con đường phát triển

+ Xác định rõ chức năng, thẩm quyền nghĩa vụ pháp lý của những người đứng đầu

cơ quan nhà nước tránh tình trạng quyền lợi cá nhân hưởng, trách nhiệm thuộc về tập thể

+ Quy định quyền phủ quyết luật của Quốc hội cho chủ tịch nước, đe tăng thêm trách nhiệm của Chủ tịch nước trong làm luật

+ Không ai có quyền đồng thời là thành viên của chính phủ, quốc hội tránh sự chồng chéo, hiệu quả công việc cao hơn

+ Hiến pháp nên quy định: “Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của nước CHXHCNVN”, đảm bảo sự phân công giữa hành pháp và lập pháp giúp chính phủ tập trung các quyền hành pháp

+ Chính phủ nên có bộ máy giúp việc phân tích khoa học tu- vấn như các nhà khoa học

+ Cần xác định rõ ràng hơn bộ, ngành, cơ quan ngang bộ

+ Nên thành lập toà án có thẩm quyền xét xử chung tất cả các lĩnh vực làm cho toà

án gọn nhẹ, có hiệu quả, tránh chồng chéo về thâm quyền

+ Chuyên đơn thư khiếu nại của công dân trong cơ quan hành pháp sang tư pháp giúp phân biệt hành pháp và tư pháp

Trang 18

+ Qui định rõ quyền hạn, nghĩa vụ vai trò, trình độ của Hội đồng nhân dân, tiêu chuân hoá đội ngũ này, quy định cơ quan hội thâm nhân dân.

+ Tăng cường giám sát các cơ quan đại diện, Viện kiêm soát đối với hoạt động và chi tiết khi điều kiện thay đôi chỉ thêm điều khoản mà không cần thay đôi toàn bộ, đảm bảo tính lâu dài của Hiến pháp

+ Tạo ra cơ chế tự kiêm tra, kiêm tra lẫn nhau giữa các cơ quan nhờ đó xác định được trách nhiệm, năng lực, phâm chất của mỗi cá nhân, phát hiện loại trừ những người kém năng lực, phâm chất, làm trong sạch vững mạnh bộ máy nhà nước

2.2.2 Giải pháp đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp

Qua nghiên cứu cơ chế bảo hiến của các nước trên thế giới và cơ chế bảo hiến ở Việt Nam thấy rằng, không có một mô hình cơ chế bảo hiến chung nào để áp dụng cho tất

cả các quốc gia, cả về hình thức và phương thức thực hiện, cả về tính chất và giá trị pháp lý của phán quyết của cơ quan có chức năng bảo vệ Hiến pháp Chúng tôi cho rằng, việc tìm kiếm mô hình nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở nước ta phải dựa trên những nguyên tắc

cơ bản sau đây:

Một là, việc hoàn thiện cơ chế bảo hiến phải quán triệt và phù hợp với những đặc

điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong đó, những đặc điểm quan trọng nhất là: tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công rành mạch

và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đề cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ đồng thời với tăng cường kỷ cương, kỷ luật; bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; bảo đảm sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

Hai là, kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng về hoàn thiện cơ chế

giám sát và bảo vệ Hiến pháp, thực hiện chủ trương đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Xây dựng cơ chế phán quyết về những

vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” Vì vậy, giám sát và

bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong việc điều chỉnh các quan

hệ xã hội chính là bảo vệ đường lối của Đảng, góp phần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Và như vậy, việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng chính

là góp phần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội;

Ba là, việc hoàn thiện cơ chế bảo hiến phải dựa trên cơ sở kế thừa, phát huy những

ưu điểm của cơ chế bảo hiến hiện hành, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài để tìm ra cách thức, biện pháp bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của nước ta

Trên cơ sở kế thừa, phát triển những ưu điểm của cơ chế bảo hiến hiện hành và tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Việt Nam có thể thiết lập một mô hình bảo hiến đặc trưng của mình, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước Mô hình cơ quan bảo hiến chuyên trách (được gọi là Toà án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến) với chức năng giám sát và bảo vệ Hiến pháp là một trong những thiết chế bảo vệ

Trang 19

Hiến pháp khá hiệu quả, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Để làm việc này, cần nghiên cứu cụ thể, có hệ thống các vấn đề như vị trí, tính chất của cơ quan bảo hiến và mối quan hệ giữa cơ quan này với Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan bảo hiến; cơ cấu tổ chức của cơ quan bảo hiến; thành viên của cơ quan bảo hiến; trình tự, thủ tục hoạt động của cơ quan bảo hiến; phương thức hoạt động của cơ quan bảo hiến; hiệu lực pháp lý của các phán quyết của cơ quan bảo hiến, Cụ thể:

- Vị trí, tính chất của cơ quan bảo hiến

Cơ quan bảo hiến chuyên trách có thể được gọi là Toà án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến Chức năng của cơ quan bảo hiến là giám sát và bảo vệ Hiến pháp, trong đó chủ yếu là giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của các cơ quan công quyền, cán bộ, công chức nhà nước Chính vì vậy, cơ quan bảo hiến phải có vị trí độc lập trong mối quan hệ với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Cơ quan này do Quốc hội thành lập nhưng lại không thuộc Quốc hội, cơ quan hành pháp hoặc tư pháp Chỉ trên cơ sở bảo đảm vị trí độc lập của cơ quan bảo hiến mới ràng buộc, thúc đẩy trách nhiệm

và bảo đảm tính khách quan của cơ quan này trong hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp Cơ quan bảo hiến chuyên trách vừa có tính chất tư pháp (xem xét, phán quyết văn bản trái Hiến pháp và hành vi vi hiến), vừa có tính chất chính trị, tham vấn (kiến nghị biện pháp nhằm bảo đảm cho các văn bản của Quốc hội, các cơ quan nhà nước khác ban hành phù hợp với Hiến pháp)

- Thẩm quyền và phương thức hoạt động của cơ quan bảo hiến

Để cơ quan bảo hiến hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, cần trao cho cơ quan này một

số thẩm quyền sau đây:

+ Xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật;

+ Xem xét tính hợp hiến của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập;+ Giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền xâm phạm đến quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Khi bất cứ quyền cơ bản nào của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp bị vi phạm từ phía cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền, công dân có quyền khiếu nại đến cơ quan bảo hiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp hiến của mình Tuy nhiên, cần có một trình tự, thủ tục đặc biệt để không phải mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều có thể khiếu nại đến cơ quan bảo hiến, biến cơ quan này thành “túi đựng” cho mọi cuộc kiện tụng;

+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, bảo đảm để các cơ quan này hành xử theo đúng giới hạn thẩm quyền đã được Hiến pháp và luật phân định; tạo sự cân bằng trong tổ chức và hoạt động, tránh sự lạm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương;

+ Xem xét tính hợp hiến của cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Cơ quan bảo hiến không có quyền xem xét lại kết quả của cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, nhưng có quyền xem xét, đánh giá tính hợp hiến trong việc áp dụng thủ tục trưng cầu ý dân, bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Bất kỳ một cuộc trưng cầu ý dân hay cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nào đều có thể bị cơ quan bảo hiến tuyên bố

vi hiến nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục mà pháp luật đã quy định;

+ Giải thích Hiến pháp là một thẩm quyền quan trọng của cơ quan bảo hiến nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định của Hiến pháp trên thực tế Nhu cầu giải thích Hiến pháp được đặt ra khi quy định của Hiến pháp không được hiểu một cách thống

Ngày đăng: 12/05/2016, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w