1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm giải thoát của các tôn giáo

18 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm Giải Thoát Của Các Tôn Giáo
Tác giả Dương Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn TT.TS. Thích Giác Duyên
Trường học Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học Phật Giáo
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 162,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xa hơn nữa, cũng có tôn giáo tuy chủ trương chủ nghĩa giải thoát, nhưng khi khảo sát người ta không hiểu rõ nội dung của giải thoát đó là gì, nó chỉ là một danh từ suông không thôi.Bên T

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Đề tài:

QUAN ĐIỂM GIẢI THOÁT CỦA CÁC TÔN GIÁO

TP Hồ Chí Minh, năm 2022

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Đề tài:

QUAN ĐIỂM GIẢI THOÁT CỦA CÁC TÔN GIÁO

Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Dương Thị Ngọc Ánh Pháp danh: TN.Huệ Trạm

Mã sinh viên: TX 6009

Lớp: ĐTTX Khóa VI

Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2022

MỤC LỤC

Trang 3

A.MỞ ĐẦU 1

B.NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU VỀ NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT 1.1 Nguồn gốc của Tư tưởng Giải thoát 2

1.2 Ý nghĩa của sự giải thoát 3

CHƯƠNG 2:QUAN NIỆM GIẢI THOÁT CỦA CÁC TÔN GIÁO 2.1.Giải thoát trong Đạo Hồi 4

2.2 Giải thoát trong Đạo giáo 4

2.3 Giải thoát trong Thiên Chúa 5

2.4.Giải thoát trong Ấn Độ giáo 7

2.5.Giải thoát trong Phật giáo 7

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA TÔN GIÁO 3.1.Tác động tiêu cực của tôn giáo 12

3.2 Những tác động tích cực của tôn giáo 12

C.KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:

Tất cả tôn giáo, bất luận thuộc hình thái nào, đều lầu yêu cầu giải thoát làm bối cảnh

Dĩ nhiên không phải tôn giáo nào cũng chủ trương hết thảy là ý thức Nếu chủ trương yêu cầu giải thoát xuất phát từ ý thức thì sinh hoạt quan của nhân loại sẽ trở thành một vấn đề hết sức phức tạp và nan giải Tư tưởng giải thoát là đặc trưng của nền tôn giáo cao đẳng, bởi lẽ thời thái sơ những tôn giáo tự nhiên mà loài người sản sinh ra chỉ là những tôn giáo tự nhiên nên chưa có được tư tưởng đó Song đứng về mặt biểu tượng

mà nói, có phải tất cả tôn giáo đều đồng nhất về giải thoát và nội dung của giải thoát không? Trên căn bản, tuy cũng có điểm cộng thông, nhưng về mặt hình thức biểu tượng, giữa các tôn giáo có nhiều điểm bất đồng Nghĩa là các tôn giáo tuy cũng chủ trương chủ nghĩa giải thoát, nhưng phần nhiều đứng trên các lập trường khác nhau: đó

là điều rất rõ ràng Xa hơn nữa, cũng có tôn giáo tuy chủ trương chủ nghĩa giải thoát, nhưng khi khảo sát người ta không hiểu rõ nội dung của giải thoát đó là gì, nó chỉ là một danh từ suông không thôi.Bên Tây phương cũng có những tôn giáo hay triết học chủ trương giải thoát Điển hình là các nhà triết học Hy lạp như Pythagoras và Plato

Cơ Đốc giáo dĩ nhiên là xây dựng trên nền tảng giải thoát chủ nghĩa Trong số các tư tưởng gia người Đức, trước hết phải kể đến Tiêu Bá Nội, cũng có rất nhiều người chủ trương thuyết giải thoát Nói tóm lại, chủ nghĩa giải thoát và yêu cầu giải thoát ta có thể thấy nó biểu hiện dưới nhiều hình thái và khắp nơi trên thế giới, nhưng nếu muốn tìm đến chỗ xuất phát của tư tưởng giải thoát thì ta không thể không tìm đến Ấn Độ từ thời đại Áo Nghĩa Thư (Triết học Upanish-ads) trở về sau, tất cả tư tưởng Ấn Độ, không những chỉ đứng trên lập trường giải thoát chủ nghĩa mà còn tận tâm tận lực phấn đấu để giải thoát, ta có thể nói điều đó ngoài Ấn Độ ra ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác Do đó, nếu muốn hiểu rõ chủ nghĩa giải thoát trên toàn thế giới, ta không thể không tìm hiểu giải thoát quan của Ấn Độ.Ở đây chúng tôi gọi là Giải thoát luận là có ý muốn tìm hiểu tất cả các loại giải thoát quan của Ấn Độ để có được một khái niệm đầy đủ, đồng thời mong tìm ra cái ý nghĩa cộng thông giữa các giải thoát quan đó Đương nhiên, nếu khảo sát cho tường tận, thì đây là một vấn đề vô cùng phức tạp và khó khăn, không thể một sớm một chiều có thể nói hết, cho nên học viên chọn đề tài:Quan điểm Giải thoát của các tôn giáo làm đề tài nghiêm cứu.

2.Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học, triết học như: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, khái quát hóa, trừu tượng hóa

3.Nội dung nghiên cứu:

Vì kiến thức hạn chế,học viên nghiên cứu về quan niệm giải thoát và những giá trị của nó

4.Bố cục tiểu luận:

Gồm 4 phần :

Mở đầu&Nội dung.Nội dung gồm 03 chương

Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

A NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT

1.1 Nguồn gốc của Tư tưởng Giải thoát

Trước đây, trong cuốn sách nổi tiếng của mình, cuốn “Phật giáo Nguyên lý luận” bác

sĩ Muraue đã nhận định rằng các tông phái Phật giáo đều nhất quán về lý tưởng Niết bàn, do đó mà thảo luận về khả năng thống nhất Phật giáo Quan điểm này rất đúng, song nói đúng ra lý tưởng đó không phải chỉ hạn cục trong các tông phái Phật giáo,

mà nói rộng ra nó là toàn bộ tư tưởng của các giáo phái Ấn Độ nữa, vì cái gọi là Niết bàn (Nirvana) hay Giải thiát (Moksa) thật ra cũng chỉ cùng một ý nghĩa là đã giải phóng được sinh hoạt cá thể mà lập dựng nên cuộc sinh hoạt tinh thần tự chủ và độc lập.Nhưng cái tư tưởng giải thoát đó đã phát xuất ở Ấn Độ từ thời kỳ nào? Dĩ nhiên nó

đã ngấm ngầm manh nha từ rất sớm rồi, nhưng thật sự trở thành một tư trào rõ rệt thì đại khái vào thời kỳ mà các tư trào Ấn Độ đang dần dần tiến đến chỗ giác ngộ Tự Ngã trở về trước Nếu chiếu theo văn hiến, theo chỗ tôi tận lực nghiên cứu, thì vào thời đại

Lê Câu Vệ Đà (Rg-Veda), đại biểu tư tưởng tối cổ của Ấn Độ, nghĩa là vào khoảng 1500-1000 năm trước Công Nguyên, tư tưởng giải thoát hầu như vẫn chưa biểu hiện một cách rõ ràng Vào thời đại đó, người Ấn Độ cổ đại (nếu có) định cư tại khu vực Ngũ Hà, tính tình còn thuần phác và thanh thản, về mặc ý thức, vẫn chưa cảm thấy những mâu thuẩn khổ đau của cuộc sống, nhưng từ khu dân tộc Aryan di chuyển về phía Đông Nam thượng lưu sông Hằng Hà, khai thác nền văn minh tại đây, đồng thời cũng dần dần tiến đến bản chất sinh hoạt trầm mặc, do đó tư tưởng giải thoát cũng đã dần dần nảy nở Tư tưởng này đã thấy tản mát trong Phạm Thư (Bràhmanas), tức từ khoảng 1000-800 trước Công nguyên, vậy ta có thể coi là tư tưởng giải thoát đã manh nha bắt đầu từ thời kỳ đó, và đặc biệt đến cuối thời kỳ này đã trở nên rất rõ rệt bắt đầu

từ thời kỳ đó, các nhà tư tưởng Ấn Độ dần dần đi tìm bản chất của Tự Ngã và cho bản chất đó là một linh thể bất diệt, và lấy việc phát hiện cái linh thể đó làm lý tưởng cứu kính của con người Ô Da bái Lỗ nói:“Nguồn gốc của tư tưởng giải thoát và tư tưởng luân hồi đều phát xuất song song với nhau” Rồi đến ông Đốc Y Tác Âm nói: “Do sự hình thành tư tưởng Tự Ngã mà đã phát sinh ra tư tưởng luân hồi”, nhưng theo chỗ tôi hiểu thì tư tưởng luân hồi vẫn là kết quả của tư tưởng giải thoát, cho nên ý kiến của hai ông nói trên có điểm đồng nhất Nghĩa là đối với vạn hữu, đặc biệt là tự thân con người, người ta cảm thấy cần phải so sánh đối chiếu giữa cái chân tướng và giả tướng của vạn vật, và do cái ý hướng muốn xa lìa giả tướng để trở về với chân tướng mà đã phát sinh ra tư tưởng giải thoát Song, tại Ấn Độ cái thời đại mà sự đối chiếu giữa chân tướng và giả tướng được bộc lộ một cách rõ ràng, đồng thời, vấn đề giải thoát được luận cứu rộng rãi, dĩ nhiên là thuộc thời đại U Ba Ni Sát Đàm (Upanishads) Do

đó, vấn đề giải thoát được thiên hạ đặc biệt chú ý và đưa ra thảo luận vẫn là thuộc thời đại Upanishads (800-500 trước Kỷ nguyên) Đến thời kỳ này giải thoát quan mới thật

sự được quy định thành hình Upanishads nói: “Cái bản tính của Tự Ngã cùng với thật tại của vũ trụ tức Phạm Thiên là đồng nhất, bản lai thanh tịnh, không nhơ nhớp, là cảnh giới diệu lạc, vĩnh viễn bất biến, nhưng vì mê mờ không thấy được cái chân

Trang 6

tướng ấy nên con người đã bị tách khỏi cái tính đồng nhất kia để rồi phải lăn lộn trôi dạt trong bể khổ sinh tử, bị đắm chìm và trói buộc mất hết tự do” Cũng vì thế mà cái

lý tưởng cứu kính của con người là làm thế nào để thoát ly được cảnh giới sinh tử trói buộc này để trở về với bản tính đồng nhất của Phạm Thiên Nền giáo lý của Upanishads tuy rất mông mênh, nhưng cái quy kết tối hậu thì không ngoài tư tưởng này, mà một khi đã tin như thế rồi thì một mặt miêu tả cái cảnh giới lý tưởng đó càng tốt đẹp và sung sướng bao nhiêu, thì nhìn lại hiện thực giới người ta càng cảm thấy mất sinh thú bấy nhiêu Do đó mà tư tưởng yếm thế cũng dần dần nảy mầm và yêu cầu giải thoát cũng mỗi ngày một tăng Như vậy là tư tưởng triết học của Upanishads

dù có không thừa nhận học phái A Đốc Ma đi nữa, cũng đã lấy giải thoát làm lý tưởng tối cao, và như đã nói ở trên kia, nguồn gốc và sự thành lập tư tưởng giải thoát là cái

lý tưởng đích thực cộng thông của mọi học phái

1.2.Ý nghĩa của sự giải thoát

Tuy cùng lấy giải thoát làm lý tưởng, người vì sự tranh luận về những điểm chân, ngụy, ưu, liệt cho nên giữa các học phái cũng có nhiều điểm bất đồng điều đó không

có gì là lạ cả Song theo chỗ chúng tôi nhận xét thì đó chỉ là trên vấn đề lý luận mà thôi, chứ về ý nghĩa sự giải thoát thì đại khái các học phái đều có những điểm tương đồng Bất cứ biện luận theo chiều hướng nào, cái ý nghĩa chân chính của sự giải thoát

là phải làm sao cho tinh thần thanh thản trước mọi cảnh khổ, vui, thật, giả, động, tĩnh: tóm lại đưa ý chí đạt đến một cảnh giới tuyệt đối giải phóng Nói theo lý luận hình nhi thượng thì chẳng qua lấy sự đưa ý chí đến cảnh giới tuyệt đối giải thoát làm mục tiêu vậy, và dĩ nhiên do cái mục tiêu đó ra sao mà có sự bất đồng về tính cách và phong thái của sự giải thoát Bởi thế, nếu đứng trên lập trường thể nghiệm để luận xem loại giải thoát nào là thật, loại nào là giả thì e rằng ta sẽ làm một việc không đâu, vì lẽ bất luận theo phương pháp nào, hễ đã đưa tinh thần đến được một cảnh giới tuyệt đối giải phóng đó thì đều có thể được coi là sự giải thoát chân thực Nếu nhận xét theo lý luận

và thực tế thì chỗ kiến giải có những điểm bất đồng Chẳng hạn, về lý luận thì có Nhất nguyên luận, Nhị nguyên luận, Hữu thần thuyết, Vô thần thuyết, không dung hòa được nhau Song nếu xét theo sự thể nghiệm thực tế về giải thoát thì trong những thuyết mâu thuẫn đó người ta vẫn thấy có điểm cộng thông Do đó, bất luận là Nhất nguyên, Nhị nguyên hoặc Hữu thần, Vô thần chủ trương khác nhau, nhưng khi ý chí đã đạt đến cảnh giới tuyệt đối giải thoát thì quan điểm ở đây không còn dị biệt nữa Đó cũng là cách giải thích chung của các nhà sáng lập tôn giáo, các bậc hiền triết cổ, kim, đông, tây, tuy có những giáo lý khác nhau, ở vào những bối cảnh bất đồng, nhưng vẫn có những điểm cộng thông, điều này thiết tưởng không phải một sự ngẫu nhiên vậy

Trang 7

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM GIẢI THOÁT CỦA CÁC TÔN GIÁO

2.1.Giải thoát trong Đạo Hồi

Đạo Hồi không giống với nhiều tôn giáo khác ở chỗ: tuyệt đối không thờ tượng thần

Vì đạo Hồi cho rằng thánh Ala là chúa duy nhất của vũ trụ, ngoài ra không có chúa nào khác Người Hồi giáo phải cầu nguyện năm lần một ngày Giờ cầu nguyện được các nhà thờ hồi giáo thông báo cầu nguyện (azan) Không phải tất cả người Hồi giáo phải đi đến nhà thờ Một số cầu nguyện tại nhà hoặc ngay tại văn phòng Hàng ngày, các cuộc hẹn và các cuộc họp phải được sắp xếp một cách thích hợp với thời gian cầu nguyện Hồi giáo, đạo Hồi hay đạo Islam (tiếng Ả Rập: ملسلا al-'islām) là một tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, độc thần, dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa (tiếng Ả Rập: Allah), và Muhammad là sứ giả của Thượng đế Đây là tôn giáo lớn thứ hai thế giới với hơn 1 tỷ người theo tương đương 15% dân số thế giới,và họ thường được gọi là người Hồi giáo Hồi giáo chiếm phần lớn dân số ở 50 quốc gia.Hồi giáo dạy rằng Thiên Chúa là lòng thương xót, toàn năng và độc nhất, và Chúa đã hướng dẫn loài người qua các sứ giả, thánh thư được tiết lộ và các dấu hiệu tự nhiên Kinh sách chính của Hồi giáo là Kinh Qur'an, được người Hồi giáo xem là lời nguyên văn của Thiên Chúa, và các giáo lý và ví dụ quy phạm (được gọi là sunnah, bao gồm các ghi chép được gọi là hadith) của Muhammad (570 – 8 tháng 6 632).Người Hồi giáo tin rằng Hồi giáo là phiên bản hoàn chỉnh và phổ quát của một đức tin nguyên thủy đã được tiết lộ nhiều lần trước đây thông qua các tiên tri bao gồm Adam, Abraham, Moses và Jesus Người Hồi giáo coi Kinh Qur'an trong tiếng Ả Rập gốc của nó là sự mặc khải không thay đổi và cuối cùng của Thiên Chúa.Giống như các tôn giáo Abraham khác, Hồi giáo cũng dạy về một ngày phán xử cuối cùng với người tốt sẽ được lên thiên đường và người xấu sẽ bị trừng phạt tại địa ngục.Các khái niệm và thực hành tôn giáo bao gồm Năm trụ cột Hồi giáo, là những hành vi tôn giáo bắt buộc và tuân theo luật Hồi giáo (sharia), ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống và xã hội, từ ngân hàng và phúc lợi cho phụ nữ và môi trường.Các thành phố Mecca, Medina và Jerusalem là nơi có ba địa điểm linh thiêng nhất trong đạo Hồi

2.2 Giải thoát trong Đạo giáo

Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II sau công nguyên, cơ sở lí luận của nó là ĐẠO GIA – triết thuyết do Lão Tử đề xướng và Trang tử hoàn thiện (học thuyết Lão-Trang).Lão Tử người nước

Sở (vùng Bách Việt), tên là Nhĩ, tự là Đam (nên còn gọi là Lão Đam), sống vào khoảng thế kỉ Vl-V trCN, gần như đồng thời với Khổng Tử (lớn tuổi hơn Khổng Tử) Ông từng làm quan phụ trách thư viện nhà Chu, sau lui về ở ẩn; không biết mất năm nào, tương truyền về già cưỡi con trâu xanh đi về phía tây vào núi rồi biến mất Tư tưởng của Lão Tử được trình bày trong cuốn Đạo đức kinh Sách gồm 81 chương chia làm hai thiên thượng và hạ bàn về Đạo kinh và Đức kinh.Đạo của Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: “Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước TỰ NHIÊN” Nó là nguồn gốc của vạn vật Đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức Nếu Đạo là cái tĩnh vô hình thì Đức là cái động hữu hình của Đạo Nếu Đạo là bản chất của

Trang 8

vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở

về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần biện chứng âm dương của triết lí nông nghiệp Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng, chu đáo, và do vậy mà mầu nhiệm Hợp lí, vì, theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao thì ghìm xuống; thấp thì nâng lên Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào chỗ thiếu Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thắng, không cần nói mà ứng nghiệm Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên và, do vậy, sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: “Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt” Từ đây, Lão Tử suy ra triết lí sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập, phải vô vi (không làm) Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì, mà là hòa nhập với tư nhiên, đừng làm gì thái quá Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “vật cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì Triết lí vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là “chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình” Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải “giống như kho một nồi cá nhỏ”: cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không khuấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát.Đạo giáo khởi đầu bằng Ngũ đấu mễ đạo (Đạo 5 đấu gạo) – một thứ Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng sáng lập Trương Đao Lăng tu luyện ở vùng núi Tứ Xuyên, ông lấy Lão Tử làm ngọn cờ, dùng bùa chú

và phương thuật, nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người vào đạo nhằm chống lại các thế lực phong kiến Đời Tam Quốc, Trương Giác cũng dùng các phương thuật, bùa phép để tập hợp nông dân tiến hành khởi nghĩa Hoàng cân (nghĩa quân đầu chít khăn vàng làm dấu hiệu) chống lại chế độ cai trị đương thời.Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử Tu tiên có hai cách: nội tu

và ngoại dưỡng Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng) Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công,… lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo) Con người, cũng như vạn vật, là từ “Đạo” mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với “Đạo”

2.3 Giải thoát trong Thiên Chúa

Thiên Chúa luôn luôn ở gần chúng ta cả trong các khó khăn, các vấn đề và trong những lúc đen tối của cuộc đời Người lắng nghe, đáp lời và giải thoát chúng ta trong cách thức của Người.Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong buổi tiếp kiến hơn 20.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ Tư 7-9-2011.Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha tiếp tục khai triển đề tài “trường cầu nguyện” và bắt đầu suy niệm một số Thánh Vịnh Ngài nói:Thánh Vịnh đầu tiên mà tôi muốn dừng lại suy niệm là một Thánh Vịnh than vãn

và khẩn cầu thấm đẫm lòng tín thác, trong đó xác tín về sự hiện diện của Thiên Chúa xây dựng lời cầu nảy sinh từ một điều kiện khó khăn tột cùng, mà người cầu nguyện đang phải sống Đó là Thánh Vịnh 3 mà truyền thống Do Thái quy chiếu về vua Đavít, khi nhà vua phải chạy trốn con mình là hoàng tử Absalom Đây là một trong các giai thoại thê thảm và khổ đau nhất trong cuộc đời nhà vua, khi người con tiếm ngôi bắt buộc nhà vua bỏ thành Giêrusalem để cứu lấy mạnh sống mình Như thế, sự hiểm

Trang 9

nguy và nỗi âu lo vua Đavít đã sống là bối cảnh giúp chúng ta hiểu lời cầu nguyện này Trong tiếng kêu của tác giả Thánh Vịnh mọi người đều có thể nhận ra các tâm tình khổ đau, cay đắng và tin tưởng nơi Thiên Chúa đồng hành với nhà vua trong cuộc trốn chạy khỏi thành thánh.Thánh Vịnh mở đầu với lời kêu lên Chúa: “Lạy Chúa thù địch con đông vô số kể, người nổi dậy chống con thật quá nhiều! Quá nhiều kẻ đang nói về con: “Chúa Trời đâu cứu hắn!” Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói tác giả miêu tả hoàn cảnh nguy ngập với giọng điệu thê thảm bằng cách lập lại ba lần rằng các kẻ thù “đông đảo”, “nhiều”, “biết bao”, cả ba từ trong tiếng Do Thái có cùng một gốc Việc nhấn mạnh trên số đông và cái lớn lao của các kẻ thù nhằm diễn tả sự không tương xứng giữa tác giả và các kẻ bách hại ông Và sự không tương xứng ấy giải thích lời cầu cứu cấp thiết của ông Đám đông nổi lên chống lại ông gây ra sợ hãi và gia tăng sự đe dọa kinh hoàng Nhưng người cầu nguyện không để cho cảnh chết chóc ấy chiến thắng, mà vẫn duy trì tương quan vững vàng với Thiên Chúa của sự sống và hướng về Ngài Tuy nhiên, các kẻ thù cũng tìm cách bẻ gẫy mối dây liên hệ ấy của ông với Thiên Chúa và làm suy yếu niềm tin của nạn nhân Chúng nói rằng Thiên Chúa không thể can thiệp và khẳng định rằng Người cũng không thể cứu ông Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:Như vậy, sự tấn công không chỉ là vật lý mà còn đụng chạm tới cả chiều kích tinh thần nữa: Họ nói “Chúa không thể giải cứu nó” Nhân tố chính của linh hồn tác giả Thánh Vịnh bị tấn công Và cám dỗ tột cùng mà tín hữu phải chịu là cám dỗ mất đức tin, mất niềm tin tưởng nơi sự gần gũi và trợ giúp của Thiên Chúa Người công chính thắng vượt thử thách cuối cùng này, kiên vững trong đức tin và xác tín sự thật và sự tin tưởng tràn đầy vào Thiên Chúa; và chính vì thế mà họ tìm được sự sống và chân lý Xem ra Thánh Vịnh cũng đụng chạm tới chúng ta: trong biết bao nhiêu vấn đề chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng có lẽ cả Thiên Chúa cũng không thể cứu được tôi, Người không biết tôi, có lẽ Người không có khả năng giải cứu; cám dỗ chống lại đức tin là tấn kích cuối cùng của kẻ thù, và chúng ta phải chống trả lại nó, và như thế chúng ta tìm thấy Thiên Chúa và tìm ra sự sống.Như vậy, người cầu nguyện được mời gọi đáp trả lại các tấn kích của các kẻ thù gian ác với lòng tin Các người thù địch khước từ rằng Thiên Chúa có thế trợ giúp tín hữu; nhưng trái lại tín hữu khẩn cầu Người, gọi tên Chúa và hướng về Người trong cách xưng hô thân tình diễn tả tương quan vững bền và xác tín Chúa sẽ đáp lời họ: “Nhưng lạy Chúa, chính Ngài là khiên che thuẫn đỡ, là vinh dự của con, là Đấng cho con được ngẩng đầu bất khuất Tôi vẫn cất tiếng kêu lên cùng Chúa, Chúa liền đáp lại từ núi thánh của Người” Các thù địch biến mất Chúng đã không chiến thắng, vì ai tin nơi Thiên Chúa thì chắc chắn rằng Thiên Chúa là bạn của mình Đối chọi với đám đông

vô số là một mình Chúa, nhưng cao cả và quyền uy hơn bao địch thù Chúa là sự trợ giúp, bênh vực, giải thoát và thuẫn đỡ che chở ai tín thác nơi Người; và Người cho họ ngẩng đầu trong cử chỉ khải hoàn và chiến thắng Con người không cô đơn nữa, các thù địch không phải là không đánh bại được nữa, bởi vì Chúa lắng nghe tiếng kêu cứu, trong âu lo, trong nguy hiểm, trong khổ đau Con người kêu cứu và Thiên Chúa đáp lời Sự giao thoa giữa lời khẩn cầu của con người và sự đáp trả của Thiên Chúa là biện chứng của lời cầu nguyện và chìa khóa đọc hiểu toàn lịch sử cứu độ Tiếng kêu diễn tả

sự cần được trợ giúp, và kêu lên sự trung thành của người khác Kêu lên có nghĩa là đặt một cử chỉ tin tưởng nơi sự gần gũi và sẵn sàng lắng nghe Thiên Chúa Lời cầu nguyện diễn tả xác tín của một sự hiện diện thiên linh đã được kinh nghiệm và đức tin được tỏ lộ tràn đầy trong lời đáp trả của Thiên Chúa Sự đáp trả của Thiên Chúa trao

Trang 10

ban cho tác giả Thánh Vịnh sự chắc chắn hoàn toàn Nỗi sợ hãi cũng hết, và tiếng kêu cứu trở thành niềm an bình sâu thẳm: “Tôi nằm xuống và tôi thiếp ngủ, rồi thức dậy,

vì Chúa đỡ nâng tôi Tôi chẳng còn phải sợ lũ người đông vô số đang vây bọc quanh tôi” Tuy bị bao địch thù bủa vây tứ phía, chống đối nhạo cười, tấn công và tìm cách làm cho tín hữu bị ngã, nhưng tín hữu vẫn ngủ yên vì xác tín có Thiên Chúa hiện diện Khi thức dậy ông thấy Thiên Chúa ở cạnh bên, Người là Đấng canh thức không ngủ Người nâng đỡ, cầm lấy tay ông và không bao giờ rời ông Đức Thánh Cha nói thêm:Sự sợ hãi cái chết bị thắng vượt bởi sự hiện diện của Đấng không chết Chính đêm đen đầy sợ hãi, đêm đen khổ đau của cô đơn, của đợi chờ khắc khoải, giờ đây được biến đổi: điều nhắc tới cái chết trở thành sự hiện diện của Đấng Vĩnh Cửu.Sự hiện diện vô hình của Thiên Chúa đối chọi với sự hữu hình của các tấn công thù địch, đông đảo, mạnh mẽ Thù địch đứng lên chống lại nạn nhân của chúng Nhưng ở đây Thiên Chúa đứng lên để đánh gục chúng và giải thoát tín hữu Tác giả Thánh Vịnh miêu tả chiến thắng của Thiên Chúa trên các thù địch Với sự đàn áp bất công và tàn bạo của họ, các thù địch biểu tượng cho tất cả những gì chống lại Thiên Chúa và chương trình cứu độ của Người Nhưng họ bị Chúa đánh vỡ mặt và đập gẫy răng, không thể tấn kích với bạo lực tàn phá của họ nữa, cũng không thể rỉ tai cám dỗ tín hữu nghi ngờ sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa nữa Họ bị sự can thiệp cứu

độ của Thiên Chúa làm cho câm lặng Và tác giả Thánh Vịnh có thể kết thúc với lời cầu chúc tụng cảm tạ và ngợi khen trong sắc thái phụng vụ như sau: “Chúa chính là nguồn ơn cứu độ, xin ban phúc lộc cho dân Ngài”.Rồi Đức Thánh Cha kết thúc bài huấn dụ như sau: Khi cầu nguyện với Thánh Vịnh này chúng ta có thể lấy các tâm tình của tác giả làm của mình Gương mặt của tác giả được hoàn thành nơi gương mặt của Chúa Giêsu Trong đau đớn, trong nguy nan, trong nỗi cay đắng vì không được hiểu biết và bị xúc phạm, các lời Thánh Vịnh rộng mở con tim chúng ta cho xác tín trao ban an ủi của đức tin Thiên Chúa luôn ở gần kề chúng ta cả trong các khó khăn, các vấn đề, trong những lúc đen tối của cuộc đời Người lắng nghe, đáp lời và giải thoát chúng ta trong cách thức của Người.Đức Thánh Cha đã chào các tín hữu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Tchèques, Croat, Slovac, Hungari và Ý, trước khi cất kinh Lạy Cha và ban phép lành Tòa thánh cho mọi người

2.4.Giải thoát trong Ấn Độ giáo

Nếu như triết học Trung Quốc đi vào nghiên cứu đời sống chính trị xã hội với những quan niệm xã hội hiện thực, nhằm tìm ra những biện pháp, những cách thức để cải biến và ổn định trật tự xã hội, giáo dục đạo đức con người thì triết học Ấn Độ nói chung và tư tưởng Phật giáo nói riêng lại tập trung vào lý giải bản chất đời sống tâm linh con người Theo đó, Phật giáo hướng con người vượt qua sự mê ngộ, vô minh, nhận ra bản tính của mình và thực tướng của vạn vật, hòa nhập được vào với bản thể

vũ trụ tuyệt đối, chân thực, bằng nhận thức trực giác, "thực nghiệm tâm linh" – Đó chính là sự giải thoát.Giải thoát theo tiếng Phạn là moksha, mukti (mộc xoa, mộc đề)

"Gỉải" nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ; chữ "thoát" nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc, vượt ra ngoài sự ràng buộc… Theo các kinh sách triết học

và tôn giáo cổ Ấn Độ, từ giải thoát có rất nhiều nghĩa, người ta có thể xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái, mục đích, phương tiện và kết quả Và người ta cũng

có thể xem xét nó ở các bản thể luận hay mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý cũng như mặt đạo đức, tôn giáo Trong triết lý Phật giáo Ấn Độ, giải thoát tức là trạng thái đời sống tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự rang buộc của thế giới nhục dục,

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Văn Lương, Chân lý thuyết minh: Giải thoát kiếp làm người đau khổ để trở thành đấng siêu nhân (Phật – Thánh – Tiên), Nhà xuất bản Sài Gòn,1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thoát kiếp làm người đau khổ để trởthành đấng siêu nhân (Phật – Thánh – Tiên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Sài Gòn
3. Nguyễn Tài Thư, Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay” Trên tạp chí Triết học số 4 năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiệnnay” T
6. Thích Mãn Giác , Lịch sử Triết học Ấn Độ, NXB Văn Hoá Sài Gòn 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học Ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn Hoá Sài Gòn 2007
1- HÒA THƯỢNG THÍCH THANH TỪ, Giảỉ thoát là cốt lõi của Đạo Phật, (tài liệu trên mạng, 3-8-2009) Khác
2. KINH TRƯỜNG BỘ 1, Kinh Sa Môn quả, Kinh sách điện tử Phật giáo tiếng Việt (VNBET ), tr.185KINH TRƯỜNG BỘ 2, Kinh Đại Niệm Xứ, Kinh sách điện tử Phật giáo tiếng Việt (VNBET), tr.185 Khác
3. KINH TRUNG BỘ 1, Kinh niệm xứ, Kinh sách điện tử Phật giáo tiếng Việt (VNBET), tr.94 Khác
4. KINH DƯỢC SƯ, Dịch giả Bồ tát giới Tuệ Nhuận, Nxb. Tôn giáo Hà Nội, PL.:2554 – DL.: 2010, tr. 49 Sách Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w