1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

61 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và một số vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” - Sinh viên thực hiện: Vũ Thảo Trang Âu Khánh Trà Nguyễn Minh Hằng 3.. M

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện:

Vũ Thảo Trang - Lớp Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng 1 K61

Khoa VTKT

Trang 2

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện:

- Vũ Thảo Trang Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lớp

Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng 1 Khoa: VTKT Năm thứ 2 Ngành học Logistics

- Âu Khánh Trà Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lớp Logistics

và Quản lý chuỗi cung ứng 1 Khoa: VTKT Năm thứ 2 Ngành học Logistics

- Lê Hồng Hải Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lớp Logistics

và Quản lý chuỗi cung ứng 2 Khoa: VTKT Năm thứ 2 Ngành học Logistics

- Nguyễn Minh Hằng Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Kinh Lớp Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng 1 Khoa: VTKT Năm thứ 2 Ngành học Logistics

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thanh Hải

Trang 3

HÀ NỘI, 2022

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: “Vận dụng quan điểm của C Mác về mối quan hệ giữa con người và

tự nhiên và một số vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”

- Sinh viên thực hiện: Vũ Thảo Trang

Âu Khánh Trà Nguyễn Minh Hằng

3 Tính mới và sáng tạo:

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện tìm hiểu về quan điểm của C Mác, thực trạng môi trường ở Việt Nam, hậu quả ô nhiễm môi trường để lại, làm rõ và phân tích các số liệu thống kê và tìm hiểu các giải pháp bảo vệ môi trường từ phía của giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, từ đó nhóm đã phát triển và đề ra các giải pháp mới

Trang 4

4 Kết quả nghiên cứu:

Qua việc vận dụng quan điểm của C Mác về mối quan hệ của con người và tự nhiên, tìm hiểu những vấn đề về môi trường ở Việt Nam hiện nay, nhằm góp phần tích cực giải quyết những vấn đề tồn tại trong nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên đối với môi trường

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Đề tài sau khi được áp dụng thực hiện ở Trường Đại học Giao Thông Vận Tải cũng như đa số các trường đại học khác ở Việt Nam sẽ nâng cao đáng kể không chỉ nhận thức của sinh viên về vấn đề bảo vệ môi trường mà còn tạo ra một môi trường học đường thật sự Xanh - Sạch - Đẹp Từ đó, ý thức và mô hình vệ sinh môi trường sẽ càng được nhân rộng ra ngoài trường học và cải thiện bộ mặt thủ đô Qua đó thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Ngày , tháng , năm 2022

Thay mặt sinh viên thực hiện đề tài

Vũ Thảo Trang

Trang 5

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 12

5 Ý nghĩa của nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA C MÁC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN 14

1.1 Quan điểm của C Mác về tự nhiên 14

1.2 Quan điểm của C Mác về con người 15

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên 16

1.4 Quan điểm của người Việt về quan hệ giữa con người và tự nhiên 20 1.4.1 Về truyền thống 20

1.4.2 Trong văn học Việt Nam 21

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TỰ NHIÊN TẠI VIỆT NAM 26

2.1 Khái quát thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay 26 2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam 26

2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường đất tại Việt Nam 28

2.1.3 Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam 31

2.1.4 Thực trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam 34

Trang 6

2.1.5 Thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam 36

2.2 Nguyên nhân của những vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam 39

2.2.1 Những nguyên nhân khách quan 39

2.2.2 Những nguyên nhân chủ quan 40

2.3 Thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường tại Việt Nam 41

2.3.1 Hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường của luật môi trường Việt Nam 41 2.3.2 Thực trạng về vấn đề ý thức của người dân Việt Nam đối với môi trường 43 2.4 Thực trạng bùng phát dịch COVID-19 43

2.5 Giải pháp khác phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 47

2.5.1 Đối với chính quyền nhà nước 47

2.5.2 Đối với người dân sống tại Việt Nam 49

2.6 Đề xuất của nhóm nghiên cứu góp phần cải thiện môi trường học đường Trường Đại học Giao Thông Vận Tải 54

KẾT LUẬN 59

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- BVMT: Bảo vệ môi trường

- Sở TN&MT: Sở tài nguyên và môi trường

- BTNMT: Bộ tài nguyên và môi trường

- TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

- ĐH GTVT: Đại học Giao Thông Vận Tải

- GDP: Thu nhập bình quân đầu người

Bảng 1 Hàm lượng kim loại nặng trong bùn lắng sông Tô Lịch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014, có hiệu lực

Trang 8

2 Tài liệu Hỏi - đáp về Luật Bảo vệ môi trường năm 2018 (NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật Hà Nội).

3 Tài liệu Hội nghị phổ biến các quy định mới ban hành trong lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường trên địa bàn Hà Nội

4 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí Tổng cục Môi trường (2019) Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2015- 2019

5 Nghị quyết số 41/NQ/TW, ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị (khoá IX) về: “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

6 Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) “về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”

7 Tài liệu về công tác nghiên cứu dư luận xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương

8 "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1884" của C.Mác

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1884, C Mác đã viết: “Giới tựnhiên – cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải làthân thể của con người – là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằnggiới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể

mà với nó, con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại.Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên,nói như thể chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tựnhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên.” Sự tồn tại của con ngườikhông thể tách rời và luôn gắn bó một cách hữu cơ với tự nhiên Thông qua quátrình lao động sản xuất xã hội, con người đã học cách biến đổi tự nhiên, từ đócon người có khả năng chi phối các quá trình tự nhiên theo những mục đích củamình khi sự cân bằng giữa con người và tự nhiên bị phá vỡ, khi những hoạtđộng chinh phục, cải biến đi quá giới hạn chịu đựng của tự nhiên, con người sẽphải chịu những hậu quả khôn lường

Quá trình tồn tại và phát triển, con người tác động vào tự nhiên, cải biếnnhững dạng tồn tại sẵn có của tự nhiên và đồng thời tạo ra lịch sử của chínhmình Lịch sử của loài người là lịch sử của quá trình tương tác biện chứng giữacon người và phần còn lại của thế giới Quá trình đó, con người vừa biến đổi giới

tự nhiên, vừa cải biến chính mình Tuy nhiên, vì phục vụ nhu cầu vật chất tháiquá của mình mà con người đã phá vỡ sự cân bằng tự nhiên, thậm chí tàn phá tựnhiên một cách khủng khiếp Vì vậy, con người hiện nay đã phải đối mặt vớinhiều vấn đề tác động trực tiếp đến môi trường sống, đến chính đời sống của họ.Tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, động đất, sóng thần, dịch bệnhbùng phát Trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày, chúng ta có thể

dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về các phản ứng dữ dội củamôi trường tự nhiên

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, công cuộc Đổi mới đã thúc đẩy sự

Trang 10

hoá, hiện đại hoá một mặt, làm cho đời sống kinh tế đất nước khởi sắc, mặt kháclại gây áp lực đối với môi trường tự nhiên Vấn đề này ngày càng trầm trọnghơn, không những đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn ảnhhưởng đến sức khỏe, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ tương lai Môi trườngsống ở nhiều địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất làcác cộng đồng dân cư sống lân cận với các khu công nghiệp, các doanh nghiệp,vùng đô thị đang phát triển phải đối mặt với khói bụi, ô nhiễm nguồn nước, ônhiễm không khí, rác do chất thải công nghiệp, do những hành vi thiếu ý thứccủa các cá nhân hoặc tổ chức hoạt động kinh tế trên địa bàn gây ra Từ đó, gâybất bình, dẫn đến những phản ứng quyết liệt của người dân đối với những hoạtđộng và hành vi gây ô nhiễm tạo thành làn sóng dư luận hoặc phản ứng mạnh mẽtrong cộng đồng dân cư.

Ô nhiễm môi trường ở nước ta thực sự đang là một vấn đề đáng báo động.Mối qua hệ giữa con người và tự nhiên bị phá vỡ nghiêm trọng Hơn lúc nào hết,con người đang phải đối mặt với những phản ứng gay gắt của tự nhiên Song,đáng tiếc là hiện nay, ý thức bảo vệ môi trường và việc giáo dục ý thức bảo vệmôi trường chưa được chú trọng đúng với tầm qun trọng của nó Xuất phát từ

thực tiễn trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Vận dụng quan điểm của C.

Mác về vấn đề giữa con người và tự nhiên và vấn đề môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2 Tình hình nghiên cứu:

Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử, nó

đã được các hệ thống triết học cổ đại, trung đại, cận đại phương Đông và phương Tây luận giải trong các mặt bản thể luận và nhân sinh quan với các trường phái và đại biểu tiêu biểu như: Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Phật giáo, Hêraclit, Platon, Đêmôcrit, Đềcáctơ, Hêghen, Phoiơbắc Triết học Mác-Lênin đã kế thừa và phát triển các quan điểm đó trong hoàn cảnh mới và cho rằng, con người có nguồn gốc từ giới tự nhiên, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, con người là bộ phận của giới tự nhiên Con người càng phát triển thì tác động của con người đến tự nhiên càng sâu sắc, dấu ấn của con người vào giới tự nhiên càng đậm nét

Thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục có nhiều sự thay đổi lớn, khoa học công nghệ có những bước phát triển vượt bậc, kinh tế tri thức đóng vai trò chủ đạo trong sự phát

Trang 11

triển Toàn cầu hóa kinh tế là một tất yếu và đang diễn ra trên diện rộng, lôi cuốn nhiều quốc gia Xu thế toàn cầu hóa tạo ra rất nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho các nước Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hóa đang bị các nước phát triển, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia chi phối và tìm mọi cách khai thác triệt để các nguồn lực của tự nhiên Vì lợi ích kinh tế, thỏa mãn nhu cầu vật chất ngày càng tăng của mình, các quốc gia đã tìm mọi biện pháp để thúc đẩy mở rộng hoạt động sản xuất Tăng trưởng kinh tế trở thành mục tiêu trung tâm, chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của các quốc gia, theo đó phạm vi và mức độ tác động của con người vào giới tự nhiên ngày càng tăng Mỗi bước tiến của con người trong việc chinh phục tự nhiên, lại là bước thụt lùi về sinh thái nhân văn- Tự nhiên càng trở nên cạn kiệt Thực tế cho thấy, con người đang phải gánh chịu sự “trừng phạt” của giới tự nhiên do những hành động thái quá, phiến diện của mình Vì vậy, vấn đề giải quyết mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên trở thành vấn đề cấp bách, bức thiết của xã hội loài người hiện nay

Thực tế cho thấy, môi trường mà chúng ta đang sống đã và đang bị suy thoái

nghiêm trọng Các vấn đề môi trường toàn cầu như: khí hậu thay đổi theo hướng nóng lên, tầng ôzôn suy giảm, mực nước biển dâng cao, mưa axít, bão lũ, mưa đá, hạn hán; các sự cố tràn dầu trên biển, xuất khẩu công nghiệp ô nhiễm, sự cố môi trường ở các cơ

sở sản xuất ngày càng gia tăng đã và đang gây ra hàng loạt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống ở nhiều vùng Tình trạng môi trường bị ô nhiễm và suy thoái như đã nêu ở trên là hậu quả của một thời gian dài mà trước đây chúng ta chưa quan tâm đầy

đủ đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Bước vào thế kỷ XXI, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta đang phải đương đầu với những thách thức lớn trên con đường phát triển bền vững, trong đó

có vấn đề về môi trường Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và hiện có quá ít nguồn lực để giải quyết các vấn đề cấp bách về môi trường đang tồn tại Tuy nhiên, để nhìn nhận một cách thực sự khoa học mối quan hệ này phải dựa trên một lập trường, một thế giới quan khoa học, đúng đắn Thế giới quan đó chỉ có thể là lập trường, quan điểm của C Mác, với nền tảng và phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng Tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên với tư cách là mối quan hệ mang tính hệ thống Do vậy, nhận thức không thể tách rời mà tuân theo tính hệ thống, cũng như trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế không chạy theo các chỉ số tăng thêm đơn thuần về mặt kinh tế mà làm tổn hại đến môi trường, và cũng không phải vì sợ ảnh hưởng đến môi trường mà đình chỉ các hoạt động kinh tế

Trang 12

Trong nhiều năm nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã thực sự quan tâm đến vấn trường và phát triển bền vững Trong các văn kiện các kỳ Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc, đặc biệt từ đại hội Đảng lần thứ 2 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường một cách bền vững đã trở thành nội dung không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng

Mặc dù vậy, ngày nay cũng còn ít nghiên cứu khoa học xã hội về lĩnh vực này nói chung và trong môi trường đại học như trường Đại học Giao thông Vận tải nói riêng nhất là về khảo sát và đánh giá về nhận thức đối với môi trường và ô nhiễm môi

trường đối với người dân trong xã hội Từ đó cho thấy việc nghiên cứu về đề tài ‘Vận dụng quan điểm của C Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và một số vấn

đề đặt ra về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay’ hiện nay là một vấn đề cấp thiết,

quan trọng Khi chọn đề tài này để thực hiện công tác nghiên cứu chúng em hi vọng sẽ góp một phần vào việc thay đổi nhận thức của các bạn sinh viên Trường Đại học Giao Thông Vận Tải nói riêng và của mọi người dân nói chung về vấn đề môi trường và nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm trong bảo vệ môi trường sống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ thực trạng ô nhiễm môi trường ở Hà

Nội cũng như ở Việt Nam hiện nay Với đó là tìm hiểu và phân tích nhữngnguyên nhân gây nên tình trạng này để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực

để khắc phục và quan trọng nhất là thay đổi nhận thức của sinh viên về bảo vệmôi trường

Nhiệm vụ:

- Làm rõ quan điểm của C Mác về về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

- Tìm hiểu về vấn đề môi trường ở Việt Nam hiện nay

- Thực trạng về ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay

- Tìm hiểu và phân tích, đánh giá số liệu

- Trên cơ sở quá trình phân tích, đánh giá thực trạng đó đề xuất những phươnghướng và giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của sinh viên nói riêng và ngườidân nói chung về bảo vệ môi trường

Trang 13

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về môi trường ở Việt Nam Quan điểm của

C Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin từ internet và các phương tiện thông tin đạichúng như báo đài tivi…

- Phương pháp khảo sát điều tra lấy ý kiến của sinh viên về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu từ kết quả khảo sát được

- Quan sát trực quan và cảm nhận của người nghiên cứu

- Ngoài ra còn sử dụng một số biện pháp văn học như so sánh, logic, diễn dịch,quy nạp trong quá trình viết báo cáo nghiên cứu

5 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Ý nghĩa thực tiễn: nêu nên được vấn đề nóng, cấp thiết và gây nhiều bức xúctrong dư luận xã hội Góp một phần nào đó vào hoạt động tuyên truyền và nângcao ý thức của sinh viên về bảo vệ môi trường

- Ý nghĩa lý luận: có thể là tiếp nối và làm rõ hơn về việc đưa những vấn đề nóng

và cấp thiết cả xã hội vào nghiên cứu khoa học Qua đó có thể thu hút thêm sựquan tâm của công chúng vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Trang 14

CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA C MÁC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA

CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN 1.1 Quan điểm của C Mác về tự nhiên

Tự nhiên (hay còn được gọi là thiên nhiên, giới tự nhiên, vũ trụ kháchquan hoặc thế giới khách quan) là toàn bộ thế giới vật chất biểu hiện là các dạngvật chất cụ thể tồn tại, vận động, biến đổi trong vũ trụ Tự nhiên bao gồm các sựvật, hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất và cũng nhắc đến sự sống nóichung Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạt, phản hạt, nguyên tử, phân tử, nguyên

tố cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ

Cũng có thể khẳng định, tự nhiên là khí hậu, thời tiết, sông ngòi, đồi núi,rừng, biển, tài nguyên khoáng sản… tất cả những sự vật, hiện tương xung quanhcon người và cả chính con người Tự nhiên là toàn bộ môi trường sống baoquanh con người, là môi trường sống của con người, tác động trực tiếp, ảnhhưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người

Theo quan điểm của C Mác, tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất kháchquan, biểu hiện các dạng thức tồn tại, hình thức tồn tại và phương thức tồn tại cụthể Các dạng vật chất cụ thể tồn tại trong từng lĩnh vực cụ thể và do các khoahọc cụ thể nghiên cứu từ vật chất biểu hiện trong lĩnh vực cơ học, vật lý, hoáhọc, sinh học, xã hội Tinh thống nhất vật chất của thế giới đã làm nên tính thốngnhất và liên hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên, biểu hiện trong bản chấtsinh học – xã hội của chính con người Tuy nhiên, dù con người là một phần của

tự nhiên nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt khỏinhững hiện tượng tự nhiên, mang đặc tính của chính con người

Trang 15

Như vậy, theo quan điểm của C Mác, tư nhiên không phải là một thế giới

bí ẩn, được tạo ra bởi đấng sáng tạo nào Tự nhiên cũng không phải là một thựcthể tách rời khỏi cuộc sống con người, độc lập, đối lập với cuộc sống con người

Tự nhiên đó là các dạng vật chất từ nhỏ bé đến to lớn, từ đơn giản đến phức tạp,

từ vô cơ đến hữu cơ, từ bậc thấp đến bậc cao Tự nhiên là môi trường sống củacon người và cũng chính là sự sống của con người

1.2 Quan điểm của C Mác về con người

Trong lịch sử triết học (kể cả triết học phương Đông và triết học phươngTây), vấn đề con người, nguồn gốc và bản chất của con người, mối quan hệ giữacon người và tự nhiên luôn là mối quan tâm hàng đầu Vì vậy, quan niệm về conngười và quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được đề cập đến rất nhiều Tuynhiên, xuất phát từ hạn chế bởi lập trường duy tâm, hoặc hạn chế bởi phươngpháp siêu hình nên chưa có một quan niệm đúng đắn, khách quan và toàn diện vềcon người

C Mác, dựa vào tổng kết những thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học

tự nhiên, cùng với quan điểm duy vật biện chứng khi nghiên cứu toàn bộ tiếntrình vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người, đã có quan điểm đúngđắn, khách quan, khoa học về con người Đối với C Mác, con người là một thựcthể sinh học - xã hội, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội

Về mặt sinh học, con người là thể sinh vật, thuộc lớp động vật có vú, códáng thẳng đứng, có đôi bàn tay là công cụ nhận thức và lao động, có bộ óc tiếnhóa và phát triển cực kỳ cao và tinh vi Con người hoàn toàn có nhu cầu sinhhọc, chịu sự chi phối của các quy luật sinh học giống động vật

Về mặt xã hội, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các quan hệ

xã hội, có khả năng kế thừa nền văn minh nhân loại Trong quá trình tương tácvới giới tự nhiên, cải biến các dạng tồn tại sẵn có của tự nhiên để tạo ra đời sốngcủa chính mình, con người đã để lại dấu vết mang tính “loài”, gia nhập thuộctính xã hội vào bản chất của con người, làm nên đời sống văn hoá của con người,định hướng cho bản chất sinh học của họ Là một chủ thể có ý thức, con ngườitạo ra văn hoá, tạo ra những giá trị, những chuẩn mực riêng có trong cộng đồng

Trang 16

người Do đó, sự tồn tại, phát triển của con người ngoài bị chi phối bởi các quyluật sinh học thì con người còn bị chi phối bởi những quy luật xã hội.

Quan điểm của C Mac: “Con người không phải chỉ là thực thể tự nhiên

Nó còn là thực thể tự nhiên có tính người” “Con người chỉ khác con vật ở hiệntượng duy nhất là trong con người có ý thức thay thế bản năng”

Như vậy, con người, một mặt, với tư cách là sản phẩm của giới tự nhiên,

là sự phát triển tiếp tục của giới tự nhiên, là mắt khâu cao nhất trong chu trìnhphát triển của tự nhiên, mặt khác, con người là một thực thể xã hội, được tách ranhư một lực lượng đối lập với tự nhiên Sự tác động qua lại giữa mặt sinh học vàmặt xã hội trong con người tạo nên bản chất con người Tổng hoà các quan hệ xãhội là bản chất của con người, là đặc tính “loài” của con người trên nền tảng sinhhọc

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên

Có thể nói, vấn đề mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã được rất nhiềunhà triết học từ thời Cổ đại đến hiện đại quan tâm Nhìn chung, các quan điểmcủa triết học trước Mác và ngoài Mác đã thể hiện một cách rõ nét và phổ biến haiquan điểm: đề cao yếu tố tự nhiên (duy tự nhiên) hoặc đề cao yếu tố con người(duy xã hội) Theo quan điểm duy tự nhiên, tự nhiên giữ vai trò quyết định, tuyệtđối trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người hoàn toàn thụđộng trong mối quan hệ này Điều này được thể hiện trong cả triết học phươngĐông và phương Tây

Đối với phương Đông, triết học Khổng Tử cho rằng vạn vật trong vũ trụ luôn

sinh thành biến hóa không ngừng theo đạo của nó, vạn vật đều do mệnh trời quyđịnh Phật giáo với thuyết “duyên khởi” cho rằng thế giới các hiện tượng đều cónhân duyên của nó, không phụ thuộc vào ý thức của con người Đạo giáo với họcthuyết “vô vi” của Lão Tử, khẳng định “đạo pháp tự nhiên”, ông cho rằng conngười chỉ có thể thích ứng với quy luật tự nhiên một cách thụ động, đứng trước

tự nhiên con người không cần làm gì cả

Đối với phương Tây, các nhà tư tưởng cổ đại như Platon, Aristốt đã khẳng

định vai trò quyết định của điều kiện tự nhiên trong đời sống xã hội để đối lập

Trang 17

với quan điểm tôn giáo, thần thoại Những tư tưởng này tiếp tục đượcMôngtexkiơ khởi xướng vào thế kỷ XVIII với thuyết quyết định luận địa lý Tràolưu triết học này đã đặt sự phát triển của xã hội trực tiếp lệ thuộc vào điều kiệnđịa lý đồng thời khẳng định: đạo đức cũng như đặc điểm của một dân tộc tùythuộc vào hoàn cảnh địa lý của nước đó Từ đó, các nhà triết học tư sản nhưBớccon, C Rítte đã xây dựng thuyết địa lý chính trị để chứng giải tính vĩnh viễncủa sự bất bình đẳng xã hội, biện hộ cho sự bành chướng thuộc địa của Chủnghĩa tư bản vào giữa thế kỷ XX Họ cho rằng, quy luật tự nhiên chi phối toàn bộđời sống xã hội và do đó, một nước có hoàn cảnh địa lí thuận lợi thì người dân

có khả năng thống trị và ngược lại

Đối lập với quan điểm duy tự nhiên, quan điểm duy xã hội của hầu hết cáctriết gia phương Tây lại tuyệt đối hóa yếu tố con người, vị trí con người trongmối quan hệ với tự nhiên

Triết học Hy Lạp cổ đại đề cao con người và tinh thần của Kitô giáo về sựsáng tạo của Thượng Đế Con người là đỉnh cao của sự sáng tạo ấy và là hìnhảnh của Chúa nên bản thân con người cũng có khả năng sáng tạo thế giới Cáctriết gia tiêu biểu như: Pitago, Xôcrát, Aristốt luôn thể hiện quan điểm conngười là vị trí trung tâm của thế giới Pitago khẳng định: “con người là thước đocủa mọi vật”; Aristốt cho rằng: “do bản tính, con người là động vật chính trị”.Đây là tư tưởng có ý nghĩa rất lớn trong việc nhận thức vấn đề con người chođến tận sau này

Quan điểm duy xã hội (con người) được phát triển rực rỡ ở thời kỳ Phụchưng cuối thế kỷ XV, với sự ra đời của “khoa học tự nhiên thực sự” Châu Âu đãđạt đến sự tiến bộ khổng lồ trong lĩnh vực tự nhiên nhờ những phát kiến mới củaNiutơn, Lốccơ, Hốpxơ Họ khẳng định khả năng chinh phục tự nhiên tuyệt đốicủa con người

Triết học cổ điển Đức đã kế thừa và phát triển tư tưởng triết học thời kỳPhục hưng và Khai sáng là đề cao con người, đặc biệt là trí tuệ con người Tuynhiên, bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm nên con người đã bị cực đoan hóa

Trang 18

đến mức là chúa tể sáng tạo ra giới tự nhiên, giới tự nhiên được ý niệm tuyệt đốitha hóa cùng một lúc trong không gian.

Trong quan điểm của Triết học Mác, con người là một thực thể trong sựthống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ tựnhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triểngắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Mối quan hệ giữa con người và tựnhiên một mặt tạo nên lịch sử của loài người, mặt khác, mối quan hệ ấy làm cho

tự nhiên biến đổi theo hướng Người hơn, nhân văn hơn

Với luận điểm cho rằng: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”,

“thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp

để tồn tại” và cả đời sống thể xác lẫn đời sống tinh thần của con người đều luôngắn liền với giới tự nhiên, C Mác đã đi đến khẳng định rằng: “Con người là một

bộ phận của giới tự nhiên” Thông qua quá trình tồn tại và sự tác động thực tiễn,con người đã tác động vào tự nhiên Hoạt động của con người đã làm biến đổi tựnhiên để duy trì sự tồn tại, vận động và phát triển chính mình, tạo nên lịch sử của

xã hội loài người Con người là một bộ phận của tự nhiên, một mắt xích quantrọng nhất trong chu trình phát triển của tự nhiên, không thể tách rời tự nhiên vìvậy chúng ta phải vạch ra vai trò của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bảnchất của con người và tự nhiên

Con người và tự nhiên có mối quan hệ khăng khít với nhau Yếu tố sinhhọc trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòaquyện với nhau và tồn tại trong yếu tố xã hội mà trong đó giới tự nhiên làm tiền

đề cho con người tồn tại và phát triển C Mác đã viết: “Giới tự nhiên - cụ thể làcái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của conngười - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Nhưthế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó, conngười phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đờisống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thểchẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vìcon người là một bộ phận của giới tự nhiên”

Trang 19

Con người là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, nhưng con người không phải

là một hệ thống khép kín, mà con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch

sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Chính thông qua quá trình thực hiện vai tròsáng tạp của mình, bản chất của con người được thể hiện ra và thường xuyên có

sự vận động, phát triển cùng sự vận động, phát triển của xã hội C Mác nhấnmạnh: “Tính chất xã hội là cái vốn có của toàn bộ sự vận động; bản thân xã hộisản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sảnxuất ra xã hội như thế Hoạt động và sự hưởng dụng những thành quả của hoạtđộng, xét theo nội dung của nó cũng như xét theo phương diện tồn tại, đều mangtính chất xã hội”

Từ quá trình con người tác động vào tự nhiên, tự nhiên sẽ tác động trở lạicon người Đó không phải là sự tác động một chiều, mà là sự tác động qua lại.Con người lao động tạo ra của cải nuôi sống bản thân mình và xã hội Sản xuấtvật chất là đặc trưng chỉ có ở con người, góp phần thúc đẩy trình độ phát triển xãhội Nhờ sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên mà con người đã cóđược những thứ cần thiết phục vụ nhu cầu của mình, không chỉ về nhu cầu vậtchất mà cả nhu cầu tinh thần

Từ quan điểm ấy, C Mác đã sớm lưu ý đến thái độ của con người trongquá trình chinh phục và cải biến giới tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất xãhội chứ không dừng lại ở việc xem xét sự chi phối của tự nhiên đối với conngười Mặc dù luôn nhấn mạnh con người là một bộ phận của giới tự nhiên vàviệc tự nhiên cung cấp tất cả các nguồn vật chất vốn có của sinh quyển để conngười tồn tại, nhưng không bao giờ các ông đánh giá thấp khả năng của conngười trong chinh phục và cải biến tự nhiên Thông qua quá trình lao động sảnxuất xã hội, con người đã học cách biến đổi tự nhiên, từ đó con người có khảnăng chi phối các quá trình tự nhiên theo những mục đích của mình Ph.Ăngghen phê phán quan niệm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử, tức là quan niệm coi

“chỉ có tự nhiên mới tác động đến con người, chỉ có những điều kiện tự nhiênmới quyết định ở khắp mọi nơi sự phát triển lịch sử của con người, quan niệm ấy

là phiến diện, nó quên rằng, con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tựnhiên”

Trang 20

Nếu như sự cân bằng giữa con người và tự nhiên bị phá vỡ, khi nhữnghoạt động chinh phục, cải biến đi quá giới hạn chịu đựng của tự nhiên, con người

sẽ phải chịu những hậu quả khôn lường Những thảm họa liên tiếp về môitrường, những tác động biến đổi khí hậu, những khó khăn do sự cạn kiệt cácnguồn tài nguyên, phá hủy môi trường tự nhiên trong những năm gần đây chính

là những hậu quả đó Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, sự bùng nổ dân số trênkhắp thế giới đã dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên, pháhủy môi trường tự nhiên Phải chăng thảm họa đã và đang xảy ra trên khắp thếgiới chính là những phản ứng giận dữ của giới tự nhiên, là sự “trả thù” của tựnhiên trước sự “xâm lăng” và “thống trị” mù quáng của con người?

Quan điểm duy xã hội còn được tiếp tục phát triển bởi các nhà triết học tưsản thế kỷ XX thông qua thuyết kỹ trị Đây là trào lưu xã hội học ra đời ở nước

Mỹ trên cơ sở những tư tưởng của nhà kinh tế học tư sản I.Vêblen và được phổbiến rộng rãi trong những năm 30 Họ tuyệt đối hóa vai trò của khoa học kỹthuật, đề cao việc sử dụng máy móc, sản phẩm công nghiệp…

Quan điểm duy xã hội chỉ đề cao việc chinh phục một chiều của conngười trong mối quan hệ với tự nhiên Đó là điều “phi lý và trái tự nhiên”, sựthống trị ấy chính là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại tự nhiên, làm mất cânbằng sinh thái

Như vậy, các quan điểm trên đều có cách nhìn phiến diện, siêu hình, chưathể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên trong sự pháttriển

1.4 Quan điểm của người Việt về quan hệ giữa con người và tự nhiên 1.4.1 Về truyền thống

Đầu tiên, quan điểm văn hóa của Việt Nam về mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên là văn hóa lúa nước Việt Nam với 3/4 diện tích là đồi núi, phần lớnngười dân sống nhờ chủ yếu vào lao động nông nghiệp Và cây lúa là một trongnhững cây nông nghiệp chính có từ rất lâu đời ở Việt Nam, cũng chính cây lúa

cùng với địa hình thổ nhưỡng của đất nước ta đã tạo nên nền văn minh lúa

nước Việt Nam Để trồng được cây lúa nước thì điều kiện tự nhiên chính là điều

vô cùng quan trọng Ở các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 21

nhờ có khu vực địa hình chịu tác động của gió mùa nên rất phù hợp cho việccanh tác và phát triển nền văn minh lúa nước Việt Nam Khí hậu Việt Nam ônhòa, không có nhiều các dạng thời tiết cực đoan nên công việc làm lúa nướckhông bị ảnh hưởng.

Nhận biết nền nông nghiệp, trồng lúa nước và hoa màu phụ thuộc rấtnhiều vào thời tiết nên từ xa xưa, ông cha ta đã quan sát các hiện tượng thiênnhiên để tìm ra quy luật tự nhiên và đúc kết lại bằng những câu ca dao, tục ngữ

dễ nhớ, truyền lại kinh nghiệm cho con cháu đời sau: “Mau sao thì nắng, vắngsao thì mưa”, “Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy”… Tự nhiên đã đem lại chođất nước ta quá nhiều thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp, và để có chỗđứng vững chắc trong nền kinh tế nông nghiệp như hiện nay (Việt Nam là quốcgia xuất khẩu gạo đứng thứ 3 toàn cầu năm 2022), chúng ta phải biết ơn ông cha

ta rất nhiều vì đã truyền lại những kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua nhiềuthế kỉ Những quy luật tự nhiên xảy ra hằng năm đều được ông cha lưu lại quanhững câu ca dao, tục ngữ để giúp con cháu sau này không phải vất vả khi trồngtrọt

Tất cả những yếu tố thuộc về môi trường đều gắn liền với bản sắc Việt, đó làtính cần cù, biết trân trọng biết ơn tự nhiên, chứa đựng sự chuẩn mực về đạo đức,giá trị văn hóa Và chính những yếu tố môi trường đã tạo nên truyền thống vềtính thân trọng, sự khiêm tốn, sức mạnh trong “cái khó ló cái khôn”, “ở bầu thìtròn ở ống thì dài” Như vậy, văn hóa lúa nước đã tạo nên bản sắc văn hóa,những giá trị chỉ có ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên theo quan điểm của văn hóa Việt còn

là ở những câu ca dao tục ngữ “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” Đó

là cái tình giữa người với người, là sự trân trọng cũng là đạo đức Người Việttrân trọng phần còn lại của tự nhiên, là sự gắn kết giữa con người với tự nhiên,địa lý, khí hậu Những kinh nghiệm được đúc kết từ tự nhiên được truyền từ đờinày qua đời khác, “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưacười đã tối”

1.4.2 Trong văn học Việt Nam

Trang 22

Văn học dân gian Việt nam, tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” chỉ sự thống nhất, cảm thông với nhau giữa trời và người, giữa tự nhiên và con người, có thể nói ví dụ như câu “thiên thời địa lợi nhân hòa” “Thiên thời” ý là đúng thời điểm,

“địa lợi” không phài là điều kiện địa lý thuận lợi mà là phải có lợi thế, và “nhân hòa” là sự hòa hợp của con người Và ba yếu tố trên chính là điều kiện cần và đủ

Là một bộ phận của văn hóa dân gian ( folklore) nói chung và ca dao trữ tìnhnói riêng gắn bó rất chặt chẽ với thiên nhiên Thiên nhiên trong ca dao trữ tìnhkhông chỉ là đối tượng mô tả mà còn là phương tiện nghệ thuật giúp chúng tahiểu rõ hơn thế giới quan, lối sống, cách cảm nghĩ và thẩm mĩ của người bìnhdân Vì vậy, thiên nhiên có một vị trí rất quan trọng trong ca dao Thiên nhiên lànội dung, là hình thức, là sức sống của ca dao

Hình ảnh thiên nhiên chiếm tỉ lệ lớn trong ca dao Qua khảo sát 7 tài liệu

là tuyển tập ca dao các miền, chúng tôi thu được kết quả sơ bộ như sau:

STT Tài liệu khảo sát Tổng số câu ca dao

được khảo sát

Số câu ca dao cóhình ảnh thiên nhiên

Trang 23

3 Ca dao dân ca Nam

Cụ thể hơn, trong mỗi tư liệu khảo sát, tần số xuất hiện của những câu ca dao

có hình ảnh thiên nhiên trong mỗi chủ đề cũng khá cao Chẳng hạn, khảo sát

4157 câu ca dao trong tài liệu “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (2 tập), có đến 1661câu có hình ảnh thiên nhiên, chiếm tỉ lệ 40%, trong đó, chủ đề về quê hương đấtnước có 226/419 câu có hình ảnh thiên nhiên, chiếm tỉ lệ 53,9% Cũng với chủ

đề này, khi khảo sát tài liệu “Ca dao dân ca Nam Bộ”, có 96/157 câu có hình ảnhthiên nhiên chiếm tỉ lệ 61,1% Trong “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” có 22/31 câu,chiếm tỉ lệ 71%

Trong nền văn học bác học trung đại và hiện đại cũng không thể vắng bóngthiên nhiên Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm Thiên nhiênbiểu hiện cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết học phương Đông của cácnghệ sĩ Nho học thời kỳ này

Riêng thi ca, thơ tức cảnh cũng như tranh sơn thủy chiếm một vị trí hếtsức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến Hiện tượng này có thể

Trang 24

bắt nguồn từ xã hội kinh tế nông nghiệp thô sơ của thời trung đại Thời ấy conngười sống giữa thiên nhiên Con người trực tiếp khai thác thiên nhiên bằng bàntay lao động của mình Thiên nhiên là nguồn nuôi dưỡng tinh thần và vật chấtcho con người Thiên nhiên có mặt trong cuộc sống gia đình, xã hội của cư dâncủa nền văn hóa thảo mộc, nền văn minh lúa nước.

Hiện tượng nghệ thuật này cũng có thể nảy sinh từ hệ triết học phươngĐông: con người hòa đồng với vạn vật, tạo vật và con người tương sinh trong thếgiới này Và cũng có thể xuất phát từ đời sống văn hóa tín ngưỡng Tô-tem haytín ngưỡng phồn thực phương Đông Hiện tượng này cũng có thể lý giải bằng hệ

tư duy tổng hợp Đông phương, bằng tính cách duy cảm của dân tộc ta Conngười không nhìn nhận mình là chủ thể mà cảm nhận mình là một yếu tố cùngvới thiên nhiên tạo nên sự sống của thế giới thực tại này Con người duy cảm nênluôn đắm mình vào những biến thái mong manh, tinh vi của tạo vật để giao cảm,giao hòa Vì vậy, ta hiểu văn chương trung đại thơ ca chiếm một vị trí quan trọng

và trong văn xuôi lại thắm đượm chất thơ, cảm xúc trữ tình

Vì những căn cứ trên, thiên nhiên không tách khỏi con người như một kháchthể, con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể Con người đã gán chothiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình Thiên nhiên chưa đượckhám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự là đối tượng hiện Nguyễn BỉnhKhiêm cũng từng khảng định: “Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen

Trang 25

Thiên nhiên trong thơ Mới là sản phẩm của trí tưởng tượng, thấm tâmtrạng của tác giả Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Mới được các nhà thơ khắchọa một cách tinh tế Mỗi một cảnh vật đều là tâm huyết của các nhà thơ, nó làlòng yêu quê hương, quốc gia thầm kín, thiết tha & trí não dân tộc sâu sắc.Mỗi hình ảnh thiên nhiên là một cái đẹp của quê hương mộc mạc, nồng hậu &thân thuộc Nếu trong thơ Mới mang đến xúc cảm lãng mạn thoát li thì thơcách mạng hướng tới lãng mạn cách mạng Bắt nguồn từ dấu hiệu tính cáchphẩm chất người Việt luôn lạc quan, tín nhiệm dù trong bất kỳ bối cảnh nàocùng với tâm hồn nên thơ giàu xúc cảm Chính vì vậy, bức họa thiên nhiên củacác tác giả trong đoạn 1945 - 1975 cũng được nhìn một cách lãng mạn hóa,đẹp đẽ và hùng vĩ.

Tóm lại, tầm quan trọng của thiên nhiên trong cuộc sống của con người

là một tất yếu Với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người sốngtrong tự nhiên Mọi sự xáo trộn, biến đổi của tự nhiên sẽ tác động trực tiếp đếnchất lượng cuộc sống của con người Để xử lý hài hòa mối quan hệ đó, conngười phải vận dụng tốt vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để tìm được

“tiếng nói chung” với tự nhiên Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay - nền côngnghiệp hoá hiện đại hoá đang phát triển mạn mẽ đang xuất hiện những vấn đềphức tạp trong giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Điều đó cầnđặt ra những yêu cầu cơ bản, toàn diện từ nhận thức đến hệ thống những giảipháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững ở nước ta - một sự phát triển hàihòa cả về kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường

Tiểu kết chương 1

Với luận điểm cho rằng, “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”,

“thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp

để tồn tại” và cả đời sống thể xác lẫn đời sống tinh thần của con người đều luôngắn liền với giới tự nhiên, C Mác đã đi đến khẳng định: “Con người là một bộphận của giới tự nhiên” Song, hoạt động sinh sống của con người, theo C Mác,

là “hoạt động sinh sống có ý thức” và do vậy, bằng hoạt động lao động của mình,con người đã làm biến đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chínhmình Rằng, con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sốngtrong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó

Trang 26

khăng khít với nhau; yếu tố sinh học trong mỗi con người không phải tồn tại bêncạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện với nhau và tồn tại trong yếu tố xã hội;

do vậy, bản tính tự nhiên được chuyển vào bản tính xã hội và được cải biến ởtrong đó Và, chỉ có trong xã hội, con người mới có thể thể hiện được bản chất tựnhiên và xã hội của mình; do đó, tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trongbản chất con người, làm cho con người trở thành một chỉnh thể tồn tại với cả haimặt tự nhiên và xã hội, hình thành nên mối quan hệ khăng khít: Con người - Tựnhiên – Xã hội

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở VIỆT NAM 2.1 Khái quát thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay

Môi trường tự nhiên có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển củacon người, nó tác động hàng ngày, hàng giờ, trực tiếp ảnh hưởng tới sự tồn tại vàphát triển của con người Có thể khái quát về vai trò của môi trường tự nhiên đốivới sự tồn tại và phát triển của con người trên một số nội dung: Môi trường tựnhiên là điều kiện thường xuyên, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hộiloài người Môi trường tự nhiên là khung cảnh lao động, nghỉ ngơi, vui chơi, giảitrí của con người Môi trường tự nhiên là nơi phát triển trí tuệ, óc thẩm mỹ vànhững phẩm chất tốt đẹp của con người Môi trường tự nhiên là nơi tiếp nhận,biến đổi các chất thải của con người Bên cạnh vai trò về vật chất, môi trường tựnhiên còn có ý nghĩa quan trọng về giá trị tinh thần

Tự nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội có quan hệ khăng khít, chặc chẽtác động qua lại lẫn nhau trong thế cân bằng thống nhất Tự nhiên cung cấp

Trang 27

nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụthuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Thực tế có rất nhiều quốc gia

sự phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu dựa trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuấtkhẩu, đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại Có thể khẳng định, tàinguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung có vai trò quyết định đối với

sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và địaphương

Tuy nhiên, ở Việt nam hiện nay, môi trường sống, môi trường tự nhiênđang bị tàn phá ngày một nghiêm trọng Mối qua hệ giữa con người và tự nhiênđang dần bị phá vỡ Tình trạng ô nhiễm diễn ra phổ biến trên tất cả các lĩnh vực.Hơn lúc nào hết, chúng ta phải quay trở lại nhưngx chỉ dẫn của các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác- Lênin như là kim chỉ nam, là giải pháp chiến lược để cứu lấychính môi trường sống của con người

2.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo

và được rất nhiều sự quan tâm của người dân Trong đó, đặc biệt là vấn đề ônhiễm nguồn nước ở Việt Nam đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn

Theo Unicef, tình trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay đang diễn ra ở khắpnơi trên thế giới đặc biệt tại các nước đang phát triển như ở miền Nam sa mạcSahara, Đông Nam Á và Mỹ Latinh Kể từ năm 2016, các tổ chức môi trườngquốc tế đã báo động Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Namđang đứng TOP 5 những quốc gia có lượng rác thải đổ ra biển nhiều nhất thếgiới

Có một thực trạng rất đáng buồn ở Việt Nam là hành động xả thải ra sông

hồ và biển cả đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc với người dân Các hình thứcchế tài, nhắc nhở và phạt hành chính đều trở nên quá nhẹ nhàng, không có tínhrăn đe đối với những trường hợp vi phạm Việc dòng sông Thị Vải bị “bức tử”bởi hóa chất thải ra từ nhà máy Vedan 14 năm liền luôn là nỗi trăn trở của nhữngngười yêu môi trường tại Việt Nam Tuy nhiên, sau con sông Thị Vải, hàng nămnước ta vẫn chứng kiến nhiều con sông và vùng biển khác chịu thảm cảnh tương

Trang 28

Vài năm trở lại đây, viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường báo cáo

có đến hơn 17 triệu người tại Việt Nam chưa được tiếp cận với nước sạch.Những người dân này phải chấp nhận sống chung với nguồn nước ngầm, nướcmưa, nước từ nhà máy lọc không an toàn Chưa dừng lại tại đó, cứ mỗi năm các

tổ chức môi trường quốc tế và trong nước vẫn tiếp tục đưa ra những con số rấtđáng lo ngại về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nước ta:

 Khoảng 9.000 người tử vong mỗi năm do nguồn nước và vệ sinh kém(theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên & Môi trường)

 Khoảng 20.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trongnhững nguyên nhân chính là do ô nhiễm nguồn nước (theo thống kê của Bộ Y tế

và Bộ Tài nguyên & Môi trường)

 44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻm em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡngtại Việt Nam do thiếu nước sạch và vệ sinh kém (theo WHO)

 Khoảng 21% dân số đang sử dụng nguồn nước bị nhiễm Asen (theo báocáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường)

 19.000 tấn rác nhựa thải ra môi trường mỗi ngày, trong đó trung bình mỗingười trong số chúng ta đóng góp đến 1,2kg rác/ngày (theo TS Quách Thị Xuân– Giám đốc Trung tâm Tư vấn Phát triển bền vững Đà Nẵng)

Bất chấp những con số báo động đỏ này vẫn có đến 30% dân số chưa nhậnthức được tầm quan trọng của nước sạch Ví dụ: Sau một thời gian dài phải gánhchịu bởi các nguồn nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp độc hại, cùng vớiphế liệu và rác thải… thì từ một con sông đẹp, sông Tô Lịch đã nhanh chóng trởthành một dòng sông “chết” bốc mùi hôi thối nông nặc, ô nhiễm nguồn nướcđang ở mức báo động mạnh

2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt nam

Đây được xem là hậu quả của sự tác động của con người Theo đó, cácnhân tố sinh thái chịu sự ảnh hưởng đã vượt qua những giới hạn của các quần xãsinh vật sống trong đất

Trang 29

Hiện nay, với nhịp độ gia tăng dân số, tốc độ phát triển công nghiệp vàhoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp.

Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 33 triệu ha Trong đó có68,83% tức khoảng hơn 22 triệu ha diện tích đất đang được sử dụng, còn lại hơn

10 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm khoảng 33,04% tổng diện tích đất Diện tíchđất sử dụng trong nông nghiệp khoảng 7-8 triệu ha

Ảnh 1: Sông Tô Lịch tại Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng thấm vào nền đất

(Theo báo vietnamplus)

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới mưa nhiều và tập trung, nên các quátrình khoáng hóa trong đất diễn ra rất mạnh khiến đặc điểm địa hình đồi núichiếm ¾ lãnh thổ dễ bị rửa trôi, xói mòn, thoái hóa do nghèo chất hữu cơ và chấtdinh dưỡng Đất sau khi bị thoái hóa thì rất khó khôi phục quay trở lại trạng tháimàu mỡ ban đầu

68,83% tức khoảng hơn 22 triệu ha diện tích đất đang được sử dụng, cònlại hơn 10 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm khoảng 33,04% tổng diện tích đất.Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp khoảng 7-8 triệu ha

Chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu ngườigiảm Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất nghiêm

Trang 30

trọng Chẳng hạn, ô nhiễm tài nguyên đất ở sông Tô Lịch ( Hà nôi) là một ví dụđiển hình Sông Tô Lịch vốn là con sông thiên nhiên, nhánh của sông Hồng, làmột trong những sông nổi tiếng tại thủ đô Hà Nội Xưa kia khi nhắc tới sông TôLịch người ta nghĩ ngay đến hình ảnh con sông hiền hoà, sạch sẽ, mát mẻ.Nhưng giờ đây Sông Tô Lịch là nơi tiếp nhận chính nước mưa và đủ loại nướcthải chưa qua xử lý của thành phố (nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện,thậm chí cả nước thải công nghiệp ) khiến dòng chính Tô Lịch cũng như cácphân lưu của nó ngày càng ô nhiễm, màu nước đen và bốc mùi hôi thối Điềunày làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống xung quanh và môi trườngcủa thành phố Nồng độ các chất ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động.

Bùn lắng đọng và trầm tích sông Tô Lịch đoạn tiếp nhận nước thải từ cốngBưởi đến cầu Mới dài trên 6 km được Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường lấymẫu và phân tích theo các phương pháp Thành phần kim loại nặng trong bùnlắng đọng trên sông được nêu trong Bảng 1

T

T Thông số

CốngBưởi

Cầu DịchVọng

CầuGiấy

CầuCót

Cầu TrungHòa

CốngMọc

CầuMới

Bảng 1 Hàm lượng kim loại nặng trong bùn lắng sông Tô Lịch

Kết quả phân tích cho thấy, trầm tích sông Tô Lịch có nguồn bổ cập chủyếu từ nước mưa và nước thải các tuyến mương và cống trong lưu vực chảy vào.Hàm lượng kim loại nặng theo 6 thông số của QCVN 03-MT:2015/BTNMTtương đối cao Đặc điểm nổi bật là hàm lượng Cr tổng lớn, 156 - 158 mg/kg

Ngày đăng: 02/09/2022, 06:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w