Và lý thuyết này là một trong những thành công lớn của hệ thống triết học cổ đại.Qua nhiều thế kỷ sau đó với nhiều sự tiến hóa trong ngành vật lý, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Đề tài:
HỎA NGỤC,ĐỊA NGỤC CÁC TÔN GIÁO
TP Hồ Chí Minh,tháng 02, năm 2022
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Đề tài:
HỎA NGỤC,ĐỊA NGỤC CÁC TÔN GIÁO
Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện:
Pháp danh:
Mã sinh viên:
Lớp: ĐTTX Khóa VI
Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, năm 2022
MỤC LỤC
Chương 1:LƯỢC SỬ VÀ CÁC CẢNH HỎA NGỤC ĐỊA NGỤC
Trang 31.1 Khái niệm về địa ngục 4
1.2 Hình thức Địa Ngục 5
Chương 2:CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HỎA NGỤC ĐỊA NGỤC 2.1 Quan điểm trong Kitô Giáo 6
2.2.Quan điểm trong công giáo 10
2.3.Quan điểm trong Tôn giáo Ai-cập và Đông phương 10
2.4.Quan điểm trong Ấn Độ giáo 12
Chương 3:ĐỊA NGỤC TRONG PHẬT GIÁO VÀ QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI VIỆT 3.1 Khái niệm “địa ngục” trong một số kinh sách Phật giáo 12
3.2 Quan niệm địa ngục của người Việt 19
C.KẾT LUẬN 20
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4A.MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Trước hết cần khẳng định, Địa ngục sau khi chết luôn là cõi dữ mà đạo Phật và các tôn giáo khác đều đề cập tới trong các giáo lý của mình Và mỗi tôn giáo cũng nói về địa ngục theo cách riêng của tôn giáo đó Ngay cả những người không tín ngưỡng một tôn giáo nào cũng luôn bị ám ảnh phải… đọa địa ngục, sau khi chết! Như vậy Địa ngục quả là đáng sợ Vậy địa ngục có hay không?Trả lời câu hỏi này thật không dễ, bởi là người phàm nên không ai có thể thấy được địa ngục sau khi chết cả – chỉ trừ đức Phật
và các vị Thánh La Hán Mặc dù vậy, chúng ta vẫn có được cái “thấy” bằng trí, bằng tuệ quán, căn cứ và Kinh điển Phật giáo Ta thấy: cả Phật giáo Nam tông và Bắc tông đều ghi nhận là có địa ngục sau khi người ta qua đời, và Địa ngục chỉ là một trong sáu cảnh giới ở cõi dục mà con người sẽ thác sinh vào Kinh Trường A hàm còn nói rõ vị trí Địa ngục nằm giữa núi Đại Kim cương thứ nhất và núi Đại Kim cương thứ hai, xung quanh là biển lớn bao bọc Luận lập thế A Tỳ Đàm chỉ rõ địa ngục ở ngoài núi Thiết Vĩ, đại địa ngục thì ở phía Nam thiệm Bộ châu Luận Đại tỳ bà sa nêu rõ, có Cô địa ngục và Biên địa ngục nằm ở khắp nơi, trong bài thơ Khai hồng chung của Hòa thượng Thích Trí Quảng có nói đến “Địa ngục A tỳ thăm thẳm sâu”… Và những chúng sinh trong địa ngục đều có hình tướng xấu xí, kỳ dị, tâm thức luôn bị đau khổ
bởi sự hành hạ, luôn đói khát và sợ hãi Đó là lý do Học viên chọn đề tài Tìm hiểu về Hỏa ngục, Địa ngục của các tôn giáo làm đề tài tiểu luận.
2.Phương pháp nghiên cứu:
Học viên dùng phương pháp: phân tích ,so sánh, diễn dịch, quy nạp… để nghiên cứu, phân tích và trình bày tiểu luận,từ đó đi đến kết luận để làm sáng tỏ đề tài
3.Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu : Hỏa ngục, Địa ngục của các tôn giáo
4.Bố cục tiểu luận:
Gồm 4 phần :
Mở đầu&Nội dung.Nội dung
Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5A NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
1.1 NGUỒN GỐC CỦA THẾ GIỚI
1.1.1 TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN TÂY PHƯƠNG
"Để trả lời cho vấn đề thực tại là gì ?", tất cả những hệ thống triết lý đều cố gắng dùng những phương pháp khác nhau để đưa ra những lời giải thích Trước hết, những nhà triết học Hy Lạp đã nỗ lực giải thích bản chất của thực tại Họ bắt đầu bằng cách phân chia mọi thứ thành hai đối tượng : chủ thể quan sát và đối tượng bị quan sát ; sau đó
họ bắt đầu suy đoán điều gì là thật và điều gì là không thật Bởi đi theo con đường này nên họ không đạt được kết quả Khi thời đại biến chuyển, các nhà triết học Tây phương đã xem không gian, thời gian, vật chất và chuyển động như là những thực tại
cơ bản Vì lý do đó, đối với họ không gian trở thành thực tại số một, thời gian : thực tại số hai, vật chất : thực tại số ba, và thực tại cuối cùng là chuyển động tức sự vận hành của ba thực thể trên Đặc biệt đối với vật chất vào thời xưa, triết gia Thales cho rằng mọi vật được sinh ra từ nước, trong khi Héraclites lại nói mọi vật đều sinh ra từ lửa Kế đến Anaramène lại nói mọi vật sinh ra từ đất ; cuối cùng, Empedocles cho rằng mọi vật đều bao gồm đất, nước, gió và lửa Sau đấy Democritus (460-370 B.C.) cho rằng : mọi vật bao gồm những nguyên tử khác nhau Và lý thuyết này là một trong những thành công lớn của hệ thống triết học cổ đại.Qua nhiều thế kỷ sau đó với nhiều
sự tiến hóa trong ngành vật lý, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ thứ 20, những nghiên cứu trong giới tự nhiên và thành phần của vật chất đã bắt đầu với khám phá rằng nguyên tử không phải là một phần tử nhỏ nhất của một hóa chất, nhưng nó bao gồm các proton và électron, và chỉ là một làn sóng chuyển động và có thể bị phá hủy bởi trong kết cấu với các hạt phản proton Và cuối cùng người ta đã thấy được rằng vật chất là sự trống rỗng Vì vật chất chỉ là một làn sóng chuyển động có thể chuyển đổi thành năng lượng, do đó Lý thuyết Tổng quát cho rằng người ta có thể tạo ra vật chất bằng cách biến đổi năng lượng thành những làn sóng chuyển động Anderson đã thực sự làm được điều này bằng cách sản sinh ra một dương điện tử hoàn toàn mới
Do đó, tất cả thuộc tính mà các khoa học gia gán cho vật chất đã biến mất, còn bản thân nguyên tử đã chứng minh nó là một bằng chứng hoàn toàn không có thực thể Einstein nói rằng vật chất là phần tử trung gian của không gian, thời gian bị uốn cong, bởi vậy vật chất là không thật Ông còn tuyên bố rằng không gian và thời gian đều không có thật mà chỉ có sự kết hợp không thể tách rời của các yếu tố nào có bất kỳ sự tương đồng với thực tại Thật ra, mọi khám phá khoa học mới sẽ giúp xác nhận những
gì Đức Phật đã nói cách nay hơn 2600 năm.Về chủ đề này, Đức Phật đã dạy :"Không thể tìm ra một Đấng sáng tạo, một Brahma, hay một vị nào khác, làm chủ vòng luân chuyển của đời sống (Duyên khởi), chỉ có những hiện tượng diễn tiến tùy thuộc vào những điều kiện" (Visuddhi Magga XIX)Cũng vậy, trên quan điểm này, Bertrand Russell (1872-?), một triết gia và nhà toán học nổi tiếng được trao giải Nobel vào năm
1950, đã có một nhận xét đáng ghi nhận về Phật giáo như sau : "Phật giáo là một tổng hợp của triết lý suy cứu và triết lý khoa học Phật giáo biện minh cho phương pháp
Trang 6khoa học, và theo phương pháp này để tiến đến một cứu cánh có thể gọi là thuần lý Phật giáo còn đi xa hơn khoa học, vì lẽ, khoa học bị hạn chế bởi các dụng cụ vật lý"
1.1.2 TRIẾT LÝ CỔ ĐẠI ĐÔNG PHƯƠNG
Bàn về triết lý cổ đại Đông phương, ta phải đề cập đến triết lý âm - dương của tư tưởng Trung Quốc Lý thuyết âm dương là những phản ánh của cả hai vấn đề tôn giáo
và triết học Bởi vậy, người ta có thể xem nó như một lý thuyết về vũ trụ, diễn đạt sự tùy thuộc hỗ tương của những vận động đối nghịch trong tự nhiên, xã hội và sinh vật.Theo các nhà tư tưởng Trung Hoa, hai từ ÂM và DƯƠNG, nguyên nghĩa là mặt tối và mặt sáng của núi Trường phái tưởng này được TSOU YEN (305-240 B.C.) thành lập Tuy nhiên, lý thuyết này thường được con người kết hợp với 5 yếu tố (ngũ hành) bao gồm : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và biến chúng thành một lý thuyết vũ trụ học của những chuyển động tuần hoàn theo chu kỳ Trong triều đại nhà Hán (206 BC -220AD), trường phái này được hợp nhất cả trong đạo Khổng và đạo Lão, và kể từ đó trường phái này bao gồm biểu tượng kết hợp của âm dương trong tất cả những kết hợp khả dĩ Đó là những biểu tượng không gian mô tả những cấu trúc biến đổi trong tự nhiên, xã hội và cá nhân con người Ký hiệu một gạch ngang (-) tiêu biểu cho dương hay nam giới, còn ký hiệu hai gạch ngang (-) tượng trưng cho âm hay nữ giới.Nói chung, lý thuyết âm dương là một trong những biểu tượng và biểu hiện của triết học Đông phương chủ yếu đề cập đến những quan hệ trong các lĩnh vực không gian, tự nhiên, nhân văn và xã hội Mặt khác, nó cũng đề cập đến những vấn đề triết học về hành vi ứng xử của con người đối với xã hội, đặc biệt là với thiên nhiên Trong "tự Điển Lưu Niên Về Các Tôn Giáo Thế Giới"(5), Âm và Dương được giải thích như sau :" Dương thuộc về tính tích cực, nam giới, tính cứng rắn ; còn Âm thuộc về tính tiêu cực, nữ giới, tính mềm mại Sự hỗ tương giữa hai đối cực này cấu thành một vòng những chuyển động là ý nghĩa của sự thay đổi, thời gian, hay quan hệ nhân quả Thuyết ngũ hành là sự giải thích tỉ mĩ và chi tiết hơn về sự hỗ tương giữa Âm và Dương Mộc và hỏa thuộc Dương, còn Kim và Thủy thuộc Âm Thổ trợ giúp cho bốn yếu tố kia và do đó thuộc cả Âm và Dương Trong chủ nghĩa Tân Khổng Giáo, ý tưởng về vũ trụ và lý thuyết về ngũ hành được dùng để giải thích sự sáng tạo của vũ trụ ; còn thuyết ngũ hành được áp dụng để giải thích sự sáng tạo của vô số vật Cả ý tưởng về Âm và Dương và lý thuyết về ngũ hành đều là sự giải thích của hai đối cực mâu thuẫn nhau của vòng âm dương ".Tuy nhiên, thậm chí cho đến nay vẫn chưa có
sự giải thích nào về vòng âm dương (thái cực) Nó là gì ? Và nó xuất hiện như thế nào ? v.v Ngoài ra, một trong năm bộ kinh của Khổng giáo là kinh Dịch Cũng theo tài liệu trên, " Kinh Dịch dựa trên sự thực hành cổ xưa của phép bói và suy đoán và được sử dụng cho đến ngày nay như một kinh điển để suy đoán cho phương thức hành động thông minh nhất Nó cho rằng chung cuộc của con người tùy thuộc vào trật tự của vũ trụ, nằm trong sự biến đổi vĩnh viễn; do đó những tình huống của nhân loại phải được bổ túc liên tục và hành vi, thái độ ứng xử của con người được điều chỉnh để đáp ứng những sự thay đổi trong tự nhiên.Quyển sách đề cập đến Bát quái bao gồm các gạch liền và các gạch ngắt và 64 quẻ, (mỗi quẻ bao gồm 6 hào gồm hào trong và hào ngoài) 64 quẻ ấy được hình thành do sự chuyển dịch của Bát quái Trong bát quái gạch dài (-) biểu thị cho dương (Yang) và gạch đứt đoạn (- ) biểu thị cho âm (Yin) Chính sự thay đổi của các quẻ này một cách trật tự hài hòa nói lên sự vận hành của vũ trụ, nhân sinh
1.1.3 NGUỒN GỐC CỦA THẾ GIỚI QUA LĂNG KÍNH TÔN GIÁO :
Trang 7Như chúng ta đã thấy, triết học và tôn giáo luôn luôn đi cùng với nhau, cả hai đều đề cập đến những vấn đề của con người và thế giới Có nhiều sự giải thích khác nhau về những vấn đề này, đặc biệt là nguồn gốc của vũ trụ Tuy nhiên, giữa các giải thích, sự diễn dịch gây ấn tượng nhất vẫn thuộc về diễn dịch của các tôn giáo ; dù đó là cụ thể hay trừu tượng, thuộc về nhận thức theo lối ẩn dụ hay nhận thức theo phong cách khoa học tự nhiên Để khảo cứu một cách chính xác và đầy đủ ý nghĩa của những diễn dịch này, chúng ta phải dựa vào phần cốt lõi của mỗi tôn giáo như Nhất nguyên luận, Nhị nguyên luận, Đa nguyên luận và thuyết Vô thần, v.v Ở đây, vấn đề chỉ tập trung vào các nhóm tôn giáo của Đông phương và Tây phương
a- Nhóm tôn giáo Tây phương
Nhóm tôn giáo Tây phương có thể được gọi là những tôn giáo huyền bí, chấp nhận một Thượng Đế cá nhân có quyền ngự trị và chi phối đời sống con người Thượng Đế
là một siêu nhân với quyền năng cai quản và kiểm soát, Ngài là chủ thể tuyệt đối sáng tạo ra vũ trụ, chúng sinh và thế giới hữu hình Thượng Đế khai sinh ra thế giới của tất
cả sự vật, hiện tượng Đối với các quan điểm của nhóm tôn giáo này - kể cả Thiên Chúa giáo - cho rằng lịch sử hành tinh của loài người chỉ xảy ra có một lần với khoảng thời gian giữa sự sáng tạo và sự chấm dứt Nó không bao giờ xảy ra nữa, nghĩa là, hành tinh này của nhân loại có thể đo lường như một vũ trụ, hạn cuộc được giới hạn bởi một không gian hữu biên và thời gian hữu tận Tức, một không gian hẹp và một thời gian hữu hạn Giới hạn này được đánh dấu bởi ngày sáng tạo và hủy diệt của Thượng Đế Theo Kinh Thánh, vũ trụ đầu tiên được Thượng Đế sáng tạo trong vòng 6 ngày và ngày thứ 7 là để làm nốt những gì còn lại và nghỉ ngơi Với một lý thuyết như thế, nhiều nghi vấn đã được bàn cãi bởi các nhà khoa học đương đại, mặc dầu mới đây hầu hết học giả đã áp dụng những công cụ phân tích lịch sử và văn học để khảo chứng Kinh Thánh.Nhưng, theo ý kiến của Karl Jaspers, tác giả của quyển sách nổi tiếng dưới nhan đề là "Những nhà triết học vĩ đại", ghi nhận rằng, những gì Jesus tuyên truyền không phải để biện hộ cho những quy tắc luận lý, mà nó mang tính cách của những dấu hiệu hơn là một hệ thống lý tưởng ; và do đó không có sự mâu thuẫn gì khi mọi vật chỉ là một dấu hiệu
b- Các nhóm tôn giáo Trung Hoa và Ấn Độ :
Phần lớn các tôn giáo Ấn Độ và Trung Hoa kéo dài sang tận miền Đông của dãy núi Hindu-Kouch đã không chấp nhận một Thượng Đế cá nhân, một chủ thể sáng tạo hoặc một đấng thiêng liêng như một ngôi một tuyệt đối ; người mà, về bản chất có quyền năng tuyệt đối - hay có siêu quyền lực - để kiểm soát mọi sự hiện hữu trong thế giới
do Ngài tạo ra Thay vì vậy, họ thừa nhận một thực thể vĩnh hằng có tính vô thủy vô chung Thực thể vĩnh hằng có thể gọi là cái Một Tuyệt Đối Các tôn giáo này cho rằng : "Có ba thuật ngữ : "Sự hoàn thiện", "sự bao trùm tất cả" và "cái toàn thể" Những tên gọi này danh tuy khác nhưng thực thể bên trong (thể) là đồng nhất, tất cả đều đề cập đến Cái Một" (The are three terms : "Conplete", "all embraling", "the whole" There manes are different but the reality songht in them is the same - refering to the One thing" (6) (Trang Tử Chuang Chou)."Sự nối kết giữa thân thể ta với các bộ phận của
nó đã tan biến Các cơ quan nhận thức của ta đã được gạt bỏ Vậy nên, khi rơi bỏ hình hài một vật chất và giã từ biến thức, ta trở về hợp nhất với cái Đại Đồng Ta gọi việc này là ngồi trong lãng quên (tọa vong), và quên hết mọi sự" (My coneetions with the body and its partr is disclud My penceptive organs are discarded Thus leaving my
Trang 8natirial form and bidding farwell to my knowledge, I became on with the grent pervader This I call sitting and fagetting all things) (7)(Bản dịch của James Legge)
Do đó, ở đây chúng ta có thể thấy rõ rằng, các nhà huyền học xem thực thể như là cái toàn thể của tất cả mọi hiện hữu Và để trở nên một với thực thể đó, con người phải hòa nhập với nó nghĩa là siêu vượt qua tất cả tầng ý thức, thậm chí một ý niệm phàm phu cũng hoàn toàn biến mất Ở đó, bằng trực giác, con người trở thành đồng nhất với một thực thể tuyệt đối
Cũng vậy, bằng cách tương tự, các nhà huyền học Ấn Độ cho rằng :
"Lấy vũ khí nhiệm mầu của Áo Nghĩa Thư (Upanishad) làm cây cung,
Hãy đặt lên đó mũi tên vót nhọn bằng thiền định,
Kéo căng dây cùng bằng một ý tưởng nhắm thẳng vào bản chất của cái Vô Cùng ấy, Hãy bắn ngập mũi tên vào cái bất tử đó, bạn ới !"
(Mundaka Upanishad 2.2.3)
Hoặc :
"Ngài là bầu không khí, là trời, là đất
Xoay theo gió và quyện theo từng hơi thở phàm phu,
Ngài là cái Một độc nhất như một cái Đại Ngã - linh hồn bất diệt"
(Mundaka Upanishad 2.2.6)
Có thể nói rằng sự phản ánh trừu tượng của Ấn giáo là một trong những phản ánh phong phú nhất của năng lực tư duy nhân loại Với tinh thần bao trùm của Phạm Thiên
- tức cái Một tuyệt đối - đã sinh ra biết bao quan niệm về tư tưởng tôn giáo và triết học Để tán thán thực tại tối cao đó, Brahman Swàmi Abhedànanda - một triết gia Ấn
Độ đương đại - nói rằng : "Nó là thực thể tuyệt đối vượt ngoài chủ thể và khách thể, là người trí thức ý thức và phúc lạc vô hạn, chỉ có một mà không có hai hay nhiều Nó cũng đồng nghĩa với cái "toàn thiện" của Plato, cái "thực thể tuyệt đối và linh hoạt" của Spinoza, cái "Ding au sich" (vật tự nó) của điều siêu nghiệm trong tự thể của Kant, cái "vượt trên linh hồn" của Emerson và cái "bất khả tri" của Herbert Spencer
Đó là ý chí thiêng liêng hay tinh thần cảm nhận hiện tượng giới của vũ trụ ? (8)Nói về
sự quan hệ giữa Átman và Brahman và bản chất của nó, ông bổ sung : "Bản ngã hay Átman, bản chất thực của cái tôi hay Jivàtma là một thực tại thiêng liêng (Brahman) trong sạch tuyệt đối, hoàn hảo, bất tử, không thể biến đổi và duy nhất Không có triết gia nào, thậm chí ngay cả Plato, Spinoza, Kant, Hegel hay Schopenhauer cũng không đạt đến đỉnh cao của tư tưởng triết học này".Tóm lại, lý thuyết Âm Dương là một biểu tượng của triết học Đông phương, chủ yếu đề cập đến mối liên hệ hài hòa giữa vũ trụ -thiên nhiên với con người và xã hội Đồng thời nó cũng hướng đến thể cách sống, hành động, thái độ hành xử của con người đối với xã hội , thiên nhiên.(9) Do đó, khi
đề cập đến những quan điểm như thế, Brahman hay Đại ngã, về bản chất, có tính cách bất tử và vĩnh hằng Và bởi các qui luật logic khắc khe này, từ cái Một mà mọi thứ, mọi vật xuất hiện và vô số những hình ảnh hay phản ảnh khác nhau về Brahman được tạo ra trong thế giới trần tục Brahman, do đó là kẻ thống trị toàn vũ trụ, Ngài là thượng đế cá nhân, vị chủ tể của vũ trụ Do vậy mà người ta có thể gọi Brahman cả về tính hiệu lẫn nhân tố vật chất của tất cả sự vật hiện tượng.Hơn nữa, cùng với Brahman, Átman là nhân tố quan trọng ; mà, về bản chất, là thành phần được sinh ra bởi cái toàn thể Do vậy, đối với đời sống con người, vấn đề trọng yếu là vấn đề của mỗi cá nhân - Átman chứ không phải Brahman Do đó, người Ấn đã tập trung vào sự thực hành triết lý tôn giáo của họ để tiếp xúc với Bản Chất Tuyệt Đối bằng kinh
Trang 9nghiệm nội chứng tự thể của họ Vì lý do đó mà các tu sĩ Ấn giáo sống biểu hiện bản chất Thần ngã trong đời sống tâm linh, hay qua thể nghiệm nội tại, dĩ nhiên họ nhận được nó trong đời sống chứ không phải thiết lập nó bằng sự suy luận.Tóm lại, Thượng
Đế, đối với nhận thức của Tây phương là một Thượng Đế cá nhân, một siêu nhân sáng tạo ra tất cả mọi hiện hữu, đối với Đông phương đó là một Đồng Thể Tinh Hoa Bất
Tử tuy mang tính chất vĩnh hằng nhưng luôn biến đổi một cách sống động
Chương 2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ HỎA NGỤC ĐỊA NGỤC
2.1 Quan điểm trong Nho giáo
Nho giáo đặt định những người đã mất vào hệ thống quan hệ xã hội - chính trị và hệ giá trị đạo đức, với các tiên thánh, tiên hiền, tiên triết, tiên vương, tổ khảo, tổ tỷ… Trong thế giới quan của Nho giáo, chỉ có một thế giới, đó là thế giới con người đang sống, đang tồn tại, với ba tài: thiên-địa-nhân Thời gian là chuỗi tuyến tính không thể quay lại, nên lịch sử được đếm bằng “lịch triều”, được tính bằng lịch sóc và niên hiệu.Cái chết được cho là dấu chấm hết của một sinh mệnh Nho giáo phân loại thành nhiều kiểu chết khác nhau: chết non (yểu tử), chết bất đắc kỳ tử, chết đường chết chợ,
và một kiểu chết được chú ý đặc biệt: chết chẳng toàn thây Cho nên, các hình phạt cao nhất của Nho giáo đều thuộc dạng chết cuối cùng này: lăng trì (cắt từng miếng cho đến chết), chém đầu, chém ngang lưng (trảm yêu), tứ mã phanh thây, voi giày ngựa xé,…Người ta coi sự xương thịnh của hiện tại là bắt nguồn từ tổ tiên (âm đức: đức từ cõi âm, nên các nhà thờ dòng họ thường đề các bức hoành: quang tiền dụ hậu, đức lưu quang) Để cắt đứt phúc ấm/âm phù của kẻ thù thì người ta thực hiện đào mả, quật xác tổ tiên nhà khác Người được “khảo chung mệnh” (theo cách nói nôm na là chết già, xưa từ 50 trở đi đã được gọi là lên lão) thì được gọi là thọ, ngược lại nếu không hưởng hết số trời một cách tự nhiên thì chỉ được gọi là “hưởng dương” Nho giáo không có quan niệm về thế giới bên kia, mà tất cả người chết được sắp đặt trong những nghi thức hữu dụng dành cho người đang sống: tang chế, mồ mả, gia phả, hệ thống bài vị (theo chiêu mục), từ tường, nhà thờ họ,… Tổ tiên dẫu có được mường tượng được sống ở “thế giới người hiền”, thì đó vẫn là thế giới của những người đã chết, nên “Trời” (thiên, hạo thiên,…) trong quan niệm của Nho giáo lại không thuộc thế giới quan, mà vẫn chỉ là một khái niệm của đạo đức chính trị
2.2.Quan điểm trong Phật giáo
Địa ngục (地獄, Niraya) là một khái niệm của thế giới quan Phật giáo, vốn được tìm thấy trong Kỳ Na giáo (Jainism) và Ấn giáo (Hinduism) Không nghi ngờ gì rằng, những hiểu biết của người Việt Nam về thế giới bên kia phần lớn được kiến tạo từ tư tưởng Phật giáo vốn đã được tưới tắm và giáo dưỡng trong nhiều thế kỷ.Ta có thể tìm thấy hàng loạt những mảnh vụn ngữ ngôn minh chứng cho sự hòa tan của Phật giáo trong kho từ vựng tiếng Việt, các từ ngữ như: quỷ đói (ngạ quỷ), quỷ sứ, đầu trâu mặt ngựa, vong linh, oan hồn, địa ngục, âm ty, địa phủ, súc sinh, Diêm La, đầu thai, vãng sinh, hóa kiếp… đến những thành ngữ quán ngữ vẫn quen dùng, như “đi chầu Diêm Vương”,“đi chầu ông bà ông vải”, “về thế giới bên kia”, “gầy như quỷ đói”, “địa ngục trần gian”… Tôi còn nhớ, mẹ tôi mỗi khi bắt con gà trong chuồng, tay liếc dao, miệng
Trang 10đều lẩm bẩm câu: “Tao hóa kiếp cho mày được sang kiếp khác tốt hơn nhé.” Có quá nhiều chứng cứ như vậy còn hiện diện trong ngôn ngữ ngày nay.Trung Bộ Kinh Majjhima Nikaya số 129 Kinh Hiền Ngu có nói:Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về người ấy, phải nói rằng người ấy hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Ðịa ngục, phải nói rằng Ðịa ngục, hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không
dễ gì, vì rất nhiều là sự đau khổ của Ðịa ngục.Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho con một ví dụ được không?Thế Tôn đáp:Có thể được, này Tỷ-kheo Ví như, này Tỷ-kheo, có người bắt được một tên trộm cắp, dẫn đến trước mặt vua và thưa: "Tâu Ðại vương, đây là một tên trộm cướp phạm tội cho Ngài! Hãy hình phạt nó như Ðại vương muốn" Và vị vua ấy nói như sau
về tên trộm cướp ấy: "Này các Ông, hãy đi và vào buổi sáng hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo" Và vào buổi sáng, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo Rồi đến trưa, vua nói như sau: "Này các Ông, người ấy ra sao?" "Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống" Rồi vua lại nói như sau về tên trộm cướp ấy: "Này các Ông, hãy đi và vào buổi trưa, hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo" Và vào buổi trưa, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo Rồi đến chiều, vua nói như sau: "Này các Ông, người ấy ra sao?" "Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống" Rồi vua lại nói như sau về người kia: "Này các Ông, hãy đi và vào buổi chiều, hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo" Và vào buổi chiều, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo.Này các Tỷ-kheo, Ông nghĩ thế nào? Người ấy bị đâm ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy, có cảm thọ khổ ưu không? Bạch Thế Tôn, chỉ bị ngọn giáo đâm một lần, người kia do nhân duyên ấy cũng cảm thấy khổ ưu, còn nói gì đến ba trăm ngọn giáo!Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn, hòn đá này, to bằng bàn tay do ta lượm lên, hay núi Tuyết Sơn (Himalaya), vua các loại núi? Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn, hòn đá này lớn bằng bàn tay do Thế Tôn lượm lên So sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi,
nó không đáng kể gì, nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết), không thể so sánh được!Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo,
do nhân duyên ấy cảm thọ khổ ưu Khổ ưu ấy so sánh với khổ ưu ở Ðịa ngục không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được Này các Tỷ-kheo, các người giữ địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (pancavidhabandhanam) Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy Người ấy ở đây cảm thọ chưa được tiêu trừ.Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc
xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy
đỏ rực Người ấy ở đây cảm thọ chưa được tiêu trừ.Rồi này các Tỷ-kheo, các người