Không riêng gì Phật giáo mà các tôn giáo lớn trên thế giới như Kito giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo… cũng có thuyết ăn chay nhưng ăn như thế nào, vào thời điểm nào, rồi phương cách ăn ra sao
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Đề tài:
QUAN NIỆM VÀ ĂN CHAY THEO CÁC TÔN GIÁO
Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Nga
Pháp danh: TN.Chánh Y
Mã sinh viên: TX 6258 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, năm 2022
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO
Đề tài:
QUAN NIỆM VÀ ĂN CHAY THEO CÁC TÔN GIÁO
Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Nga
Pháp danh: TN.Chánh Y
Mã sinh viên: TX 6258
Lớp: ĐTTX Khóa VI
Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
TP Hồ Chí Minh, năm 2022
MỤC LỤC
Trang 3A.MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO 1.1.Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và vai trò của tôn giáo .2
1.1.1.Các quan điểm về tôn giáo 3
1.1.2.Nguồn gốc và bản chất của tôn giáo .4
1.1.3.Vai trò của tôn giáo 5
CHƯƠNG 2:QUAN NIỆM ĂN CHAY CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI 2.1.Quan niệm ăn chay của Kito giáo 5
2.2.Quan niệm ăn chay của Hồi giáo 5
2.3.Ăn chay theo Ấn Độ giáo 5
2.4.Ăn chay theo Đạo giáo 6
2.5.Ăn chay theo Khổng giáo (Nho giáo) 6
2.6 Ăn chay theo Thần Đạo 6
2.7 Ăn chay theo Đạo Sikh 7
2.8.Ăn chay theo Do Thái giáo 7
2.9 Ăn chay theo Phật giáo 7
CHƯƠNG 3:LỢI ÍCH CỦA ĂN CHAY 3.1 Lợi ích của việc ăn chay và không sát sinh 8
3.2 Ăn chay bảo vệ môi trường sinh thái 10
C.KẾT LUẬN 13
D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4A.MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Ăn chay là một vấn đề không còn xa lạ đối với rất nhiều nước trên thế giới hiện nay
Nó được bắt nguồn từ thời cổ đại, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng thời cổ đại con người đã biết về lợi ích của việc ăn chay Thời Cổ đại việc thực hành và truyền bá ăn chay phần nhiều là do các tu sĩ, giáo sĩ của các tôn giáo thực hiện Các nước Bắc Phi như Ai Cập, hay cận Trung Á như Hy Lạp thì việc ăn chay cũng được cho là giữ cơ thể thanh sạch trước lễ Thần linh… Mỗi tôn giáo đều có những quan điểm, chủ thuyết của việc ăn chay khác nhau Không riêng gì Phật giáo mà các tôn giáo lớn trên thế giới như Kito giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo… cũng có thuyết ăn chay nhưng ăn như thế nào, vào thời điểm nào, rồi phương cách ăn ra sao thì mỗi tôn giáo đều có mỗi phương thức khác nhau.Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu như lúc khởi thủy đều răn dạy tín đồ không được sát sanh hại vật và phải luôn luôn thọ trì trai giới Nhưng trải qua nhiều thế kỷ, những kinh điển nguyên bản được chép tay truyền lại từ đời này sang đời khác, được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau hoặc được hiệu đính bởi nhiều giáo chủ và Hội Đồng Giáo Phẩm thời đại, nên có lẽ đã có phần sai lệch với kinh điển nguyên sơ Do đó sự cấm sát sinh và thọ trì trai giới không còn được một số tôn giáo chấp hành nghiêm chỉnh Để giữ tính cách vô tư, tác giả xin trích dẫn một cách trung thực những tài liệu tham khảo mà không hề din giải, bình phẩm hoặc có quan điểm cá nhân.Đó là lý do Học viên chọn đề tài: Quan niệm về ăn chay theo các tôn giáo làm đề tài nghiên cứu.
2.Phương pháp nghiên cứu:
Học viên dùng phương pháp: nghiên cứu của Tôn giáo học, triết học như: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, khái quát hóa, trừu tượng hóa
3.Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu :phân tích niết bàn theo quan điểm của Phật giáo Theravàda
4.Bố cục tiểu luận:
Gồm 4 phần :
Mở đầu&Nội dung.Nội dung gồm 03 chương
Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5A NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO
1.1.Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và vai trò của tôn giáo.
1.1.1.Các quan điểm về tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, có tài liệu thống kê đến nay có hàng trăm khía niệm về tôn giáo tùy cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tôn giáo
Quan điểm trước Mác về tôn giáo:Trước khi xuất hiện đạo Kito, bên cạnh những hình thức tôn giáo sơ khai, việc các nhà nước độc lập rất sung bái các vị thần rất phổ biến, với những nghi thức và niềm tin có quan hệ đến cái thiêng liêng.Con người vừa kính trọng , vừa sợ hãi những lực lượng siêu nhiên nên họ đã thực hiện những nghi lễ hiến
tế nhằm tỏ lòng tôn kính cầu xin sự giúp đỡ, sự che chở của đấng siêu nhiên tối cao,
để làm tăng sức mạnh của bản thân và cộng đồng, vượt qua một cách thắng lợi những thách thức khó khăn , hi vọng các thần linh giúp đỡ để tránh những tai họa đang hoặc
sẽ dẫn đến.Khi tư tưởng nhà thờ thống trị những đêm trường trung cổ, ở Châu âu đã bắt con người tìm kiếm chỗ dựa tinh thần ở niềm tin tôn giáo đó là sự phụ thuộc vào các bậc tiên tri và các đấng siêu phàm.Trong tôn giáo con người thoát khỏi trần gian,
vì tôn giáo là lĩnh vực tri thức giải đáp mọi điều bí ẩn của thế giới quan, gạt bỏ mọi mâu thuẫn thầm kín trong tư tưởng con người do vậy tôn giáo là lĩnh vực của chân lí vĩnh cửu.Nhà triết học Đức Wil Helm Hegel cho rằng tôn giáo là tri thức thần thánh,
là tri thức của con người về thần thánh, vì vậy ông đã kết luận: trong tôn giáo con người tự do trước thần thánh , vì ý chí của con người hòa đồng với ý chí của Thượng
Đế L.Feuer Bach, một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật trước Mác đưa ra luận điểm: Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải là tôn giáo sang tạo ra con người Ông cho rằng cái mà ý thức tôn giáo quan niệm là Thượng đế không phải là cái
gì khác hơn sự sang tạo của con người , con người suy nghĩ ra sao, tâm tư thế nào thì thượng đế của họ đúng như vậy, con người có bao nhiêu giá trị thì Thượng đế cũng có bấy nhiêu.Từ thượng đế có thể suy ra con người và ngược lại.Thượng đế là cái tự thân được biểu hiện ở con người, tôn giáo là sự vén mở trang trọng những kho tang ẩn giấu của con người, là sự thừa nhận ý nghĩ thầm kín nhất, là sự thú nhận công khai những
bí mật tình yêu của con người
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- lê nin về tôn giáo:Các Mác, ăng ghen, lênin là những
vị lãnh tự lỗi lạc của phong trào công sản và công nhân quốc tế.Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, các ông đã để lại những tư tưởng quí báu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, trong đó có những nhận định về vấn đề tôn giáo Các mác đã chỉ
ra rằng: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa Con người chính là thế giới những con người , là nhà nước, là xã hội.Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính là con người sáng tạo ra tôn giáo.Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực, ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thực sự.Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của
Trang 6những điều kiện xã hội không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.Qua
sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy đối tối thượng và tác động đến một cộng đồng , một nhóm xã hội có tổ chức.Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và có đấu tranh giai cấp.V.I Lênin đã định nghĩa: Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức vè tinh thần, luôn luôn và bất cứ nơi đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc Những quan điểm của chủ nghĩa Mác lê nin về tôn giáo đã được Hồ chí Minh,Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử của Việt nam.Mặc dù hiện nay chưa có tài liệu nào giải thích cụ thể về tôn giáo , song nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thì có mấy dấu hiệu cơ bản sau:
+ Nói đến tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí
+ Có hệ thống giáo lí, luật lệ, lễ nghi
+ Có tổ chức hoạt động từ giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ
1.1.2.Nguồn gốc và bản chất của tôn giáo
a) nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém,con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh
đó Đó là hình thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo.Khi xã hội bắt đầu xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên, con người lại cảm thấy bất lực trưos những sức mạnh tự phát hoặc của thế lực nào đó trong xã hội.Không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột, tội ác, và của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi, họ hướng niềm tin ảo tưởng vào thế giới bên kia dưới hình thức tôn các giáo.Như vậy sự yếu kém của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức chính trị , thất vọng bất lực trước những bất công xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo
b) nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên xã hội có giới hạn Do trình độ nhận thức yếu kém, con người không giải thích được bản chất của các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và xã hội, từ đó họ thần bí hóa và gán cho tự nhiên xã hội những lực lượng thần bí hình thành nên các biểu tượng tôn giáo
c) nguồn gốc tâm lý
Tâm lý sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, những tình cảm về lòng kính trọng , sự biết ơn đã làm hình thành những ý thức tình cảm của tôn giáo đưa đến sự
ra đời của tín ngưỡng tôn giáo
Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội tiêu cực ra đời và tồn tại trong một điều kiện lịch sử nhất định Hệ tư tưởng và thế giới quan tôn giáo là duy tâm, hoàn toàn đối lập với hệ
tư tưởng và thế giới qua Mác-lênin khoa học và cách mạng.Tôn giáo không giải thích được đúng bản chất các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, cũng như nguyên nhân nỗi thống khổ của người lao động Tôn giáo hướng con người hạnh phúc hư ảo, hi vọng hão huyền, làm tiêu tan nghị lực, nhụt chí đấu tranh, hạn chế quá trình vươn lên của con người mà chỉ biết cam chịu.Tuy nhiên ở một mức nhất định tôn giáo có vai trò
Trang 7tích cực trong văn hóa đạo đức xã hội như đoàn kết, hướng thiện , quan tâm đến con người.Tôn giáo là niềm an ủi , chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động
1.1.3.Vai trò của tôn giáo.
Mặt dù về hình thức, tôn giáo tách khỏi thế tục nhưng thực tế nó vẫn can thiệp vào thế tục ở các mức độ khác nhau “Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, tôn giáo tác động trở lại đối với tồn tại xã hội” Các tác động này bao gồm cả tác động mang tính tích cực lẫn tiêu cực Mặt tích cực, tôn giáo có vai trò quan trọng trong việc liên kết tập hợp cộng đồng “Trong một chừng mực nhất định, tôn giáo là một trong những nhân tố ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại dựa trên các hệ thống giá trị và chuẩn mực chung mà nó hình thành”.Tôn giáo cũng tạo nên những thăng hoa cho các sáng tạo nghệ thuật dân gian, có đóng góp lớn đối với các di sản văn hóa của nhân loại.Tôn giáo có tác động hai mặt đối với xã hội Một mặt nó phản ánh khát vọng của con người về một xã hội mới tốt đẹp hơn, làm tăng sự liên kết trong
xã hội, hướng con người đến những giá trị cao cả, đạo đức, hướng thiện Thế nhưng đi kèm với nó luôn có mặt tiêu cực
Mặt tiêu cực của tôn giáo là nguy cơ gây rạn nứt trong xã hội do sự sùng tín hay tính cục bộ cố hữu của nó Sự xung đột giữa các tôn giáo cũng là một ngu cơ đối với hòa bình và an ninh thế giới Tôn giáo cũng đồng thời kìm hãm khoa học, kìm hãm sự sáng tạo của con người Tóm lại bên cạnh các mặt tích cực, thế giới quan tôn giáo ẩn chứa nhiều mặt tiêu cực Chính những mặt tiêu cực của tôn giáo luôn bị các lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội lợi dụng nhằm thực hiện các âm mưu chống phá các nhà nước chủ nghĩa xã hội Mặc dù “chủ nghĩa Mác – Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội duy tâm, thần bí, phản khoa học, nhưng Chủ nghĩa Mác Lênin cũng thừa nhận tính chất, vai trò của tôn giáo, thừa nhận tôn giáo còn tồn tại lâu dài”.Chính vì vậy trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo cần phải có một thời gian dài,“gắn liền với quá trình vận động cách mạng, cải biến xã hội và nâng cao nhận thức
Trang 8CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM ĂN CHAY CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI
2.1.Quan niệm ăn chay của Kito[1] giáo
Kinh Tân Ước Kito cấm ăn máu được ghi trong sách Công vụ Tông Đồ, ngoài ra không cấm các loại thực phẩm nhất định nào.Vào thời Trung cổ tại các nhà thờ và Tu viện Kito các giáo sĩ, tu sĩ, ma sơ… đã ăn chay như là một sự tu luyện chống lại ham muốn về thể xác, đồng thời ăn chay để sám hối tội lỗi trước chúa Jesus, Cha và Con
và các Thánh Thần Ý nghĩa chay tịnh của Kito giáo được tiên tri Isaia chỉ rõ nhau sau:“Là hủy bỏ xiềng xích bất công, tháo gỡ ách nặng, trả tự do cho người bị áp bức, dẹp bỏ mọi gánh nặng, hãy chia cơm bánh cho kẻ đói, tiếp rước những kẻ phiêu bạc không nhà Nếu ngươi gặp một người trần truồng hãy cho họ áo mặc, người đừng khi
bỉ người cùng xác thịt như mình”[2].Các Kito giáo hiện đại như Ellen G White, một trong những sáng lập của Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, có giáo lý ăn chay vì cho rằng
ăn chay là thể hiện sự thanh sạch của Thiên Đường.Tuy nhiên tín đồ Ki tô giáo hiện nayăn chay có phân theo độ tuổi, và trong những ngày chay họ chỉ cấm thịt, còn có thể dùng nước thịt và các loài vật máu lạnh như tôm, cua, cá, ốc… và chỉ ăn no một ngày một bữa, chọn bữa ăn nào để ăn no cũng được
2.2.Quan niệm ăn chay của Hồi giáo[3]
Người Hồi giáo ăn chay vào tháng 9 gọi là tháng Ramadan Những ngày trong tháng này tín đồ Hồi giáo đều thực hiện cầu nguyện từ bình minh tới hoàng hôn Họ chỉ ăn vào lúc bình minh chưa lên và sau khi hoàng hôn phủ xuống Còn cả ngày thì họ giữ gìn giới luật và không ăn gì cả.Tháng chay Ramadan là một trong năm quy định của tín đồ Hồi giáo Mục đích thực hiện là nhằm thể hiện sự đồng cảm đến những người nghèo đói, và quan trọng hơn là để tự thân rèn luyện tiết chế, bỏ bớt những tham cầu
và dục vọng Ngoài ra tháng chay Ramadan của người Hồi giáo không chỉ nhịn ăn và
ăn chay vào sáng khi mặt trời chưa lên và bữa tối khi mặt trời đã khuất, họ còn có nhiều nghi lế và hoạt động khác của tôn giáo này
2.3.Ăn chay theo Ấn Độ giáo[4]
Nền văn minh cổ đại của Ấn Độ từ khi Đức Phật Thích Ca chưa ra đời thì người ta đã
ăn chay rồi Và đến bây giờ, sau hơn hai ngàn năm thì người dân Ấn Độ vẫn chuộng việc ăn chay, ăn ngũ cốc nhiều hơn thịt cá Một trong những tôn giáo lớn ẩn hưởng chủ thuyết ăn chay rộng khắp dân Ấn Độ là Ấn Độ giáo Ăn chay theo Ấn Độ giáo còn gọi là Trai giới, ăn lạt, là một chế độ ăn uống chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật (trái cây, rau quả,…) có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng, mật ong, bơ, phomai, kem, đạm váng sữa và hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầm, hải sản, côn trùng), kiêng ăn những thực phẩm có được từ nguồn gốc giết mổ như chả, giò, mắm, ruốc, thịt hun khói…) Ở Ấn Độ khoảng 40% dân số theo Ấn giáo là những người ăn chay
2.4.Ăn chay theo Đạo giáo[5]
Nghĩa của từ “ăn chay” ở Trung Quốc cổ đại không có nghĩa là “không có thịt”, ý nghĩa ban đầu của từ "素- chay" có nghĩa là trong trắng, sạch sẽ, đơn giản Theo đây những đạo sĩ tu và tín đồ theo Đạo giáo lúc ban đầu không nhất thiết là phải ăn chay trường Họ có quyền ăn thịt được mua từ chợ nhưng không được sát sanh và nhất định không được ăn huyết (máu).Các tín đồ Đạo gia không nhất thiết phải ăn chay trường nhưng họ ăn chay kỳ, thường ăn vào những ngày sóc vọng (trăng tròn) như ngày
Trang 9mùng 1 và 15… vì Đạo gia cho rằng những ngày này mặt trời, mặt trăng và trái đất thẳng hàng, là thời điểm lục hút của mặt trăng với trái đất mạnh nhất, biểu hiện qua việc thủy triều lên cao Cơ thể của con người hơn 70% là nước nên các tế bào cũng sẽ chịu sự tác động bởi lục hút của mặt trăng Máu trong cơ thể người sẽ đạt mức tối đa Hoạt động hệ tuần hoàn thay đổi, cơ thể rối loạn, nhất là hệ thần kinh chịu tác động nhiều nhất Vào những ngày này dưới tác động thủy triều cực đại của mặt trăng nên con người rất dễ vi phạm giới luật vì vậy ăn chay để thích ứng với tự nhiên, giúp con người làm chủ được cảm xúc nhất định “Hoàng đế nội kinh” nói: “Trời ăn thịt người ngũ khí, đất ăn thịt người ngũ khí” Đạo giáo cho rằng con người có quan hệ mật thiết với giới tự nhiên, những thay đổi về địa lý, khí hậu ngoại cảnh nhất định ảnh hưởng đến sự thay đổi âm dương trong cơ thể con người Để duy trì sự cân bằng âm dương trong cơ thể con người, người ta phải thích ứng với những thay đổi của tự nhiên[6].Càng về sau, Đạo giáo cho rằng ăn chay cũng là một trong những sự phát triển không ngừng của nền văn minh nhân loại và xã hội tự nhiên Con người bắt đầu suy ngẫm về thói quen ăn uống của mình và đưa việc ăn chay vào những dịp thiêng liêng và trang trọng Vào đêm trước các hoạt động tế lễ lớn, cần phải ăn chay trong vài ngày, thanh lọc cơ thể và thanh lọc tâm hồn, “làm sạch lòng” chủ yếu là nói đến việc không ham muốn dục vọng và hài lòng với tâm trạng tỉnh lặng, dần dần nhận ra rằng ham mê không chỉ gây hại cho cơ thể mà còn dẫn đến chống mặt, thậm chí là cội rễ của mọi tai họa Quan niệm ăn chay để tu tâm.[7]Mong muốn cuối cùng của Lão giáo khi đề cao việc ăn chay là để tu đạo và để thực hiện tầm nhìn cao xa của quy luật nhân quả và vòng vận hành của tự nhiên
2.5.Ăn chay theo Khổng giáo (Nho giáo)
Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là Nhân, Nghĩa, tình thương, lòng trắc ẩn và bất bạo động Mạnh Tử cho rằng người hiền cũng đối với cả loài vật, nhìn thấy sự sống của loài vật, không thể chịu được khi thấy chúng bị chết vì giết hại, nghe tiếng chúng kêu
la và không thể chịu nỗi khi ăn thịt của loài vật Vì những tư tưởng về lòng nhân từ và bất bạo động nên Nho giáo cũng chủ trương ăn chay Quan niệm ăn chay của Nho giáo cũng là ăn thuần thực vật, không chọn những thực phẩm có liên quan đến động vật kể cả các loài ở dưới nước Văn hóa phong kiến Trung Quốc được thấm nhuần bởi
tư tưởng Nho Gia, vì vậy mà truyền thống tang lễ Trung Quốc thường không được sát sanh Khi trong nhà có ông bà, cha mẹ mất thì con cháu phải ăn chay để tưởng nhớ.Nho giáo không bắt buộc phải ăn chay trường, nhưng trai giới vẫn luôn được chú trọng đối với người tu theo Nho giáo
2.6 Ăn chay theo Thần Đạo
Tu theo Thần đạo rất nhẹ nhàng, luật lệ không nghiêm khắc bằng cỏi Trời (Chư Thiên) Ngoài một số giới điều tu thân thì vẫn phải tu tâm hướng thiện, lập công đức Thần Đạo không quá khắt khe về chay lạt nhưng có một số loại thịt như mèo, chó, rùa, rắn, trâu và máu (tuyết canh)… là thịt của những loài linh tính không được ăn Thần Đạo cho rằng thịt chó, mèo trược khí rất nhiều nên không được phép ăn vì nó ảnh hưởng tới điển lực và sự vận hành của khí mạch
2.7 Ăn chay theo Đạo Sikh [8]
Có thể nói đạo Sikh là một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo… Đạo sikh quy định các tín đồ tuyệt đối không ăn thịt giết theo nghi thức Người theo đạo sikh không bị ràng buộc phải ăn chay, nhưng một số người Sikh ăn chay vì họ tôn
Trang 10trọng động vật.Trong lễ Gurdwara của Sikh giáo thì chỉ phục vụ bằng đồ chay Một người theo đạo Sikh ăn chay hay không cũng có thể phụ thuộc vào truyền thống hoặc vùng miền của người đó.Ngôi đền đạo Sikh nơi có bếp cơm chay miễn phí lớn nhất thế giới
2.8.Ăn chay theo Do Thái giáo[9]
Kinh điển nền tảng của Do Thái giáo là cựu ước cũng có vài chổ đề cập tới ăn mặn, nhưng giáo lý căn bản vẫn dạy tín đồ phải trường chay và không sát sinh hại vật Trong “sáng thế ký” quyển đầu của kinh Cựu Ước có đoạn viết: “Ta ban cho các con đầy đủ các loại rau quả và ngũ cốc khắp nơi trên thế giới này Đó là thức ăn của các con vậy… cùng những loài thú khắp nơi trên địa cầu, những nơi có sự sống, ta đã ban cho các ngươi các loại rau quả và ngũ cốc để ăn… thịt vốn có máu và sự sống, nên các con không được ăn.Như vậy cho thấy thời sơ khai của Do Thái giáo khuyến khích tín
đồ ăn chay, tức là chọn những thực phẩm có nguồn gốc thực vật Tuy nhiên tín đồ Do Thái giáo không bắt buộc phải ăn chay hoàn toàn.Trên đây là quan điểm ăn chay của một số tôn giáo lớn trên thế giới Đến thời hiện đại thì ăn chay không còn giới hạn trong tôn giáo mà đã ảnh hưởng rộng lớn đến mọi tầng lớp con người trên khắp các châu lục Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về những tổ chức ăn chay thế giới, những nhà nghiên cứu khoa học đã nói những gì về việc ăn chay và những lợi ích của nó đối với con người và môi trường sống
2.9 Ăn chay theo Phật giáo
Khi đạo Phật mới ra đời, các Tăng Ni sống bằng việc khất thực Đi từ nơi này sang nơi khác nhận thức ăn của người khác bố thí cho Đấy là một hành động nhằm hướng đến việc tu tâm hướng Phật và nuôi thân.Lúc ấy, chúng Tăng Ni không có phân biệt đồ chay với đồ mặn Bởi lẽ chúng cũng chỉ là thức ăn để nuôi thân Và cũng chẳng muốn vứt bỏ mọi thứ mọi người chia sẻ Một hôm, có tướng Siha đến thăm Đức Phật, cảm kính với những lời dạy của Phật nên đã xin quy y Tam bảo.Sau lần ấy, tướng mời chư Tăng đến dự yến tiệc Sai người mua thịt lợn ngoài chợ về thiết đãi.Chư Tăng nghe vậy, giận dữ vô cùng mà nói “Tướng chỉ nghĩ đến bản thân mình, giết sinh vật để làm tiệc”.Đức Phật nghe vậy liền nói “Chư Tăng được phép dùng thịt cá Miễn trong ba trường hợp sau: không trực tiếp giết mổ, không nghe lấy tiếng vật than khóc khi bị giết mổ Và vật ấy không chỉ bị giết mổ để thiết đãi chư Tăng”.Thực tế, tướng Siha phân biệt rất rõ giữa việc (trực tiếp) giết mổ và mua thịt đã giết mổ Cũng vì lẽ đó tướng không làm gì sai trái.Tuy Đức Phật không ngăn cản việc ăn mặn Nhưng có một
số thịt loài mà Phật giáo cấm chư Tăng không được đúng đến.Ngoài thịt người bởi đấy là thịt đồng loại Còn có thịt voi với thịt ngựa bởi nó là của vua chúa Thịt chó vì quan niệm bần tiện Thịt hoang dã vì ám mùi gây trả thù Sau này, khi Đức Bà Lạt Đa muốn nghiêm khắc hơn trong việc khẩu thực Đề ra nguyên tắc tu sĩ chỉ dùng đồ chay, tuyệt đối không đụng đến đồ mặn.Cũng kể từ đó nền Phật giáo bắt đầu có sự phân chia quan điểm.Một bên chủ trương chay mặn đều dùng được (Phật giáo Nam Tông) theo luật “Tam Tịnh nhục” Và trường chay (Phật giáo Bắc tông).Theo dòng chảy của lịch
sử, hình ảnh tu sĩ trường chay trở nên rõ nét trong đại chúng Khiến nhiều người cứ lầm tưởng rằng đã là Phật tử ắt tuyệt đối không đụng đến đồ mặn.Nhưng kỳ thực điều
ấy không đúng đắn trong thực tế, và phủ nhận những quan điểm của nền Phật giáo Nam Tông trong thời điểm hiện tại