Vấn đề thừa kế là một vấn đề phổ biến và quan trọng trong đời sống xã hội, là chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Khi xã hội càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế và xã hội cũng phát triển đa dạng, nhiều vấn đề thừa kế nếu như trước đây được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán thì nay đã chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các quy phạm pháp luật về thừa kế.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề thừa kế là một vấn đề phổ biến và quan trọng trong đời sống xã hội,
là chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
Khi xã hội càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế và xã hội cũng phát triển
đa dạng, nhiều vấn đề thừa kế nếu như trước đây được điều chỉnh bởi các quy phạmđạo đức, phong tục tập quán thì nay đã chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các quy phạmpháp luật về thừa kế
Cùng với đó, vấn đề thừa kế theo di chúc đã được hầu hết các luật gia, cácnhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu Có thể dễ dàng nhận thấy rằng,
Bộ luật dân sự của các nước đều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc của chủ sởhữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác Quyền định đoạt bằng
di chúc là quyền dân sự được Nhà nước bảo hộ, được ghi nhận trong Hiến pháp củacác nước khác trên thế giới
Ở nước ta hiện nay, vấn đề thừa kế di sản ngày càng là vấn đề được phápluật coi trọng mà song song với đó do quá trình hợp tác, mở rộng quan hệ, hội nhậpquốc tế, giao lưu với các nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đa dạng nên quan hệ dân
sự nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốcgia mà nó đã trở thành vấn đề của hai hay nhiều quốc gia và hình thành nên quan hệthừa kế có yếu tố nước ngoài
Với tiền đề như vậy, Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1995 đánh dấu cho sự ra đời của một loạt các quy phạm pháp luật điềuchỉnh về các vấn đề dân sự có yếu tố nước ngoài, thế nhưng các chế định về thừa kếtheo di chúc có yếu tố nước ngoài thì vẫn còn để trống
Đến Bộ luật dân sự 2005, chế định thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài đã được được quy định trong Điều 768, tuy đã đưa chế định thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài vào một Bộ luật cụ thể nhưng bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ đểđiều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài vốn ngày càng phức tạp
và đa dạng
Với những lý do nêu trên, người viết đã chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam
về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 2Qua nghiên cứu đề tài, người viết tìm hiểu một số khái niệm và quy địnhcủa pháp luật nước ta về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài nói riêng.
Với việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn hoàn thiện hơn nữa những quyđịnh của pháp luật Việt Nam về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật dân sự ViệtNam về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được quy định trong Bộ luậtdân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005
Thông qua phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hiệnhành về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, người viết chỉ ra những mặttích cực và hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu qua đó đưa ra giải pháp nhằm hoànthiện cho pháp luật hiện hành về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các vấn đề về thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật ở Việt Nam Về cơ sở lý luậnchung và các quy định về vấn đề thừa kế theo di chúc của Bộ luật dân sự năm 2005,hiệu quả điều chỉnh của những quy định pháp luật về các điều kiện đó Luận văn tìm
ra những điểm phù hợp với đời sống xã hội và những điểm cần phải bổ sung các quyđịnh về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Qua nghiên cứu, người viết luận văn cũng có những đề xuất nhằm hoànthiện những quy định của pháp luật về vấn đề thừa kế theo di chúc, giúp các nhà lậppháp làm tài liệu tham khảo, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của xã hội trong quan hệthừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được người viết nghiên cứu bằng cách kết hợp các phương phápchủ yếu như phương pháp phân tích luật học; phương pháp phân tích - so sánh;phương pháp khảo sát, phương pháp tổng hợp; phương pháp trích dẫn nhằm hiểu rõhơn các quy định của pháp luật Việt Nam về điều chỉnh về quan hệ thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài
Trang 35 Bố cục đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài;
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài - Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện.
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Theo từ điến luật học của nhà xuất bản từ điển bách khoa thì: “Thừa kế là
sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật”.
Theo bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 Điều 631 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt về tài sản của mình cho người thùa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
Như vậy, Thừa kế theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tàisản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức, có quyềnhưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản theo di chúc hay theo
pháp luật (đối với pháp luật Việt Nam chỉ công nhận thừa kế quyền sử dụng đối với đất đai)
Sự chuyển dịch di sản của người chết sang người sống sẽ được thực hiệntheo hai căn cứ: Nếu căn cứ theo ý chí, nguyện vọng của người chết thì được gọi làthừa kế theo di chúc; Nếu căn cứ theo các qui định của pháp luật thì được coi là thừa
kế theo pháp luật 1
1.1.2 Khái niệm thừa kế có yếu tố nước ngoài
Như đã trình bày ở phần trên, ta có thể khái niệm thừa kế có yếu tố nướcngoài chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đãchết cho cá nhân, tổ chức có quyền thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu củatài sản theo di chúc hoặc theo pháp luật mà ít nhất có một người bên để lại di sản hoặcbên nhận thừa kế có quốc tịch nước ngoài hoặc tài sản thừa kế tồn tại ở nước ngoàihoặc di chúc được lập ở nước ngoài
Ở Việt Nam, thừa kế có yếu tố nước ngoài là một chế định pháp luật lần đầutiên được đưa vào Bộ luật dân sự 2005 nên còn rất mới mẻ và tồn tại nhiều hạn chếtrong thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy thừa kế có yếu tố nước ngoài đã được cụ thể
1 http://my.opera.com/Deloxom/blog/show.dml/1528077
Trang 5hóa thành hai điều luật nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩathừa kế có yếu tố nước ngoài là như thế nào Mặc dù vậy, chúng ta cũng có thể tìmhiểu khái quát về định nghĩa thừa kế có yếu tố nước ngoài qua Điều 758 Bộ luật dân
sự 2005 do thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng là một trong những quan hệ dân sự theonghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, đó là các quan hệ như: hôn nhân và gia đình, laođộng, dân sự, thương mại, tố tụng có yếu tố nước ngoài Điều 758 Bộ luật dân sự 2005
quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài bao gồm: quan hệ nhân thân, quan hệtài sản và căn cứ vào Điều 758 chúng ta có thể hiểu:
Thừa kế có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn
cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Cũng theo Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 thì thừa kế có yếu tố nước ngoài
còn có thể hiểu là quan hệ thừa kế mà trong đó “ít nhất có một người bên để lại di sản hoặc bên nhận thừa kế có quốc tịch nước ngoài; tài sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài;
di chúc được lập ở nước ngoài” 2
1.1.3 Khái niệm thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.1.3.1 Khái niệm di chúc
Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 646 Bộ luật
dân sự năm 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Di chúc chính là phương tiện để phản ánh ý chí
của người có tài sản trong việc định đoạt tài sản của họ cho người khác hưởng sau khingười lập di chúc chết Một người có thể có nhiều bản di chúc định đoạt một loại tài
2 Từ điển luật học – NXB từ điển bách khoa Hà Nội 1999, trang 186
Trang 6sản và những di chúc này đều thể hiện ý chí tự nguyện của họ, phù hợp với những quyđịnh của pháp luật nhưng không phải tất cả các di chúc trên đều phát sinh hiệu lực mà
di chúc có hiệu lực pháp luật là di chúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập di chúc
Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định Theo quyđịnh tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005), dichúc được thể hiện dưới hai hình thức: Di chúc bằng văn bản và di chúc miệng Phápluật chỉ cho phép người lập di chúc miệng trong những trường họp đặc biệt theo quyđịnh tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005) vềchữ viết trong di chúc cũng được pháp luật quy định: Đối với người dân tộc thiểu số
có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình
1.1.3.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”
Như vậy, thông qua Điều 758 và khái niệm “thừa kế có yếu tố nước ngoài”
đã nêu trên, ta có thể đưa ra khái niệm thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nhưsau:
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có mộttrong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài hoặc quan hệ giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Namnhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặcgiữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đếnquan hệ đó ở nước ngoài và quan hệ thừa kế trong đó ít nhất có một người bên để lại
di sản hoặc bên nhận thừa kế có quốc tịch nước ngoài; tài sản thừa kế tồn tại ở nướcngoài; di chúc được lập ở nước ngoài
Trang 71.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Pháp luật Việt Nam quy định về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
đã trải qua một chặng đường phát triển và hoàn thiện
Dưới đây là các chặng đường quan trọng tương ứng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
- Pháp lệnh thừa kế 1990 ngày 30 tháng 8 năm 1990;
- Bộ luật dân sự 1995, được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995, có hiệu lực ngày 01/7/1996;
- Bộ luật dân sự 2005, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006
Đây là hệ thống những văn bản pháp luật điều chỉnh về quan hệ thừa kế nóichung và quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nói riêng Những quyđịnh trong các văn bản qui phạm pháp luật này thể hiện một cách rõ nét chặng đườngphát triển của pháp luật nước ta trong việc điều chình quan hệ thừa kế theo di chúc cóyếu tố nước ngoài
1.2.1 Trước khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực
Trước khi BLDS 1995 có hiệu lực pháp luật thì Pháp lệnh thừa kế năm 1990
là văn bản QPPL điều chỉnh về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ởnước ta
Trong điều kiện bấy giờ, tình hình giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càngphát triển, các quan hệ nẩy sinh lĩnh vực thừa kế không chỉ góỉ gọn trong phạm viquốc gia mà đã vượt ra khỏỉ phạm vì đỉều chỉnh cũa hệ thống pháp luật các nướckhác Chính vì vậy, pháp lệnh thừa kế 1990 ra đời đã giải quyết được một phần nào đó
về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài
Pháp lệnh 1990 quy định tại điều 37 về quyền thừa kế của người nước ngoàỉnhư sau:
“Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế của người nước ngoàỉ đối với tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam theo quy chế về người nước ngoài tại Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận”.
Trang 8Pháp lệnh thừa kế 1990 đã xác định nguyên tắc chung là: Nhà nước ViệtNam bảo đảm người nước ngoài được hưởng thừa kế đối với di sản thừa kế có trênlanh thổ Việt Nam để lại và việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ởnước ngoài do người thân của họ để lại ở nước ngoài cũng được cho phép bảo hộ.
Như vậy Pháp lệnh 1990 còn thiếu những quy định chi tiết, nhất là nhữngquy phạm xung đột làm cơ sở để giải quyết những vụ việc cụ thể về thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài Nên trong thời gian này việc giai quyết các quan hệ thừa
kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài gặp nhỉều khó khăn
1.2.2 Sau khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực đến trước khi Bộ luật dân
sự 2005 có hiệu lực
Trước những thiếu sót của Pháp lệnh 1990 và đòi hỏi của những quan hệ vềthừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều hơn, phức tạp và đa dạnghơn Yêu cầu đặt ra phải xây dựng quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này chínhxác hơn Trước yêu cầu đó, nhà nước ta đã ban hành BLDS 1995 (được Quốc hộithông qua 28/10/1995)
Chế định thừa kế nói chung và thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng đượcquy định rõ trong phần thứ 4 và một số điều luật khác
+ Tại khoản 3 và 4 điều 15 BLDS quy định:
“3 - BLDS được áp dụng đối với các quan hệ dân sự có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia tại Việt Nam, trừ một số quan hệ dân sự mà pháp luật
có quy định khác”.
4 - BLDS cũng áp dụng đối với các quan hê dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.”.
+ Tại điều 826 BLDS cũng nêu rõ:
“Trong bộ luật này quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đoi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài
Vậy, các điều khoản của BLDS liên quan đến chế định về thừạ kế, đồng thời
là cơ sở pháp lý để áp dụng giải quyết các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoàixảy ra Nhà nước ta bảo đảm quyền bình đẳng về thừa kế, mỗi cá nhân đều có quyềnlập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế
Trang 9theo pháp luật Đây là nguyên tắc chung trong lĩnh vực thừa kế cũng được áp dụngđối với các trường hợp khi các quan hệ đó có yếu tố nước ngoài và mặc nhiên cónghĩa nước CHXHCN Việt Nam bảo hộ, quyền thừa kế của người nước ngoài đối vớitài sản có trên lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, do chế định về quyền sở hữu có quy định khác nhau giữa địa vị pháp lý của người Việt Nam với người nước ngoài chonên quyền thừa kế của người nước ngoài cũng khác với quyền thừa kế của công dân Việt Nam
Về việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ở nước ngoài Phápluật nước ta không có các quy định cấm mà trên thực tế Nhà nước ta cho phép và bảo
hộ công dân Việt Nam hiện đang cư trú trong nước được nhận các di sản thừa kế màngười thân của họ để lại tại nước ngoài
Đối với việc thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam ở nước ngoài tạiđiều 633 BLDS quy định những di chúc bằng văn bản dưới đây cũng có giá trị như dichúc được cơ quan công chứng nhà nước chứng nhận hoặc UBND xã, phường, thịtrấn chứng thực
“Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó”.
Và “di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của
cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó”.
Đối với trường hợp công dân Việt Nam lập di chúc ở nước ngoài theo phápluật của nước ngoài thì các di chúc này được coi là hợp pháp nếu pháp luật nướcngoài được áp dụng đe lập di chúc không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luậtViệt Nam (điểm 3 Điều 827 và 828)
Như vậy so với pháp lệnh 1990 thì BLDS 1995 đã có những quy địnhnguyên tắc chung áp dụng điều ựớc quốc tế và pháp luật nước ngoài đối với các quan
hệ dân sự có yếu tố nựớc ngoai (tại Điều 827, 828, 829) Nhưng chế định thừa kế còn
để trống
1.2.3 Từ khi Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực đến nay
Để khắc phục những nhược điểm, bất cập của BLDS 1995, BLDS 2005 đãđược ra đời và bổ sung thật sự cần thiết cho ngành luật dân sự nói chung và là một sự
bổ sung cần thiết về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Trang 10BLDS 2005(14/0602005) có hiệu lực 01/01/2006 quy định quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài trong phần 7 cụ thề tại điều 767 và điều 768
Điều 767 BLDS 2005 quy định như sau:
“Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật củạ nước mà người để lại
di sản thừa kế có quốc tịch trươc khi chết.
Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi
Theo điều 768 BLDS 2005 quy định :
“1 Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân
2 Hình thức di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc.” Theo điều 13 Nghị định 138/2006 quy định: “Trong trường hợp, người lập
di chúc không có quốc tịch hoặc có hai hay, nhiều qụốc tịch nước ngoài thì việc xác định pháp luật áp dụng về thừa kế theo di chúc tuân theo quy định tại điều 760 của BLDS 2005.”
Theo điều 760 BLDS 2005 quy định :
“1 Trong trường hơp bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của CHXHCN Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật củạ nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật CHXHCN Việt Nam.
Trang 112 Trong trường hợp bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của CHXHCN Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiềụ quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếụ người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân ”
Thừa kế theo di chúc Việt nam lựa chọn hệ thuộc luật nhân thân và hìnhthức của di chúc: Chọn hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi
Với sự ra đời của BLDS 2005 là bước tiến dài trong viêc xây dựng các quyphạm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Bộ luật này đã làm đượcnhững điều mà các văn bản trước chưa quy định, tạo thuận lợi lớn trong việc giảiquyết xung đột pháp luật
1.3 Những đặc trưng cơ bản về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Cũng giống như những quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài cũng có những đặc điểm riêng cơ bản để phân biệt quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài với các quan hệ pháp luật khác.
1.3.1 Về chủ thể của thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế, chủ thể là yếu tố cơ bản trong ba yếu tố góp phầnquyết định việc xác định quan hệ thừa kế là một quan hệ thừa kế đơn thuần hay là mộtquan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc cóyếu tố nước ngoài nói riêng
Về vấn đề chủ thể của quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, theo pháp luật Việt Nam thì có ba loại sau:
- Cá nhân
Mỗi một cá nhân đều gắn với một quốc gia nhất định về quyền và nghĩa vụ,
có những cá nhân sẽ mang nhiều quốc tịch, có những cá nhân lại không mang mộtquốc tịch nào Chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định một quan hệ thừa kếtheo di chúc có yếu tố nước ngoài hay không Có thể nói quan hệ giữa những cá nhân
Trang 12(người để lại di sản, người thừa kế) mang quốc tịch khác nhau cũng chính là quan hệ
thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Vì vậy, xác định quốc tịch của một cá nhân đồng nghĩa với việc xác địnhđược cá nhân đó là công dân nước nào Việc một cá nhân có quốc tịch của một quốcgia nhất định hay không là tùy thuộc vào những quy định về hưởng quốc tịch củaquốc gia đó Để một cá nhân được hưởng quốc tịch của nước mình, các nước thườngthừa nhận những hình thức hưởng quốc tịch sau:
- Hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ.
- Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập.
- Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn.
- Hưởng quốc tịch theo sự phục hồi.
Ở Việt Nam, vấn đề quốc tịch được quy định trong luật quốc tịch được quốchội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, trong đó quy địnhtiêu chí xác định người có quốc tịch Việt Nam
Công dân Việt Nam khi muốn tham gia vào quan hệ dân sự nói chung vàquan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng thì cá nhân đó phải có tư
cách chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) của người đó Theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” Cũng theo điều luật trên
Bộ luật dân sự 2005 còn quy định ”Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Ngoài năng lực pháp luật Bộ luật dân sự 2005 cũng đề cập đến “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 17 Bộ luật dân sự 2005) Đáp
ứng được yêu cầu về tư cách chủ thể theo Bộ luật dân sự 2005 công dân Việt Nam có
đủ tư cách tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc trong tư pháp quốc tế
Người nước ngoài là một trong những chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật
Tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nóiriêng Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều lấy dấu hiệu quốc tịch làm căn
cứ để định nghĩa người nước ngoài, Việc xác định cá nhân là người nước ngoài đượcquy định cụ thể bằng các điều luật ở mỗi nước
Trang 13Để tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì
người nước ngoài cũng phải phải có đầy đủ năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) Ở các quốc gia khác nhau thì các quy định về năng lực pháp luật và
năng lực hành vi cũng có sự khác nhau vì vậy dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật
Hiện nay, trong khoa học pháp lý của Việt Nam cũng như ở một số nướcđều quy định rằng năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của người đó đượchưởng những quyền và gánh vác những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Để giảiquyết xung đột pháp luật về năng lực pháp luật dân sự của công dân nước ngoài, phápluật các nước thường quy định người nước ngoài có năng lực pháp luật ngang vớicông dân nước sở tại theo nguyên tắc đãi ngộ như công dân
Khoản 2 Điều 761 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.
Theo pháp luật Việt Nam và theo các Hiệp định tương trợ tư pháp ký vớicác nước, năng lực hành vi được xác định theo pháp luật của nước mà đương sự là
công dân (áp dụng hệ thuộc Luật quốc tịch) Ví dụ: theo khoản 1 Điều 761 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch” Nhưng nếu việc
thực hiện, xác lập các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thì xác địnhtheo pháp luật Việt Nam
Tóm lại, hầu hết pháp luật của các quốc gia định nghĩa người nước ngoàiđều dựa vào quốc tịch Có những quốc gia thừa nhận một người có thể có hai haynhiều quốc tịch, có những quốc gia chỉ thừa nhận một quốc tịch duy nhất Nhìn chungmột người đủ tư cách tham gia vào quan hệ dân sự trong Tư pháp quốc tế đều có thểgọi là người nước ngoài
- Pháp nhân
Ngoài cá nhân được pháp luật các nước quy định có tư cách chủ thể trong
Tư pháp quốc tế nói chung và thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng thìpháp nhân là một tổ chức của con người, được pháp luật mỗi nước quy định có nănglực chủ thể
Trang 14Như đã nói trên, pháp nhân là một tổ chức của con người, được pháp luậtcác quốc gia quy định, có năng lực chủ thể 3 Pháp luật hầu hết các nước đều côngnhận một tổ chức là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập hợppháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức khác và tựchịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luậtmột cách độc lập.
Điều 84 Bộ luật dân sự 2005 Việt Nam quy định:
“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1 Được thành lập hợp pháp;
2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Một tổ chức có đầy đủ các điều kiện nêu trên sẽ đương nhiên trở thành phápnhân hợp pháp, thế nhưng để có thể tham gia quan hệ thừa kế theo di chúc trong Tưpháp quốc tế thì pháp nhân ấy phải có năng lực pháp luật dân sự và pháp luật mỗinước đều có những quy định cụ thể về năng lực pháp luật của pháp nhân trong nước
Điều 86 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân
sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình; Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân; Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự”
Nói cách khác, năng lực pháp luật dân sự, điều kiện và thủ tục thành lập,hợp nhất, sát nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân, thanh lý tài sản khi giải thể phápnhân do pháp luật quy định Các pháp nhân trong nước khi tham gia vào quan hệ Tưpháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng bất kể dùhoạt động trong nước hay ngoài nước đều tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vitài sản của mình, Quốc gia của pháp nhân đó chỉ bảo hộ về mặt ngoại giao đối vớiquyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân trong nước
3 Giáo trình tư pháp quốc tế Đại học luật Hà Nội – NXB Tư pháp.
Trang 15Ngoài ra, pháp nhân nước ngoài là một chủ thể phổ biến trong Tư pháp quốc
tế nói chung và trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng
Thông thường pháp nhân phải mang quốc tịch của một nước nhất định vàđược tổ chức, hoạt động theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch,khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở nước nào đó, năng lực pháp luậtdân sự của pháp nhân trên lãnh thổ nước sở tại tùy thuộc vào quy định của pháp luậtnước sở tại Tuy nhiên, những vấn đề về tổ chức nội bộ, giải thể thanh lý tài sản khigiải thể vẫn phải tuân theo pháp luật mà pháp nhân đó mang quốc tịch Như vậy cùngmột lúc pháp nhân nước ngoài phải tuân theo hai hệ thống pháp luật là luật của nước
sở tại và pháp luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 5 Điều 3 nghị định 138/2006/NĐ-CP
thì “Pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài”,
việc áp dụng pháp luật để xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước
ngoài tuân theo quy định tại Điều 765 Bộ luật dân sự 2005 “Năng lực pháp luật dân
sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân
đó được thành lập, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều này” khoản 2 quy định
“Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Lúc này năng lực pháp luật dân sự của pháp
nhân nước ngoài được xác định như pháp nhân trong nước và được xác định theoĐiều 86 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 2 Điều 10 Nghị định 138/2006/NĐ-CP Cũngmang đặc điểm chung của hầu hết pháp luật của các nước, Việt Nam cũng căn cứ vàohai hệ thuộc để xác định năng lực pháp luật của pháp nhân nước ngoài: hệ thuộc luậtquốc tịch của nước nơi pháp nhân đăng kí thành lập và hệ thuộc nơi thực hiện hành vi
- Quốc gia
Quốc gia là một chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ thừa kế có yếu tốnước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng,khi tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào trong tư pháp quốc tế thì quốc gia đềuđược hưởng quy chế pháp lý đặc biệt Quốc gia khi tham gia vào quan hệ thừa kế theo
di chúc có yếu tố nước ngoài thường được biết đến với các trường hợp thừa kế đối vớicác di sản không người thừa kế là động sản và bất động sản
Trang 161.3.2 Về khách thể của thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Ngoài các chủ thể được nêu ở phần trên thì khách thể của quan hệ thừa kế làmột tiểu tố đề xác định quan hệ đó có thể là quan hệ thừa kế theo di chúc có yều tốnước ngoài hay không Pháp luật các nước hầu hết đều thừa nhận tài sản liên quan đếnquan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc ở nước ngoài thì đều thuộc đối tượng điềuchỉnh của Tư pháp quốc tế
Điều 758 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: “quan hệ dân sự có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài thì đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.”
Qua đó ta thấy di sản thừa kế có mối quan hệ với quyền sở hữu, quyền sởhữu tài sản của cá nhân là cơ sở chủ yếu để xác định được di sản thừa kế
Để điều chỉnh những tranh chấp xung quanh vấn đề tài sản có yếu tố nướcngoài, pháp luật các nước chủ yếu dựa vào các quy phạm xung đột Đa số các quyphạm xung đột của pháp luật các nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam đều đượcxây dựng dựa vào hệ thuộc luật nơi có vật
Theo khoản 1 Điều 766 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định thì việc xáclập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đốivới tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợpquy định tại khoản 2 và khoản 4 điều này Tài sản có thể được chia thành nhiều loạinhư tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tuy nhiên trong quan hệ thừa kế hầu hết cácquốc gia trên thế giới đều chia tài sản thành hai loại đó là động sản và bất động sản.Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật củanước nơi có tài sản Ví dụ: tại khoản 3 Điều 766 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
1.3.3 Sự kiện pháp lý
Sự kiện pháp lý trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài cóthể là sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài và phải là sự kiện hành viphù hợp với pháp luật quốc gia sở tại hoặc pháp luật nước ngoài
Ví dụ: Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoàinhư người Việt Nam thường trú ở nước ngoài chết ở nước ngoài và có di chúc để lại
di sản ở Việt Nam hoặc người nước ngoài thường trú ở Việt Nam chết lập di chúc ởViệt Nam và để lại di sản thừa kế ở nước ngoài
Trang 171.4 Phương pháp điều chỉnh và nguồn luật điều chỉnh về quan hệ thừa
kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.4.1 Phương pháp điều chỉnh
Do quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được hiểu thông quaquan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên phương pháp điều chỉnh của quan hệ dân sựtheo nghĩa rộng cũng chính là phương pháp điều chỉnh của thừa kế có yếu tố nướcngoài
Phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện pháp,
cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng)
có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các quan hệ này phát
triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị 4 Theo đó , phương pháp điều chỉnh cóyếu tố nước ngoài cũng là các biện pháp, cách thức tác động lên quan hệ thừa kế theo
di chúc có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ này phát triển theo hướng có lợi chonhà nước đó
Các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệthừa kế được biểu hiện ở hai phương pháp cụ thể là:
4 http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465
5 http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465
Trang 18quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam cũng được đem ra áp dụng cho người nướcngoài cư trú tại Việt Nam.
Trong thực tiễn, việc điều chỉnh các quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế
được áp dụng bởi các quy phạm thực chất thống nhất (là quy phạm thực chất được xây dựng bằng cách các quốc gia kí kết, tham gia các Điều ước quốc tế hoặc chấp nhận và sử dụng các Tập quán quốc tế) Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực nhất định,
như xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, điều chỉnh về quan hệ sở hữu trítuệ có yếu tố nước ngoài, các quốc gia cũng ban hành trong hệ thống pháp luật nướcmình những quy phạm pháp luật thực chất, trực tiếp điều chỉnh những quan hệ phátsinh trong các lĩnh vực này
Việc áp dụng phương pháp điều chỉnh này làm cho mối quan hệ tư phápquốc tế nói chung và thừa kế trong tư pháp quốc tế nói riêng được điều chỉnh nhanhchóng, các vấn đề cần quan tâm được điều chỉnh ngay, các chủ thể của quan hệ đó vàcác cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian, tránhđược việc phải tìm hiểu pháp luật nước ngoài vốn là vấn đề rất phức tạp Tuy nhiên,phương pháp này cũng có điểm hạn chế, do quy phạm thống nhất có số lượng không
nhiều (vì mỗi nước có những lợi ích khác nhau nên khó cùng nhau thỏa thuận ký kết hoặc tham gia các Điều ước quốc tế, hoặc cùng sử dụng các Tập quán quốc tế, một số lĩnh vực hiện nay hầu như rất ít quy phạm thực chất thống nhất như lĩnh vực thừa kế, hôn nhân và gia đình…), không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh hết quan hệ tư pháp
quốc tế đặc biệt là quan hệ thừa kế theo di chúc diễn ra ngày càng phức tạp và đadạng6
Vì vậy, khi không có quy phạm thực chất thống nhất thì phải có phươngpháp khác để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.4.1.2 Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp làphương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nào sẽđược áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
cụ thể đang xem xét
Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật không quy định sẵn quyền, nghĩa
vụ đối với các chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế mà nó chỉ có vai trò xác định
6 http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465
Trang 19hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng (chẳng hạn Điều 768 Bộ luật dân sự 2005 quy định năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người đó lập di chúc là công dân và hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật nước nơi lập di chúc) Quy phạm xung đột được xây dựng bằng cách các quốc gia tự ban hành trong hệ thống pháp luật của nước mình (gọi là quy phạm xung đột nội địa), ngoài ra nó còn được xây dựng bằng cách các quốc gia thỏa thuận
ký kết các Điều ước quốc tế (gọi là quy phạm xung đột thống nhất) 7
Do phải thông qua khâu trung gian “chọn luật” áp dụng nên việc điều chỉnh
quan hệ tư pháp quốc tế mất nhiều thời gian Nhiều trường hợp quy phạm xung độtdẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài, việc tìm hiểu nội dung pháp luật nước ngoài làrất khó khăn đối với các bên đương sự và cơ quan có thẩm quyền vì do các nước cócác điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội khác nhau nên việc xây dựng pháp luật cũng
có những điểm khác nhau như đã trình bày Mặc dù vậy, do việc xây dựng quy phạmthực chất thống nhất rất phức tạp, số lượng các quy phạm này không đáp ứng đượcyêu cầu điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, trong khi
đó số lượng các quy phạm xung đột lại nhiều hơn và tham gia điều chỉnh hầu hết cácquan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài bởi vậy phương pháp điều chỉnhtrực tiếp là phương pháp chủ yếu hiện nay
Phương pháp xung đột (phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp
đặc trưng và cơ bản của tư pháp quốc tế Đây là phương pháp điều chỉnh chỉ được ápdụng trong ngành luật tư pháp quốc tế mà không được áp dụng trong các ngành luật
và hệ thống pháp luật khác Qua việc nghiên cứu các ngành luật khác cho thấy, khôngngành luật nào áp dụng phương pháp điều chỉnh này Việc điều chỉnh các quan hệ xãhội của các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và ngay cả Luật quốc tếthực hiện bằng cách sử dụng quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật là nguồn
của chúng mà không cần phải thông qua khâu trung gian là “chọn luật” 8
Trong thực tiễn, do các quy phạm thức chất thống nhất có số lượng ít,không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh ngàycàng đa dạng , trong khi đó quy phạm xung đột được xây dựng một cách đơn giảnhơn, nhanh hơn nên có số lượng nhiều hơn Do đó quy phạm xung đột đã điều chỉnh
7
http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465
8 http://www.luathoc.net/index.php?option=com_content&task=view&id=37&Itemid=465
Trang 20hầu hết các quan hệ tư pháp quốc tế trong đó có quan hệ về thừa kế Vì vậy phương
pháp điều chỉnh gián tiếp (phương pháp xung đột) được coi là phương pháp cơ bản
trong giai đoạn hiện nay
1.4.2 Nguồn luật điều chỉnh
Nguồn của tư pháp quốc tế (TPQT) nói chung là các hình thức chứa đựng
và thể hiện quy phạm của TPQT
Nguồn của luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài là các hình thức chứa đựng và thể hiện quy phạm của quan hệ thừa thế theo dichúc có yếu tố nước ngoài
Pháp luật Việt Nam quy định rõ tại Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 cề việc ápdụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, phápluật nước ngoài và tập quán quốc tế
Có thể thấy, nguồn của tư pháp quốc tế Việt Nam để điều chỉnh quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài nói riêng bao gồm pháp luật quốc gia (Bao gồm pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài) và Điều ước quốc tế (do tập quán quốc tế chủ yếu áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng nên không được áp dụng trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài).
Như vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài bao gồm Điều ước quốc tế, pháp luật các quốc gia và pháp luật Việt Nam
1.4.2.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là một văn kiện tập hợp những quy phạm pháp luật quốc
tế do hai (song phương) hay nhiều (đa phương) chủ thể của quan hệ pháp luật TPQT
thỏa thuận hoặc ký kết nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụcủa các bên trong quan hệ quốc tế
Tên gọi của các điều ước quốc tế có thể khác nhau (VD: Công ước, Hiệp ước, Nghị định thư…) nhưng giá trị pháp lý là như nhau.
Có thể có các điều ước quốc tế song phương, đa phương, khu vực…
Có những điều ước quốc tế chỉ mang tính nguyên tắc, cũng có những điềuước quốc tế quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể…
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Điều ước quốc tế song phương vớicác nước trong việc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Trang 21Các Điều ước quốc tế này cũng trở thành nguồn quan trọng của luật điều chỉnh quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
1.4.2.2 Pháp luật của các quốc gia
Các quan hệ mà tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ mang tính chấtdân sự có yếu tố nước ngoài Những quan hệ này rất đa dạng và phức tạp
Mỗi đất nước có một truyền thống, tập quán, văn hóa khác nhau nên khôngthể chỉ sử dụng pháp luật trong nước để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội mangtính chất dân sự có yếu tố nước ngoài, nên để chủ động trong việc điều chỉnh các quan
hệ TPQT mỗi quốc gia đã tự ban hành trong hệ thống PL của mình các quy phạmxung đột, thực chất trong nước
- Xung đột pháp luật và để giải quyết xung đột pháp luật có nhiều phươngpháp, trong đó có phương pháp xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột quốc gia
Tại khoản 3 Điều 759 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc
áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này
và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Theo quy định này thì pháp luật nước ngoài được áp dụng khi có quy phạmxung đột dẫn chiếu tới pháp luật Việt Nam hoặc trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên
1.4.2.3 Pháp luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam là nguồn chủ yếu của tư pháp quốc tế Việt Nam
Theo khoản 3 Điều 759 BLDS 2005 quy định thì: “Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc
Trang 22áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tếViệt Nam, làm cơ sở và nền tảng cho việc xây dựng các quy định về tư pháp quốc tế
Quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi
Bộ luật dân sự 2005, phần thứ bảy, Điều 767 và Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày
15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộluật dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ thừa kếtheo di chúc có yếu tố nước ngoài, Chương 2 Điều 12
1.5 Các nguyên tắc cơ bản giải quyết quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Ngoài các nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế như: tôn trọng sự bình đẳng vềmặt pháp lý quốc tế giữa các chế độ sở hữu khác nhau, tôn trọng quyền miễn trừ tưpháp tuyệt đối của quốc gia trong các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tốnước ngoài hay nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa công dân quốcgia sở tại và người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ quốc gia
sở tại, nguyên tắc có đi có lại, ủy thác tư pháp nhờ cơ quan nước ngoài thực hiện một
số công đoạn của tố tụng để điều tra một vụ án nào đó, công nhận và cho thi hành cácbản án và quyết định Tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài thì quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài cũng có những nguyên tắc riêng điềuchỉnh
1.5.1 Nguyên tắc luật quốc tịch
Hệ thuộc luật quốc tịch là hệ thuộc được áp dụng phổ biến trong quan hệ thừa
kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Theo đó, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tốnước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì phap luật nước đó sẽ đem ra áp dụng
để điều chỉnh quan hệ đó Luật quốc tịch là luật của nước mà đương sự là công dân.Như vậy, hệ thuộc luật quốc tịch chỉ áp dụng trong trường hợp xác định được quốctịch của người để lại di sản Trên thực tế hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng ở hầuhết các nước Châu Âu như Pháp, Đức, Italia… và một số nước khác như Cuba, NhậtBản… hệ thuộc luật quốc tịch nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân nước mình tránh
Trang 23phụ thuộc vào luật nơi cư trú Một số nước như Áo, Thụy Sĩ, Chi Lê… thì áp dụngđồng thời cả hai hệ thuộc tức là buộc quy chế nhân thân của người nước ngoài phải lệthuộc vào luật nước mình (Luật nơi cư trú) đồng thời buộc tất cả các công dân nướcmình sống ở nước ngoài phải lệ thuộc vào pháp luật nước mình (luật quốc tịch)9.
Ở các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây hai loại hệ thuộc trên đều được áp dụngtùy từng lĩnh vực và mức độ khác nhau Nhìn chung hệ thuộc luật quốc tịch có ưu thếtrong các lĩnh vực ngư: năng lực pháp luật, năng lực hành vi, các quan hệ tài sản chủyếu là động sản, quan hệ nhân thân phi tài sản
Điển hình như Điều 768 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 “Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân và hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc” và khoản 4 Điều 767 “Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết” Những quy
định trên của pháp luật Việt Nam đã sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch, đây là hệ thuộcquan trọng điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài trong phápluật Việt Nam
1.5.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú
Để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, pháp luậtViệt Nam ngoài việc ghi nhận hệ thuộc luật quốc tịch của đương sự còn ghi nhậnthêm hệ thuộc luật nơi cư trú của đương sự Quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tốnước ngoài được điều chỉnh theo pháp luật của nước nơi đương sự cư trú Khi xét vềmặt nội dung khái niệm nơi cư trú trong luật của các nước hoàn toàn không giốngnhau, tùy điều kiện từng nước và trường hợp cụ thể có thể hiểu luật nơi cư trú là luậtnơi cư trú cuối cùng của đương sự Do đó khi chúng ta áp dụng vào từng trường hợp
cụ thể của từng nước khác nhau chúng ta phải dựa theo đặc điểm riêng của từng hệthống pháp luật mà các nước có thể áp dụng một trong hai, cả hai hoặc dạng khác củaluật nhân thân Ở các nước như Pháp, Đức, Italia… hệ thuộc luật quốc tịch được ápdụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực, còn ở các nước theo hệ thống pháp luật chung(common law) như Anh, Mỹ, Na Uy, Đan Mạch và các nước Mỹ latinh như Brazil,
9 Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh Giáo trình tư pháp quốc tế khoa luật Đại học Cần Thơ năm 2002
Trang 24Nicaragoa… thì hệ thuộc luật nơi cư trú được áp dụng hàng đầu trong nhiều lĩnhvực10
Trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sựđược áp dụng trong một số quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nếukhông xác định được quốc tịch của người để lại di sản thì thừa kế hệ thuộc luật nơi cưtrú được áp dụng đối với những người không có quốc tịch hoặc hai quốc tịch: nếuđương sự là người không quốc tịch thì áp dụng theo luật của nước nơi người đóthường xuyên cư trú, nếu đương sự là người hai quốc tịch thì áp dụng theo luật củanước nơi đương sự đang cư trú hiện tại Khi đó luật nơi cư trú được đem ra áp dụngcho những trương hợp ngoại lệ được nêu ra ở trên cho phù hợp với thực tiễn xã hội cóthể xảy ra nên pháp luật cũng cần linh động dự đoán và đưa ra cách giải quyết phùhợp và thỏa đáng hơn
Ở Việt Nam hiện nay pháp luật trong nước điều chỉnh về thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài thường có xu hướng thiên về áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trúcủa đương sự Việc mở rộng áp dụng nguyên tắc này là phù hợp với thực tế vì thôngthường nơi cư trú của đương sự làm đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu của quy phạmxung đột
1.5.3 Nguyên tắc luật tòa án
Hệ thuộc luật tòa án được hiểu là pháp luật của nước có tào án có thẩm quyền
Tòa án có thẩm quyền khi giải quyết vụ việc chỉ áp dụng luật nước mình (kể cả luật nội dung và luật hình thức) Hiện nay trong khoa học pháp lý nói chung và ở Việt
Nam nói riêng thì luật tòa án thường được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng là cảluật nội dung và luật hình thức còn theo nghĩa hẹp thì chỉ luật hình thức (luật tốtụng)11 Khi xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài về nguyên tắc thì chỉ áp dụng phápluật nước mình Trong pháp luật của hầu hết các nước điều ghi nhận nguyên tắc này.Đây là hệ thuộc được áp dụng phổ biến nhất trong việc giải quyết những vấn đề về tốtụng về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Tuy vậy cũng có những trường hợpngoại lệ không áp dụng luật tòa án: khi các hiệp định quốc tế và luật trong nước cóquy định rằng có thể áp dụng hình thức tố tụng nước ngoài hoặc luật trong nước có
10 Giáo trình tư pháp quốc tế Đại học luật Hà Nội – NXB Tư pháp năm 2004, trang 46
11
Giáo trình tư pháp quốc tế Đại học luật Hà Nội – NXB Tư pháp năm 2004
Trang 25quy định năng lực hành vi tố tụng của những người trong các vụ án dân sự hoặc có thểxác định theo luật tòa án hoặc có thể được xác định theo luật nhân thân.
Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định luật toàn án được áp dụng trong việcphân chia di sản là động sản và bất động sản Cụ thể khoản 3 Điều 766 Bộ luật dân sự
2005 “Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản”.
1.5.4 Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi
Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi được hiểu là hành vi được thực hiện ởnước nào sẽ được điều chỉnh theo pháp luật nước đó, nguyên tắc luật nơi thực hiệnhành vi được áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài
Theo Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, điều chỉnh về hành vi lập di chúc đượcthực hiện ở đâu thì pháp luật nước đó sẽ được áp dụng để xác định hình thức của dichúc hợp pháp, nếu di chúc đó được lập ở Việt Nam thì tuân theo pháp luật Việt Nam.Theo khoản 2 Điều 768 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 thì hình thức của di chúc phảituân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc
Việc áp dụng nguyên tắc này tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền củanước nơi có di chúc được lập dễ dàng xác định tính hợp pháp của di chúc
Tóm lại, những nguyên tắc cơ bản nêu trên điều chỉnh quan hệ thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo cơ sở pháp lývững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của các bên đương sự, góp phần thúc đẩygiao lưu dân sự phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ đối ngoại vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế
Trang 26CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI - THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 2.1 Pháp luật Việt Nam quy định về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu
tố nước ngoài
Ở phần này, người viết phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trongviệc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, các vấn đề về nănglực lập, sửa đổi, bổ sung, thay đổi và hủy bỏ di chúc di chúc, về hình thức di chúc vànội dung di chúc, về hiệu lực của di chúc, thẩm quyền xét xử và trình tự thủ tục củaTòa án Việt Nam đối với tranh chấp về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài và vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài,nhằm giúp người đọc nắm rõ hơn các vấn đề liên quan đến quan hệ thừa kế theo dichúc có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay
2.1.1 Năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay đổi và hủy bỏ di chúc di chúc
Trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì người để lại di sản
có thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam khi lập di chúc phân chia tài sản củamình cho người khác sau khi chết và để di chúc có hiệu lực pháp luật cần phải xácđịnh trong khi lập di chúc người đó có đầy đủ năng lực hành vi lập di chúc haykhông Từ việc xác định này sẽ góp phần bảo vệ ý chí, quyền tự do định đoạt tài sảncủa người để lại di sản sau khi chết và bảo đảm việc phân chia di sản theo đúng ýnguyện của người chết
Trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, thì vấn đề năng lựclập, thay đôi và hủy bỏ di chúc của người lập di chúc được xác định theo khoản 1
Điều 768 Bộ luật dân sự năm 2005 Theo quy định tại điều này thì “năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân.” Và quy định này đã được khoản 1 Điều 13 Nghị định số
138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thihành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài hướngdẫn như sau:
“Năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch Trong trường hợp người lập di chúc không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì việc
Trang 27xác định pháp luật áp dụng về thừa kế theo di chúc tuân theo quy định tại Điều 760 của Bộ luật dân sự và Nghị định này.” Như vậy, theo hai quy định này thì Việt Nam
áp dụng nguyên tác luật quốc tịch để xác định năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế,huỷ bỏ di chúc của người lập di chúc Có nghĩa là áp dụng pháp luật của nước màngười lập di chúc có quốc tịch Đối với quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nướcngoài thì người lập di chúc có thể là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài.Trong trường hợp người lập di chúc là công dân Việt Nam thì áp dụng pháp luật ViệtNam
Đối với trường hợp người lập di chúc là người nước ngoài thì người nước ngoài
“Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Như vậy, theo quy định tại
khoản 1 Điều 760 thì năng lực lập di chúc của người không có quốc tịch được xácđịnh theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú Nếu người đó cư trú ở nước ngoàithì áp dụng pháp luật nước ngoài Nếu người đó cư trú ở Việt Nam thì áp dụng phápluật Việt Nam và nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam
Từ đó ta thấy, pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú để giải quyết xungđột pháp luật về năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc đối vớingười không có quốc tịch Ví dụ: Anh T là người không quốc tịch Anh cư trú tạiCampuchia và sang Việt Nam làm việc, thời gian sau anh bị bệnh hiểm nghèo và chết
ở Việt Nam Trước khi chết anh có lập di chúc ở Việt Nam Trong trường hợp này,năng lực lập di chúc của anh T được xác định theo pháp luật của nước mà anh cư trú
Trang 28là ở nước Campuchia Giả sử, anh không có nơi cư trú tại Campuchia hoặc bất kìnước nào khác thì năng lực lập di chúc của anh được xác định theo pháp luật ViệtNam.
- Người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài Đối với trường hợp người lập
di chúc là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì năng lực lập di chúc củangười này được xác định theo khoản 2 Điều 760 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định
như sau: “Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và
cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người
đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân.” Theo quy
định này, đối với trường hợp một người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thìnăng lực lập di chúc của người này tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốctịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế
Ví dụ: Ông A mang hai quốc tịch, một quốc tịch nước X một quốc tịch nước Y.Trong một lần sang Việt Nam làm việc thì không may ông bị tai nạn giao thông vàchết ở Việt Nam Ông có lập di chúc dành một phần tài sản của ông cho bà B quốctịch Việt Nam Trong trường hợp này nếu ông A cư trú ở nước X thì áp dụng phápluật nước X để xác định năng lực lập di chúc của ông còn nếu ông A cư trú ở nước Ythì áp dụng pháp luật nước Y để xác định năng lực lập di chúc của ông
Đối với, trường hợp người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó
có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối quan
hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân, về việc áp dụng pháp luật của nước
mà người đó có quốc tịch và có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ côngdân được quy định tại Điều 5 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thì “đương sự có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về mối quan hệ gắn bó nhắt của mình về quyền và nghĩa vụ công dân với hệ thống pháp luật của nước được yêu cầu áp dụng Trong trường hợp đương sự không chứng minh được về mối quan hệ gắn bó nhất về quyền
Trang 29và nghĩa vụ công dân của mình đối với hệ thống pháp luật được yêu cầu thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.”
Vậy, trong trường hợp này đương sự được hiểu như thế nào? Theo quy định tạikhoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm
2011 về đương sự trong vụ án dân sự thì “đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Như vậy, trong trường hợp trên thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về mốiquan hệ gắn bó nhất của người lập di chúc về quyền và nghĩa vụ công dân với hệthống pháp luật của nước được yêu cầu áp dụng Trong trường hợp nguyên đơn, bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chứng minh được về mối quan hệgắn bó nhất của người lập di chúc về quyền và nghĩa vụ công dân đối với hệ thốngpháp luật được yêu cầu thì pháp luật Việt Nam được áp dụng Ví dụ: Bà K mang haiquốc tịch một quốc tịch Anh một quốc tịch Pháp bà sang Việt Nam du lịch và khôngmay bị tai nạn giao thông và chết sau hơn một tuần điều trị Trước khi chết bà có lập
di chúc dành một phần tài sản của mình cho trại trẻ mồ côi ở Việt Nam Trong trườngpháp luật được yêu cầu thì pháp luật Việt Nam được áp dụng Ví dụ: Bà K mang haiquốc tịch một quốc tịch Anh một quốc tịch Pháp bà sang Việt Nam du lịch và khôngmay bị tai nạn giao thông và chết sau hơn một tuần điều trị Trước khi chết bà có lập
di chúc dành một phân tài sản của mình cho trại trẻ mồ côi ở Việt Nam Trong truờnghợp này bà không cư trú ở Anh mà cũng không cư trú ở Pháp nên pháp luật được ápdụng cũng chỉ có thể là pháp luật của nước Anh nếu pháp luật nước Anh có mối quan
hệ găn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân với bà Và áp dụng pháp luật nướcPháp nêu pháp luật nước Pháp có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ côngdân với bà Nhưng nếu đương sự không chứng minh được pháp luật Anh hoặc phápluật Pháp là pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất với người lập di chúc về quyền vànghĩa vụ công dân thì pháp luật Việt Nam được áp dụng để xác định năng lực lặp dichúc của bà
Từ những phân tích trên có thể thấy theo quy định của pháp luật Việt Nam thìpháp luật được áp dụng để xác định năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ dichúc đối với người lập di chúc cũng chỉ có thể là pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật
Trang 30Việt Nam Đối với người lập di chúc thuộc các trường hợp phải áp dụng pháp luậtnước ngoài thì khi áp dụng pháp luật nước ngoài phải dựa trên các tiêu chí sau đây:
- Cơ quan tư pháp có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật nước ngoài thì cần phải
áp dụng một cách đầy đủ Có nghĩa là khi có quy phạm xung đột thống nhất hoặc quyphạm xung đột trong nước dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài thì phải áp dụng cả hệthống pháp luật nước ngoài bao gồm luật thành văn hay bất thành văn, được điềuchỉnh bằng những loại nguồn pháp luật nào đều phải được áp dụng mà không đượcloại bỏ một cách tùy tiện
Bảo đảm pháp luật nước ngoài phải được giải thích và áp dụng để giải quyết vụviệc như ờ nơi mà nó được ban hành Ở Việt Nam, khi pháp luật nước ngoài được ápdụng thì các cơ quan tư pháp phải có trách nhiệm tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật nướcngoài, thực tiễn Tòa án xét xử của họ, án lệ mà nước ngoài áp dụng, Từ đó, bảo đảmcho lợi ích của các bên đương sự và bảo đảm sự ổn định, củng cố và phát triển hợp táctrong giao lưu dân sự quốc tế giữa Việt Nam với các nước Ngoài ra, có thể thông quacon đường ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự ở nước ngoài của Nhànước mình hay các tổ chức tư vấn, công ty luật, cơ quan nghiên cứu pháp lý để tìmhiểu nội dung của pháp luật nước ngoài phục vụ cho công tác xét xử Các bên đương
sự cũng có quyền và trách nhiệm chứng minh trước cơ quan xét xử để có thể xác địnhđầy đủ, chính xác nội dung pháp luật nước ngoài nhằm bảo vệ quyền lợi của mình
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào pháp luật nước ngoài cũng được
áp dụng và pháp luật nước ngoài chỉ được áp dung khi việc áp dụng hoặc hậu quả củaviệc áp dụng không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Xuấtphát từ nguyên tác tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia thì không ai cỏ thể yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền của một nước phải áp dụng pháp luật của nước khác trong khiviệc áp dụng pháp luật của nước đó dẫn đến hậu quả là trái với những nguyên tắc cơbản của chế độ chính trị, xã hội, tới trật tự công cộng của nước mình Việc áp dụngnguyên tắc này chỉ nhằm loại trừ hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài, khiviệc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với nhừng nguyên tắc cơ bản của pháp luậtnước áp dụng
Còn đối với người lập di chúc thuộc các trường hợp phải áp dụng pháp luậtViệt Nam thì năng lực lập di chúc của người lập di chúc sẽ được xác định theo quy
định tại Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Người đã thành niên có quyền
Trang 31lập di chúc trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.” Theo quy định này, thì người lập di chúc phải là người đã thành niên, không
bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vicủa mình Như vậy, những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thểnhận thức và làm chủ được hành vi của mình, người chưa đủ mười lăm tuổi thì khôngđược quyền lập di chúc và những người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổilập di chúc mà không được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý thì di chúc không cógiá trị pháp lý Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 652 Bộ luật dân sự năm
2005 quy định thì người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì họ cũng
có thể lập di chúc với điều kiện di chúc phải được lập thành văn bản và được sự đồng
ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Điều này xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi Vì người trong
độ tuổi này là người chưa thành niên, họ chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nênpháp luật quy định khi họ lập di chúc thì có điều kiện là phải được sự đồng ý của cha,
mẹ hoặc người giám hộ thì họ mới có thể lập di chúc Đối với người bị hạn chế về thểchất hoặc người không biết chữ cũng có thể lập di chúc với điều kiện di chúc đó phảiđược người làm chứng lập thành vãn bản và có công chứng hoặc chứng thực của Ủyban nhân dàn xã, phường, thị trấn
Như vậy, người Việt Nam và người nước ngoài thuộc các trường hợp phải ápdụng pháp luật Việt Nam mà thỏa mãn được các điều kiện đã phân tích ở trên thì họđược xác định là có đầy đủ năng lực lập di chúc Ngược lại, nếu họ không thỏa mãnđược các điều kiện đó thì họ không có năng lực lập di chúc và đương nhiên di chúc do
họ lập sẽ không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, để ý chí của người lập di chúc có hiệulực pháp luật thông qua việc lập di chúc thì ngoài việc người lập di chúc có năng lập
di chúc còn phải tuân thủ các điều kiện về hình thức di chúc
Trang 32theo pháp luật Việt Nam, còn nếu di chúc được lập ở nước ngoài thì hình thức của dichúc phải tuân theo pháp luật nước ngoài Vậy, người nước ngoài và công dân ViệtNam lập đi chúc ở Việt Nam thì hình thức của di chúc sẽ tuân theo pháp luật ViệtNam, công dân Việt Nam lập di chúc ở nước ngoài thì hình thức của di chúc sẽ tuântheo pháp luật nước ngoài Ví dụ: Ông K quốc tịch Anh và ông lập di chúc ở Việt Namthì hình thức của di chúc sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam Giả sử ông K không mangquốc tịch Anh mà mang quốc tịch Việt Nam và ông lập di chúc ờ Anh thì hình thứccủa di chúc sẽ tuân theo quy định của pháp luật Anh.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật
dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì “di chúc của người Việt Nam lập ở nước ngoài được công nhận là hợp thức tại Việt Nam, nếu tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức của di chúc.” Như vậy, di chúc của người Việt Nam
lập ở nước ngoài nếu tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức của
di chúc (từ Điều 649 đến Điều 661 Bộ luật dân sự năm 2005) thì di chúc đó được
công nhận là hợp thức tại Việt Nam
Từ những phân tích trên ta thấy khi di chúc được lập ở Việt Nam thì hình thứccủa di chúc phải tuân theo pháp luật Việt Nam Vì vậy, người viết sẽ đi vào phân tíchcác quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức của di chúc Theo pháp luật ViệtNam khi một người muốn lập di chúc và để cho di chúc có hiệu lực pháp luật thì dichúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì cóthể lập di chúc miệng Ngoài ra, người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúcbằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình Như vậy, theo pháp luật Việt Nam thì
di chúc được thể hiện thông qua hai hình thức, đó là di chúc bằng văn bản và di chúcbằng miệng
Trang 33Ngày, tháng, năm lập di chúc Điều này có ý nghĩa quan trọng khi người để lại
di sản đã lập nhiều bản di chúc thì khó có thể xác định được bản di chúc nào lập trước,bản di chúc nào lập sau Vì vậy, khi lập di chúc thì người lập di chúc cần ghi rõ ngày,tháng, năm lập di chúc để căn cứ vào ngày, tháng, năm lập di chúc nào gần với thờigian mà người để lại di sản chết nhất thì sẽ lấy ngày, tháng, năm lập di chúc đó là dichúc lập cuối cùng và di sản sẽ được chia theo di chúc lập cuối cùng này
- Họ, tên và nơi cư trú cùa người lập di chúc
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điềukiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản
- Di sản để lại và nơi có di sản
- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ Ví dụ: chỉđịnh người thừa kế theo di chúc phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó như nuôi dưỡng,chăm sóc một đứa con tàn tật, nuôi một người ông hay bà cho đến khi họ qua đời, trảmột món nợ mà người lập di chúc đã vay lúc còn sống, Những nghĩa vụ mà ngườithừa kế phải thực hiện không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Nếu người thừa
kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản thì chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản màngười thừa kế được hưởng
- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu, nếu di chúc gồm nhiềutrang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập
di chúc
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2005 thì di chúc bằng văn bảnđược chia thành bốn loại Đó là, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, dichúc bằng văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có công chứng và dichúc bằng văn bản có chứng thực Mỗi loại tuân theo những quy định riêng và nộidung của các di chúc bằng văn bản này như sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Theo Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2005 thì khi viết di chúc bằng văn bảnkhông có người làm chứng, người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc
và việc lập di chúc này phải tuân theo Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005 về nội dungcủa di chúc bằng văn bản đã phân tích ở trên Di chúc bằng văn bản không có ngườilàm chứng chỉ áp dụng đối với người lập di chúc là người biết chữ có thể viết bằngtiếng Việt hoặc tiếng dân tộc và phải tự tay viết vào bản di chúc Khi lập di chúc thì di
Trang 34chúc không được viết tắt, viết bằng ký hiệu nhằm làm cho di chúc dễ hiểu, dễ thực thi
và tránh trường hợp những người thừa kế không thống nhất cách hiểu về nội dung của
di chúc Nếu di chúc viết tắt, viết kí hiệu thì di chúc sẽ trở nên khó hiểu, không rõràng và có thể dẫn đến di chúc sẽ không được thừa nhận Vì vậy, khi người để lại disản lập di chúc thì nên viết di chúc thật rõ ràng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việcphân chia di sản đúng theo ý nguyện của mình Trong trường hợp di chúc có nhiềutrang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và phải có chữ ký hoặc điểm chỉ củangười lập di chúc
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Theo Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về di chúc bằng văn bản có ngườilàm chứng thì trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúcthì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng Người lập
di chức phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng.Những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vàobản di chúc Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo Điều
653 Bộ luật dân sự năm 2005 về nội dung của di chúc bằng văn bản và Điều 654 Bộluật dân sự năm 2005 về người làm chứng cho việc lập di chúc Theo quy định tạiĐiều 654 thì mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những ngườithừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc, người có quyền, nghĩa
vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc và người chưa đủ mười tám tuổi, ngườikhông có năng lực hành vi dân sự Quy định trên, nhằm bảo đảm sự khách quan vàngăn ngừa những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật có thể tác động đến
ý chí của người lập di chúc khi họ trở thành người làm chứng và làm cho việc phânchia di sản không còn đúng với ý chí của người để lại di sản
Trang 35chứ không được lập sẵn di chúc rồi ủy quyền người khác đến tổ chức hành nghề côngchứng yêu cầu công chứng Ngoài ra, theo Điều 661 Bộ luật dân sự năm 2005 về dichúc do công chứng viên lập tại chỗ thì người lập di chúc có thể yêu cầu công chứngviên đến chỗ ở của mình để lập di chúc Và khoản 2 Điều 39 Luật công chứng năm
2006 quy định: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.”
Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại cơ quancông chứng Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 48 Luật công chứng năm 2006 quy định:
“Trong trường hợp tính mạng người lập di chúc bị đe doạ thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.” Theo khoản 1 Điều 35 Luật công
chứng năm 2006 quy định thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình các giấy tờsau:
“a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tuỳ thân;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyển sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.”
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực
Điều 657 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thì người lập di chúc có thể yêucầu chứng thực bản di chúc Và thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷban nhân dân xã, phường, thị trấn được quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm
2005 thì:
“ 1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.