Đề tài đã làm rõ một số nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở các vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc như: đặc điểm chủ yếu của vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa ở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
TRẦN TRỌNG ĐẠO
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH KHÁNH HÒA
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
TRẦN TRỌNG ĐẠO
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH KHÁNH HÒA
Trang 3Lời cam đoan
Luận án này là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn của PGS TS Trần Thị Thu Hương, TS Nguyễn Trọng Thóc Các tài liệu, số liệu
sử dụng trong luận án đều trung thực và có nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2015
Tác giả luận án
Trần Trọng Đạo
Trang 4MỤC LỤC
Mục lục……….……… 1
Danh mục các biểu đồ……….……… 3
MỞ ĐẦU……… 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN……… ………… ……… 10
1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án……… …… 10
1.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu……… …… 31
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 33
2.1 Yêu cầu khách quan của công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa 33
2.1.1 Vai trò, tầm quan trọng và những yếu tố tác động đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 33
2.1.2 Thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ khi tái lập tỉnh đến năm 1996 45
2.2 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2000 … 51
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh 51
2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 59
2.2.3 Kết quả công tác kết nạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo 67
Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 73
3.1 Yêu cầu khách quan tăng cường phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 73
3.1.1 Chủ trương của Đảng về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo những năm đầu thế kỷ XXI 73
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa và những vấn đề đặt ra đối với công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo 80
Trang 53.2 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong
đồng bào các tôn giáo đáp ứng yêu cầu mới (2001 - 2005) 84
3.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh ……… 84
3.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 93
3.2.3 Kết quả công tác kết nạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo 102
Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 112
4.1 Một số nhận xét 112
4.1.1 Về chủ trương của Đảng bộ 112
4.1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 118
4.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu……… 131
4.2.1 Kinh nghiệm về quá trình đề ra chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh 131
4.2.2 Kinh nghiệm về quá trình chỉ đạo thực hiện 135
KẾT LUẬN ……….……… ……… ……… … 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN………… ……… ………….……….……… ………… 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO ….………… ……….….……… … … 148
PHỤ LỤC ……… ….……… ……… ……….……. 160
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1: thống kê số liệu tín đồ được tạo nguồn từ năm 1996 đến năm 2000 64 Biểu đồ 2.2: thống kê số liệu tín đồ được học bồi dưỡng kết nạp Đảng từ năm
1996 đến năm 2000.….……… ……… 66 Biểu đồ 2.3: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ tôn giáo của tỉnh Khánh Hòa
được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2000.….………… ……… 68 Biểu đồ 2.4: cơ cấu độ tuổi của đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh
Hòa được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2000.….……… ……… 69 Biểu đồ 2.5: cơ cấu trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của đảng viên là
tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2000.….……….………… 70 Biểu đồ 3.1: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo trên cả nước……… 77 Biểu đồ 3.2: thống kê số liệu tín đồ được tạo nguồn từ năm 2001 đến năm 2005 99 Biểu đồ 3.3: thống kê số liệu tín đồ được học bồi dưỡng kết nạp Đảng từ năm
2001 đến năm 2005.….……… ……… 100 Biểu đồ 3.4: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo của tỉnh Khánh
Hòa được kết nạp từ năm 2001 đến năm 2005 (theo Đảng bộ)…… 102 Biểu đồ 3.5: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo của tỉnh Khánh
Hòa được kết nạp từ năm 2001 đến năm 2005 (theo tôn giáo và năm kết nạp)..….……… ……
103
Biểu đồ 3.6: cơ cấu độ tuổi của đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh
Hòa được kết nạp từ năm 2001 đến năm 2005..….……….……… 107 Biểu đồ 3.7: cơ cấu trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của đảng viên là
tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa được kết nạp từ năm 2001 đến năm 2005..….……… ………
107
Biểu đồ 3.8: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa
được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2005..….……… ……… 109 Biểu đồ 4.1: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa
và đảng viên là tín đồ các tôn giáo bình quân cả nước……….… 125 Biểu đồ 4.2: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa và
đảng viên là tín đồ các tôn giáo bình quân cả nước (theo tôn giáo)… 126 Biểu đồ 4.3: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ Công giáo của một số tỉnh,
thành và tỉnh Khánh Hòa năm 2000.……… … 127
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Đảng ra đời là do đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào, làm cho “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Để hoàn thành
sứ mệnh lịch sử cao cả này, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phải luôn chăm lo xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ thường xuyên của Đảng
Công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng, bởi Đảng muốn tồn tại, tiếp tục giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, mở rộng ảnh hưởng của mình với
xã hội, Đảng phải thường xuyên chăm lo, coi trọng công tác này Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn chăm lo công tác phát triển đảng viên mới, coi đây là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng đất nước đã chứng minh: vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng không chỉ phụ thuộc chất lượng đội ngũ đảng viên, mà còn phụ thuộc vào số lượng đảng viên
Có đảng viên, mới có tổ chức đảng, số lượng đảng viên lớn là cơ sở để xây dựng Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng Đặc biệt là phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo, không những có giá trị cho công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng mà còn góp phần quan trọng trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo có hiệu quả hơn
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác phát triển đảng viên đối với các giai tầng trong xã hội nói chung, với đồng bào tôn giáo nói riêng được Hồ Chí Minh
đề cập đến và Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ trương, các quy định, hướng dẫn cụ
Trang 8thể Tuy nhiên, đến nay, việc thực hiện còn nhiều hạn chế, có nhiều nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, qua đó góp phần đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo - nhân tố đảm bảo nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi giai tầng trong xã hội
Là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, Khánh Hòa có vị trí địa chính trị quan trọng trong phát triển kinh tế biển và an ninh quốc phòng, đồng thời là một tỉnh có
đa dân tộc, đa tôn giáo Đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa phần lớn sống tập trung thành các cụm dân cư ở các đô thị và vùng núi, những địa bàn quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng Với số lượng tín đồ lớn cùng đặc điểm cư trú, đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa là một lực lượng xã hội quan trọng, là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nhân tố góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương Do vậy, công tác tôn giáo là một lĩnh vực quan trọng đối với tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Từ khi đổi mới đất nước (1986), đặc biệt sau Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày
16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới, hoạt động của các tôn giáo cả nước nói chung, Khánh Hòa nói riêng ngày
càng ổn định, gắn kết tốt giữa đạo với đời Đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tích cực lao động sản xuất, có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và an ninh - quốc phòng, đặc biệt là công tác từ thiện nhân đạo của tỉnh Đa phần đồng bào luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh, quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, một số tín đồ có ý thức chính trị tốt được các tổ chức cơ sở đảng quan tâm tạo nguồn, bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố chủ quan từ chính giáo hội và việc làm của một số tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong lịch sử cũng như hiện tại dẫn đến sự nhìn nhận của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân còn thành kiến với các tôn giáo, trước hết với Công giáo, Tin lành Thực tế này là một nguyên nhân quan trọng làm công tác phát triển
Trang 9Đảng trong đồng bào các tôn giáo chưa tương xứng với vai trò, vị trí và những đóng góp của đồng bào cho sự phát triển chung của tỉnh Qua thực tiễn công tác và lao động sản xuất, một bộ phận tín đồ, chức sắc luôn thể hiện thái độ chính trị tốt, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và có nhiều đóng góp thiết thực cho địa phương, nhưng chưa được các chi bộ đảng, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm bồi dưỡng, tạo điều kiện để phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng
Đi sâu nghiên cứu công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở một chặng đường lịch sử tỉnh Khánh Hòa thực hiện đẩy mạnh công cuộc đổi mới, góp phần làm phong phú, sinh động thêm bức tranh lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong công cuộc đổi mới; góp phần nhận diện rõ hơn những ưu điểm, khiếm khuyết trong công tác tôn giáo nói chung, công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo nói riêng, từ đó có phương hướng, giải pháp phát huy những thành công, tháo
gỡ những hạn chế, khiếm khuyết, nhằm đưa tỉnh Khánh Hòa phát triển đúng tiềm năng, vị thế của một tỉnh có nhiều lợi thế ở vùng duyên hải Nam Trung bộ Do vậy,
tác giả chọn vấn đề Công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh
Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005 làm đề tài luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2005
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu công tác phát triển đảng viên mới
là tín đồ Phật giáo, Công giáo và Tin lành trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa - ba tôn giáo được du nhập từ nước ngoài vào và có số lượng tín đồ lớn, chiếm tỉ lệ 96,89% tổng tín đồ các tôn giáo, 24,56% dân số toàn tỉnh
Công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo được nghiên cứu trong đề tài gồm:
Trang 10Thứ nhất, việc quán triệt quan điểm của Đảng, đề ra chủ trương và các giải
pháp thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa
Thứ hai, quá trình chỉ đạo thực hiện: công tác quán triệt, triển khai thực hiện
của các cấp ủy đảng cơ sở trong công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo; công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và quản lý quần chúng ưu tú là tín đồ các tôn giáo để kết nạp vào Đảng; kết quả công tác kết nạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo (số lượng và cơ cấu đảng viên mới kết nạp)
- Không gian nghiên cứu của đề tài là tỉnh Khánh Hòa, bao gồm 15 Đảng bộ trực thuộc: thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa, các huyện: Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn; Khối Cơ quan tỉnh, Khối Doanh nghiệp tỉnh, Quân sự tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Liên đoàn Quy hoạch và Tài nguyên nước miền Trung, Trường Đại học Nha Trang
- Thời gian nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2005
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm rõ quá trình lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2005 của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, góp phần tổng kết thực tiễn - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới; trên cơ sở đó đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu làm cơ sở lịch sử cho quá trình hoạch định chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa có hiệu quả hơn thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005
- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm chủ yếu của đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa; thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trước năm 1996
Trang 11- Làm rõ thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa (từ chủ trương đến quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh) từ năm
1996 đến năm 2005 thông qua việc tìm hiểu công tác này ở hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh: Đại hội lần thứ XIII, nhiệm kỳ 1996 - 2000; Đại hội lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2001 - 2005
- Nhận xét một số mặt đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết và đúc kết
kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển Đảng nói chung, phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo nói riêng Đồng thời, luận án tham khảo, kế thừa kết quả của các công trình khoa học nghiên cứu đã công bố
Luận án dựa trên cơ sở thực tiễn là thực trạng quá trình lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005 Đồng thời, sử dụng kết quả khảo sát trực tiếp và báo cáo về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của các cấp ủy đảng địa phương, Tỉnh
ủy và các số liệu thống kê có liên quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản: phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn và điều tra xã hội học, phương pháp lược đồ hóa
5 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo
Trang 12- Làm rõ một số đặc điểm cơ bản của đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tác động tới công tác phát triển Đảng trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện
- Phục dựng lại quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đề ra chủ trương, chỉ đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2005
- Chỉ rõ một số mặt đạt được, những hạn chế, khiếm khuyết và đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005
6 Ý nghĩa của luận án
Luận án cung cấp những cứ liệu từ tổng kết thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo cho các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận các cấp của tỉnh Khánh Hòa, góp phần bổ sung, hoàn thiện việc xây dựng chủ trương, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo thời gian tới Luận án có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu vấn đề tôn giáo nói chung, công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Vấn đề quan trọng của công tác tôn giáo giai đoạn hiện nay là công tác phát triển đảng viên đối với tín đồ các tôn giáo - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh, sự quan tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng; cũng như của nhiều nhà khoa học với các công trình nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn cao Có thể chia các công trình khoa học theo các nhóm sau đây:
1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng trong vùng có đông đồng bào các tôn giáo
- Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề tôn giáo và chính sách
tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Sau khi làm rõ các nội dung về tôn giáo trong đời sống xã hội, tình hình tôn giáo ở Việt Nam, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, các tác giả đã dành chuyên đề thứ tư để nói về vấn đề đảng viên với tín ngưỡng tôn giáo được thể hiện ở năm nhiệm vụ cơ bản (trang 105 - 108) Đồng thời, các tác giả chỉ ra việc kết nạp đảng viên và chế độ sinh hoạt Đảng cho đảng viên là tín đồ các tôn giáo được thực hiện như quy định hiện hành của Đảng, trường hợp đặc biệt thì tỉnh, thành ủy quyết định theo hướng dẫn riêng
- Mạch Quang Thắng (2006), Vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý
luận chính trị, Hà Nội Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả dành 2 trang (trang 163 - 164) khái quát sơ lược kết quả công tác phát triển đảng viên ở vùng đồng bào các tôn giáo của một số tỉnh miền Trung - Tây Nguyên như: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum Trên cơ sở số liệu có được, tác giả nhận định: chất lượng đội ngũ đảng viên mới kết nạp trong những năm gần đây từng
Trang 14bước được nâng lên, bảo đảm tiêu chuẩn, nhất là tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị,
về lịch sử chính trị, đạo đức, lối sống Do đó, sự tín nhiệm của quần chúng và trình
độ, năng lực lãnh đạo, quản lý của đảng viên được nâng lên, nhờ đó phần lớn đảng viên đã hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Đề tài: Vấn đề xây dựng Đảng ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo
Thiên Chúa ở miền Bắc hiện nay, cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác -
Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (1995) - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài đã làm rõ một số nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở các vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc như: đặc điểm chủ yếu của vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc và ảnh hưởng tới công tác xây dựng Đảng; nội dung chính của công tác xây dựng Đảng gồm: công tác vận động quần chúng theo tôn giáo; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về công tác tôn giáo; công tác xây dựng lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị vùng giáo; công tác xây dựng, phát triển Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa; vấn đề kết nạp đảng viên gốc tôn giáo…
Trên cơ sở nội dung công tác xây dựng Đảng, đề tài đánh giá khái quát thực trạng của tổ chức cơ sở đảng ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa của miền Bắc như Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam … và đề ra các giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, trong đó có nội dung cần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng nói chung, phát triển đảng viên mới là quần chúng giáo dân nói riêng
- Đề tài: Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu
quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, cơ quan chủ trì: Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo (1998)
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sau khi làm rõ một số nội dung như: quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo; giới thiệu kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo ở một số nước trên thế giới; chính sách và việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1997…, các tác giả đưa ra ba giải
Trang 15pháp để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo, trong đó, có giải pháp tăng cường xây dựng lực lượng chính trị trong các vùng tôn giáo trọng điểm và xây dựng Đảng nói chung, phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo nói riêng
Vấn đề phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo, các tác giả khái quát
những đóng góp cùng sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với đội ngũ đảng viên là tín đồ các tôn giáo trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và xây dựng đất nước Tuy nhiên, công tác phát triển Đảng ở vùng tôn giáo trong những năm 80 đến
90 của thế kỷ XX gặp một số khó khăn như: số lượng đảng viên là tín đồ các tôn giáo giảm, nhiều tổ chức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào các tôn giáo nhiều năm không kết nạp được đảng viên là tín đồ, trong khi số đảng viên bị khai trừ, xóa tên hoặc xin ra khỏi Đảng tăng Để khắc phục hạn chế, theo các tác giả, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản: quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về công tác phát triển đảng viên là tín
đồ các tôn giáo; giải quyết tốt mối quan hệ giữa vai trò, trách nhiệm của người đảng viên với nhu cầu đời sống tâm linh, cần có hướng dẫn cụ thể về việc đảng viên tham gia sinh hoạt tôn giáo; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối tượng Đảng, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong các tôn giáo, tuy nhiên, tránh tình trạng coi trọng
số lượng, phải chú ý chất lượng và xem xét điều kiện cụ thể từng vùng, miền, từng tôn giáo; ở những vùng tôn giáo trọng điểm, cần có kế hoạch đào tạo, sử dụng cán
bộ, tạo nguồn cán bộ đảng viên là tín đồ tôn giáo lâu dài
- Đề tài: Công tác xây dựng Đảng ở những vùng có đông đồng bào theo đạo
Thiên chúa ở các tỉnh phía Nam hiện nay, cơ quan chủ trì: Viện Xây dựng Đảng
(1999) - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu của mình, các tác giả chỉ ra những nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa Đề tài nghiên cứu và làm rõ những đặc điểm
cơ bản của vùng Công giáo miền Nam và ảnh hưởng tới công tác xây dựng Đảng: giáo dân phân bố chủ yếu tập trung quanh các đô thị lớn; cộng đồng dân cư không thuần nhất, luôn có sự biến động, thay đổi, đặc biệt từ năm 1954 đến nay; đa số giáo dân có quan hệ với chính quyền của chế độ cũ trước đây và cộng đồng Công giáo
Trang 16Việt Nam ở nước ngoài hiện nay; mối quan hệ giữa giáo dân, giáo sỹ, giáo hội Công giáo với cán bộ Đảng, chính quyền còn nhiều khoảng cách, định kiến, mặc cảm; giáo hội Công giáo miền Nam đang đẩy mạnh phong trào thế tục hóa, thích nghi với thời đại theo tinh thần của cộng đồng Vatican II Nội dung chính của công tác xây dựng Đảng bao gồm công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên chúa; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về công tác tôn giáo; công tác xây dựng lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị và tăng cường
số lượng, chất lượng các đoàn viên, hội viên của các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị vùng giáo; vấn đề kết nạp đảng viên gốc tôn giáo
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đánh giá thực trạng tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa các tỉnh phía Nam Về ưu điểm: cấp ủy đảng cơ sở nhiều nơi đã động viên đảng viên sống cùng với đồng bào các tôn giáo giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy vai trò lãnh đạo ở cơ sở và tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho đảng viên an tâm sinh hoạt tôn giáo bình thường; nhiều đảng viên gốc tôn giáo giữ vai trò cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt ở các cơ sở; nhiều đảng viên đã thể hiện và nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người đảng viên cộng sản, có trách nhiệm với công việc, với địa phương Về hạn chế: không có tổ chức cơ sở đảng toàn tòng; đảng viên gốc tôn giáo ít; đảng viên gốc tôn giáo phần lớn là cán bộ trong quân đội,
ở các cơ quan về nghỉ hưu sinh hoạt tại địa phương, không có đảng viên trẻ; một số đảng viên nghỉ hưu là tín đồ Thiên Chúa giáo yếu kém phải đưa ra khỏi Đảng Từ thực trạng này, các tác giả đưa ra chín giải pháp khắc phục, trong đó có nội dung đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới là quần chúng giáo dân, tiến tới xóa tình trạng xã, thôn “trắng đảng viên” - “đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của công tác xây dựng Đảng ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo ở miền Nam”
- Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử: Công tác vận động giáo dân của tổ chức
cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay của Hoàng Mạnh Đoàn
(2002) đưa ra quan niệm về chất lượng, nội dung và phương thức vận động đồng
Trang 17bào giáo dân Nội dung cơ bản của công tác này là tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục giáo dân hiểu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước để nâng cao nhận thức, tạo sự nhất trí, ủng hộ của giáo dân; tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện để giáo dân nâng cao nhận thức, trình độ văn hóa, kiến thức, khoa học kỹ thuật, nhất là thế hệ trẻ; vận động, tổ chức, hướng dẫn giáo dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng, chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; động viên giáo dân thực hiện tốt phong trào xây dựng nếp sống văn hóa khu dân cư, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu; động viên giáo dân tích cực xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết với người không theo tôn giáo; hướng dẫn giáo dân ý thức tự giác, tự quản, đồng thời nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các lực lượng chống phá Đảng và Nhà nước; tổ chức, hướng dẫn giáo dân tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở cơ sở Chất lượng công tác vận động giáo dân thể hiện việc giáo dân nắm vững và thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; nhận thức đúng và có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã lựa chọn; phát động được phong trào hành động cách mạng sôi nổi, vận động quần chúng giáo dân tích cực, hăng hái lao động, sản xuất để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; việc đề cao và thực hiện hiệu quả quy chế dân chủ…
Để đánh giá đúng chất lượng công tác vận động giáo dân, theo tác giả có bốn tiêu chí cơ bản: mức độ tham gia của chủ thể vào công tác vận động giáo dân; đối tượng tiếp nhận sự vận động; về nội dung, phương thức, phương châm công tác vận động giáo dân; về hiệu quả của các chủ trương, biện pháp vận động giáo dân
Một vấn đề khác được tác giả nêu ra đó là đặc điểm của tổ chức cơ sở đảng cấp xã vùng giáo ở đồng bằng Bắc Bộ với ba loại hình chi bộ: chi bộ xen kẽ (đảng viên không theo đạo xen kẽ với đảng viên gốc tôn giáo), chi bộ có 100% đảng viên gốc tôn giáo, chi bộ không có đảng viên gốc tôn giáo mặc dù có giáo dân sinh sống
Trang 18trên địa bàn Về chi bộ xen kẽ: phần lớn số đảng viên gốc tôn giáo là những người
đã nghỉ hưu, hoặc ở quân đội hết nghĩa vụ quân sự chuyển về sinh hoạt tại địa phương, số đảng viên trẻ rất ít Một số đảng viên gốc tôn giáo thuộc các chi bộ này trong tư tưởng thiếu ổn định, vẫn băn khoăn là đảng viên có được đi lễ nhà thờ hay không? Có được làm phép Bí tích không? Có được xưng tội trước Cha không? Thậm chí có đảng viên còn đặt vấn đề chọn một trong hai đi theo đạo hay theo Đảng Với chi bộ chỉ có đảng viên gốc tôn giáo: số lượng đảng viên ít (10 đến 15 đảng viên) chủ yếu là những cán bộ, nhân viên trước đây đi công tác, trong biên chế Nhà nước nay đã nghỉ hưu hoặc bộ đội phục viên và đã cao tuổi, số kết nạp mới tại địa phương rất ít trong khi, một bộ phận thanh niên gốc tôn giáo không có ý thức phấn đấu vào Đảng, không thiết tha vào Đảng - đây là khó khăn trong công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo ở đồng bằng Bắc Bộ
- Tác giả Nguyễn Văn Giang (2003) trong Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử:
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào Công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, đã làm rõ quan niệm, tiêu chí
đánh giá chất lượng và những yếu tố tác động đến đội ngũ đảng viên Theo đó, có
ba tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên: chất lượng đảng viên, số lượng
và cơ cấu đội ngũ đảng viên, cùng năm yếu tố tác động là: thành tựu của công cuộc đổi mới; thực tiễn của Công giáo và hoạt động Công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ; thuận lợi và khó khăn, phức tạp của hoạt động đan xen giữa hai cộng đồng theo và không theo tôn giáo; đặc điểm về tổ chức và hoạt động của các chi bộ, đảng bộ cơ sở vùng có đồng bào Công giáo; đặc điểm của đội ngũ đảng viên vùng
có đồng bào Công giáo
Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá và yếu tố tác động, tác giả chỉ ra thực trạng đội ngũ đảng viên là tín đồ Công giáo thể hiện ở: các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc
Bộ có số lượng đảng viên là tín đồ Công giáo lớn, đặc biệt ở ba tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình với số lượng 4.805 đảng viên (trong đó, Nam Định là tỉnh có
số đảng viên gốc Công giáo nhiều nhất nước với 3.393 đảng viên - số liệu thống kê năm 2000) Tuy nhiên, số lượng và phân bố của bộ phận đảng viên này chưa đáp
Trang 19ứng tốt yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Tỉ lệ đảng viên là người Công giáo trong cộng đồng giáo dân Công giáo thấp Còn một số xã, phường, thị trấn có giáo dân nhưng chưa có đảng viên là người Công giáo, trong đó
có những xã đông giáo dân (gần 100% giáo dân) Ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn phần lớn đảng viên là người Công giáo được kết nạp trong các đơn vị quân đội,
cơ quan, doanh nghiệp nhà nước chuyển về địa phương lao động sản xuất hoặc nghỉ hưu Số đảng viên là người Công giáo kết nạp tại địa phương chủ yếu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đến nay phần lớn đã cao tuổi, số đảng viên trẻ tuổi và mới kết nạp ít Trong khi, nhiều địa phương phải đưa một số đảng viên là người Công giáo ra khỏi Đảng vì các lý do khác nhau (từ năm 1996 đến năm 2000, huyện Hải Hậu kết nạp được 69 đảng viên là người Công giáo nhưng phải đưa ra khỏi Đảng 87 đảng viên là người Công giáo) - thực tiễn này, làm cho số đảng viên là người Công giáo có xu hướng giảm Từ thực trạng này, tác giả nêu lên tầm quan trọng của việc đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên là tín đồ Công giáo với nhiều biện pháp cụ thể như: tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát triển đảng viên là người Công giáo; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển đảng viên
- Các Luận văn Thạc sỹ Khoa học Lịch sử: Đảng bộ Đồng Nai lãnh đạo thực
hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Thiên Chúa trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1998),
tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (1999); Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, tác giả Phanh Thanh Kiều (2000), đã làm rõ một số vấn đề cơ bản như:
tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền chỉ ra đặc điểm cơ bản, vai trò, vị trí của đạo Thiên chúa trong đời sống chính trị - xã hội ở Đồng Nai và quan điểm chỉ đạo, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Thiên chúa Tác giả Phanh Thanh Kiều xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức cơ sở đảng với tư cách là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở Bên cạnh việc làm rõ các vấn đề trên, các tác giả đều nêu lên thực trạng tổ chức
cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo của tỉnh Đồng Nai Theo đó, phần lớn
Trang 20đảng viên gốc tôn giáo trong tỉnh tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, có phẩm chất đạo đức tốt, sống trung thực, lành mạnh, có trách nhiệm với công việc được giao; nhiều đảng viên gốc tôn giáo luôn thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu và một số giữ chức vụ cán bộ chủ chốt ở cơ sở vùng giáo Tuy nhiên, một số đảng viên gốc tôn giáo vẫn tự ti, mặc cảm, cho rằng có sự phân biệt đối xử, ít được cấp trên tin cậy; một số tư tưởng thiếu kiên định, thậm chí có hiện tượng xin ra khỏi Đảng để được đi lễ nhà thờ và tham gia các hoạt động tôn giáo khác; một số đảng viên không khai báo với tổ chức về bản thân là tín đồ tôn giáo, tự ý đi lễ nhà thờ và thực hiện các nghi lễ tôn giáo; lực lượng đảng viên gốc tôn giáo rất ít (khoảng 1%), phần lớn là cán
bộ nghỉ hưu, nghỉ mất sức, hoặc bộ đội phục viên, số đảng viên là người tại chỗ ít; đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo phần lớn tuổi đời khá cao, trình độ chuyên môn, năng lực còn nhiều hạn chế; công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo gặp nhiều khó khăn thể hiện ở: đến 9/1998, toàn tỉnh Đồng Nai có 218 đảng viên /19.624 tín đồ tôn giáo; công tác kết nạp đảng viên gốc Thiên chúa qua các năm: 1991 kết nạp được
5 đảng viên, 1992 - 2 đảng viên, 1993 - 10 đảng viên, 1994 - 8 đảng viên, 1995 - 3 đảng viên, 1996 - 110 đảng viên, 1997 - 36 đảng viên
Để khắc phục những hạn chế trên, theo các tác giả cần thực hiện các giải pháp chủ yếu: từng đảng bộ, chi bộ cần ý thức rõ tầm quan trọng và đề cao tinh thần trách nhiệm, có kế hoạch phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới, tiên tiến là tín đồ các tôn giáo
để kết nạp vào Đảng, trong đó chú trọng tầng lớp thanh niên tôn giáo; trong các buổi họp, các đảng viên có là tín đồ tôn giáo phải thông báo với chi bộ về tình hình giáo dân của xứ đạo mà mình sinh hoạt, đưa ra đánh giá của bản thân, từ đó phát hiện quần chúng ưu tú để giới thiệu phục vụ công tác phát triển Đảng và là một kênh thông tin
để cấp ủy nắm tình hình chính trị - xã hội vùng tôn giáo
- Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử: Công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở
đảng đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai hiện nay, tác giả Huỳnh Chí Thắng (2000) đã khái quát thực trạng tư tưởng và công
tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai với một số điểm nổi bật:
Trang 21Thứ nhất, tư tưởng của đồng bào theo đạo Thiên chúa nhìn chung ổn định,
đồng bào yên tâm lao động sản xuất, chăm lo cải thiện đời sống và phấn khởi trước công cuộc đổi mới của đất nước Các hoạt động xã hội nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, phong trào bảo vệ an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội được đồng bào hưởng ứng Tuy nhiên, nhiều hoạt động của giáo hội và giáo dân chưa tuân theo chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có giáo hội đã huy động tín
đồ đấu tranh đòi cơ sở thờ tự, đòi quyền lợi cá nhân một cách bất hợp pháp
Thứ hai, công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng đối với đồng bào theo đạo
Thiên chúa: công tác tư tưởng đối với quần chúng và chức sắc nhìn chung là tốt, góp phần ổn định tình hình tôn giáo ở địa phương Công tác phát triển đảng viên ở vùng
có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa được quan tâm đúng mức Trong ba năm, từ
1997 đến 1999, toàn huyện đã kết nạp được được 20 tín đồ Thiên chúa vào Đảng
Để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, tác giả chỉ ra các giải pháp chủ yếu: quán triệt chủ trương công tác tư tưởng của Đảng để vận dụng sát hợp với điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của tổ chức cơ sở đảng ở một huyện với phần lớn dân cư là giáo dân Nâng cao nhận thức chính trị, trình độ dân trí, đồng thời quan tâm giải quyết nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của đảng viên và đồng bào theo đạo Thiên chúa Đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa Từng bước nâng cao hiệu lực và vai trò quản lý của chính quyền cơ sở trên lĩnh vực tôn giáo Cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đẩy mạnh phát triển đảng viên mới gốc tôn giáo nhằm tăng cường thực lực và nâng cao hiệu quả làm công tác tư tưởng đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa
Đối với công tác phát triển đảng viên mới gốc tôn giáo và vùng tôn giáo, theo tác giả, cần nắm vững mục đích của công tác phát triển Đảng; tổ chức cơ sở đảng, trước hết là chi ủy cần xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc; đảng
ủy chủ động mở các lớp tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức cho đồng bào các tôn giáo; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ…; phân công đảng viên giúp đỡ quần chúng vào Đảng, giúp đỡ đảng viên mới trở thành đảng viên chính thức
Trang 22- Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng có đông đồng bào Công giáo ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp của Bùi Hữu Dược (2003)
đã xác định quan niệm, tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, thực trạng và các yếu tố tác động đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng có đông đồng bào Công giáo tỉnh Nam Định
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên vùng giáo, tác giả chia ba loại hình tổ chức cơ sở đảng với các đặc điểm:
Về chi bộ toàn tòng (100% đảng viên gốc tôn giáo): toàn tỉnh Nam Định có 93
chi bộ thuộc loại hình này, chiếm 10,1% tổng số chi bộ ở nông thôn Đảng viên trong các chi bộ này phần lớn thuộc các gia đình Công giáo có truyền thống cách mạng hoặc con em đảng viên gốc tôn giáo, có phẩm chất chính trị tốt, kiên định, tích cực, có uy tín trong quần chúng nhân dân tại các chi bộ này, công tác phát triển đảng viên gốc tôn giáo được chú trọng và đạt kết quả khá tốt
Về chi bộ gồm đảng viên gốc tôn giáo và đảng viên không theo tôn giáo: số chi
bộ này phổ biến, chiếm khoảng 80% tổng số chi bộ ở nông thôn, đảng viên gốc tôn giáo ít (dưới 4%) và phần lớn là những người đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc quân đội xuất ngũ, đảng viên gốc tôn giáo được kết nạp tại địa phương ít Đảng viên gốc tôn giáo thuộc loại hình chi bộ này tính năng động thấp, sự kiên định về lập trường
tư tưởng không cao, ngại va chạm, tính tự ti cao và sự tác động, tính lan tỏa, uy tín với giáo dân không cao công tác kết nạp Đảng ở loại hình chi bộ này ít, đang có chiều hướng giảm
Chi bộ không có đảng viên gốc tôn giáo: loại hình chi bộ này ít (dưới 8%),
đảng viên còn nhiều biểu hiện phân biệt giữa theo và không theo tôn giáo công tác phát triển đảng viên gốc tôn giáo còn định kiến, thiên lệch, chưa phát huy được nhân tố mới trong giáo dân Nhìn chung, công tác phát triển đảng viên gốc tôn giáo của tỉnh đang gặp nhiều khó khăn, có xã nhiều năm, thậm chí tới 10 năm không phát triển được đảng viên gốc tôn giáo, nhiều xã không có đảng viên gốc tôn giáo
Trang 23trong khi có đông giáo dân Số đảng viên gốc tôn giáo ở một số tổ chức cơ sở đảng đang giảm sút (toàn tỉnh năm 1990 có 5.000 đảng viên gốc tôn giáo, đến 2002 còn 3.552 đảng viên), lý do của tình trạng này là: một số vi phạm kỷ luật bị đưa khỏi Đảng (đa số là tuổi trẻ, khoảng 80%), số già yếu xin miễn sinh hoạt, một số bị thần quyền giáo lý chi phối xin ra khỏi Đảng Thực tế này làm cho tỉ lệ đảng viên Công giáo của tỉnh thấp, trong khi tín đồ Công giáo chiếm 21% dân số, đảng viên là tín đồ Công giáo chiếm 4,06% tổng số đảng viên của tỉnh
Để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, tác giả đã chỉ ra các giải pháp chủ yếu: nâng cao nhận thức về sự lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng của tổ chức
cơ sở đảng ở nông thông vùng giáo Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy đảng Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn vùng giáo Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ Nâng cao năng lực và phẩm chất của đảng viên Gắn xây dựng Đảng với xây dựng chính quyền, tăng cường công tác dân vận, đẩy mạnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…) Tăng cường sự lãnh đạo và kiểm tra của cấp ủy cấp trên
1.1.2 Các công trình nghiên cứu đề cập đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo
- Tác giả Ngô Hữu Thảo (1999), trong nghiên cứu về Phát triển Đảng trong
các vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 4/1999, đã
khái quát một số vấn đề đáng lưu ý của công tác này: số lượng đảng viên gốc tôn giáo không nhiều, tỷ lệ đảng viên trong cộng đồng giáo dân thấp so với các khu vực dân cư không có tôn giáo; ở những nơi có số lượng đông giáo dân, bình quân 107 giáo dân mới có 1 đảng viên, trong khi ở cộng đồng dân cư không tôn giáo thì tỉ lệ này là 22/1 Công tác phát triển đảng viên có sự giảm sút về số lượng, tuổi đời bình quân của đảng viên cao Chất lượng đảng viên xét về học vấn và trình độ lý luận chính trị còn thấp so với đảng viên ở các khu vực khác
Từ thực trạng trên, để làm tốt công tác phát triển Đảng trong các vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu
Trang 24tình hình mới, tác giả đưa ra các giải pháp: Một là, giáo dục thường xuyên cho cán
bộ, đảng viên các kiến thức cơ bản về tôn giáo nói chung và Thiên Chúa giáo nói riêng; kiến thức về chủ nghĩa vô thần khoa học và nội dung chính sách tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng và Nhà nước Hai là, hạn chế, tiến tới xóa bỏ thành kiến với
Thiên Chúa giáo nói chung và đảng viên gốc tôn giáo nói riêng của một số cán bộ
đảng viên và tổ chức cơ sở đảng Ba là, hoàn thiện các tổ chức đoàn thể - nhất là tổ
chức Đoàn Thanh niên ở các vùng Thiên Chúa giáo, trong đó, chú trọng vấn đề cốt cán, chức năng nhiệm vụ cụ thể của tổ chức và kinh phí cho các tổ chức hoạt động
Bốn là, đảng viên gốc tôn giáo được phép đi lễ nếu có nhu cầu, Trung ương cần có
quy định cụ thể hơn về việc đảng viên được tham gia một số hoạt động tôn giáo
Năm là, Trung ương nên có hướng dẫn cụ thể sát thực hơn về tiêu chuẩn kết nạp, về
kỷ luật đảng viên đối với những người gốc tôn giáo ở các vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa
- Trong nghiên cứu về Công tác phát triển đảng viên ở vùng Công giáo tỉnh
Nam Định, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 10/2000, tác giả Nguyễn Văn Giang (2000),
đã khái quát thực trạng đảng viên gốc tôn giáo ở tỉnh Nam Định và kết quả công tác phát triển đảng viên vùng có đông đồng bào Công giáo từ năm 1997 đến năm 2000 với 215 đảng viên gốc tôn giáo được kết nạp Từ kết quả đạt được, tác giả rút ra một
số kinh nghiệm chủ yếu: Thứ nhất, phải đổi mới nhận thức của cán bộ, đảng viên,
đặc biệt là cán bộ cấp ủy cơ sở về công tác phát triển đảng viên là tín đồ, đề cao
trách nhiệm của các chi bộ và sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy cấp trên Thứ hai, đẩy mạnh việc tạo nguồn, tích cực bồi dưỡng, giúp đỡ đối tượng kết nạp đảng Thứ ba,
khi xét kết nạp đảng viên gốc tôn giáo phải đảm bảo tiêu chuẩn, thực hiện đúng nguyên tắc đã quy định, đồng thời có tính đến đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng
trường hợp Thứ tư, xây dựng chi bộ, đảng bộ vùng giáo trong sạch, vững mạnh -
nhân tố có sức hấp dẫn quần chúng phấn đấu vào Đảng
Công tác phát triển đảng viên trong vùng Công giáo ở Nam Định đạt kết quả quan trọng như trên, theo tác giả là bởi các đảng bộ thường xuyên đưa vấn đề phát triển đảng viên là một nội dung trong các cuộc họp của đảng bộ và giao chỉ tiêu cụ
Trang 25thể về phát triển đảng viên cho từng chi bộ, coi việc thực hiện chỉ tiêu là một trong những tiêu chí hàng đầu khi đánh giá, phân loại chi bộ Trong công tác kết nạp đảng viên là tín đồ Công giáo, các cấp ủy đảng thực hiện đúng các quy định của Đảng nhưng không máy móc, cứng nhắc mà xem xét từng trường hợp cụ thể như: có thể kết nạp vào Đảng những đối tượng có trình độ văn hóa cấp II hoặc đã sinh con thứ
ba, nhưng phải cam kết và có kế hoạch học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn lên ngang mức yêu cầu và bảo đảm không sinh con thứ tư
- Tác giả Bảo Trung (2010), trong nghiên cứu về Phát triển đảng viên là người
có đạo và dân tộc thiểu số, Tạp chí Xây dụng Đảng, Số 7/2010, đã khái quát kết
quả, hạn chế và giải pháp thúc đẩy công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam Về kết quả: đến năm 2010, số đảng viên là người theo các tôn giáo cả nước chiếm khoảng 1,8% tổng số đảng viên toàn Đảng Năm 2005, số đảng viên là tín đồ các tôn giáo kết nạp mới chiếm tỉ lệ 1,86% tổng số đảng viên mới kết
nạp; đến năm 2008 tỉ lệ này đạt 2,53% Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát
triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo còn hạn chế lớn: tỉ lệ đảng viên mới kết nạp là tín đồ các tôn giáo so với tổng số đảng viên mới kết nạp có sự chênh lệch lớn giữa các vùng
Để khắc phục hạn chế, qua đó thực hiện hiệu quả hơn công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo thời gian tới, tác giả chỉ ra năm vấn đề cần giải
quyết: Thứ nhất, giải quyết tốt vấn đề về nhận thức: người theo các tôn giáo là công
dân có tín ngưỡng tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện ở sự phấn đấu vừa là “người chân chính yêu nước, đồng thời là chân chính tín đồ” Về mặt tín ngưỡng, người theo các tôn giáo có quyền tự do hành lễ của một tín đồ; về mặt chính trị - xã hội, là công dân nên phải bình đẳng với các công dân khác về quyền lợi và nghĩa vụ trong việc phụng sự Tổ quốc, trách nhiệm
đối với Nhà nước và xã hội Thứ hai, hàng năm, các tổ chức cơ sở đảng tiến hành
khảo sát số lượng, chất lượng quần chúng ưu tú để xây dựng kế hoạch về công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên nói chung, chú trọng đối tượng là tín đồ các tôn giáo nói riêng Để kế hoạch phát triển đảng viên đạt kết quả, cấp ủy cơ sở cần phân
Trang 26công cấp ủy viên hoặc những đảng viên chính thức có kinh nghiệm trong công tác đảng, am hiểu tôn giáo, có uy tín đối với đồng bào về sinh hoạt tại địa bàn để xây
dựng nòng cốt Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của đồng bào các tôn giáo để giải quyết kịp thời đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm giữ vững ổn định tình hình
an ninh chính trị ở cơ sở, giúp đồng bào “sống tốt đời đẹp đạo”, “sống Phúc âm
giữa lòng dân tộc”, “kính Chúa yêu nước” Thứ tư, cấp ủy cấp trên cơ sở cần chỉ
đạo các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức, xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với đối tượng là tín đồ các tôn giáo, người dân tộc thiểu số như: bố trí thời gian mở các lớp bồi dưỡng nhận thức
về Đảng tại cơ sở phù hợp với đặc điểm của các lớp cảm tình đảng, hỗ trợ kinh phí… coi đây là một giải pháp để tạo nguồn và nâng cao chất lượng nguồn kết nạp đảng viên Những địa phương khó khăn về nguồn phát triển đảng viên, vận dụng điểm (1.2b) Quy định số 23 - QĐ/TW để kết nạp những quần chúng có trình độ học
vấn tối thiểu là tiểu học Thứ năm, cấp ủy cấp trên cơ sở cần có các nghị quyết
chuyên đề về công tác dân tộc, tôn giáo, các chương trình phối hợp chung giữa các
tổ chức chính trị - xã hội, các phong trào quần chúng với hoạt động của các hội đoàn tôn giáo
- Nghiên cứu về Sóc Trăng phát triển đảng viên trong chức sắc tôn giáo, Tạp
chí Xây dựng Đảng, Số 7/2010, sau khi khái quát tình hình tôn giáo, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên là tín đồ, chức sắc tôn giáo của Tỉnh ủy, tác giả Kiều Linh nêu cách làm mới trong công tác tạo nguồn, quy hoạch, cử quần chúng ưu tú là chức sắc đi dự các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng,
“các chức sắc là cảm tình đảng không có điều kiện dự lớp học tập trung, huyện ủy
cử giám đốc hoặc phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện về tận cơ sở trực tiếp truyền đạt và cung cấp tài liệu để cảm tình đảng tự nghiên cứu, viết thu hoạch gửi thường trực huyện ủy và trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện để được xét, cấp giấy chứng nhận Các cấp ủy còn phân công những đảng viên có trình độ,
có kinh nghiệm công tác đảng giúp đỡ, bồi dưỡng cảm tình đảng trong thực tiễn…”
Trang 27Cách làm mới, phù hợp của Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng đã đạt được kết quả đáng khích lệ: đến năm 2010, Đảng bộ đã kết nạp được 1.075 đảng viên là tín đồ các tôn giáo, trong đó có 8 đảng viên là chức sắc Phật giáo Nam Tông Kết quả đạt được đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở khu dân cư
Trên cơ sở kết quả đạt được, để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác kết nạp
đảng viên là chức sắc tôn giáo, tác giả chỉ ra bốn giải pháp: Một là, công tác tạo
nguồn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên là tín đồ, chức sắc các tôn giáo phải gắn với củng cố tổ chức cơ sở đảng, kiện toàn đội ngũ cấp ủy, bí thư chi bộ ở những địa bàn
có đông đồng bào theo các tôn giáo, tạo sự thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên về ý nghĩa quan trọng của công tác phát triển đảng viên trong tín đồ và
chức sắc tôn giáo Hai là, quy hoạch phát triển đảng viên trong quần chúng tín đồ,
cấp ủy các cấp cần chú trọng đến các chức sắc, nhà tu hành có uy tín, có khả năng vận động quần chúng và tín đồ tôn giáo cùng thực hiện chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước Ba là, phải làm tốt công tác vận động, tuyên
truyền, giáo dục, rèn luyện các chức sắc, nhà tu hành hiểu đúng chủ trương của Đảng, giác ngộ lý tưởng cách mạng, từ đó có động cơ đúng đắn, tự nguyện đứng trong đội ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, sống tốt đời, đẹp đạo, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Bốn là, cần phát huy vai trò các đoàn thể nhân dân, thông qua việc cổ vũ, động viên
các đoàn viên, hội viên tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước để lựa chọn những nhân tố mới, những quần chúng là tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ưu tú giới thiệu để các tổ chức đảng xem xét kết nạp vào Đảng
- Tác giả Nguyễn Hữu Khuyến (2013) nghiên cứu về Phát triển đảng viên là
người có đạo ở Lâm Đồng, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 1/2013 đã khái quát tình
hình tôn giáo, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Tỉnh ủy cùng kết quả đạt được Về kết quả đạt được: từ năm 2005 đến năm 2013, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã kết nạp được trên 1.500 đảng viên là tín đồ các tôn giáo Số đảng viên là tín đồ các tôn giáo đã phát huy tác dụng tốt, là cầu nối để đồng bào các tôn giáo hoà
Trang 28nhập rộng rãi với cộng đồng các dân tộc trong tỉnh Một số đảng viên sau khi kết nạp được bầu cử giữ các chức vụ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở như chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường; bí thư đoàn thanh niên; chủ tịch, phó chủ tịch hội nông dân, hội phụ nữ Đây là nét mới trong công tác phát triển đảng viên vùng đồng bào các tôn giáo tỉnh Lâm Đồng
Từ kết quả đạt được, tác giả rút ra ba kinh nghiệm chủ yếu: Một là, các tổ chức
cơ sở đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể tích cực lãnh đạo công tác tư tưởng Từ các hoạt động phong trào của tổ chức mình để phát hiện, xây dựng các
hạt nhân điển hình qua đó bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên Hai là, từng tổ
chức cơ sở đảng, chi bộ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ để xây dựng quy chế và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp ủy viên theo dõi các chi bộ trực thuộc, nắm bắt tư tưởng của từng đảng viên, thường xuyên nhắc nhở đảng viên là tín đồ tôn
giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo đầy đủ, nhất là các buổi lễ của tôn giáo Ba là, các
tổ chức cơ sở đảng thường xuyên giáo dục đảng viên là tín đồ tôn giáo rèn luyện, giữ vững lập trường, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống
Trên cơ sở kết quả đạt được và kinh nghiệm rút ra, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Lâm Đồng thời gian tới, tác giả chỉ ra các định hướng cơ bản về công tác tư tưởng của các cấp
ủy cơ sở, chi bộ đối với đồng bào các tôn giáo nói chung, đảng viên là tín đồ nói riêng; trách nhiệm của đảng viên là tín đồ khi tham gia các hoạt động tôn giáo; nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, nhất là cấp uỷ cơ sở trong việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tăng cường vai trò của Mặt trận và đoàn thể các cấp
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nói chung, lãnh đạo công tác xây dựng Đảng nói riêng, trong đó có nội dung công tác phát triển Đảng trong các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả đồng bào các tôn giáo đã được đề cập đến trong nhiều sách, các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ tỉnh và lịch
sử các ban ngành, địa phương, tiêu biểu:
Trang 29- Nguyễn Văn Khánh và tập thể tác giả (2003), Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn
hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa (2002), Khánh Hòa 350 năm hình thành và
phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Khánh Hòa (2004), Khánh Hòa 15 năm xây dựng và phát triển (1989 - 2004)…
Các công trình này đã bước đầu khái quát về truyền thống lịch sử, văn hóa, tôn giáo ở Khánh Hòa, trong đó có đề cập đến kết quả công tác xây dựng Đảng của
Đảng bộ tỉnh từ năm 1989 đến nay Đặc biệt, trong tài liệu về Khánh Hòa 15 năm
xây dựng và phát triển (1989 - 2004) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có bốn bài viết
(trang 101 - 111) khái quát kết quả công tác tư tưởng, công tác tổ chức - cán bộ, công tác kiểm tra, công tác vận động quần chúng của Đảng bộ Khánh Hòa Trong
đó, các tác giả bước đầu đề cập đến công tác phát triển đảng viên với một số kết quả cụ thể: năm 2003 có 914 đảng viên được kết nạp (trong đó có 19 đảng viên là tín đồ tôn giáo), tăng gấp 3 lần so với số đảng viên được kết nạp năm 1990, kết quả này đã góp phần làm cho số tổ chức cơ sở đảng tăng lên đáng kể; toàn Đảng
bộ tỉnh có 618 tổ chức cơ sở đảng, tăng 10,55% so với năm 1989, 137/137 đơn vị hành chính xã đều có tổ chức cơ sở đảng; 1.648 thôn, khóm, tổ dân phố có đảng viên, chiếm trên 79,35% tổng số thôn, khóm, tổ dân phố toàn tỉnh; 1.466 thôn, khóm có tổ chức đảng, chiếm 70,58% thôn, khóm toàn tỉnh Năm 1989 số tổ chức
cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh chỉ chiếm 17%, đến cuối năm 2003 tăng lên 80,4%; số tổ chức cơ sở đảng diện yếu kém năm 2003 chỉ chiếm 2,3%, giảm 22,21% so với năm 1989
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử địa phương như: Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa (2007), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh
Hòa giai đoạn 1975 - 2005; Ban Thường vụ Đảng ủy Khối cơ quan Dân Chính
Đảng tỉnh Khánh Hòa (2007), Lịch sử Đảng bộ Khối cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh
Khánh Hòa giai đoạn 1989 - 2005; Ban Tổ chức Tỉnh ủy Khánh Hòa (2010), Những chặng đường xây dựng và trưởng thành (1930 - 2010); lịch sử các ban Đảng trực
thuộc Tỉnh ủy: Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo; lịch sử Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Trang 30Việt Nam tỉnh, Ban Tôn giáo tỉnh; lịch sử Đảng bộ các huyện, thành phố,… đều miêu tả lại quá trình lãnh đạo trực tiếp, toàn diện mọi lĩnh vực ở tỉnh Khánh Hòa, trong đó có lãnh đạo công tác xây dựng Đảng nói chung, phát triển Đảng nói riêng của Tỉnh ủy và các Đảng ủy trực thuộc với những con số cụ thể thuộc các giai tầng, trong đó có đảng viên là tín đồ các tôn giáo
Trong công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa giai đoạn
1975 - 2005, các tác giả đã miêu tả lại bức tranh tổng thể về công tác lãnh đạo mọi mặt của Đảng bộ tỉnh, trong đó có nội dung xây dựng Đảng từ năm 1996 đến năm
2005 với một số kết quả cụ thể:
Thứ nhất, nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (1996 - 2000): Tỉnh ủy,
Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng trong tỉnh luôn xác định công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng vừa
là yêu cầu trước mắt, vừa là yêu cầu lâu dài đối với Đảng cầm quyền Thực tiễn cho thấy, hầu hết đảng viên của Đảng bộ có phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, giữ vững và phát huy tư cách người đảng viên cộng sản, tích cực lao động, công tác, học tập, có ý thức kỷ luật tốt, giữ gìn đạo đức, lối sống lành mạnh Nhiều cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, chống cái xấu, cái ác, góp phần giữ vững đạo đức cách mạng, truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc
Công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cùng các cấp ủy đảng trong tỉnh coi trọng Đến năm 2000, toàn tỉnh có 14 Đảng bộ cấp huyện và tương đương, 40 Đảng đoàn, Ban Cán sự, Ban Đảng trực thuộc Tỉnh ủy; có 584 tổ chức cơ sở đảng và 15.700 đảng viên; số lượng đảng viên tăng 21,3% so với nhiệm kỳ 1991 - 1995 Qua phân loại hàng năm cho thấy, chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh
và chất lượng đảng viên đủ tư cách được nâng lên Năm 1995, tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh chỉ đạt 43,06%, năm 1999 tăng lên 61,1%, trong đó 123 chi bộ, Đảng bộ cơ sở đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh tiêu biểu 5 năm liền; tỷ lệ
tổ chức cơ sở yếu kém giảm, năm 1999 chỉ còn 4,25% (1995 là 13,5%)
Trang 31Công tác phát triển đảng viên đạt nhiều kết quả quan trọng, từ năm 1996 đến giữa năm 2000, toàn tỉnh kết nạp 3.012 đảng viên, tăng 65,3% so với nhiệm kỳ
1991 - 1995 Trong đó, 87,6% đảng viên có trình độ học vấn từ cấp ba trở lên, hơn 40% đảng viên là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Công tác kiểm tra Đảng có nhiều chuyển biến tích cực Các cấp ủy quan tâm chỉ đạo chặt chẽ đối với công tác kiểm tra Ủy ban kiểm tra các cấp hoạt động dần
đi vào nề nếp, bảo đảm đúng quy trình, bám sát nhiệm vụ kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng Một số vụ việc lớn được kiểm tra và xử lý kịp thời; chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra được nâng lên Từ năm 1996 đến năm 2000, toàn Đảng bộ
xử lý bằng các hình thức kỷ luật 679 đảng viên, trong đó khai trừ khỏi đảng 96 trường hợp, 20 trường hợp bị truy tố trước pháp luật
Thứ hai, nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2001 - 2005): phát huy
thành quả đạt được, Tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; hoạt động của hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới Đoàn kết trong Đảng được giữ vững và không ngừng củng cố, tăng cường; đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng được kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đúng thực chất hơn Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 17 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIV) về một số giải pháp chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương và chế độ trách nhiệm của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, phục vụ nhân dân bước đầu đạt một số kết quả Công tác củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng được các cấp ủy chú trọng, có nhiều chuyển biến Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh luôn tăng qua các năm, tính đến đầu năm 2005 đạt 77,5%, đảng viên đủ tư cách phát huy tác dụng tốt đạt 68,26% Công tác phát triển đảng viên có nhiều tiến bộ, tính đến hết tháng 12/2005, toàn Đảng bộ kết nạp được 4.991 đảng viên, đưa tổng số đảng viên trong Đảng bộ lên 20.155 người
Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng đạt một số kết quả bước đầu Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ được chú trọng Phương thức lãnh đạo, lề lối công tác của các cấp ủy đảng, nhất là Tỉnh
ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy được đổi mới, sâu sát thực tế, nắm vững cơ sở…
Trang 32Ngoài các công trình nghiên cứu trên, đề cập đến công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo ở Khánh Hòa, còn một số bài viết đăng trên các báo
như: Cam Ranh phát triển đảng viên là người có đạo, Báo Nhân dân, số 18620, ngày 3 tháng 8 năm 2006, tác giả Đức Lương; Công tác phát triển đảng viên là
người có đạo ở Khánh Hòa: những kết quả bước đầu, Báo Khánh Hòa, ngày 08
tháng 1 năm 2010, tác giả Tiến Thọ Trong hai bài viết này, các tác giả đã nêu khái quát kết quả đạt được, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở thành phố Cam Ranh nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung
Lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, một số nội dung về công tác xây dựng Đảng
ở vùng có đông đồng bào các tôn giáo nói chung, phát triển Đảng trong tín đồ, chức sắc các tôn giáo nói riêng được nhiều tác giả đề cập với một số kết quả bước đầu, cụ thể:
- Công tác xây dựng Đảng ở vùng có đông đồng bào các tôn giáo với những nội dung cơ bản được xác định: công tác vận động giáo dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về công tác tôn giáo; vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; xây dựng lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị và tăng cường số lượng, chất lượng đoàn viên, hội viên của các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị vùng giáo; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo
- Chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo ở một số địa phương như: tỉnh Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Nam Định, tỉnh Ninh Bình, tỉnh Thái Bình, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Gia Lai, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Sóc Trăng Đồng thời, các tác giả đã chỉ ra một số giải pháp đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác phát triển đảng viên là tín đồ, chức sắc tôn giáo như: tác giả Nguyễn Văn Giang
trong nghiên cứu về Công tác phát triển đảng viên ở vùng Công giáo tỉnh Nam
định, tác giả Kiều Linh trong nghiên cứu về Sóc Trăng phát triển đảng viên trong chức sắc tôn giáo, tác giả Mạnh Tiến trong nghiên cứu về Đổi mới công tác phát triển Đảng vùng giáo huyện Lương Tài
Trang 33- Một số hạn chế, khó khăn chung của công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở nhiều địa phương:
Một là, về nhận thức: nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và đồng
bào các tôn giáo về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước còn hạn chế; còn có định kiến, thiếu tin tưởng đối với đồng bào các tôn giáo, không muốn kết nạp chức sắc tôn giáo vào Đảng do sợ ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; một số tín đồ các tôn giáo còn băn khoăn cho rằng khi đứng trong hàng ngũ của Đảng sẽ hạn chế hoạt động của tín đồ theo giáo luật
Hai là, công tác tạo nguồn: phần lớn đoàn viên, thanh niên là tín đồ các tôn
giáo đi làm ăn xa hoặc đi học ở các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, sau khi tốt nghiệp thường không trở về làm việc tại địa phương; số còn lại ở địa phương không đủ điều kiện về trình độ học vấn để xét kết nạp theo quy định của Điều lệ Đảng; một số tín đồ tích cực, có uy tín nhưng vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình Một số đảng viên, tổ chức cơ sở đảng chưa quan tâm đến công tác tạo nguồn là tín đồ các tôn giáo
Ba là, số lượng đảng viên là tín đồ các tôn giáo được kết nạp còn ít, tỉ lệ kết
nạp so với số được bồi dưỡng chưa cao, có đảng bộ trong nhiều năm không phát triển được đảng viên, ít phát triển nữ đảng viên là tín đồ các tôn giáo
- Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở một số tỉnh: tỉnh Đồng Nai, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Gia Lai, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Sóc Trăng
- Về công tác xây dựng Đảng nói chung, phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa nói riêng, bước đầu được đề cập trong một số công trình nghiên cứu với một vài số liệu cụ thể Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về vấn đề này, có chăng chỉ là các bài viết mang tính tuyên truyền được đăng trên các báo
Các kết quả nghiên cứu trên được tác giả kế thừa, vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005
Trang 341.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng nói chung, phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo nói riêng, nhưng còn nhiều vấn
đề đặt ra chưa được đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và hệ thống như:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo
- Nghiên cứu đặc điểm của đồng bào các tôn giáo ở một tỉnh, thành cụ thể của Việt Nam nói chung, Khánh Hòa nói riêng - những đặc điểm có tác động tích cực, hạn chế công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo
- Nghiên cứu việc quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo, từ đó đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ ở các tỉnh, thành
- Đánh giá chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của một Đảng bộ thuộc tỉnh, thành ở Việt Nam nói
chung, Khánh Hòa nói riêng
- Nghiên cứu công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và quản lý quần chúng ưu tú là tín đồ các tôn giáo để kết nạp vào Đảng; việc thực hiện kết nạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo
- Vấn đề đảng viên là tín đồ tôn giáo tham gia các sinh hoạt tôn giáo Chất lượng đảng viên mới kết nạp là tín đồ các tôn giáo thể hiện trước hết ở trình độ học vấn Cơ cấu đảng viên mới kết nạp là tín đồ các tôn giáo (về độ tuổi, nghề nghiệp, thành phần…) Đức tin tôn giáo của đảng viên là tín đồ, chức sắc các tôn giáo Ý thức chính trị, tư tưởng của đảng viên là tín đồ, chức sắc các tôn giáo…
Từ kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra đối với công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo thời gian qua nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, trong luận án của mình, tác giả sẽ làm rõ các vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo - cơ sở
lý luận cho việc đề ra chủ trương, chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa
Trang 35- Chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có tác động tích cực hoặc hạn chế công tác phát triển Đảng
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đề ra chủ trương, lãnh đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm
2005, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Đánh giá chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện, rút ra những kinh nghiệm
từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005
Trang 36Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
2.1 Yêu cầu khách quan của công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa
2.1.1 Vai trò, tầm quan trọng và những yếu tố tác động đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa
Xây dựng Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với các chính đảng nói chung, đặc biệt với các Đảng Cộng sản cầm quyền bởi công tác này quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng Nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền gồm: xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và văn hóa Phát triển Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là việc làm thường xuyên, là biện pháp để nâng cao chất lượng, số lượng đảng viên; phát triển Đảng về tổ chức cơ sở đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng đối với xã hội (tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng); phát triển ảnh hưởng của Đảng đối với cộng đồng quốc tế
Phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng, là toàn bộ hoạt động của các tổ chức đảng từ khâu tuyên truyền, vận động, tạo nguồn, bồi dưỡng, quản lý nguồn và kết nạp quần chúng vào Đảng; giáo dục đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức theo đúng quy trình, thủ tục nhằm tăng cường số lượng và chất lượng đảng viên, góp phần tăng cường sức mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong mỗi giai đoạn lịch sử
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo
Công tác phát triển đảng viên trong tín đồ các tôn giáo, vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng với các Đảng Cộng sản được các nhà kinh điển của chủ
Trang 37nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu, xây dựng Trong tác phẩm Điều lệ của Liên đoàn
những người Cộng sản năm 1853, C Mác xác định mục đích của Liên đoàn là lật
đổ giai cấp tư sản, lập nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội tư sản để xây dựng một xã hội mới không có giai cấp, không có chế độ tư hữu, không có bóc lột Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh này, Liên đoàn cần kết nạp vào tổ chức của mình mọi đối tượng xã hội khi đáp ứng điều kiện:
Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành trong tuyên truyền; thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức - chính trị hoặc dân tộc - chống cộng sản, và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc tham gia vào một
số tổ chức nào đó; phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; được chi bộ nhất trí kết nạp [77, tr 732]
Kế thừa, phát triển lý luận của Mác trong thời đại mới, V.I.Lênin đã cụ thể hóa công tác phát triển Đảng với từng đối tượng, trong đó có tín đồ các tôn giáo Theo Lênin, để tăng cường khối đoàn kết các giai tầng trong xã hội và chống tư tưởng cực đoan, biệt phái, cần kết nạp tín đồ các tôn giáo vào Đảng Một công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoàn toàn có thể trở thành đảng viên của Đảng khi người đó chấp nhận và đấu tranh cho cương lĩnh của Đảng, đồng thời không dùng cơ sở đảng để tuyên truyền cho tôn giáo Bởi giữa người cộng sản và người có tín ngưỡng, tôn giáo có khác nhau về thế giới quan, nhưng không tất yếu dẫn đến khác nhau hoặc đối lập về quan điểm chính trị, người có cũng như không có tín ngưỡng, tôn giáo vẫn có thể cùng nhau phấn đấu cho một mục tiêu chính trị chung nhất định Trong
bài Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo, V.I.Lênin viết:
Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thu hút vào Đảng dân chủ - xã hội tất cả những công nhân nào còn tin ở thượng
đế Chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đến những tín ngưỡng tôn giáo của họ, việc kết nạp này để giáo dục họ theo tinh thần cương lĩnh của chúng ta, chứ không phải để họ tích cực chống lại cương lĩnh ấy [69, tr 520]
Trang 38Công tác kết nạp đảng không chỉ với tín đồ ưu tú, mà cả chức sắc tiến bộ Trả lời câu hỏi, một linh mục có thể trở thành đảng viên Đảng Dân chủ - xã hội, Đảng của những người vô sản được không? V.I.Lênin cho rằng:
Không nên nhất loạt, và bất cứ trong trường hợp nào, cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viên Đảng dân chủ - xã hội, nhưng lại càng không nên nhất loạt tuyên bố ngược lại Nếu có một linh mục nào lại cùng đi với chúng ta để cùng hoạt động chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cương lĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ Đảng dân chủ - xã hội, bởi vì trong những điều kiện ấy, mâu thuẫn giữa tinh thần của cương lĩnh Đảng ta và các nguyên tắc của cương lĩnh ấy với những tín ngưỡng tôn giáo của linh mục đó có thể vẫn chỉ là mâu thuẫn riêng của người đó, là việc riêng của bản thân người đó thôi; còn như đem kiểm tra các đảng viên của mình xem có phải trong người họ không có mâu thuẫn giữa quan điểm của họ với cương lĩnh của Đảng không, thì một tổ chức chính trị
không thể nào làm được [69, tr 520]
Từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể thấy để tăng cường sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng, để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử, Đảng cần kết nạp vào hàng ngũ của mình tất cả những tín đồ ưu tú và chức sắc tiến bộ
Kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác phát triển Đảng đối với
tín đồ các tôn giáo, trong bài nói chuyện tại lớp Chỉnh huấn cán bộ trí thức, Hồ Chí
Minh nói:
Có anh em hỏi một người Công giáo có thể vào Đảng Lao động được không? Có Người tôn giáo nào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được [79, tr 115]
Có thể nói, theo Hồ Chí Minh đồng bào mọi tôn giáo đều có thể vào Đảng, miễn là luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trung thành với
Trang 39Đảng và nhân dân Việc kết nạp đồng bào các tôn giáo vào Đảng cũng là để tăng cường sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng, bởi theo Người: Đảng ta là trí tuệ, là danh dự và lương tâm của dân tộc
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh không coi sự khác nhau về thế giới quan tất yếu dẫn đến sự đối lập về lập trường và thái độ chính trị Sự thống nhất ý kiến để xây dựng cảnh cực lạc dưới cõi trần, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ở hiện thực quan trọng hơn việc thống nhất có hay không thiên đường, có hay không thần thánh Quan điểm này nhận được sự đồng tình từ các tôn giáo, thể hiện ở đường hướng: “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” của giáo hội Phật giáo, “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, gắn bó với vận mệnh của quê hương ” của giáo hội Công giáo, “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc” của hội thánh Tin lành, “Phụng đạo - Yêu nước và gắn bó với Dân tộc” của Phật giáo Hòa Hảo, “Nước vinh - Đạo sáng” của đạo Cao Đài
Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trên cơ
sở thực tiễn đất nước, ngày 20/6/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo
số 76 - TB/TW về việc Sinh hoạt tôn giáo của đảng viên có đạo và kết nạp đảng
viên là người có đạo (Thông báo số 76) Chủ trương này được cụ thể hóa bằng
Hướng dẫn số 03 - HD/TCTW ngày 14/4/1995 của Ban Tổ chức Trung ương về
việc Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người
gốc đạo (Hướng dẫn số 03) Từ thực tiễn thành tựu, hạn chế của quá trình thực hiện
hai văn kiện trên và để công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo đạt kết quả tốt, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giai đoạn mới, ngày 28/9/2004,
Bộ Chính trị ra Quyết định số 123 - QĐ/TW về Một số điểm về kết nạp đảng viên
đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo (Quyết định
số 123) Sau đó, Ban Tổ chức Trung ương đã cụ thể hóa Quyết định số 123 bằng
Hướng dẫn số 40 - HD/BTCTW ngày 08/4/2005 về Thực hiện Quy định số 123 -
QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Bộ Chính trị: Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo (Hướng dẫn số 40)
Trang 40Chủ trương của Đảng về công tác kết nạp đảng viên đối với đồng bào các tôn giáo thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong các văn kiện trên là:
- Điều kiện, tiêu chuẩn xét kết nạp:
Chỉ xem xét, kết nạp quần chúng là người có đạo trong những tôn giáo đã được Nhà nước công nhận Có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để kết nạp vào Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng
Người được kết nạp phải thực sự là quần chúng ưu tú, đã được rèn luyện thử thách trong công tác, có khả năng thuyết phục, gương mẫu thực hiện và vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; được cán bộ, đảng viên và đông đảo đồng bào có đạo, không có đạo ở nơi công tác, nơi cư trú tín nhiệm; có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của người đảng viên Người xin vào Đảng không có những vấn đề vi phạm lịch sử chính trị và những vấn đề chính trị hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư
Những yếu tố tác động đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa
Thứ nhất, tác động của điều kiện tự nhiên
Là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, Khánh Hòa nằm ở vùng cực Ðông của Việt Nam với diện tích 5.197 km2, phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, nam giáp tỉnh Ninh Thuận, tây giáp tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Lâm Đồng Là tỉnh có phần vươn xa nhất ra biển Ðông trên cả đất liền và hải đảo, địa hình Khánh Hòa tương đối đa dạng, phức tạp: thấp dần từ Tây sang Ðông, có rừng núi, đồng bằng, miền ven biển, hải đảo