Tài sản được tranh chấp ở đây là nhà và đất, cụ thể là phần tài sản của ông Hòa và bà Mai gồm: 1 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và mộtlán bán hàng, trên diện tích đất 169,5m2, tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA DÂN SỰ
- -
Môn: Những quy định chung về Luật Dân sự
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ LẦN 5: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
GVHD: Thầy Nguyễn Nhật Thanh
Lớp: 127- DS46B.1 Nhóm 04 DANH SÁCH SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 4NỘI DUNG 1: DI SẢN THỪA KẾ.
Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Nguyên đơn: ông Phùng Văn T
Bị đơn: Phùng Văn T
Nội dung: Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện
tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lạicủa thửa đất là 267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh PhùngVăn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất
cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiếnphản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để locuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhànước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con
bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêutrên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bàPhùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ
Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phầnđất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng
Kết quả: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23/02/2012của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS- ST
ngày 04/10/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ
án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn chị Phùng Thị H1, chị Phùng ThịN1, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H3
Tóm tắt bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ việc “Tranh chấp thừa kế tài sản.”
Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hòa
Bị đơn: Anh Trần Hoài Nam và chị Trần Thanh Hương
Nội dung: Ông Hòa và bà Mai (đã chết 31/01/2017) kết hôn với nhau năm 1980.Hai ông bà có hai con chung là anh Nam và chị Hương Ngoài ra không có con đẻ
con nuôi nào khác Tài sản được tranh chấp ở đây là nhà và đất, cụ thể là phần tài
sản của ông Hòa và bà Mai gồm: 1 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và mộtlán bán hàng, trên diện tích đất 169,5m2, trong đó có 85.5m 2 chưa được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng phần đất này không vi phạm vào tranh chấp,
Trang 5hay quy hoạch và được sử dụng liên tục bởi ông Hòa Theo Hội đồng xét xử, phần
đất này vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai Do các đương sự không thỏa thuận
được với nhau trong việc phân chia tài sản, biết anh Nam có phần đóng góp xây
dựng căn nhà hiện tại, còn ông Hòa hiện tại đã có vợ mới, và phần đất tranh chấp
chủ yếu là cho thuê Vì vậy sau khi xem xét về tình cảm và nhu cầu thực tế, Hội
đồng xét xử quyết định anh Nam sở hữu 1 nhà 3 tầng, sân tường bao quanh, còn
ông Hòa được hưởng 300 triệu đồng tiền thuê nhà và lán bán hàng, còn chị Hương
được sở hữu số tiền 30 triệu đồng cho thuê nhà
Kết quả: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ôngHòa Chia cho ông Hòa 300 triệu đồng số tiền thuê nhà và 1 lán bán hàng, chia choanh Nam được quyền sở hữu 1 nhà 3 tầng, sân tường bao loan, chia cho chị Hương
được quyền sở hữu số tiền thuê nhà 30 triệu Buộc anh Nam có trách nhiệm thanh
toán chênh lệch về tài sản cho cho ông Hòa và thanh toán tiền cho chị Hương
Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Theo Điều 612 Bộ Luật Dân sự 2015 (viết tắt là BLDS 2015) di sản là tài sản riêngcủa người chết để lại hoặc là phần tài sản của người chết trong tài sản chung vớingười khác, nhưng không phải những gì người quá cố để lại đều là di sản như quần
áo, các giấy tờ gắn liền với nhân thân, những quyền được chuyển giao như quyềnmua hóa giá nhà, quyền sử dụng đất, quyền thuê, mua nhà,
Theo khoản 1 Điều 615 BLDS 2015 quy định là những người thừa kế có trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại nên vìcăn cứ trên nên di sản không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố, nghĩa vụ củangười quá cố sẽ được thực hiện bởi người hưởng thừa kế ví dụ như nghĩa vụ trả nợ
của người quá cố sẽ được người hưởng di sản thừa kế thực hiện trong phạm vi disản người quá cố để lại
Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế, thay thế bởi
một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Tr ả lời:
Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế, thay thế bởi một tài sản
mới sau đó thì tài sản mới có được xem là di sản không còn phụ thuộc vào mụcđích, nguyên nhân của việc thay thế đó
Trang 6+ Nguyên nhân khách quan từ những yếu tố nằm ngoài ý chí, kiểm soát của con ngườichẳng hạn như thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt và khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kếđược thay thế bởi một tài sản có giá trị tương đương thì tài sản mới được xem là di sản.
+ Nguyên nhân chủ quan từ những người có mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kếban đầu đồng thời thay thế bởi một tài sản khác khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sảnthừa kế Nếu vì lý do chủ quan mà di sản thừa kế bị làm hư hỏng hoặc bị bán mà không có sự đồng ýcủa các đồng thừa kế thì giá trị phần di sản vẫn được coi là di sản thừa kế và người làm thất thoát disản có trách nhiệm trả lại phần giá trị làm thất thoát để chia thừa kế
Vì vậy khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế, thay thế bởi một
tài sản mới sau đó thì tài sản mới có được xem là di sản không còn phụ thuộc vào
Nguyên nhân khách quan nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Câu 3: Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của
người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố không cần phải
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được coi là di sản Vì theo
Điểm a;b tiểu mục 1.3, mục 1 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của
Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 quy định về việc xác
định quyền sử dụng đất là di sản như sau:
“1.3 Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một
trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này
nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh,
giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công
trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh
như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật
kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn
quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó
mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xácnhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận
Trang 7quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó
b) Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyềnxác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩmquyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giaoquyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụngđất Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhândân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.”
Như vậy, đất của người quá cố để lại nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nếu có các loại giấy tờ chứng minh được nguồn gốc đất và UBND cấp
có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất là hợp pháp, không vi phạm quy hoạch,
đất được sử dụng lâu dài, không có tranh chấp thì Tòa án vẫn xác định được đây là
di sản thừa kế
Câu 4: Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án
có câu trả lời?
Trả lời:
Tòa án coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất không phải là di sản Câu trả lời nằm ở phần “Nhận định của Tòa án”:
“Đối với phần diện tích tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng
không được coi là di sản thừa kế, cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.”
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án
số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trả lời:
Về phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận trong Bản án số 08, Tòa đã
xử theo hướng công nhận đây là tài sản chung của ông Hòa bà Mai, chỉ có điều là
đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Hướng xử lý nêu trên của
Tòa là không hợp lý
Trang 8Bởi vì:
Thứ nhất, Tòa án đã xử lí 85.5m2 đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất bằng cách xác định diện tích đất này thuộc diện được cấy giấy chứng
nhận quyền sử dụng sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Nhưng để xác định mảnh
đất có thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì phải
căn cứ vào Điều 99 Luật Đất đai 2013 Trong trường hợp này, gia đình ông Hòa đã
sử dụng 85.5m2 đất mà gia đình ông không thuộc bất cứ trường hợp nào được quy
định trong Điều luật nêu trên nhưng Tòa án đã xác định mảnh đất thuộc diện cấy
giấy chứng nhận quyền sử dụng sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng thuế là chưa thỏa
đáng
Thứ hai, căn cứ vào khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định, để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ gia đình phải sử dụng ổn định mảnh
đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng từ trước ngày 01/07/2004 và
kèm theo các quy định khác trong Điều luật nhưng gia đình ông Hòa đã sử dụng
85,5m2 đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng từ năm 2006 kể từ khi
Nhà nước di dời trạm điện tới nơi khác Mà Tòa án đã xác định mảnh đất thuộc
diện cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, như vậy là không
phù hợp theo luật định
Từ hai lí do trên, nhóm em cho rằng hướng xử lý của Tòa án trong Bản án số 08 về
diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không hợp lí
Câu 6: Ở án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của
Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Trả lời:
Ở án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, nhưng bà Phùng Thị G có chuyểnnhượng cho ông Phùng Văn K 131m2 đất, phần đất còn lại là 267,4m2 đất phần di sản của PhùngVăn N 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích đất chung của vợ chồng tức 133,7m2
Vì số tiền bà G chuyển nhượng đất để lo cho các con và các con của bà đều biết
nhưng không phản đối nên số tiền đó được trừ vào tài sản chung của hai vợ chồng
Lúc này diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G được hình thành trong thời
gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng
Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Và bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt
1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà là 133,7m2
Trang 9Câu 7: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng
Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Trả lời:
Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông K không được coi
là di sản thừa kế Vì phần đất tổng 398m2 là tài sản chung của hai vợ chồng ôngPhùng Văn N và bà Phùng Thị G nhưng bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lại cho ông Phùng Văn K với diện tích là 131m2 đất Việc chuyểnnhượng này các con của bà G đều biết nhưng không phản đối và cơ quan nhà nướccũng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G với diện tích 267,4m2 đất
và cho ông K với diện tích đất là 131m2 Như vậy phần đất đã chuyển nhượng là131m2 là tài sản của ông K và khi bà G chết thì phần đất này không trở thành di sảncủa bà G vì phần đất này đã chuyển nhượng không phải tài sản riêng của bà hay tàisản chung với người khác Căn cứ vào Điều 612 BLDS 2015: “Di sản bao gồm tàisản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người
khác”
Đoạn văn bản trong án lệ thể hiện câu trả lời là: “Năm 1991, bà Phùng Thị Gchuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 đất trong tổng diện tích398m2 của thửa đất trên; phần diện tích còn lại của thửa đất trên là 267,4m2 Năm
1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích là
267.4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụngnhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K cáccon của bà G đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà G cólời khai bà G bán đất để lo cho cuộc sống của bà và các con Nay ông K cũng đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vìvậy có cơ sở xác định các con của bà G đã đồng ý để bà G chuyển nhượng
131m2đất nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diệntích đất của bà G đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ xác định
Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm phần đất
bà G đã bán cho ông K trước đó) là khối di sản để chia thừa kế là không hợp lý
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến
phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Trả lời:
Theo nhóm em, hướng giải quyết của Tòa án trong Án lệ số 16/2017/AL về phần
diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K là hợp lý
Bởi vì:
Trang 10Tòa án đã xác định đúng khi không đưa 131m2 diện tích đất mà bà G đã chuyểnnhượng cho ông K vào phần di sản để chia thừa kế Vì sau khi ông N mất và không
để lại di chúc, để chăm sóc các con nên bà G đã chuyển nhượng 131m2 đất cho ông
K, các con của bà G thì đều biết và không ai có ý kiến phản đối gì việc này Hướnggiải quyết của Tòa án đã bảo vệ quyền lợi cho ông K - người sở hữu 131m2 diệntích đất có căn cứ pháp luật vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
G và ông K là hợp pháp Ông K cũng đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nên diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản
để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên được chuyển nhượng là ông K.Lúc này, ông K có quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng là 131m2 diện tích đất căn
cứ theo Điều 223 BLDS 2015 về việc xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng nhưsau: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, chovay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì cóquyền sở hữu tài sản đó.”
Câu 9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà
dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để
chia không? Vì sao?
Trả lời:
Nếu bà G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho
cá nhân bà thì chỉ ½ số tiền đó được xem là di sản để chia
Căn cứ theo Điều 612 BLDS 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Vì131m2 đất đem bán là tài sản chung của vợ chồng nên bà G chỉ có thể định đoạt ½
số tiền nhận được sau khi chuyển nhượng đất và ½ số tiền này sẽ trở thành di sản
để chia sau khi bà G mất, ½ số tiền còn lại là di sản của ông N, đó là tài sản củaông N sau khi chết nên số tiền đó được coi như là di sản ông N để lại
Câu 10: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong
diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì Sao?
Trả lời:
Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là 152,8m2 đất
Trang 11Vì theo quy định của pháp luật thì di sản của bà Phùng Thị G là diện tích đất trongtổng diện tích đất chung của vợ chồng tức 133,7m2.(đã chuyển nhượng cho ôngPhùng Văn K 131m2 đất trong tổng diện tích 398m2 đất chung của hai vợ chồng).
Theo khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 khi người chết không để lại di chúc thì di chúc
sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kếthứ nhất.Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn
ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyềnhưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Mà khi ông Phùng Văn N chết thì không đểlại di chúc nên phần di sản của ông là 133,7m2 đất được chia làm 7 phần đều nhaucho 7 người gồm: bà Phùng Thị G, anh Phùng Văn T, chị Phùng Thị N1, PhùngThị N2, Phùng Thị H2, Phùng Thị P, Phùng Thị H1 Vậy mỗi người sẽ được19,1m2 đất
Đồng thời bà Phùng Thị G có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất chung của vợchồng là 267,4m2 đất tức 133,4m2 đất, cộng với phần đất được chia theo pháp luật
từ di sản chồng bà là 19,1m2 đất Tổng phần đất bà có trước khi mất là 152,8m2 đất.Nên ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tíchđất trên là 152,8m2 đất
Câu 11: Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là
43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây là nội dung của Án lệ số 16 không?
Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 Vì Án lệ này chỉ có nội dung xoay
quanh việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa
kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
Trang 12Câu 12: Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn
lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không?
Thứ hai, 5 người con còn lại đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tạiđiểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 nên được hưởng phần di sản bằng nhautương ứng là 5 kỷ phần
Án lệ số 16 có nội dung là việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà G và
ông K Còn về quyết định của Tòa án nêu trên là nói về việc chia thừa kế tài sản,
nên thiết nghĩ đây không phải là nội dung của Án lệ số 16
NỘI DUNG 2: QUẢN LÝ DI SẢN.
Tóm tắt Bản án 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
La về vụ việc “Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế.”
Nguyên đơn: Anh Phạm Tiến H
Bị đơn: Anh Phạm Tiến N
Bố mẹ của nguyên đơn Phạm Tiến H là ông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T khi
còn sống có tạo dựng một khối tài sản riêng gồm diện tích 311m2 đất và một ngôinhà gỗ 4 gian Tuy nhiên khi ông Đ và bà T qua đời thì không để lại di chúc vớikhối di sản thừa kế trên cũng như không trao quyền quản lý di sản thừa kế cho ai.Anh H được các anh chị em trong gia đình ủy quyền đã tiến hành sửa chữa cũngnhư cải tạo lại căn nhà trên đất thì bị anh Phạm Tiến N là cháu của ông Đ và bà T
ngăn cản với lý do anh là người được ủy quyền trông coi cũng như quản lý khối di
sản từ bố là ông Phạm Tiến T Vì vậy anh Phạm Tiến H đã đệ đơn khởi kiện anhPhạm Tiến N vào ngày 15/8/2019 Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2019/DS-STngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện M
Trang 13Kết quả: Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Tiến H cũng như
buộc anh Phạm Tiến N phải bàn giao lại toàn bộ nhà và đất của ông Đ và bà T mà anh
đang quản lý cho anh H Nhưng vào ngày 20/11/2019 anh Phạm Tiến N đã kháng cáo
vì không không nhất trí với Bản án sơ thẩm do xác định sai quan hệ pháp luật; chấp
nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Phạm Tiến N; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
23/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện M
Tóm tắt Quyết định số 147/2020/DS-GĐT ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn: Ông Trà Văn Đạm
Bị đơn: Ông Phạm Văn Sơn Nhỏ
Nội dung: Ông Trà Văn Đạm sở hữu mảnh đất thửa số 528 diện tích 1.497m2, nằmtại tờ bản đồ HTC2 tọa lạc tại đội 3, ấp Hậu Thuận, xã Hậu Thành, huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thửa đất nàynằm trong thửa 525 của ông Phạm Văn Ngót do ông Phạm Văn Sơn Nhỏ quản lý,
sử dụng Đây cũng là lối đi thuận tiện nhất cho ông Đạm, và ngoài lối đi này thìông Đạm không còn lối đi nào khác để đi ra đường công cộng Ông Nhỏ tự ý thỏa
thuận cho ông Đạm mở một lối đi từ đất của ông Đạm qua đất của ông Ngót đếnđường công cộng, mà không thông qua sự đồng ý của người sở hữu đất là bà Chơi
Ông Đạm đã thực hiện xong thỏa thuận và chịu hoàn toàn chi phí Ông Nhỏ tự
nguyện cho ông Đạm, bà É sử dụng lối đi này đến hết đời Tuy nhiên không khôngđồng ý việc ông Đạm xin mở lối đi mãi mãi, ông Nhỏ tự nguyện trả giá trị tiềnbơm cát cho ông Đạm
Kết quả: Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã không thu thập đầy đủ dữliệu để xem xét giải quyết vụ án là thiếu sót Việc nhận định ông Nhỏ có quyềnthỏa thuận cho ông Đạm mở lối đi trên đất là di sản chưa chia là không đúng Chấpnhận kháng nghị số 51/QĐ-VKS-DS ngày 10/02/2020 Hủy toàn bộ Bản án Dân sựphúc thẩm số 22/2018/DS-PT ngày 11/01/2018 Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dântỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật
Câu 1: Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di
sản của ông Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao?
Trả lời: