Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và một số vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”... Mác về mối quan hệ của con người và tự nhiên, tìm hiểu những vấn đề về
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 12
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về môi trường ở Việt Nam Quan điểm của
C Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
- Phương pháp thu thập thông tin từ internet và các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài tivi….
- Phương pháp khảo sát điều tra lấy ý kiến của sinh viên về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu từ kết quả khảo sát được
- Quan sát trực quan và cảm nhận của người nghiên cứu
- Ngoài ra còn sử dụng một số biện pháp văn học như so sánh, logic, diễn dịch,quy nạp trong quá trình viết báo cáo nghiên cứu
Ý nghĩa của nghiên cứu 13
- Ý nghĩa thực tiễn: nêu nên được vấn đề nóng, cấp thiết và gây nhiều bức xúc
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam được đặt trong bối cảnh dư luận xã hội và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức cũng như hành động của cộng đồng Các hướng đi thiết thực bao gồm cải thiện quản lý chất thải, tăng cường giám sát môi trường, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh và thực thi hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường để giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đai Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền và nâng cao ý thức của sinh viên về bảo vệ môi trường cần được đẩy mạnh, nhằm lan tỏa các giá trị sống xanh, khuyến khích sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường trong trường học và ngoài xã hội.
Ý nghĩa lý luận ở đây là sự kế thừa và làm rõ quá trình đưa những vấn đề nóng và cấp thiết của xã hội vào nghiên cứu khoa học, từ đó hình thành khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận phù hợp Việc làm rõ và tích hợp các vấn đề xã hội vào nghiên cứu không chỉ nâng cao tính hiện thực của luận cứ khoa học mà còn mở rộng khả năng tiếp cận và thu hút sự quan tâm của công chúng đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
QUAN ĐIỂM CỦA C MÁC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
Quan điểm của C Mác về con người 15
Trong lịch sử triết học, kể cả triết học phương Đông và phương Tây, vấn đề con người, nguồn gốc và bản chất của con người, cùng với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên luôn là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu Vì vậy, quan niệm về con người và quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được đề cập và phân tích với tần suất lớn trong nhiều hệ thống tư tưởng Tuy nhiên, xuất phát từ hạn chế bởi lập trường duy tâm hoặc phương pháp siêu hình nên vẫn chưa có một quan niệm đúng đắn, khách quan và toàn diện về con người.
C Mác, dựa vào tổng kết những thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, cùng với quan điểm duy vật biện chứng khi nghiên cứu toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người, đã có quan điểm đúng đắn, khách quan, khoa học về con người Đối với C Mác, con người là một thực
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam thể sinh học - xã hội, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội.
Về mặt sinh học, con người là một thể sinh vật thuộc lớp động vật có vú, có dáng đứng thẳng và có đôi bàn tay vừa là công cụ nhận thức vừa lao động Não bộ của con người đã tiến hóa và phát triển cực kỳ cao và tinh vi, cho phép suy nghĩ phức tạp và ứng dụng công nghệ Con người có nhu cầu sinh học cơ bản và bị chi phối bởi các quy luật sinh học giống như các loài động vật khác.
Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các quan hệ xã hội và có khả năng kế thừa nền văn minh nhân loại Trong quá trình tương tác với giới tự nhiên và cải biến các dạng tồn tại sẵn có để xây dựng đời sống của chính mình, con người đã để lại dấu vết mang tính loài và gắn các thuộc tính xã hội vào bản chất, đồng thời hình thành đời sống văn hóa và định hướng cho bản chất sinh học Với vai trò là chủ thể có ý thức, con người đã sáng tạo văn hóa và thiết lập các giá trị, chuẩn mực riêng cho cộng đồng.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Để khắc phục ô nhiễm môi trường tại Việt Nam, cần nhận thức rằng sự tồn tại và phát triển của con người bị chi phối không chỉ bởi các quy luật sinh học mà còn bởi các quy luật xã hội Vì thế, giải pháp hiệu quả phải tích hợp yếu tố khoa học tự nhiên và yếu tố xã hội như nhận thức cộng đồng, thể chế quản lý môi trường, sự tham gia của doanh nghiệp và người dân, cùng với các chính sách thúc đẩy phát triển bền vững Khi các quy luật sinh học và xã hội được cân bằng và tôn trọng, Việt Nam có thể giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao chất lượng cuộc sống đồng thời bảo vệ môi trường cho tương lai.
Quan điểm của C Mac: “Con người không phải chỉ là thực thể tự nhiên.
Đó là một thực thể tự nhiên mang tính người; sự khác biệt căn bản giữa con người và động vật nằm ở ý thức—khả năng có ý thức thay thế và kiểm soát bản năng.
Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và là sự phát triển liên tục của giới tự nhiên, là mắt xích cao nhất trong chu trình phát triển của tự nhiên; đồng thời, con người là một thực thể xã hội được hình thành và vận động bởi các lực lượng đối lập với tự nhiên Sự tác động qua lại giữa yếu tố sinh học và xã hội tạo nên bản chất con người Tổng hòa các quan hệ xã hội là bản chất của loài người, là đặc tính nền tảng trên nền tảng sinh học.
Mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên 16
Có thể nói, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là một vấn đề được nhiều nhà triết học từ cổ đại đến hiện đại quan tâm và phân tích sâu sắc Nhìn chung, các quan điểm về vai trò của con người đối với tự nhiên đã biến đổi theo thời đại, phản ánh bối cảnh văn hóa, khoa học và nhận thức đạo đức của từng thời kỳ Một số trường phái nhấn mạnh sự thống trị và khai thác thiên nhiên, trong khi các luồng tư tưởng khác lại kêu gọi tôn trọng, cân bằng và hài hòa giữa con người với hệ sinh thái Sự đa dạng của các quan điểm cho thấy quá trình nhận thức về mối quan hệ ấy đang tiến tới nhấn mạnh phát triển bền vững và tầm quan trọng của mối liên hệ sinh thái giữa con người và tự nhiên.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Trong khuôn khổ nghiên cứu các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam trước Mác và ngoài Mác, hai quan điểm nổi bật thể hiện hai hướng tiếp cận cơ bản: duy tự nhiên hoặc duy xã hội Theo quan điểm duy tự nhiên, tự nhiên giữ vai trò quyết định tuyệt đối trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, khiến con người thụ động trước các quy luật này; quan điểm này được thể hiện ở cả triết học phương Đông và phương Tây Ở phương Đông, triết học Khổng Tử cho rằng vạn vật trong vũ trụ luôn sinh thành biến hóa không ngừng theo đạo của nó, vạn vật đều do mệnh trời quy định Phật giáo với thuyết “duyên khởi” cho rằng thế giới các hiện tượng đều có nhân duyên của nó, không phụ thuộc vào ý thức của con người Đạo giáo với học thuyết “vô vi” của Lão Tử khẳng định “đạo pháp tự nhiên”, ông cho rằng con người chỉ có thể thích ứng với quy luật tự nhiên một cách thụ động, đứng trước tự nhiên con người không cần làm gì cả.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp giảm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cần kết hợp quản lý nhà nước, đổi mới công nghệ xanh và nâng cao nhận thức cộng đồng để đạt sự phát triển bền vững Khi tham khảo quan điểm của các nhà tư tưởng phương Tây cổ đại như Platon và Aristốt, ta nhận thấy họ nhấn mạnh vai trò quyết định của điều kiện tự nhiên đối với đời sống xã hội Điều này gợi ý một khung lý thuyết cho chiến lược quản lý môi trường ở Việt Nam, đó là bảo vệ môi trường là nền tảng của sự thịnh vượng kinh tế - xã hội Tuy nhiên cần cân bằng giữa bảo tồn và phát triển để tránh đối lập giữa tự nhiên và nhu cầu phát triển của con người Các biện pháp cụ thể gồm tăng cường quản lý chất thải rắn và nước, thúc đẩy sản xuất xanh, cải thiện hệ thống xử lý nước thải và giáo dục cộng đồng về ý thức bảo vệ môi trường.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Quan điểm tôn giáo và thần thoại được xem như khung tham chiếu để giải quyết ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, nhưng dòng chảy triết học phương Tây lại cho rằng địa lý quyết định sự phát triển xã hội thông qua thuyết quyết định luận địa lý do Montesquieu khởi xướng vào thế kỷ XVIII, với ý rằng đạo đức và đặc điểm của một dân tộc phụ thuộc trực tiếp vào hoàn cảnh địa lý Từ đó, các nhà triết học tư sản như Bớccon và C Rítte đã xây dựng thuyết địa lý chính trị để biện hộ cho sự bất bình đẳng xã hội và cho sự bành trướng thuộc địa của chủ nghĩa tư bản vào giữa thế kỷ XX, khẳng định rằng quy luật tự nhiên chi phối toàn bộ đời sống xã hội và một nước có địa hình thuận lợi sẽ có khả năng thống trị, ngược lại những quốc gia khó khăn sẽ chịu thua Đối lập với quan điểm duy tự nhiên, hầu hết các triết gia phương Tây lại tuyệt đối hóa yếu tố con người và vị trí của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, nhấn mạnh yếu tố xã hội và ý thức con người trong quá trình biến đổi địa lý và môi trường.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Triết học Hy Lạp cổ đại đề cao con người và tinh thần Kitô giáo về sự sáng tạo của Thượng Đế Con người được xem là đỉnh cao của sự sáng tạo và là hình ảnh của Chúa, nên bản thân con người có khả năng sáng tạo thế giới Các triết gia tiêu biểu như Pitago, Xôcrát, Aristốt luôn khẳng định con người là vị trí trung tâm của thế giới: Pitago khẳng định ‘con người là thước đo của mọi vật’, Aristốt cho rằng ‘do bản tính, con người là động vật chính trị’ Những quan điểm này có ý nghĩa rất lớn trong nhận thức về con người và đã ảnh hưởng sâu rộng tới các thời đại sau.
Quan điểm duy xã hội (con người) được phát triển rực rỡ trong thời kỳ Phục hưng cuối thế kỷ XV nhờ sự ra đời của “khoa học tự nhiên thực sự” Châu Âu đã đạt được tiến bộ khổng lồ trong lĩnh vực tự nhiên nhờ những phát kiến của Niutơn, Lốccơ, Hốpxơ Họ khẳng định khả năng chinh phục tự nhiên tuyệt đối của con người.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Triết học cổ điển Đức kế thừa và phát triển những tư tưởng từ thời Phục hưng và Khai sáng, hai giai đoạn đề cao con người và trí tuệ Quá trình này giúp triết học Đức củng cố vị thế của lý trí và sự tự do tư duy trong hệ tư tưởng phương Tây Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm, con người đã có nguy cơ bị cực đoan hóa trong nhận thức và hành động.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Lý do chọn đề tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Ý nghĩa của nghiên cứu
Quan điểm của C Mác về tự nhiên
Quan điểm của C Mác về con người
Mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên
Quan điểm của người Việt về quan hệ giữa con người và tự nhiên
Trong văn học Việt Nam
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Khái quát thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường biển ở Việt nam
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt nam
Nguyên nhân của những vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
Những nguyên nhân khách quan
Những guyên nhân chủ quan
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Để khắc phục ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đề xuất một tập hợp giải pháp đồng bộ dành cho cả chính quyền nhà nước và người dân, đồng thời đưa ra các đề xuất cụ thể góp phần cải thiện môi trường học đường tại Trường Đại học Giao thông Vận tải Các giải pháp chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, tăng cường thanh tra môi trường, đẩy mạnh giáo dục ý thức cộng đồng và khuyến khích tham gia của người dân Đối với chính quyền nhà nước, cần ban hành khung pháp lý rõ ràng, tăng cường nguồn lực và thúc đẩy hợp tác công-tư; đối với người dân sống tại Việt Nam, ưu tiên thay đổi thói quen tiêu dùng, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và lan tỏa nhận thức xanh Đề xuất của nhóm nghiên cứu nhằm cải thiện môi trường học đường tại Trường Đại học Giao thông Vận tải và kết nối với tiểu kết chương 2, làm cơ sở cho các hành động bền vững trong tương lai.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Để khắc phục ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, cần triển khai một chuỗi giải pháp đồng bộ gồm công nghệ xanh, quản lý chất thải hiệu quả và sự tham gia của cộng đồng Các biện pháp này giúp cải thiện chất lượng nước, không khí và đất đai, đồng thời tái cấu trúc không gian đô thị và nông thôn để tạo ra môi trường sống an toàn, lành mạnh Bên cạnh đó, việc thiết lập các giới hạn tự nhiên và áp dụng dữ liệu cùng tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt sẽ ngăn chặn sự tha hoá của hệ sinh thái và thúc đẩy phục hồi của các khu vực yếu Khi các sáng kiến được mở rộng và áp dụng rộng rãi, Việt Nam có thể cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ thiên nhiên, hướng tới một nền phát triển bền vững.
Trong Triết học Mác, con người là một thực thể nằm trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên và đồng thời tồn tại, phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên vừa là động lực làm nên lịch sử loài người, vừa là nhân tố thúc đẩy tự nhiên biến đổi theo hướng nhân văn hơn.
Với luận điểm cho rằng: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”,
Thân thể và đời sống tinh thần của con người luôn gắn bó với giới tự nhiên thông qua quá trình giao tiếp thường xuyên để tồn tại; như C Mác từng khẳng định, con người là một bộ phận của giới tự nhiên Qua quá trình tồn tại và tác động thực tiễn, con người vừa tác động lên tự nhiên vừa bị chi phối bởi nó, và hoạt động của con người đã biến đổi tự nhiên để duy trì sự tồn tại, vận động và phát triển bản thân, đồng thời mở ra lịch sử của xã hội loài người Con người là mắt xích quan trọng trong chu trình phát triển của tự nhiên và không thể tách rời với thế giới tự nhiên; do đó cần làm rõ vai trò của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản thân và môi trường xung quanh để hiểu rõ hơn quá trình phát triển.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam chất của con người và tự nhiên.
Con người và tự nhiên có mối quan hệ khăng khít, trong đó yếu tố sinh học không tồn tại riêng lẻ mà hòa quyện với yếu tố xã hội và tồn tại trong một hệ thống mà giới tự nhiên làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của con người Karl Marx đã cho rằng “Giới tự nhiên - cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó, con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thể chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên.”
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, nhưng không phải là một hệ thống kín; họ đóng vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Chính qua việc thực hiện vai trò sáng tạo của mình, bản chất con người được thể hiện và luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động của xã hội Theo C Mác, tính chất xã hội là vốn có của toàn bộ sự vận động; xã hội sản xuất ra con người như thế nào thì chính nó cũng sản xuất ra xã hội như thế; hoạt động và kết quả của hoạt động, xét theo nội dung cũng như theo phương diện tồn tại, đều mang tính chất xã hội.
Quan hệ tác động qua lại giữa con người và tự nhiên là một quá trình hai chiều: khi con người tác động vào tự nhiên để khai thác và cải thiện điều kiện sống, thì tự nhiên cũng đáp trả bằng những giới hạn và nguồn lực, buộc con người thích nghi và điều chỉnh hoạt động của mình Nhờ lao động, con người tạo ra của cải nuôi sống bản thân và xã hội; sản xuất vật chất là đặc trưng riêng có ở con người và là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của xã hội Qua sự tác động qua lại này, con người đã có được những nhu cầu thiết essential thiết yếu phục vụ cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, từ đó ngày càng nâng cao đời sống và phẩm chất xã hội.
Từ quan điểm ấy, C Mác đã sớm lưu ý đến thái độ của con người trong
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp cho ô nhiễm môi trường ở Việt Nam nằm ở quá trình chinh phục và cải biến giới tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất xã hội, chứ không chỉ dừng lại ở sự chi phối của tự nhiên đối với con người Dù nhấn mạnh rằng con người là một bộ phận của giới tự nhiên và tự nhiên cung cấp mọi nguồn vật chất của sinh quyển để con người tồn tại, các nhà lý luận không bao giờ xem nhẹ khả năng con người trong việc chinh phục và biến đổi tự nhiên Thông qua lao động sản xuất xã hội, con người đã học cách biến đổi tự nhiên và nay có thể chi phối các quá trình tự nhiên theo mục đích của mình Ph Ăngghen phê phán quan niệm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử, tức là quan niệm coi lịch sử chỉ là kết quả của các lực tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh sự tham gia và tác động của con người và lao động xã hội trong sự phát triển của xã hội.
Quan điểm của người Việt về quan hệ giữa con người và tự nhiên 20
Quan điểm văn hóa của Việt Nam về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được thể hiện rõ qua văn hóa lúa nước Việt Nam có 3/4 diện tích là đồi núi, phần lớn người dân dựa vào lao động nông nghiệp, và cây lúa là một trong những cây trồng nông nghiệp lâu đời nhất đất nước Chính cây lúa cùng với địa hình thổ nhưỡng đã hình thành nền văn minh lúa nước Việt Nam Để trồng lúa nước, điều kiện tự nhiên đóng vai trò vô cùng quan trọng, gắn kết con người với thiên nhiên và thể hiện đặc trưng canh tác ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Lý do chọn đề tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Ý nghĩa của nghiên cứu
Quan điểm của C Mác về tự nhiên
Quan điểm của C Mác về con người
Mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên
Quan điểm của người Việt về quan hệ giữa con người và tự nhiên Trong văn học Việt Nam
Khái quát thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt nam
Thực trạng ô nhiễm môi trường biển ở Việt nam
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt nam
Nguyên nhân của những vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
Những nguyên nhân khách quan
Những guyên nhân chủ quan
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, với trọng tâm là sự tham gia của chính quyền nhà nước và người dân Đối với chính quyền, cần xây dựng và thực thi các chính sách quản lý chất thải, tăng cường giám sát môi trường và huy động nguồn lực công để giảm ô nhiễm Đối với người dân sống tại Việt Nam, tăng cường nhận thức, thay đổi thói quen sống xanh và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương Đề xuất của nhóm nghiên cứu nhằm cải thiện môi trường học đường tại Trường Đại học Giao thông Vận tải, bằng cách cải tạo cơ sở vật chất, triển khai các biện pháp quản lý rác thải và giáo dục sinh thái cho sinh viên và cán bộ Tiểu kết chương 2 tóm lược các giải pháp mang tính hệ thống, nhấn mạnh sự liên kết giữa chính sách nhà nước, cộng đồng và trường đại học trong quá trình cải thiện môi trường Việt Nam.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường ở Việt Nam được củng cố nhờ khu vực địa hình chịu tác động của gió mùa, vốn rất phù hợp cho canh tác và phát triển nền văn minh lúa nước Khí hậu ôn hòa của Việt Nam ít chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan, giúp hoạt động trồng lúa nước diễn ra ổn định và bền vững Nhờ sự phù hợp của địa hình và khí hậu này, nền nông nghiệp lúa nước có thể đóng góp vào quản lý môi trường và thúc đẩy sự phát triển kinh tế–xã hội gắn với bảo vệ môi trường.
Nhận thức về nền nông nghiệp Việt Nam cho thấy trồng lúa nước và hoa màu phụ thuộc nhiều vào thời tiết; từ xưa, các thế hệ ông cha ta đã quan sát hiện tượng thiên nhiên và đúc kết thành các quy luật tự nhiên, được lưu giữ qua những câu ca dao, tục ngữ dễ nhớ để truyền lại kinh nghiệm cho con cháu: “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa” và “Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy” Nhờ những quy luật này, đất nước ta có nền nông nghiệp phát triển và nền kinh tế nông nghiệp vững chắc, với Việt Nam đứng thứ ba toàn cầu về xuất khẩu gạo năm 2022 Những giá trị truyền thống ấy được ca dao tục ngữ bảo tồn, giúp người nông dân ngày nay trồng trọt thuận lợi hơn và biết ơn những kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua nhiều thế kỉ.
Môi trường gắn liền với bản sắc Việt qua tính cần cù, sự trân trọng và biết ơn thiên nhiên, và còn chứa đựng những chuẩn mực đạo đức cùng giá trị văn hóa đặc trưng Chính những yếu tố môi trường này đã hình thành nên truyền thống Việt, định hình cách sống, lao động và ứng xử của người Việt qua các thế hệ.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam về tính thân trọng, sự khiêm tốn, sức mạnh trong “cái khó ló cái khôn”, “ở bầu thì tròn ở ống thì dài” Như vậy, văn hóa lúa nước đã tạo nên bản sắc văn hóa, những giá trị chỉ có ở Việt Nam.
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên theo quan điểm của văn hóa Việt còn là ở những câu ca dao tục ngữ “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” Đó là cái tình giữa người với người, là sự trân trọng cũng là đạo đức Người Việt trân trọng phần còn lại của tự nhiên, là sự gắn kết giữa con người với tự nhiên, địa lý, khí hậu Những kinh nghiệm được đúc kết từ tự nhiên được truyền từ đời này qua đời khác, “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối”.
1.4.2 Trong văn học Việt Nam
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Văn học dân gian Việt Nam thể hiện tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, tức sự thống nhất và cảm thông giữa trời và người, giữa tự nhiên và con người Ví dụ tiêu biểu cho quan niệm này là câu “thiên thời địa lợi nhân hòa”: “thiên thời” là đúng thời điểm, còn “địa lợi” không chỉ là địa lý thuận lợi mà là có lợi thế thực sự, và “nhân hòa” là sự hòa hợp giữa con người với hoàn cảnh Nhờ sự hòa hợp đó, con người có thể nắm bắt vận hội, khai thác tối đa nguồn lực hiện có và ứng xử khôn ngoan trước thiên nhiên Văn học dân gian Việt Nam qua ca dao, tục ngữ và truyện dân gian tái hiện mối quan hệ biện chứng giữa trời đất và con người, từ đó đề cao vai trò của sự hài hòa với thiên nhiên và cộng đồng trong đời sống và sáng tạo.
“nhân hòa” là sự hòa hợp của con người Và ba yếu tố trên chính là điều kiện cần và đủ để có thể dẫn tới thành công.
Thiên nhiên được xem như mẹ lớn của con người, nguồn sống và nền tảng tồn tại của loài người Con người phụ thuộc vào thiên nhiên, sống hòa nhập với thế giới tự nhiên và đồng thời tác động để cải tạo thiên nhiên phục vụ nhu cầu phát triển Trong quá trình ấy, ta bộc lộ những quan niệm, tình cảm và thái độ ứng xử với thiên nhiên, phản ánh bản chất văn hóa của từng cộng đồng Mối quan hệ giữa con người, văn hóa và thiên nhiên ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn, cho thấy thiên nhiên không chỉ là bối cảnh sống mà còn là yếu tố động lực ảnh hưởng đến đời sống, giá trị và sự phát triển của xã hội.
Thiên nhiên là một thành phần thiết yếu của văn hóa dân gian và ca dao trữ tình, gắn bó chặt chẽ với đời sống của người bình dân Trong ca dao trữ tình, thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là phương tiện nghệ thuật giúp người đọc hiểu sâu hơn thế giới quan, lối sống và thẩm mỹ của cộng đồng Vì thế, thiên nhiên chiếm một vị trí rất quan trọng trong ca dao, là nội dung, là hình thức và là nguồn sức sống của thể loại này.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Hình ảnh thiên nhiên chiếm tỷ lệ lớn trong ca dao và là yếu tố chủ đạo, thể hiện cảm xúc, đời sống và thế giới quan của người dân Qua khảo sát 7 tài liệu là tuyển tập ca dao các miền, chúng tôi thu được kết quả sơ bộ cho thấy hình ảnh thiên nhiên xuất hiện một cách đa dạng và phong phú trong ca dao ở các miền, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên trong đời sống hàng ngày.
STT Tài liệu khảo sát Tổng số câu ca dao được khảo sát
Số câu ca dao có hình ảnh thiên nhiên
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
3 Ca dao dân ca Nam
4 Kho tàng ca dao xứ
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
5 Kho tàng ca dao xứ
Cụ thể hơn, trong mỗi tư liệu khảo sát, tần số xuất hiện của những câu ca dao có hình ảnh thiên nhiên trong mỗi chủ đề cũng khá cao Chẳng hạn, khảo sát cho thấy hình ảnh thiên nhiên được sử dụng trong ca dao xuất hiện phổ biến và đồng nhất ở nhiều chủ đề khác nhau, cho thấy sự gắn kết giữa ngôn ngữ dân gian và tự nhiên Kết quả này làm nổi bật mức độ phong phú của ca dao Việt Nam và cung cấp cơ sở cho nội dung có từ khóa liên quan đến ca dao, hình ảnh thiên nhiên, tần số xuất hiện, tư liệu khảo sát và chủ đề.
4157 câu ca dao trong tài liệu “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (2 tập), có đến 1661
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19
Phân tích bài viết về giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ câu có hình ảnh thiên nhiên chiếm 40% Ở chủ đề quê hương đất nước, có 226/419 câu chứa hình ảnh thiên nhiên, tương ứng 53,9% Khảo sát Ca dao dân ca Nam Bộ cho thấy 96/157 câu có hình ảnh thiên nhiên chiếm 61,1% Trong Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, có 22/31 câu chứa hình ảnh thiên nhiên chiếm 71%.
Trong nền văn học Việt Nam, thiên nhiên luôn hiện diện như một thành phần sống động, làm nên diện mạo và linh hồn của tác phẩm ở cả thời đại trung đại lẫn hiện đại Thiên nhiên biểu hiện cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết học phương Đông của các nghệ sĩ Nho học thời kỳ này, vừa làm giàu hình tượng nghệ thuật vừa mở rộng chiều sâu tư duy cho người đọc Qua thiên nhiên, nhà văn thể hiện mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, phản chiếu quan niệm sống và triết lý nhân sinh của văn hóa Nho giáo Vì vậy, thiên nhiên không chỉ là phông nền mà còn là ngôn ngữ biểu đạt, định hình đặc trưng và sức thuyết phục của văn học trung đại và hiện đại.
Riêng thi ca, thơ tức cảnh và tranh sơn thủy chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến Hiện tượng này phản ánh mối quan hệ giữa ngôn từ và cảnh vật, giữa ý niệm và cảm xúc, được thể hiện qua các tác phẩm thơ ca và hội hoạ của tầng lớp trí thức Thơ tức cảnh là cách diễn đạt cảm xúc thông qua mô tả cảnh vật, khiến cảnh vật trở thành nguồn gợi hứng và phản chiếu tâm trạng chủ thể Tranh sơn thủy lại thể hiện sự hoà hợp giữa trời đất và con người, mang ý nghĩa triết lý và giáo dục đạo đức, đồng thời đáp ứng nhu cầu thể hiện khí chất thanh cao và ẩn chứa thông điệp xã hội Hiện tượng này cho thấy sự đồng điệu giữa nghệ thuật chữ nghĩa và nghệ thuật thị giác, cùng với vai trò của thi ca và hội hoạ như một hình thức giáo dục thẩm mỹ cho công chúng thời phong kiến Vì vậy, thi ca tức cảnh và tranh sơn thủy không chỉ là hai loại hình nghệ thuật riêng biệt mà còn là nhịp cầu kết nối giữa tự nhiên và văn hóa, giữa quan niệm thẩm mỹ và đời sống xã hội, góp phần định hình chuẩn mực nghệ thuật và hưởng thụ của thế hệ xưa.
Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam
Thực trạng bùng phát dịch COVID-19