Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đến Bộ luật dân sự 2005, chế định thừa kế có yếu tố nước ngoài đã được quy định trong hai điều luật, đó là Điều 767 và Điều 768 lần đầu tiên pháp luật dân sự của nước ta đã đưa quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài và vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài vào Bộ luật dân sự thành các điều luật cụ thể. Với những lý do vừa nêu người viết chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhânngười đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sởhữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân Nhữngquyền ấy luôn được pháp luật của nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và bảo vệ Ngàynay, do quá trình hợp tác, mở rộng quan hệ, hội nhập quốc tế, giao lưu với các nước diễn ra ngàycàng mạnh mẽ, đa dạng nên quan hệ thừa kế cũng không ngừng phát triển và hình thành nên quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Ở nước ta, từ năm 1945 đến nay pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phùhợp với các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), theo đó quyền và lợi ích về tài sản củacông dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Lịch sử đã cho thấy rằng, quyền thừa kế nói chung và quyền thừa kế theo pháp luật nói riêngcủa công dân Việt Nam có sự biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vàothành quả phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ và được mở rộng tương ứng với quanđiểm, cách nhìn nhận đúng đắn hơn đối với mối quan hệ giữa người có tài sản để lại và nhữngngười thừa kế
Trên thế giới nói chung, chế định thừa kế là một trong những chế định quan trọng củapháp luật dân sự các nước Trong tư pháp quốc tế nó vẫn giữ nguyên vai trò của nó nhưngđược nhìn nhận với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi: ít nhất một trong các bên để lạithừa kế hoặc bên nhận thừa kế là người nước ngoài hoặc thường trú ở nước ngoài; tài sản thừa
kế tồn tại ở nước ngoài; di chúc được lập ở nước ngoài Hội nhập vào sự phát triển chung củanền kinh tế - xã hội thế giới, pháp luật Việt Nam cũng từng bước phát triển về các vấn đề dân sự
có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng Bộ luật dân sự
1995 ra đời và ghi nhận một loạt các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các vấn đề dân sự có yếu
tố nước ngoài, làm tiền đề quan trọng cho việc xây dựng nên các quy định điều chỉnh về quan hệthừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoàinói riêng
Đến Bộ luật dân sự 2005, chế định thừa kế có yếu tố nước ngoài đã được quy định tronghai điều luật, đó là Điều 767 và Điều 768 lần đầu tiên pháp luật dân sự của nước ta đã đưa quy
Trang 2định về thừa kế có yếu tố nước ngoài và vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài vào
Bộ luật dân sự thành các điều luật cụ thể Với những lý do vừa nêu người viết chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
có yếu tố nước ngoài; phương pháp điều chỉnh và nguồn của luật điều chỉnh về quan hệ thừa
kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài; nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quan hệthừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, người viết còn phân tích các vấn đề vềthừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005như: Di sản có người thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài; di sản không người thừa kếtrong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài; phân chia di sản thừa kế trong quan
hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài; thừa kế thế vị trong quan hệ thừa kế theo phápluật có yếu tố nước ngoài; thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật có yếu
tố nước ngoài Qua đó, người viết cũng tìm hiểu một số thực trạng và hướng hoàn thiện vềquan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu đề tài này người viết muốn làm rõ các khái niệm và đặc điểmcủa quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, phân tích các quy định của pháp luậtViệt Nam về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, tìm hiểu những vướng mắccủa pháp luật hiện hành về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài qua đó đưa ra một sốgiải pháp, kiến nghị của bản thân để góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được người viết nghiên cứu bằng các phương pháp như: phương pháp phântích luật học; phương pháp phân tích - so sánh; phương pháp khảo sát, phương pháp tổng hợp;phương pháp trích dẫn, nhằm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh vềquan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài mà cụ thể là thừa kế theo pháp luật có yếu tố nướcngoài
Trang 3Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu
tố nước ngoài
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm về quan hệ thừa kế theo pháp luật và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm về quan hệ thừa kế theo pháp luật
Trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọngtrong các chế định pháp luật là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân.Ngay trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy với nền sản xuất đơn giản lao động chân tay chủ yếu
là săn bắt và hái lượm thì các quan hệ về sở hữu cũng bắt đầu xuất hiện Quá trình sản xuất racủa cải vật chất bắt đầu xuất hiện việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội đó là tiền đề đầutiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế Ngay trong thời kỳ này, các bộ lạc, thị tộc theo chế độmẩu quyền, khi một người phụ nữ chết thì tài sản của người đó sẽ được trao lại cho nhữngngười bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết thống với người mẹ1
Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sốngđược tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng
bộ lạc, thị tộc quyết định Như vậy, ta có thể thấy thừa kế là một phạm trù kinh tế, nó có mầmmóng và xuất hiện từ xa xưa, khi xã hội loài người bắt đầu xuất hiện sự chiếm hữu vật chất.Quan hệ thừa kế và quan hệ sỡ hữu có mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau, chúng xuấthiện cùng nhau và cùng phát triển với sự phát triển của xã hội loài người
Theo quan điểm của Ăng-ghen: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống”, Thông qua các quy định về thừa kế, ta có thể định nghĩa thừa kế như
sau: Thừa kế là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh sự chuyển lại tài sản của người đãchết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Thừa kế di sản theo quan
hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổchức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế có quyền trở thành chủ sở hữu của tài sản theo dichúc hoặc theo pháp luật Sự chuyển dịch di sản của người chết sang người sống được thựchiện bởi hai căn cứ: Nếu căn cứ theo ý chí, nguyện vọng của người đã chết thì được gọi là thừa
kế theo di chúc; Nếu người chết không để lại di chúc thì căn cứ theo các quy định của phápluật để chia thừa kế, trường hợp này được gọi là thừa kế theo pháp luật Ở đây, người viết đi
1Đinh Văn Thanh – Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2004, tr.463
Trang 5sâu vào nghiên cứu vấn đề thừa kế theo pháp luật: “Thừa kế theo pháp luật chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sỡ hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân người có quyền hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế, người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo pháp luật”.
Như vậy, thừa kế di sản theo pháp luật là loại hình thừa kế di sản tuân theo cácnguyên tắc, điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định, mà không phụ thuộc vào sựđịnh đoạt ý chí của người có tài sản để lại
1.1.2 Khái niệm về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Như đã trình bày ở trên, thừa kế theo pháp luật chính là sự chuyển dịch tài sản vàquyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân người có quyền hưởng thừa kếtheo quy định của pháp luật về thừa kế, người thừa kế trở thành chủ sở hữu cùa tài sản đượchưởng theo pháp luật
Ở nước ta, thừa kế có yếu tố nước ngoài là một chế định pháp luật lần đầu tiên đượcđưa vào Bộ luật dân sự 2005 là hình thức thừa kế còn rất mới mẽ và vẫn còn nhiều hạn chếtrong thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài đã được cụthể hóa ở Điều 767 quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nhưng đến nayvẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa cụ thể về quan hệ thừa kế theo pháp luật cóyếu tố nước ngoài Do quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân
sự theo nghĩa rộng nên ta có thể hiểu khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thông
qua điều 758 Bộ luật dân sự 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự
có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia, là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Dựa vào điều 758 BLDS năm 2005 và thừa kế theo pháp luật ta có thể định nghĩa vềquan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài như sau:
Quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế theo pháp luật mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ đó là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó (di sản thừa kế) ở nước ngoài.
Trang 6Như vậy, khác với quan hệ thừa kế khác trong dân sự, một quan hệ thừa kế theo pháp luậtchỉ được xem là có yếu tố nước ngoài và thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế khi có một
trong các yếu tố: về mặt chủ thể có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ thừa kế theo pháp luật là cá nhân người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; về mặt khách thể di sản thừa kế nằm ở nước ngoài; về mặt sự kiện pháp lý căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển các chế định về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Cũng như các lĩnh vực khác trong ngành luật Việt Nam, pháp luật về thừa kế nóichung và thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng có quá trình hình thành
và phát triển thông qua các giai đoạn lịch sử
1.2.1 Giai đoạn trước ngày Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến, chế định về thừa kế có yếu tố nước ngoàikhông được đề cập đến và luật dân sự Việt Nam không được tách ra một bộ luật riêng mà đượctìm thấy trong các điều khoản của các bộ luật Phong kiến như: Lê Triều hình luật (luật HồngĐức), Nguyễn Triều hình luật (Hoàng Việt luật lệ) Chế định và những quy định về thừa kế cóyếu tố nước ngoài thời kỳ phong kiến chưa được nhắc đến
Thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam là một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến nên hệthống pháp luật trong giai đoạn này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho thực dân Pháp nhằm thựchiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Vì vậy, pháp luật dân sự ở nước ta thời kỳ nàychứa đựng bản chất thực dân - phong kiến khá rõ nét Thực dân Pháp đã chia nước ta làm ba
kỳ để dễ cai trị và nhằm chia rẽ dân tộc Khi đó các bộ luật dân sự cũng lần lượt xuất hiện vàđược áp dụng chia rẽ ở ba kỳ: ở Nam Kỳ có bộ luật dân sự Nam kỳ giản yếu ra đời năm 1883,Bắc Kỳ có bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Trung Kỳ có bộ luật dân sự Trung Kỳ hay còn gọi làHoàng Việt Trung Kỳ bộ luật năm 1936 Tuy nhiên các bộ luật dân sự thời kỳ này còn bộc lộkhá nhiều hạn chế, cụ thể trong chế định thừa kế như tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn đượcquy định trong điều khoản pháp luật, quyền bình đẳng về thừa kế không được đảm bảo, quyềnthừa kế của người vợ bị hạn chế Người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sảncủa riêng mình, nếu không được chồng cho phép.2
Nhìn chung, các quy định về quan thừa kế trong giai đoạn này mang đậm nét tư tưởngphong kiến, riêng về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài không được đề cập đến
2 Phùng Quang Tập, Sách chuyên khảo Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008, tr.296
Trang 7Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta - kỷnguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và tiến lên chủ nghĩa xã hội Cùng với sự ra đời của nhànước non trẻ, pháp luật của chế độ mới cũng được hình thành và phát triển, trong đó quyềnthừa kế của công dân cũng được coi trọng Pháp luật về thừa kế của Nhà nước ta đã xóa bỏnhững tàn tích của chế độ phong kiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳnggiữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình Loại bỏ tư tưởng gia trưởngtrọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn,người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản của người chồng.3 Tronggiai đoạn này, nước ta đã ban hành ra sắc lệnh, Thông tư quy định về thừa kế điển hình như là:Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ về thừa kế ngoại trừ nhữngđiều khoản trái với nền độc lập dân tộc và dân chủ của nước ta đến khi có bộ luật thống nhất
cả nước Sắc lệnh 97 ngày 22/05/1950 đã sửa đổi một số điều trong các bộ luật dân sự cũ
Theo đó, Điều 10 Sắc lệnh 97 quy định về quyền bình đẳng của vợ chồng trong gia đình: “Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ; chồng hoặc vợ và các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc sở hữu chung, quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế của con cháu hoặc vợ chồng của người chết được đưa vào quy định, các chủ nợ của người chết không được đòi nợ quá số di sản để lại.” Đặc biệt, Sắc lệnh 97 đã cụ thể hóa Điều 9 Hiến pháp 1946 “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phưomg diện” Ngày 18/9/1956, Thông tư 1742 do Bộ tư pháp ban hành hướng
dẫn giải quyết thống nhất tranh chấp về thừa kế căn cứ vào quy định của Hiến pháp 1946 vàtinh thần Sắc lệnh 97 Thông tư 1742 quy định diện những người thừa kế theo pháp luật baogồm: vợ (chồng), các con đẻ, các con nuôi, cháu, chắc, cha mẹ của người để lại di sản vànhững người thừa kế khác Nhưng Thông tư lại không xác định rõ những người thừa kế khác
là ai nên trong thời kỳ này anh, chị, ông, bà không thuộc diện thừa kế Thông tư 594 xác địnhdiện thừa kế bao gồm: Vợ góa (cả vợ và vợ lẽ); con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹnuôi, ông bà nội, ông bà ngoại; anh chị em ruột và anh chị em nuôi Thông tư này đã đưa đượcanh chị em và ông bà vào diện thừa kế nhưng lại loại bỏ cháu, chắt ra khỏi diện thừa kế Ngoài
ra, trong giai đoạn này còn ban hành Thông tư 81 xác định cơ sở pháp lý của việc thừa kế theopháp luật là ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng Tuy nhiên, pháp luật nước tathời kỳ này chỉ đề cập trên nguyên tắc chung nhất, còn thiếu những quy định chi tiết, đặc biệt
3 Phùng Quang Tập, Sách chuyên khảo Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008, tr.298
Trang 8là các quy phạm xung đột để làm cơ sở giải quyết đối với những vụ việc cụ thể về quan hệthừa kế có yếu tố nước ngoài.
Pháp lệnh về thừa kế do Hội đồng nhà nước ban hành vào ngày 30/8/1990 là văn bảnpháp lý đầu tiên quy định tương đối đầy đủ về thừa kế ở nước ta.4 Nội dung của pháp lệnh thừa
kế đã mở rộng thêm phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật và được xếp theothứ tự ba hàng thừa kế Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản
theo bàng hệ đã được mở rộng sang hai đời (bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột) của
người chết là cháu và ngược lại Điểm mới của pháp lệnh thừa kế năm 1990 so với các văn bảntrước là quy định về quyền thừa kế của một người đang là con nuôi của người khác được thừa
kế theo pháp luật của cha, mẹ nuôi và được thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ đẻ mà thông tư
số 81- Tòa án nhân dân tối cao đã tước quyền này của họ.5 Tuy nhiên, đó chỉ là những quyđịnh chung về thừa kế chứ chưa hề có những quy định chi tiết để giải quyết các mối quan hệphát sinh trong lĩnh vực thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.2.2 Giai đoạn Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực đến trước ngày Bộ luật dân sự
2005 có hiệu lực
Bộ luật dân sự 1995 được thông qua ngày 28/10/1995 quy định cụ thể về thừa kế tạiphần thứ tư, phần này gồm 56 Điều từ Điều 634 đến Điều 689 Bộ luật dân sự 1995 có bướctiến vượt bậc so với các văn bản pháp luật trước đây khi một loạt các quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài được điều chỉnh bởi các quy phạm xung đột nhưng chế định về “thừa kế có yếu tố nước ngoài” còn để trống Bộ luật dân sự 1995 không quy định trực tiếp diện thừa kế nhưng
dựa vào hàng thừa kế theo pháp luật và những người thừa kế vị có thể xác định diện thừa kế.Quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế của công dân Việt Nam được cụ thể hóa trong bộ luậtdân sự 1995 khẳng định quyền thừa kế của công dân được nhà nước bảo hộ và không ngừngđược đổi mới để phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước qua từng giai đoạn Theo điều
830 bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam, trừ trường hợp bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác” Như vậy, có thể thấy nhà nước Việt Nam áp dụng chế
độ đãi ngộ như công dân Việt Nam để quy định về năng lực pháp luật dân sự của người nướcngoài Khoản 2 Điều 17 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định nội dung năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân thì cá nhân có “Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản”.
4 Hội đồng Nhà nước – Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1980, là chủ tịch tập thể nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chế độ hội đồng Nhà nước tồn tại từ năm 1980 đến năm 1992
5 Phùng Quang Tập, Sách chuyên khảo Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008, tr.304
Trang 9Qua những quy định trên, có thể khẳng định quyền thừa kế của người nước ngoài làmột trong những nội dung quan trọng của năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoàiđược pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo hộ.
Nhìn chung, sau mười năm thi hành Bộ luật dân sự 1995 đã bộc lộ nhiều hạn chế như:Một số quy định không phù hợp với chuyển biến nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, quyđịnh không rõ ràng và còn mang tính chất hành chính, chưa tương thích với những điều ướcquốc tế hay thông lệ quốc tế
Về nguyên tắc chung thì trong Bộ luật dân sự năm 1995 không có quy định nào vềquan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Bộ luật dân sự năm
1995 tuy không quy định cụ thể nhưng từ các quy định có tính chất nguyên tắc trong hiến pháp
1992 cũng như các văn bản pháp luật liên quan thì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài vẫnđược pháp luật Việt Nam bảo hộ
1.2.3 Giai đoạn Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực đến nay
Trước những hạn chế của bộ luật dân sự 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự
2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 Lần đầu tiên quan hệ thừa kế theo pháp luật cóyếu tố nước ngoài được quy định trong Điều 767 quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tốnước ngoài
Quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 767 Bộluật dân sự năm 2005 quy định như sau:
“Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết; Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó; Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó; Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.” 6
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài lần đầu tiên được pháp luật quy định Tuy vẫn
có không ít mâu thuẫn giữa luật nội dung và luật hình thức khiến việc trực tiếp áp dụng phápluật gặp những khó khăn nhất định trong việc xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoàinhưng nhìn chung Bộ luật dân sự 2005 ra đời đã bổ sung và khắc phục kịp thời những thiếuxót của pháp luật thời điểm này, đó được coi là một bước tiến quan trọng trong tiến trình hộinhập quốc tế của nước ta
6 Điều 767 Bộ luật hình sự năm 2005
Trang 101.3 Những đặc trưng cơ bản về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Về chủ thể
Trong tư pháp quốc tế, chủ thể là yếu tố cơ bản trong ba yếu tố góp phần quyết địnhviệc xác định quan hệ thừa kế là một quan hệ thừa kế đơn thuần hay là một quan hệ thừa kế cóyếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng
Về vấn đề chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, theo pháp luật Việt Nam:
- Cá nhân
Cá nhân tham gia vào quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài bao gồmcông dân Việt Nam và người nước ngoài
+ Công dân Việt Nam: khi muốn tham gia vào quan hệ dân sự nói chung và quan hệ
thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng thì cá nhân đó phải có tư cách chủ thể
(năng lực pháp luật và năng lực hành vi) của người đó.
Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân Việt Nam là nười có quốc tịch Việt Nam” Theo đó một người có quốc tịch Việt Nam nếu rơi vào trường hợp sau:
- Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều làcông dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.7
- Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ làcông dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Namcòn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.8
- Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dânnước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thờiđiểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam màcha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch ViệtNam.9
- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người khôngquốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.10
7 Điều 15 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
8 Khoản 1 Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
9 Khoản 2 Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
10 Khoản 1 Điều 17 Luật quốc tịch Việt nam năm 2008
Trang 11- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốctịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.11
Đồng thời, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì công dân Việt Nam muốntham gia vào quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoàinói riêng thì cá nhân đó phải có đầy đủ tư cách chủ thể Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Bộ
luật dân sự 2005 như sau: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân
có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” Cũng theo điều luật trên Bộ luật dân sự 2005 còn quy định ”Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Ngoài năng lực pháp luật Bộ luật dân sự 2005 cũng đề cập đến “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 17 Bộ
luật dân sự 2005) Đáp ứng được yêu cầu về tư cách chủ thể theo Bộ luật dân sự 2005 côngdân Việt Nam có đủ tư cách tham gia vào quan hệ thừa kế theo pháp luật trong tư pháp quốctế
+ Người nước ngoài: là một trong những chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật Tư
pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng Phápluật của hầu hết các nước trên thế giới đều lấy dấu hiệu quốc tịch làm căn cứ để định nghĩangười nước ngoài, Việc xác định cá nhân là người nước ngoài được quy định cụ thể bằng cácđiều luật ở mỗi nước
Để tham gia vào quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài thì người nước
ngoài cũng phải có đầy đủ năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) Ở các
quốc gia khác nhau thì các quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi cũng có sựkhác nhau vì vậy dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật
Hiện nay, trong khoa học pháp lý của Việt Nam cũng như ở một số nước đều quy địnhrằng năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của người đó được hưởng những quyền vàgánh vác những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Để giải quyết xung đột pháp luật vềnăng lực pháp luật dân sự của công dân nước ngoài, pháp luật các nước thường quy định ngườinước ngoài có năng lực pháp luật ngang với công dân nước sở tại theo nguyên tắc đãi ngộ nhưcông dân
11 Khoản 2 Điều 17 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
Trang 12Khoản 2 Điều 761 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.
Theo pháp luật Việt Nam và theo các Hiệp định tương trợ tư pháp ký với các nước,
năng lực hành vi được xác định theo pháp luật của nước mà đương sự là công dân (áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch) Ví dụ: theo khoản 1 Điều 761 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch” Nhưng nếu việc thực hiện, xác lập các quan hệ thừa kế có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam thì xác định theo pháp luật Việt Nam
Tóm lại, hầu hết pháp luật của các quốc gia định nghĩa người nước ngoài đều dựa vàoquốc tịch Có những quốc gia thừa nhận một người có thể có hai hay nhiều quốc tịch, cónhững quốc gia chỉ thừa nhận một quốc tịch duy nhất Nhìn chung một người đủ tư cách thamgia vào quan hệ dân sự trong Tư pháp quốc tế đều có thể gọi là người nước ngoài
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài: Yếu tố về cá nhân trước hết được khẳng
định đầu tiên trong việc tìm ra đó là công dân nước nào, xác định theo yếu tố chủ thể tham giavào quan hệ thừa kế là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, đây là yếu tố được xem xétdựa trên tiêu chí Luật quốc tịch, đối với việc định cư ở nước ngoài được xem xét đến như mộtđiều kiện sinh sống của quá trình di dân chẳng hạn, hoặc điều kiện sinh sống của công dân,việc định cư được xem xét đến dựa vào hệ thuộc luật cư trú Trong hệ thống pháp luật ViệtNam tiêu chí khẳng định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định tại khoản 3,4
Điều 3 Luật quốc tịch năm 2008: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng được điều chỉnh tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 138/2006 NĐ-CP: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người
có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Xác định yếu tố quốc tịch để xem đó là công dân Việt Nam sẽ được khẳng định trongtrường hợp người đó chưa thôi quốc tịch Việt Nam hoặc chưa bị tước quốc tịch Việt Nam theoquyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi đó người đó vẩn mang quốc tịch Việt
Trang 13Nam và là công dân Việt Nam nhưng về tiêu chí cư trú thì người đó đang sinh sống, định cư ởnước ngoài.
+ Quốc gia: Quốc gia là một chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ thừa kế có yếu tố
nước ngoài, khi tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào trong tư pháp quốc tế thì quốc gia đềuđược hưởng quy chế pháp lý đặc biệt, một chủ thể chỉ được gọi là quốc gia khi đáp ứng đầy đủcác điều kiện sau: lãnh thổ, dân cư và chính quyền Chính vì vậy, quốc gia này hoặc cơ quan
có thẩm quyền bất kỳ không có quyền xét xử quốc gia khác nếu bỏ qua nguyên tắc này sẽ dẫnđến tình trạng chà đạp chủ quyền xúc phạm danh dự và phẩm giá của quốc gia Nói đến quychế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong tư pháp quốc tế tức là nói đến quyền miễn trừ tư pháptuyệt đối của quốc gia Quyền này bao gồm ba quyền sau:
Thứ nhất, quyền miễn trừ xét xử: không có bất cứ tòa án nào có quyền xét xử quốc
gia đồng thời cá nhân và tổ chức cũng không có quyền gửi đơn kiện quốc gia nếu quốc giakhông tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ xét xử của mình Trong trường hợp này, các tranh chấpgiữa cá nhân hay tổ chức với quốc gia đều được giải quyết bằng con đường ngoại giao, thươnglượng
Thứ hai, quyền được miễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế đảm bảo sơ bộ đối với
đơn kiện hoặc đảm bảo thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài: tòa án nước ngoài chỉ đượcphép áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó trong trường hợp quốc gia cho phép, ta có thể hiểumột cách gián tiếp là tài sản của quốc gia cũng được hưởng quyền bất khả xâm phạm
Thứ ba, quốc gia có quyền đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp với cá nhân cũng
như pháp nhân nước ngoài trong tình huống đó tòa án nước ngoài được phép giải quyết tranhchấp Tuy nhiên bị đơn là cá nhân, pháp nhân nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi quốcgia đồng ý Quốc gia là một chủ thể rất đặc biệt trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tốnước ngoài nói chung và trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng,thế nhưng trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành chưa có quy định đề cập đến vấn đề này
1.3.2 Về khách thể
Ngoài các chủ thể được nêu ở phần trên thì khách thể của quan hệ thừa kế là một tiểu
tố để xác định quan hệ đó có thể là quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài haykhông Pháp luật các nước hầu hết đều thừa nhận tài sản liên quan đến quan hệ thừa kế theopháp luật ở nước ngoài thì đều thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
Điều 758 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: “quan hệ dân sự có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài thì đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.”
Trang 14Qua đó ta thấy di sản thừa kế có mối quan hệ với quyền sở hữu, quyền sở hữu tài sảncủa cá nhân là cơ sở chủ yếu để xác định được di sản thừa kế.
Để điều chỉnh những tranh chấp xung quanh vấn đề tài sản có yếu tố nước ngoài, phápluật các nước chủ yếu dựa vào các quy phạm xung đột Đa số các quy phạm xung đột của phápluật các nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam đều được xây dựng dựa vào hệ thuộc luậtnơi có vật
Theo khoản 1 Điều 766 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định thì việc xác lập, thựchiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xácđịnh theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4điều này Tài sản có thể được chia thành nhiều loại như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tuynhiên trong quan hệ thừa kế hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chia tài sản thành hai loại đó
là động sản và bất động sản Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xácđịnh theo pháp luật của nước nơi có tài sản Ví dụ: tại khoản 3 Điều 766 Bộ luật dân sự ViệtNam 2005
1.3.3 Sự kiện pháp lý
Theo điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc
là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”
Như vậy, Sự kiện pháp lý trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
có thể là sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài và phải là sự kiện hành vi phùhợp với pháp luật quốc gia sở tại hoặc pháp luật nước ngoài
Ví dụ: Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật xảy ra ở nướcngoài như người Việt Nam thường trú ở nước ngoài chết ở nước ngoài để lại di sản ở ViệtNam hoặc người nước ngoài thường trú ở Việt Nam chết ở Việt Nam và để lại di sản thừa kế ởnước ngoài
Trang 151.4 Phương pháp điều chỉnh và nguồn của luật điều chỉnh về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Do quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được hiểu thông qua quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài nên phương pháp điều chỉnh của quan hệ dân sự theo nghĩa rộngcũng chính là phương pháp điều chỉnh của thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.4.1 Phương pháp điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà
Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai
cấp thống trị 12 Theo đó , phương pháp điều chỉnh có yếu tố nước ngoài cũng là các biện pháp,cách thức tác động lên quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệnày phát triển theo hướng có lợi cho Nhà nước đó
Các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kếđược biểu hiện ở hai phương pháp cụ thể là:
1.4.1.1 Phương pháp điều chỉnh trực tiếp
Phương pháp điều chỉnh trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất) là phương phápquy định một cách cụ thể cách thức hành xử của các bên liên quan, được xây dựng trên cơ sở
hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tốnước ngoài
Tại khoản 3, khoản 4 Điều 767 BLDS năm 2005 quy định: Di sản không có ngườithừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó còn đối với động sản sẽthuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết Sự tác động củanhà nước lên quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được thực hiện thông quaquy phạm thực chất Quy phạm thực chất là quy phạm quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ đốivới các chủ thể tham gia quan hệ dân sự theo nghĩa rộng và thừa kế theo pháp luật có yếu tốnước ngoài nói riêng Khi quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế xảy ra, nếu có sẵn quy phạmthực chất để áp dụng thì các bên chủ thể cũng như cơ quan có thẩm quyền (tòa án, trọng tài )căn cứ ngay vào đó để xác định vấn đề họ đang quan tâm Đây là phương pháp được áp dụngphổ biến và là phương pháp cơ bản của Tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế theopháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng Các quy phạm thực chất có thể được xây dựng trongcác điều ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm
12 http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465 [truy cập ngày 15/11/2014]
Trang 16thực chất xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi nhà nước được gọi là quy phạm thựcchất trong nước.13 Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu từng nội dung này:
Thứ nhất, các quy phạm thực chất thống nhất: Quy phạm thực chất thống nhất là quy
phạm thực chất được xây dựng bằng cách các quốc gia ký kết, tham gia vào các điều ước quốc
tế hoặc chấp nhận và sử dụng tập quán quốc tế Việc xây dựng và hình thành các quy phạmthực chất thống nhất làm giảm sự khác biệt trong pháp luật về thừa kế của các quốc gia, làmđơn giản quá trong giải quyết quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Khi có cácđiều ước quốc tế và tập quán quốc tế mà trong đó có các quy phạm thực chất thống nhất, cơquan có thẩm quyền giải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ thừa kế theo pháp luật cóyếu tố nước ngoài sẽ căn cứ ngay vào quy phạm đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề
Thứ hai, các quy phạm thực chất trong nước: quy phạm thực chất trong nước là quy
phạm thực chất được xây dựng dựa trên hệ thống pháp luật của quốc gia và nó chỉ có giá trịràng buộc trong phạm vi quốc gia đó Trong pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật hầu hếtcác quốc gia trên thế giới đều quy định các quy chế pháp lý đối với quan hệ thừa kế theo phápluật có yếu tố nước ngoài và tất nhiên xung đột pháp luật không tồn tại trong việc giải quyếtvấn đề này
Việc áp dụng phương pháp điều chỉnh này làm cho mối quan hệ Tư pháp quốc tế nóichung và thừa kế trong Tư pháp quốc tế nói riêng được điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đềcần quan tâm được xác định ngay, các chủ thể của quan hệ đó và các cơ quan có thẩm quyềnkhi giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm thời gian, tránh được việc phải tìm hiểu pháp luật nướcngoài vốn là vấn đề phức tạp Bởi vậy, khi không có quy phạm thực chất thống nhất thì phải cóphương pháp khác để điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế
1.4.1.2 Phương pháp điều chỉnh gián tiếp
Phương pháp điều chỉnh gián tiếp (hay còn gọi là phương pháp xung đột) là phươngpháp sử dụng quy pham xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụngtrong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Các quy phạmxung đột không trực tiếp giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thừa kế theopháp luật có yếu tố nước ngoài, nó chỉ có tác dụng ấn định luật nước nào sẽ là luật áp dụng đểgiải quyết Các quy phạm xung đột luôn mang tính dẫn chiếu (chọn luật) tới một hệ thốngpháp luật nhất định Như vậy, ta có thể thấy các quy phạm xung đột sẽ dẫn chiếu đến hệ thốngpháp luật mà các quy phạm thực chất được áp dụng để giải quyết quan hệ một cách dứt điểm
13 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, năm 2004, tr.34
Trang 17Điều này khẳng định mối quan hệ song hành giữa quy phạm thực chất và quy phạm xung đột.Chính vì yếu tố này mà về cơ cấu, quy phạm xung đột sẽ gồm 2 bộ phận đó là phần phạm vi(là phần quy định quy phạm xung đột này được áp dụng cho loại quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài, cụ thể ở đây là quan hệ thừa kế theo pháp luật ) và phần hệ thuộc (là phần quyđịnh luật pháp nào được áp dụng để giải quyết quan hệ thừa kế đã được ghi ờ phần phạm vi).
Ví dụ: Trong Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Lào, Điều 36 quy định:
“1 Việc thừa kế động sản được thực hiện theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại di sản là công dân khi qua đời;
2 Việc thừa kế bất động sản được thực hiện theo pháp luật của nước ký kết nơi có di sản là bất động sản.”
Đây là hai quy phạm xung đột, quy phạm xung đột thứ nhất, phần phạm vi là quan hệthừa kế là động sản, phần hệ thuộc quy định luật áp dụng là pháp luật của nước ký kết màngười để lại di sản là công dân vào thời điểm qua đời Quy phạm xung đột thứ hai, phần phạm
vi là quan hệ thừa ké bất động sản, phần hệ thuộc quy định luật áp dụng là pháp luật của nước
ký kết nơi có di sản là bất động sản
Cũng giống như quy phạm thực chất, người ta phân biệt quy phạm xung đột thành hailoại đó là quy phạm xung đột thống nhất (còn gọi là quy phạm xung đột trong điều ước quốctế) và quy phạm xung đột trong nước Ngoài cách phân loại trên, người ta còn phân loại quyphạm xung đột theo luật áp dụng Cụ thể phân thành hai loại như sau:
Quy phạm xung đột một bên (hay còn gọi là quy phạm xung đột một chiều): Đây là
quy phạm chỉ ra quan hệ dân sự này chỉ áp dụng luật pháp của một nước cụ thể Ví dụ: Theo
khoản 2 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quyền thừa kế đối với bất động sản tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” Đây là quy phạm xung đột một chiều
vì nó chỉ quy định pháp luật áp dụng đối với bất động sản
Quy phạm xung đột hai bên (hay còn gọi là quy phạm xung đột hai chiều): Đây là
những quy phạm đề ra nguyên tắc chung để cơ quan tư pháp có thẩm quyền lựa chọn áp dụngluật của một nước nào đó để điều chỉnh đối với quan hệ tương ứng Ví dụ: Theo khoản 1 Điều
767 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết” Đây là quy phạm xung đột hai chiều
vì pháp luật chỉ định có thể là pháp luật nước ngoài hay pháp luật Việt Nam
Trang 18Trong tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước
ngoài nói riêng, người ta thường phối hợp sử dụng đồng thời cả hai phương pháp (nếu có quy phạm thực chất thì áp dụng để giải quyết trực tiếp nếu không có thì áp dụng quy phạm xung đột) nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong thực tế Nếu vấn đề cần giải quyết không được quy định
bởi quy phạm thực chất lẫn quy phạm xung đột điều chỉnh thì sẽ áp dụng biện pháp tương tự
Trong thực tiễn, do các quy phạm thực chất thống nhất có số lượng ít, không đáp ứngđược các yêu cầu điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế phát sinh ngày càng đa dạng; trongkhi đó quy phạm xung đột được xây dụng một cách đơn giản hơn, nhanh hơn nên có số lượngnhiều hơn Do đó quy phạm xung đột đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ Tư pháp quốc tế trong
đó có quan hệ về thừa kế theo pháp luật Vì vậy phương pháp điều chỉnh gián tiếp được coi làphương pháp cơ bản trong giai đoạn hiện nay
1.4.2 Nguồn của luật điều chỉnh
Nguồn của tư pháp quốc tế (TPQT) nói chung là các hình thức chứa đựng và thể hiệnquy phạm của TPQT
Nguồn của luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài là cáchình thức chứa đựng và thể hiện quy phạm của quan hệ thừa thế theo pháp luật có yếu tố nướcngoài
Pháp luật Việt Nam quy định rõ tại Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 về việc áp dụngpháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài
2 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
3 Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản
Trang 19của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4 Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” 14
Có thể thấy, nguồn của tư pháp quốc tế Việt Nam để điều chỉnh quan hệ dân sự cóyếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêngbao gồm pháp luật quốc gia (Bao gồm pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài) và Điềuước quốc tế (do tập quán quốc tế chủ yếu áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng nên không được ápdụng trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài)
Như vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoàibao gồm pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế
1.4.2.1 Pháp luật quốc gia
Pháp luật Việt Nam là nguồn chủ yếu của tư pháp quốc tế Việt Nam
Theo khoản 3 Điều 759 BLDS 2005 quy định thì: “Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” 15
Hiến pháp năm 2013 cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế Việt Nam, làm cơ
sở và nền tảng cho việc xây dựng các quy định về tư pháp quốc tế
Quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi Bộ luật dân
sự 2005, phần thứ bảy, Điều 767 và Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm
14 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
15 Khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
Trang 202006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Chương 2 Điều 12
Nguồn của tư pháp quốc tế không chỉ có pháp luật Việt Nam mà còn bao gồm phápluật của các quốc gia
- Các quan hệ mà tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ mang tính chất dân sự cóyếu tố nước ngoài Những quan hệ này rất đa dạng và phức tạp
- Mỗi đất nước có một truyền thống, tập quán, văn hóa khác nhau nên không thể chỉ
sử dụng pháp luật trong nước (pháp luật Việt Nam) để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hộimang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài, nên để chủ động trong việc điều chỉnh các quan
hệ TPQT mỗi quốc gia đã tự ban hành trong hệ thống pháp luật của mình các quy phạm xungđột, thực chất trong nước
- Xung đột pháp luật và để giải quyết xung đột pháp luật có nhiều phương pháp, trong
đó có phương pháp xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột quốc gia
Tại khoản 3 Điều 759 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” 16
Theo quy định này thì pháp luật nước ngoài được áp dụng khi có quy phạm xung độtdẫn chiếu tới pháp luật Việt Nam hoặc trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
1.4.2.2 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là một văn kiện tập hợp những quy phạm pháp luật quốc tế do hai(song phương) hay nhiều (đa phương) chủ thể của quan hệ pháp luật TPQT thỏa thuận hoặc kýkết nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệquốc tế
16 Khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự 2005
Trang 21Hiện nay, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Điều ước quốc tế song phương với các nướctrong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài như: Hiệp địnhtương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam - Tiệp Khắc năm 1982; Hiệp định tương trợ tưpháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam vàLiên Bang Nga ngày 25 tháng 8 năm 1998; Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sựgiữa Việt Nam – Lào năm 1998; Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự và hình sự giữaViệt Nam - Trung Hoa năm 1998; Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt nam và Pháp về cácvấn đề dân sự năm 1999.
Các Điều ước quốc tế này cũng trở thành nguồn quan trọng của luật điều chỉnh quan
hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
1.5 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ thừa kế theo pháp luật
có yếu tố nước ngoài
Ngoài các nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế như: tôn trọng sự bình đẳng về mặtpháp lý quốc tế giữa các chế độ sở hữu khác nhau, tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốicủa quốc gia trong các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài hay nguyêntắc không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa công dân quốc gia sở tại và người nước ngoài,giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ quốc gia sở tại, nguyên tắc có đi có lại, ủy thác
tư pháp nhờ cơ quan nước ngoài thực hiện một số công đoạn của tố tụng để điều tra một vụ ánnào đó, công nhận và cho thi hành các bản án và quyết định Tòa án nước ngoài, phán quyếtcủa trọng tài nước ngoài thì thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài có những nguyên tắcriêng điều chỉnh
1.5.1 Nguyên tắc luật quốc tịch
Hệ thuộc luật quốc tịch là hệ thuộc được áp dụng phổ biến trong quan hệ thừa kế theopháp luật có yếu tố nước ngoài Theo đó, quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoàiphát sinh giữa công dân nước nào thì pháp luật nước đó sẽ đem ra áp dụng để điều chỉnh quan
hệ đó Luật quốc tịch là luật của nước mà đương sự là công dân Như vậy, hệ thuộc luật quốctịch chỉ áp dụng trong trường hợp xác định được quốc tịch của người để lại di sản Trên thực tế
hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng ở hầu hết các nước Châu Âu như Pháp, Đức, Italia… vàmột số nước khác như Cuba, Nhật Bản… hệ thuộc luật quốc tịch nhằm bảo vệ quyền lợi củacông dân nước mình tránh phụ thuộc vào luật nơi cư trú Một số nước như Áo, Thụy Sĩ, ChiLê… thì áp dụng đồng thời cả hai hệ thuộc tức là buộc quy chế nhân thân của người nước
Trang 22ngoài phải lệ thuộc vào luật nước mình (Luật nơi cư trú) đồng thời buộc tất cả các công dânnước mình sống ở nước ngoài phải lệ thuộc vào pháp luật nước mình (luật quốc tịch)17.
Điển hình như khoản 1 Điều 767 quy định: “Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.”18 Những quyđịnh trên của pháp luật Việt Nam đã sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch, đây là hệ thuộc quantrọng điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài trong pháp luật ViệtNam
1.5.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú
Để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, pháp luật ViệtNam ngoài việc ghi nhận hệ thuộc luật quốc tịch của đương sự còn ghi nhận thêm hệ thuộcluật nơi cư trú của đương sự Quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được điềuchỉnh theo pháp luật của nước nơi đương sự cư trú Khi xét về mặt nội dung khái niệm nơi cưtrú trong luật của nước hoàn toàn không giống nhau, tùy điều kiện từng nước và trường hợp cụthể có thể hiểu luật nơi cư trú là luật nơi cư trú cuối cùng của đương sự Do đó khi chúng ta ápdụng vào từng trường hợp cụ thể của từng nước khác nhau chúng ta phải dựa theo đặc điểmriêng của từng hệ thống pháp luật mà các nước có thể áp dụng một trong hai, cả hai hoặc dạngkhác của luật nhân thân Ở các nước như Pháp, Đức, Italia… hệ thuộc luật quốc tịch được ápdụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực, còn ở các nước theo hệ thống pháp luật chung (commonlaw) như Anh, Mỹ, Na Uy, Đan Mạch và các nước Mỹ Latinh như Braxin, Nicaragoa thì hệthuộc luật nơi cư trú được áp dụng hàng đầu trong nhiều lĩnh vực.19
Ở Việt Nam, nguyên tắc luật nơi cư trú được áp dụng trong trường hợp không xácđịnh được quốc tịch của người để lại di sản Cụ thể là, nếu người để lại thừa kế là người khôngquốc tịch thì áp dụng theo luật của nước nơi người đó thường xuyên cư trú, nếu người để lại disản là người hai hay nhiều quốc tịch thì áp dụng theo luật của nước nơi người đó cư trú trướckhi chết Điều 760 BLDS năm 2005 quy định:
“Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
17 Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Giáo trình tư pháp quốc tế, Khoa luật Đại học Cần Thơ, năm 2002, tr.20
18 Khoản 1 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005
19 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp năm 2004, tr.46
Trang 23Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan
hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân.”
Như vậy, nguyên tắc luật nơi cư trú được đem ra để áp dụng cho những trường hợpngoại lệ được nêu ở trên để phù hợp với thực tiễn xã hội có thể xảy ra nên pháp luật cũng cầnđưa ra cách giải quyết phù hợp và thỏa đáng
1.5.3 Nguyên tắc luật nơi có vật
Luật nơi có vật được hiểu là vật (tài sản) hiện đang tồn tại ở nước nào thì luật nước đóđược áp dụng đối với tài sản đó Hệ thuộc luật nơi có vật thường được áp dụng để giải quyếtcác quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, quan hệ về sở hữu có yếu tố nướcngoài (như tài sản đó có là đối tượng của quyền sở hữu không, xác định các quyền tài sản, xácđịnh sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt sở hữu…)20 Hệ thuộc luật nơi có vật được áp dụng đểđiều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài trên nguyên tắc di sản thừa kếđược chia thành hai loại động sản và bất động sản Theo hệ thuộc này thì việc giải quyết cáctranh chấp về tài sản là bất động sản thì phải căn cứ vào luật nơi có tài sản đó
Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 khoản 2 Điều 767 quy định như sau “Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”.21 Như vậy,pháp luật Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc luật nơi có vật để điều chỉnh vấn đề thừa kế theopháp luật có yếu tố nước ngoài đối với di sản là bất động sản
Hầu hết hệ thuộc luật nơi có vật được ghi nhận trong các Hiệp định tương trợ tư pháp
mà Việt Nam ký kết với các nước khác để giải quyết các vấn đề về tài sản là bất động sản
1.5.4 Nguyên tắc luật tòa án
Đây là nguyên tắc thuộc chế định về thẩm quyền tố tụng (xét xử) của cơ quan tư phápthực hiện chức năng đặc biệt để giải quyết các vấn đề phát sinh tranh chấp về dân sự, trong đóbao gồm vấn đề thừa kế theo pháp luật Nguyên tắc luật Tòa án được áp dụng và vận hànhthông suốt với sự gắn kết giữa các quốc gia trong tư pháp quốc tế mà đó là sự biểu hiện ý chí
20 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp năm 2004, tr.49
21 Khoản 2 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 24tự nguyện được xác lập thông qua các điều ước quốc tế điều chỉnh hoặc trong trường hợp phápluật quốc gia thừa nhận.
Hiện nay trong khoa học pháp lý nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì luật Tòa ánthường được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng là cả luật hình thức và cả luật nội dung còntheo nghĩa hẹp thì luật hình thức22, khi xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài về nguyên tắcTòa án chỉ áp dụng pháp luật của nước mình Trong pháp luật của hầu hết các nước đều ghinhận nguyên tắc này Đây là hệ thuộc được áp dụng phổ biến nhất trong việc giải quyết nhữngvấn đề về tố tụng có yếu tố nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế các nước, khi chọn một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, các luật gia thường đưa ra một tiêu chí mà theo đó pháp luậtcủa tòa án là pháp luật sẽ thường xuyên được áp dụng để giải quyết trong thực tế Lý do thứnhất của xu hướng này là tòa án biết rõ pháp luật nước mình hơn là pháp luật nước ngoài vềthừa kế, do đó việc áp dụng thường xuyên pháp luật của tòa án sẽ làm giảm khó khăn trongcông tác xét xử Lý do thứ 2 của xu hướng này là, nếu cho phép pháp luật nước ngoài áp dụng
để giải quyết vấn đề thừa kế theo pháp luật, Tòa án cũng như các bên trong quan hệ thừa kếphải biết nội dung của pháp luật nước ngoài Để biết nội dung pháp luật nước ngoài, Tòa ánhoặc các bên trong tranh chấp sẽ tự tìm hiểu và do không biết nội dung pháp luật nước ngoàinên tòa án cũng như các bên trong tranh chấp phải thuê chuyên gia về luật nước ngoài, đây làmột việc khó và tốn kém.23 Chính vì 2 lý do căn bản trên mà các nước sử dụng tiêu chí chọnluật khác nhau để làm sao pháp luật của tòa án có nhiều cơ hội hơn pháp luật nước ngoài.Nguyên tắc luật tòa án được áp dụng rất phổ biến trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu
tố nước ngoài như là một nguyên tắc phụ, thay thế Khi các nguyên tắc khác để xác định hệthống pháp luật cho quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài không áp dụng thìnguyên tắc luật tòa án sẽ được áp dụng
22 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp năm 2004, tr.54
23 Đỗ Văn Đại, Chọn luật để điều chỉnh thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, tạp chí nghiên cứu luật pháp số 7,
năm 2003, tr.68
Trang 25CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1 Di sản có người thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Pháp luật thừa kế ở Việt Nam cũng như pháp luật thừa kế của các nước khác trên thếgiới quy định hai hành thức thừa kế là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc Nếu nhưthừa kế theo di chúc là sự định đoạt di sản thừa kế theo ý chí của người để lại di sản thì thừa kếtheo pháp luật không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản thừa kế mà là do ý chí củanhà nước Nói cách khác, thừa kế theo pháp luật là thừa kế trên cơ sở can thiệp của Nhà nướcthông qua pháp luật về thừa kế
Trong điều kiện hội nhập, giao lưu, hợp tác quốc tế, quan hệ thừa kế ngày càng đadạng hơn, không còn trong phạm vi một nước mà mở rộng ra nhiều nước, do dó vấn đề thừa kếtheo pháp luật cũng ngày càng đa dạng hơn, tuy nhiên pháp luật mỗi nước có những quy địnhkhác nhau về vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Hiện nay, để giải quyết vần
đề chọn luật áp dụng trong vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài thì pháp luậtcác nước áp dụng hai nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc phân chia di sản thừa kế: được áp dụng phổ biến tại các nước theo hệthống luật Anh — Mỹ (Anh, Mỹ, Úc, Achentina, Đan Mạch…) và Pháp Để giải quyết vấn đềthừa kế, pháp luật các nước này phân chia di sản thừa kế làm hai loại là bất động sản và độngsản Mỗi loại di sản có nguyên tắc áp dụng pháp luật giải quyết khác nhau Đối với động sản,pháp luật áp dụng để giải quyết là pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch hoặcnơi cư trú cuối cùng Theo đó nếu người để lại di sản có quốc tịch nước ngoài thi áp dụng phápluật nước ngoài, nếu người để lại di sản có quốc tịch Việt Nam thì áp dụng pháp luật ViệtNam; Đối với bất động sản, pháp luật được áp dụng để giải quyết thừa kế theo pháp luật cóyếu tố nước ngoài là pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Nếu bất động sản ở nướcngoài thì áp dụng pháp luật nước ngoài, nếu bất động sản ở Việt Nam thì áp dụng luật ViệtNam
Nguyên tắc thống nhất di sản thừa kế: được áp dụng phổ biến tại một số nước Tây âunhư Đức, Tây Ban Nha, Itali, Bồ Đào Nha Pháp luật các nước này không phân chia di sảnthừa kế thành các loại khác nhau như động sản và bất động sản mà thống nhất giải quyết toàn
bộ di sản thừa kế theo nguyên tắc luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế
Trang 26Pháp luật Việt Nam dựa vào nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết xung đột phápluật về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, theo đó người để lại di sản mang quốc tịch nướcnào thì áp dụng theo pháp luật nước đó để giải quyết Tuy nhiên, đối với di sản là bất động sảnthì pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc luật nơi có vật để giải quyết được quy định cụ thểtại Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005:
“1 Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.
2 Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.” 24
Như vậy, đối với di sản thừa kế là động sản, tư pháp quốc tế Việt Nam áp dụngnguyên tắc Luật quốc tịch Điều này có nghĩa là luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế theopháp luật có yếu tố nước ngoài mà di sản để lại thừa kế là động sản là luật của nước mà người
để lại di sản có quốc tịch trước khi chết Pháp luật Việt Nam sẽ áp dụng đối với các quan hệthừa kế mà công dân Việt Nam là người để lại di sản thừa kế là động sản bất kể quan hệ nàyxảy ra ở đâu và di sản đang hiện diện ở nước nào Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam sẽ khôngđược áp dụng khi công dân nước ngoài để lại di sản là động sản hiện diện trên lãnh thổ ViệtNam và quan hệ thừa kế xảy ra tại Việt Nam Theo quan điểm của một số tác giả với giải phápnày sẽ cho phép pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng trong thực tế.25
Riêng đối với thừa kế theo pháp luật mà di sản thừa kế là bất động sản, tư pháp quốc
tế Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật nơi có vật Điều này có nghĩa là công dân Việt Nam đểlại di sản thừa kế là bất động sản thì pháp luật Việt Nam không có cơ hội áp dụng nếu bất độngsản không hiện diện tại Việt Nam và ngược lại, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng khi côngdân nước ngoài để lại di sản thừa kế là bất động sản hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam Giảipháp này phù hợp với bản chất các quan hệ pháp luật có liên quan đến bất động sản và đượcquy định trong nhiều văn bản pháp luật Việt Nam và được nhiều người đồng tình
2.1.1 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Đã có rất nhiều văn bản pháp luật liệt kê các trường hợp thừa kế theo pháp luật Vàcùng với sự tiến bộ của hệ thống pháp luật thì các văn bản này ngày càng hoàn thiện hơn, chođến nay thì các trường hợp được nêu ra trong Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là chi tiết vàđầy đủ nhất theo Điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005 thì các trường hơp thừa kế theo pháp luậtbao gồm:
24 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005
25 Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2010, tr.627
Trang 27di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.” 26
Ngoài ra, nếu toàn bộ nội dung của di chúc là không rõ ràng và những người thừa kế là khôngnhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì cũng coi như không có di chúc và việc chia di sảnđược áp dụng theo quy định của pháp luật.27 Cũng được xem như không hề tồn tại di chúc, nếungười thừa kế chứng minh được di chúc để lại là hoàn toàn giả mạo hoặc trong trường hợpngười để lại di sản có lập di chúc nhưng trước khi chết họ đã hủy bỏ nó
2.1.1.2 Trường hợp di chúc không hợp pháp
Di chúc không hợp pháp là di chúc vi phạm một trong các điều kiện được quy định tạiĐiều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 Theo đó có bốn căn cứ để xác định di chúc đó có hợp pháphay không bao gồm: căn cứ vào ý chí của người để lại di sản, căn cứ vào năng lực chủ thể củangười lập di chúc, căn cứ vào nội dung của di chúc và cuối cùng căn cứ vào hình thức của dichúc
Xét về mặt ý chí, một di chúc được xem là không hợp pháp, nếu nó được lập lên hoàn
toàn trái với ý chí của người để lại di sản do họ bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc trong trườnghợp người lập di chúc không còn minh mẩn, sáng suốt trong khi lập di chúc
Xét về mặt năng lực chủ thể, điều kiện về năng lực chủ thể của người lập di chúc được
quy định tại Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 Theo đó, nếu người lập di chúc bị bệnh tâmthần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì di chúc
sẽ không có hiệu lực Ngoài ra, nếu người từ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (người
có năng lực hành vi một phần) lập di chúc nhưng không được sự đồng ý của cha, mẹ hoặcngười giám hộ thì di chúc đó cũng được xem là không hợp pháp
Xét về mặt nội dung, để nội dung của di chúc được coi là hợp pháp thì ý chí của người
lập di chúc phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định tạiĐiều 8 Bộ luật dân sự năm 2005 Nếu nội dung của di chúc vi phạm các điều trên thì di chúcđược xem là không hợp pháp và bị xem là vô hiệu
26 Khoản 1 Điều 666 Bộ luật dân sự 2005
27 Xem: Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 28Xét về mặt hình thức, hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người
lập di chúc (nội dung của di chúc) Trong trường hợp nội dung của di chúc hoàn toàn hợppháp, phù hợp với đạo đức xã hội nhưng được thể hiện với một hình thức trái với quy định củapháp luật đối với hình thức của di chúc tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005 thì di chúc đóvẫn bị xem là không hợp pháp Như vậy, có thể căn cứ vào sự thể hiện ý chí, năng lực chủ thểcủa người lập di chúc, nội dung và hình thức của di chúc để xác định tính hợp pháp của dichúc Một di chúc được xem là không hợp pháp nếu vi phạm quy định của một trong các căn
cứ này
2.1.1.3 Trường hợp những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế
Đối với trường hợp này di chúc được lập là hợp pháp Tuy nhiên do các đối tượngđược nhận thừa kế đều không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế nên toàn bộ di chúc khôngcòn hiệu lực pháp luật và hệ quả là di sản sẽ được phân chia theo pháp luật
2.1.1.4 Trường hợp những người được chỉ định thừa kế theo di chúc mà không có quyển hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản
Những người không được quyền hưởng được quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật
dân sự năm 2005 (trừ trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi của những người được quy định tại khoản 1 Điều này nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc) 28 Ngoài ra, di sảnthừa kế cũng được phân chia theo pháp luật trong trường hợp người thừa kế từ chối nhận disản (Điều 642 BLDS năm 2005) thì phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụngthừa kế theo pháp luật để giải quyết
Cả bốn trường hợp nói trên đều thuộc nhóm di sản thừa kế tuyệt đối (di sản hoàn toàn được chia theo pháp luật chứ không được dịch chuyển theo ý chí của người để lại di sản).
Ngoài ra, ta còn kể đến trường hợp di chức có hiệu lực pháp luật những phần di sản nhưng vẫn
có phần di sản được phân chia theo pháp luật (nhóm di sản thừa kế tương đối)
Căn cứ vào khoản 2 Điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005, các phần di sản sau đây đượcphân chia theo pháp luật:
Phần di sản không được định đoạt trong di chúc, Trong trường hợp này, người để lại
di sản có lập di chúc nhưng không định đoạt hết tài sản của minh trong di chúc đó Do đó, khi
28 Xem: khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 29di chúc phát sinh hiệu lực thì phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chiatheo pháp luật.
Phần di sản có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật, Đây là trườnghợp người để lại di sản lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản nhưng có một phần di chúc không
hợp pháp Một di chúc có cả những phần hợp pháp và những phần không hợp pháp “Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật” 29 Do đó phần di sản liên quan đến phần di chúc khônghợp pháp sẽ được chia theo pháp luật
Phần di sản có liên quan đến người thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyềnhưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc;liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thờiđiểm mở thừa kế, đây là trường hợp người để lại di sản lập di chúc để lại thừa kế cho nhiềuchủ thể Tuy nhiên, một trong số những chủ thể này lại không thể nhận phần di sản thừa kế củamình do các nguyên nhân: người thừa kế không có quyền hưởng di sản; người thừa kế từ chốinhận di sản; người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, nhưngkhông còn vào thời điểm mở thừa kế Do đó, phần di sản của những chủ thể này sẽ được chiatheo pháp luật
2.1.2 Diện thừa kế trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền thừa kế di sản của ngườichết theo quy định của pháp luật Như vậy, xác định diện thừa kế chính là xác định phạm vinhững cá nhân được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật Căn cứ xác định phạm vi nhữngngười thuộc diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo các quan hệ hôn nhân, quan hệhuyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa những người thừa kế với người để lại di sản khi cònsống Người thuộc diện thừa kế theo pháp luật là người có một hoặc đồng thời có hai mối quan
hệ với người để lại di sản trong phạm vi ba mối quan hệ và được thể hiện: người thuộc diệnthừa kế theo pháp luật có mối quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản; hoặc người đó cómối quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản 30
Sau đây chúng ta sẽ đi vào phân tích các căn cứ để xác định diện thừa kế theo phápluật bao gồm:
2.1.2.1 Căn cứ xác định diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ hôn nhân
29 Xem: Khoản 4 Điều 667 Bộ luật dân sự năm 2005
30 Phùng Trung Lập, Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội năm 2008, trang 82
Trang 30Quan hệ hôn nhân là quan hệ xuất phát từ việc kết hôn giữa một nam và một nữ đểthành vợ chồng và việc kết hôn phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật Khi kết hôn, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh và được pháp luật bảo hộ Vợ chồng có quyền thừa hưởng
di sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế
Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ vợ chồng tuân thủ những quy định định diệnthừa kế theo pháp luật bao gồm:
- Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ vợ chồng tuân thủ những quy định của phápluật hôn nhân về độ tuổi kết hôn, ý chí tự do tự nguyện trong kết hôn, tự do thỏa thuận không
có sự áp đặt ý chí của một bên đối với bên kia trong kết hôn, không vi phạm quan hệ huyếtthống, không vi phạm chế độ một vợ một chồng và các điều cấm khác của pháp luật trong kếthôn31
- Sự ghi nhận của pháp luật đối với một cuộc hôn nhân khi quan hệ hôn nhân đó tuân
thủ các quy định của pháp luật về hôn nhân “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ”
Việc kết hôn do hai bên nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào phụ thuộc bên nào,không ai được cưỡng ép hoặc cản trở Quan hệ hôn nhân là quan hệ khởi nguồn và bắt đầu tạo
ra các gia đình - tế bào của xã hội Do đó quan hệ hôn nhân cần phải được bảo vệ và coi trọng.Pháp luật ghi nhận và bảo vệ cho vợ chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau nhằmmục đích duy trì quan hệ tình cảm đồng thời tạo cơ sở để tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình
- Quyền thừa kế của vợ hoặc chồng được bảo vệ bởi pháp luật, khi vợ hoặc chồngchết trước mặc dù có di chúc truất quyền thừa kế của vợ hoặc chồng khi còn sống nhưng vợhoặc chồng vẫn được hưởng di sản theo Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005
2.1.2.2 Căn cứ xác định thừa kế dựa trên nguyên tắc huyết thống
Quan hệ huyết thống là quan hệ do sự kiện sinh ra cùng một gốc như giữa ông bà vàcha mẹ, giữa cha mẹ đẻ và con, giữa anh chị em cùng cha và mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹkhác cha Trên cơ sở quan hệ huyết thống, cho đến nay diện thừa kế đã được mở rộng rất nhiều
so với trước đây Việc quy định mở rộng diện thừa kế theo quan hệ huyết thống phản ánh tínhchất của quan hệ thừa kế là loại quan hệ tài sản đặc biệt có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụyêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau giữa những người thân thuộc trong gia đình Bên cạnh
đó, nó còn phù hợp với ý chí của người sau khi chết muốn để lại tài sản của mình cho phù hợpvới ý chí của người sau khi chết muốn để lại tài sản của mình cho những người yêu thươngnhất với mình được thừa kế
31 Xem: Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (được sửa đổi bổ sung năm 2010), quy định về điều kiện kết hôn
Trang 312.1.2.3 Căn cứ xác định diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ nuôi dưỡng
Quan hệ nuôi dưỡng xuất phát từ sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng giữa nhữngngười không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn nhân (cha mẹ nhận nuôi con nuôi).Quan hệ nuôi dưỡng có thể được xác lập trên cơ sở nuôi con nuôi được pháp luật thừa nhận,mối quan hệ này được đảm bảo cho trẻ em có quyền chăm sóc, yêu thương khi sinh ra tronghoàn cảnh bất hạnh không được tình yêu thương của cha, mẹ đẻ của mình Đó là quan hệ cha
mẹ với con được xác lập không bằng con đường sinh sản mà theo nguyện vọng của các đương
sự và theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Theo khoản 1 Điều 67 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2010) quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được châm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”;32
Luật nuôi con nuôi năm 2010 cũng quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi” Ngoài ra, khoản
1 Điều 3 về điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, việc nuôi con nuôi chỉ
có thể được xác lập do sự bày tỏ ý chí của người nuôi và người được nuôi hoặc người đại diệncủa người được nuôi trong khuôn khổ thủ tục nuôi con nuôi được tiến hành với sự giám sát củaNhà nước
Quan hệ nuôi dưỡng quy định nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng nhau giữa nhữngngười có quan hệ huyết thống với nhau được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010) cụ thể là:
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niênhoặc thành niên tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, mất khả năng lao động và không có tàisản để tự nuôi mình; con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha
mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhauchăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ33
Ngoài ra, Điều 47 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (được sửa đổi bổ sung năm2010) quy định:
1 Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền chăm nom, chăm sóc giáo dục cháu, sống mẩu mực và nêu gương tốt cho con cháu Trong trường hợp cháu thành niên hoặc chưa thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
32 Khoản 1 Điều 67 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010)
33 Xem: Điều 36, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 (được sửa đổi bổ sung năm 2010)
Trang 32không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại điều 48 của luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu;
2 Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại” 34
Và Điều 48 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) cũng
quy định: “Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục con” Những quy định trên là những quy
phạm mệnh lệnh Nếu những người trong quan hệ huyết thống mà vi phạm nghĩa vụ nuôidưỡng, chăm sóc nhau thì họ có thể bị tước quyền thừa kế theo luật của nhau
Ngoài ra, quan hệ nuôi dưỡng còn được thể hiện giữa bố dượng, mẹ kế với con riêngcủa vợ, của chồng Bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ, của chồng luật không quy định cónghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau Tuy nhiên, trong trường hợp con riêng cùng sống chungvới bố dượng, mẹ kế thì họ có nghĩa vụ chăm sóc nhau: Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ vàquyền chăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình Conriêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung vớimình35
Các quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng là những quan hệ tình cảm có mốiquan hệ gắn bó và mật thiết với nhau Pháp luật nước ta dựa trên ba mối quan hệ này để xácđịnh diện thừa kế theo pháp luật
2.1.3 Hàng thừa kế trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với ngườichết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế mà người chết để lại Phạm
vi những người thừa kế theo pháp luật được xác định thông qua các mối quan hệ nói trên vàđược quyết định thành từng hàng thừa kế theo trật tự người nào có quan hệ gần gũi hơn vớingười chết sẽ đứng ở hàng thừa kế trước36 Theo khoản 1 Điều 676 bộ luật dân sự năm 2005 cóquy định về hàng thừa kế:
“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
34 Điều 47 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (được sửa đổi bổ sung năm 2010)
35 Khoản 3 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 2005
36 Khoản 1, khoản 2 Điều 38 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010)
Trang 33b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà ngươi chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,
cô ruột, cậu ruột, dì ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà nội ngoại, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.” 37
Như vậy, Pháp luật Việt Nam chia những người trong diện thừa kế ra làm ba hàngthừa kế khác nhau căn cứ vào mức độ gần gũi, gắn bỏ nhất đối với người để lại di sản thừa kế
2.1.3.1 Hàng thừa kế thứ nhất
Bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngườichết ở hàng thừa kế này có hai mối quan hệ giữa những người có quyền hưởng di sản vớinhau Đó là mối quan hệ thừa kế vợ chồng và mối quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con
+ Quan hệ thừa kế giữa vợ chồng: Theo khoản 6 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Như vậy,
căn cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa vợ chồng là quan hệ hôn nhân Do đó, vào thời điểm
mở thừa kế nếu quan hệ hôn nhân giữa họ về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại thì họ được quyềnhưởng thừa kế của nhau và thuộc hàng thừa kế đầu tiên Tuy nhiên, cần chú ý các trường hợpsau:
Trường hợp 1: Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn
tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.38
Trường hợp 2: Vợ chồng đang xin ly hôn mà chưa được Tòa án chấp nhận hoặc đã
được tòa án chấp nhận nhưng quyết định hoặc bản án cho ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật.Nếu một người chết, thì người còn sống vẫn được hưởng di sản của người chết.39
Trường hợp 3: Nếu một người có nhiều vợ hoặc nhiều chồng mà tất cả các cuộc hôn nhân đều tiến hành trước ngày 13 tháng 01 năm 1960 ở miền Bắc (ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền Bắc) và trước ngày 25 tháng 3 năm 1977 ở miền Nam (ngày áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật trên toàn quốc) thì việc người đó có nhiều vợ
hoặc nhiều chồng vẫn được chấp nhận Do đó, khi người này chết thì các bà vợ hoặc các ông
chồng (còn sống vào thời điểm đó) đều có quyền hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất và
37 Khoản 1 Điều 676 bộ luật dân sự năm 2005
38 Xem: khoản 1 Điều 680 Bộ luật dân sự năm 2005
39 Xem: Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Thông tư số 06/TATC ngày 22/02/1987 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân
và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác.
Trang 34ngược lại người này có thể hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất khi các bà vợ hoặc các ông chồng
đó qua đời
Trường hợp 4: Đối với các trường hợp hôn nhân không đăng ký kết hôn nhưng được thừa nhận là hôn nhân thực tế (gồm các cuộc hôn nhân tiến hành trước ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật có đủ các điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn) thì quan hệ vợ chồng giữa họ vẫn được thừa nhận nên họ là người thừa kế theo pháp luật
ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau Ở nước ta, trước ngày luật hôn nhân gia đình năm 1986 cóhiệu lực có rất nhiều cặp vợ chồng chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn Theo
đó, thừa kế theo pháp luật trong trường hợp chưa đăng ký kết hôn được giải quyết như sau:Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 thì có nghĩa vụ kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; do đó cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà có mộtbên vợ hoặc chồng chết trước thì bên vợ hoặc chồng còn sống được hưởng di sản của bên chết
để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế Trong trường hợp sau ngày 01 tháng 01 năm
2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước và có tranh chấp
về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tùy từngtrường hợp mà tòa án xử lý như sau: Nếu chưa thụ lý vụ án thì chưa thụ lý; nếu đã thụ lý vụ án
và đang giải quyết thi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.40 Ngoài ra, trongtrường hợp hai vợ chồng đã ly hôn nhưng sau đó quay lại sống chung với nhau trước ngày luậthôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực mà cuộc sống chung đó không bị hủy bỏ bằng mộtbản án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng đó vẫn được chấp nhận Và do đó, họ vẫn là ngườithừa kế hàng thứ nhất của nhau
+ Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con: Quan hệ này được xác lập theo hai căn cứ:Thứ nhất là mối quan hệ huyết thống giữa những người cùng dòng máu trực hệ trong phạm vihai đời liền kề nhau, trong đó cha mẹ đẻ là người đã sinh ra người đó nên được pháp luật quyđịnh ở hàng thừa kế thứ nhất Thứ hai là mối quan hệ nuôi giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Nhưchúng ta đã biết, trong quan hệ nuôi con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ như cha mẹ ruột và con ruột Do đó, việc pháp luật quy định cha mẹ nuôi vàcon nuôi vào hàng thừa kế thứ nhất là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, khi xét đến quan hệ thừa
kế giữa cha mẹ và con, chúng ta cần lưu ý đến trường hợp một người vừa có con nuôi vừa có
40 Xem: Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thảm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số việc tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình