1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiên đàng, thiên giới của các tôn giáo

18 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 158,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay cả Phật giáo là một tôn giáo chủ trương chối bỏ thần linh, khước từ thế giới của chư thần, chỉ dùng trí tuệ quán chiếu vào bản chất như thực của cuộc sống để đạt đến trạng thái giải

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Đề tài:

THIÊN ĐÀNG THIÊN GIỚI CỦA CÁC TÔN GIÁO

Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Đinh Văn Lễ Pháp danh: Thích Quảng Chánh

Mã sinh viên: TX 6200 Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh,tháng 02, năm 2022

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

Đề tài:

THIÊN ĐÀNG THIÊN GIỚI CỦA CÁC TÔN GIÁO

Giảng Viên Phụ Trách: TT.TS Thích Giác Duyên Sinh viên thực hiện: Đinh Văn Lễ

Pháp danh: Thích Quảng Chánh

Mã sinh viên: TX 6200

Lớp: ĐTTX Khóa VI

Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP Hồ Chí Minh, năm 2022

MỤC LỤC

Trang 3

A.MỞ ĐẦU 1

B.NỘI DUNG 2

Chương 1:TÌM HIỂU VỀ THIÊN ĐÀNG 1.1.Khái niệm thiên đàng 3

1.2.Thiên đàng ở đâu 3

Chương 2:THIÊN ĐÀNG TRONG TÔN GIÁO VÀ LỊCH SỬ THẾ GIỚI 1.1.Cổ xưa Lưỡng Hà 6

1.2 Ai cập 6

1.3 Đạo Do Thái 8

1.4 Cơ đốc giáo 8

1.5 Đạo Hồi 9

1.6 Ấn Độ giáo 9

Chương 3:SO SÁNH TỊNH ĐỘ CÕI PHẬT A DI ĐÀ VÀ THIÊN ĐÀNG CÕI CHÚA 3.1 Những khái niệm về Thiên đàng và Tịnh độ 10

3.2 Sự ra đời của kinh Thánh 11

C.KẾT LUẬN 13

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:

Con người ai cũng có ước mơ Kẻ thì mơ cảnh giàu sang, người thì mơ được thông minh, xinh đẹp, người khác lại mơ được nổi tiếng… Cứ 100 người thì có lẽ đã có đến

101 ước mơ! Hễ đời sống thực tế càng bế tắc thì con người lại càng ước mơ nhiều, để

bù đắp vào những cái còn thiếu trong cuộc sống Cũng như khi đời sống nội tâm càng nghèo nàn thì người ta càng hướng về ngoại vật.Nhưng có lẽ ước mơ muôn thuở của tất cả loài người - kể từ thời nguyên thủy cho đến thời hiện đại, và còn kéo dài mãi đến khi vào con người còn tồn tại - là được đến một cõi bình yên sau khi chết Cõi đó được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: thiên đàng, thiên giới, nước của Chúa, Tây phương Cực lạc, Niết-bàn, Bồng lai tiên cảnh, cõi vĩnh hằng v.v… Nhưng dù có được gọi bất kỳ danh xưng nào đi nữa thì chúng cũng đều chỉ chung cho một cõi bình yên vĩnh cửu và lạc phúc vô biên mà con người muốn hướng đến, sau khi lìa bỏ cái cõi thế phù du đầy biến động này.Tôn giáo nào cũng xây dựng nên cõi vĩnh hằng đó để làm chỗ an trú đời đời cho tín đồ sau khi chết Và muôn triệu tín đồ khắp nơi đều lo toan tìm mọi cách xin cho được “visa” để nhập cư vào chốn đó.Cõi chết vẫn mãi mãi là một điều vô cùng bí ẩn đối với con người Đó là một vùng đất huyền bí mà sau khi đặt chân đến đó thì ta không còn đường quay về lại với trần gian Cho nên nếu con người

lý giải được bản chất của cái chết thì có lẽ tôn giáo không còn lý do để tồn tại nữa Người ta làm việc thiện, dốc lòng tin tưởng thánh thần, xây đền tạc tượng, thậm chí bỏ

cả tiền bạc ra để hối lộ thần linh - cả một cảnh tượng huyên náo đang diễn ra ầm ĩ nơi trần thế cả hàng ngàn năm qua - cũng chỉ để tìm cách chen nhau vào chốn được hình dung là cõi tĩnh lặng muôn đời kia Ngay cả Phật giáo là một tôn giáo chủ trương chối

bỏ thần linh, khước từ thế giới của chư thần, chỉ dùng trí tuệ quán chiếu vào bản chất như thực của cuộc sống để đạt đến trạng thái giải thoát; vậy mà trải qua mấy ngàn năm truyền giáo, vô số chư vị Bồ-tát quảng đại thần thông cùng chư thần lần lượt được sản sinh ra - do cuộc hôn phối với các tín ngưỡng bình dân bản địa - và xuất hiện khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới để đáp ứng lại tín ngưỡng bình dân đó của đại chúng.Ta có thể gọi đó là mê tín, nhưng chính cảnh tượng đó đã khiến cho trần gian thêm hương sắc Nếu hoạt động tôn giáo chỉ gói gọn trong việc tĩnh tọa nơi thâm sơn cùng cốc, trong các thảo am u tịch, hay các cuộc vấn đáp tại các thiền đường để thể nghiệm và hội nhập chân lý, hoặc ngồi cầu nguyện trong cô tịch để nhận được thiên khải từ Thượng đế v.v thì những ngày đại lễ như Phật đản hay Noel nơi trần gian ắt

sẽ tẻ nhạt lắm Có lẽ nó chỉ còn lại phần “lễ” trang nghiêm nặng nề nghi thức, mà thiếu đi sự nhộn nhịp xôn xao của phần “hội” Mà chính phần “hội” mới thường giúp con người hăng say trong các hoạt động tôn giáo.Ước mơ được lên thiên đàng là ước

mơ hoàn toàn chính đáng của loài người Nhưng chúng ta hãy thử tự hỏi những tín đồ thuần thành, dốc lòng sùng đạo đó, những người được cho là đã “siêu thăng” hay “giải thoát” đó sẽ làm gì sau khi được vào cõi được gọi là thiên đàng hay Tây phương cực lạc? Còn những tín đồ đã chết và đang chờ Ngày phán xét cuối cùng trong hàng ngàn năm qua hiện đang làm gì và sống nơi đâu, trong vũ trụ?Được sống đời đời với cuộc sống tràn đầy lạc phúc nơi cõi đó, không còn lo chuyện áo cơm, không còn buồn sầu phiền não, ngày ngày được chiêm ngưỡng Thượng đế trong ánh hào quang rực rỡ với niềm kính sợ, được nghe thiên thần ca hát hoặc nhìn tiên nữ lượn múa trong những khu vườn đầy kỳ hoa dị thảo, hoặc được sống trong các tòa lâu các làm bằng thất bảo

Trang 5

như kinh điển mô tả v.v ngày nào cũng trôi qua như ngày nấy cho đến vô tận, không còn đến khái niệm thời gian; đó có thực sự là cảnh giới đầy lạc phúc?.Vì lý do đó học viên chọn đề tài “Tìm hiểu về Thiên đàng, Thiên giới của các tôn giáo” làm đề tài tiểu luận của mình

2.Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp: phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, diễn dịch, quy nạp… để nghiên cứu, phân tích và trình bày tiểu luận,từ đó đi đến kết luận để làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

3.Nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu : Tìm hiểu về Thiên đàng, Thiên giới của các tôn giáo

4.Bố cục tiểu luận:

Gồm 4 phần :

Mở đầu&Nội dung.Nội dung gồm 03 chương

Phần kết luận & Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

A NỘI DUNG

Chương 1 TÌM HIỂU VỀ THIÊN ĐÀNG

1.1.Khái niệm thiên đàng

Thật ra đối với người Việt nam chúng ta thì từ ngữ Thiên đàng dường như không có trong tiếng Việt Vì ảnh hưởng văn hóa Tam giáo (Phật, Nho, Lão) từ Trung quốc, nên người Việt nam chỉ biết về một nơi Niết bàn cực lạc, mà từ ngữ quen thuộc là Tây phương cực lạc (đúng ra Tây phương chỉ về nơi phát sinh Phật giáo là Ấn Độ), hoặc Bồng lai Tiên cảnh với các thần tiên ăn mặc và mang tên theo kiểu người Trung quốc Phải nói là từ khi người Việt nam tiếp xúc với Cơ-đốc giáo (Công giáo Lamã và Tin Lành) thì danh từ Thiên đàng mới xuất hiện trong tư tưởng của người Việt nam.Đây là những khái niệm về Thiên đàng của thế giới:“Trong khi có vô số các khái niệm khác nhau về thiên đàng thì quan niệm tiêu biểu của những người tin vào thiên đàng thường phụ thuộc vào truyền thống tôn giáo riêng biệt của họ Các tôn giáo khác nhau miêu tả thiên đàng là nơi chốn dành cho thiên sứ, ma quỷ, các nam và nữ thần, cũng như các

vị anh hùng (nhất là trong Thần thoại Hi Lạp) Thiên đàng thường được hiểu là nơi chốn của phước hạnh, đôi khi được hiểu là chỗ ở phước hạnh vĩnh cửu.”Trong phần lớn các giáo hội thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo, thiên đàng là sự trở lại tình trạng trước khi sa ngã của loài người, sự tái lập Vườn Eden, ở đó con người được tái hợp với Thiên Chúa trong tình trạng toàn hảo và tự nhiên của sự sống đời đời Tín hữu Cơ Đốc tin rằng sự tái hợp này giữa con người và Thiên Chúa được hoàn tất qua sự hi sinh của Chúa Giê-xu Cơ Đốc khi Ngài chết trên thập tự giá vì tội lỗi của loài người.Quan niệm phổ biến của hầu hết các tôn giáo là khi vừa lìa đời, con người sẽ bước ngay vào thiên đàng Tuy nhiên, không phải tất cả tín hữu Cơ Đốc chia sẻ niềm tin này Nhiều người trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tin rằng trước khi vào thiên đàng cần phải chờ đợi “cho đến khi thế gian này qua đi”.Trong thần học Cơ Đốc, có hai khái niệm hỗ tương về thiên đàng thường được gọi là “sự sống lại của thân xác” và “sự bất diệt của linh hồn” Trong khái niệm đầu, linh hồn sẽ không lên thiên đàng cho đến khi có sự phán xét sau cùng là lúc thân xác được hồi sinh và mọi người chịu xét xử Trong khái niệm sau, linh hồn lên thẳng thiên đàng sau khi chết Cả hai khái niệm này được kết hợp trong học thuyết hai lần phán xét, theo đó linh hồn chịu phán xét lần đầu sau khi chết để vào ở một nơi phước hạnh tạm thời (paradise) trong khi chờ đợi sự phán xét lần thứ hai trong ngày tận thế”.1Đó là những suy đoán hay suy nghĩ của con người đối với Thiên đàng Thế thì Kinh thánh nói gì về Thiên đàng? Thiên đàng là chốn nào? Thiên đàng có thật không? Bao nhiêu là câu hỏi được đặt ra và chỉ có Kinh thánh là đầy đủ lời giải thích

1.2.Thiên đàng ở đâu

Để trả lời câu hỏi Thiên đàng ở đâu? chúng ta cần trả lời hai phương diện: sai và đúng

a Phương diện hiểu sai:

1 Thiên đàng ở trên trời:

Thông thường, người Việt nam chúng ta khi nghe nói đến chữ thiên bao giờ cũng ngước mặt lên phía trên bầu khí quyển, hoặc tay chỉ lên phía trên Nếu đứng phía bên này quả đất thì chỉ lên, trong lúc đó những người ở phía dưới quả đất sẽ chỉ vào đâu?

Trang 7

Cách hiểu này khiến nhiều người khi nghe đến địa ngục thì lại chỉ vào lòng đất.

Nếu theo thuyết vũ trụ trương nở thì vũ trụ càng ngày càng rộng ra Nói như người Việt nam xưa kể rằng ngày xưa Trời ở gần loài người, con người có thể lên trời chơi được, nhưng vì loài người cứ kêu trời ơi trời hỡi làm cho Trời nhức đầu nên càng ngày càng xa Nói và hiểu như thế thì Thiên đàng cách xa loài người biết bao nhiêu, ít nhất cũng vượt ngoài vũ trụ này.Thật ra người Việt nam chúng ta khi nói Thiên đàng ở trên trời là một lối nói ẩn tượng ám chỉ Thiên đàng ở phía trên và xa lắm! nhưng không xác định một vị trí chắc chắn, chỉ xác định là Thiên đàng thực hữu và có địa điểm

2 Thiên đàng là chốn hưởng lạc:

Theo cách giải thích của một lý thuyết tôn giáo thì Thiên đàng là nơi hưởng lạc với rượu ngon gái đẹp, hoa thơm Chính vì lời giải thích này khiến cho nhiều người gọi những chốn ăn chơi hoang đàng trên đất là Thiên đàng Một sự cố ý lệch lạc hạ cấp Thiên đàng đáng trách!

3 Thiên đàng là nơi tĩnh lặng vô vi:

Người Việt nam rất quen thuộc với Triết lý Phật giáo, nên cũng quen thuộc với giáo thuyết về Niết bàn cực lạc Phật giáo dạy rằng Niết bàn là nơi không có gió (theo nghĩa đen của chữ Niết bàn), tức là nơi tĩnh lặng Khi nhập Niết bàn, thì không còn vướng bận, đã diệt được cái nghiệp Nói thì nói thế nhưng không ai dám nhận mình có

đủ căn tu để nhập Niết bàn.Lời giải thích này gần giống như quan niệm của Do thái thời Cựu Ước được ghi trong Truyền đạo 9:10, Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình; vì dưới Âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu

kế, cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan, chỉ khác chăng là người Do thái gọi nơi đó là Âm phủ, không gọi đó là Thiên đàng

4 Thiên đàng là Nước Thiên đàng:

Nhiều người Việt nam tin Chúa Jêsus thường hiểu lầm Nước Thiên đàng trong các sách Tin Lành là Thiên đàng.Nước Thiên đàng mà Chúa Jêsus nói đến trong các sách Tin Lành trong các bài giảng của Ngài không phải là Thiên đàng Theo Mathiơ 13, bài giảng mà Chúa Jêsus nói đến Nước Thiên đàng nhiều nhất và rõ ràng nhất, Nước Thiên đàng chính là Hội thánh hữu hình của Chúa trên đất, có thể bị xen lẫn những cái xấu, cái ác từ ma quỉ như lúa mì bị cỏ lùng xen vào, (như tay lưới kéo lên có cá mà cũng có các thứ không cần thiết khác…) Mặc dù vậy, trong Hội thánh hữu hình cũng

có những hình bóng về Thiên đàng: như sự ca hát ngợi khen thờ phượng Chúa

5 Thiên đàng là Ba-ra-đi:

Trong sách Tin Lành Luca, hai lần Chúa Jêsus đề cập đến một chỗ phước hạnh nhưng không phải là Thiên đàng:

- Luca 16:22a, người nghèo chết (Laxarơ) được thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham, nơi này là nơi phước hạnh khác hẳn phần Âm phủ mà người giàu bị đau đớn khi vào

đó Nhưng Chúa Jêsus không gọi nơi này là Thiên đàng

- Luca 23:43, Chúa Jêsus hứa với tên ăn cướp trên thập tự giá ăn năn tin Ngài rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi Nhưng tham khảo với I Phierơ 3:19 và Bài Tín điều các Sứ đồ, thì sau khi trút linh hồn trên thập tự giá, thì Chúa Jêsus đã vào Âm phủ giảng Tin Lành cho các linh hồn

bị tù Như vậy, tên cướp ăn năn tin Chúa Jêsus khi chết lúc đó chưa vào Thiên đàng

mà vào Ba-ra-đi (Paradise), là phần Âm phủ dành cho người thiện Tuy nhiên, điều phải nhớ là chúng ta chỉ đang nói về phần nhân tánh của Chúa Jêsus giới hạn trong một nơi, về phần thần tánh thì Ngài vẫn là Đức Chúa Trời vô sở bất tại ở khắp mọi

Trang 8

nơi.Điều quan trọng là sau khi Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết, Ngài đã giải phóng tất cả những người trong Ba-ra-đi (Êphêsô 4:8-10), từ lúc đó, tất cả người tin Chúa Jêsus qua đời, linh hồn trực tiếp gặp Chúa, còn thân thể chờ đợi ngày Chúa Jêsus tái lâm để họ được sống lại

6 Thiên đàng là Địa đàng:

Có những người ngày nay lại chủ trương họ sẽ thực hiện loại Thiên đàng trên đất mà

họ gọi là Địa đàng.Sau năm 1975, các Mục sư Truyền đạo Việt nam được mời nghe một người không tin Chúa thuyết trình về cái gọi là Địa đàng, tức là Thiên đàng trên đất qua Khải huyền 21:4 với các lý giải như sau:

- Địa đàng của người đó không có sự chết: không phải là không chết mà là không chết cách vô cớ, vô lý Thí dụ trong Địa đàng khi một người có bịnh thì có Bịnh viện không tốn tiền, được điều trị tận tình, thuốc men đầy đủ hoàn toàn miễn phí

- Địa đàng của người đó không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa Người đó đặt câu hỏi: Tại sao có than khóc, kêu ca hay là đau đớn? Khi có áp bức trong xã hội thì người ta sẽ than khóc, kêu ca, hay là đau đớn Vì vậy trong Địa đàng không còn tình trạng người bóc lột người, mà mọi người đều bình đẳng

Đó giọng lưỡi của con rắn ngày xưa (chỉ tiếc là rất nhiều mục sư truyền đạo đã vỗ tay tán thưởng lời của con rắn) Thực tế như Chúa phán trong Giêrêmi 13:23, Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được, Địa đàng không thấy, chỉ thấy Địa ngục Thiên đàng không phải chỉ cảnh an nhàn trên đất mà còn trên cả tuyệt vời

b Phương diện Kinh thánh:

Trong nguyên ngữ tiếng Hi-bá-lai Cựu Ước (sāmayim) và Hi-lạp Tân Ước (ouranos) được dịch nghĩa là Trời Từ ngữ này có ba ý nghĩa:

- Trời là bầu khí quyển bao quanh trái đất, do đó thường xuất hiện với số nhiều (các từng trời (Thi thiên 19:1; II Côrintô 12:2; Hêb 4:14)

- Theo ngôn ngữ bình dân của người Việt nam, Trời cũng gần như một hành tinh, do

đó người Việt nam thường nói “trời đất”, cũng nói “trời cha đất mẹ” Truyền thuyết sự tích bánh giầy bánh chưng đã nói lên ý tưởng so sánh trời là một hành tinh như trái đất, trời tròn đất vuông

- Ý thứ ba, Trời chỉ về một nơi thuộc linh, nơi người tin Chúa Jêsus gọi là Thiên đàng, nơi ở của Đức Chúa Trời, và của những người liên hệ gần gũi với Chúa Người Y-sơ-ra-ên cầu nguyện: “Cầu Chúa từ nơi cư sở thánh của Ngài trên trời cao” (Phục truyền 26:15)

Đức Chúa Trời được xưng gọi là “Đức Chúa Trời trên trời” (Giô-na 1:9) Kinh thánh Tân Ước hoặc ám chỉ hoặc nói rõ trời là Thiên đàng, nơi Đức Chúa Trời ngự (Mathiơ 5:45; 7:21) Đôi khi trong tiếng Việt hiểu Ba-ra-đi là Thiên đàng (Luca 16:22a; 23:43; Khải 2:7), có lẽ chỉ để mô tả nơi đó đầy phước hạnh, dù chưa phải là phước trọn vẹn Trong Việt ngữ, dịch âm Hán tự gọi Thiên đàng gồm thiên là trời; đàng (hay đường)

là nhà, nơi ở, vậy Thiên đàng (hay Thiên đường) là nhà trên trời, hay nhà của Đức Chúa Trời Theo một cách định nghĩa rộng rãi thì Thiên đàng là nơi Chúa ngự, ngược lại nơi nào Chúa ngự thì nơi đó là Thiên đàng Trong Thánh ca có một bài tựa đề Jêsus ngự cùng, ấy nơi thiên cung, có câu: “Dầu thân trên đất dồi dập, lao đao, qua bao dặm dài, trải lắm đồi cao; Nhà xiêu vách nát, kèo cột lung lay, Jêsus ngự vào, hóa thiên cung ngay… Dầu qua thương hải, lục địa mênh mông, Jêsus ngự cùng, ấy nơi thiên cung” Hát như thế có nghĩa Thiên đàng là nơi có Chúa ngự

Trang 9

Chương 2 THIÊN ĐÀNG TRONG TÔN GIÁO VÀ LỊCH SỬ THẾ GIỚI

2.1.Cổ xưa Lưỡng Hà

Thần thoại sáng tạo của Mesopotamia cổ đại thường bắt đầu bằng sự phân tách của trời và đất, tạo ra một vũ trụ ba tầng bao gồm thiên đường ở trên, đất ở giữa vàthế giới ngầm bên dưới Các vị thần tối cao trị vì trên trời như một hội đồng hoặc hội đồng Trái đất là vương quốc của con người phàm trần, có mục đích phục vụ các vị thần bằng cách cung cấp cho họ nơi ở thiêng liêng, thức ăn và cống phẩm; nó cũng là nơi

cư trú của các vị thần nhỏ và ác quỷ đóng vai trò trong phép thuật Khi chết, con người xuống âm phủ, một vùng đất ảm đạm không lối về; chỉ một số anh hùng nhân loại đặc biệt mới được phép vào thiên đàng.Trong sử thi của Gilgamesh , một chu kỳ truyền thuyết của người Sumer và người Akkad về vị vua của thành phố-bang Mesopotamian Uruk, Gilgamesh tìm kiếm sự bất tử nhưng không thành công chỉ để có được sự thật tỉnh táo về cái chết của con người: “Khi các vị thần tạo ra loài người, cái chết cho loài người mà họ phân bổ, cuộc sống nằm trong tay của chính họ " Mối quan

hệ tốt với thiên đàng dù sao cũng được coi là điều quan trọng đối với hạnh phúc của người sống Sử thi Gilgamesh cho thấy trật tự xã hội của Uruk không chỉ bị đe dọa bởi tham vọng chinh phục cái chết phi thực tế của Gilgamesh mà còn bởi việc anh ta không muốn tham gia vào cuộc hôn nhân thiêng liêng với nữ thần Ishtar(Tiếng Sumer: Inanna), nơi có ngôi đền là trung tâm của đời sống dân sự và dân tộc Mối quan tâm đến mối quan hệ tốt đẹp với thiên đàng cũng được phản ánh trong khối lượng lớn các văn bản Lưỡng Hà dành cho quan sát thiên thể, lý thuyết thiên văn và truyền thuyết chiêm tinh, tất cả đều phục vụ cho việc phân biệt và đối phó với ảnh hưởng của thiên

đường đối với các vấn đề của con người

2.2 Ai cập

Sự nhấn mạnh thậm chí còn lớn hơn về vai trò của người cai trị như là người bảo đảm các mối quan hệ đúng đắn với thiên đàng, đặc trưng của nền văn minh Ai Cập cổ đại trong suốt lịch sử 3.000 năm của nó Nhà vua chia sẻ với thần mặt trời Re và thần bầu trời Horus trách nhiệm bảo vệ trật tự chống lại sự hỗn loạn , và ông được ban đặc ân tận hưởng cuộc sống tái tạo như một phần của mạch vũ trụ vĩ đại Rằng cuộc sống tái tạo này phụ thuộc vào sự hỗ trợ lớn từ các ngôi mộ lớn, hàng mộ và các nghi lễ nhà xác công phuThiên đường được hình dung trong thần thoại như một con bò thần trên lưng mà thần mặt trời đã rút khỏi trái đất; trong vai thần Horus đầu chim ưng có đôi mắt long lanh tạo nên Mặt trời và Mặt trăng; hoặc như nữ thần Nut vòm trên trái đất Tuy nhiên, một thế giới bên kia hạnh phúc có thể diễn ra ở bất kỳ địa điểm nào: trong Cánh đồng Tháp Mười màu mỡ, với tư cách là một hành khách trong vỏ mặt trời, ở cực Tây hoặc Đông, hoặc giữa các ngôi sao quanh cực Nội dung Kim tự tháp hình dung một thế giới bên kia hạnh phúc chỉ dành cho hoàng gia; vị vua chết được xác định vớiOsiris cũng như với chiến thắng mặt trời mọc CácCoffin Texts and the Book

of the Dead , trong đó thế giới bên kia ở một mức độ nào đó được “dân chủ hóa”, xác định tất cả những người đã khuất với Osiris với tư cách là thẩm phán và người cai trị thế giới ngầm

2.3 Đạo Do Thái

Trang 10

Đúng như nguồn gốc Trung Đông của nó, đạo Do Thái cổ đại lúc đầu nhấn mạnh vào

sự tách biệt của trời và đất và ít nói về viễn cảnh của một thế giới bên kia trên trời:

"Các trời là trời của CHÚA, nhưng là đất mà Ngài đã ban cho loài người" (Thi-thiên 115: 16) Thiên đường (trong tiếng Do Thái, šāmayim số nhiều ) là một cõi rộng lớn phía trên trái đất, được nâng đỡ bởi một khối cứng rắn bằng đá quý chói lọi, giữ cho vùng nước phía trên không hòa lẫn với vùng nước bên dưới Mặt trời, Mặt trăng và các ngôi sao được đặt trong nền tảng vững chắc và các cửa sổ có thể mở ra để trút mưa, tuyết, mưa đá hoặc sương từ các kho thiên thể Đức Chúa Trời, Đấng tạo dựng trời và đất, đã được tôn phong ở nơi cao nhất của trời; từ đó, ông can thiệp vào công việc của các tạo vật của mình và được tiết lộ qua Môi-se.và các tiên tri về quyền tối cao , sự chăm sóc quan phòng, và những đòi hỏi cao nhất và đạo đức của Ngài Bao quanh ngai vàng thần thánh là một loạt các sinh vật mặt trời, vật thể và thiên thần trên trời Những thiên thể này chia sẻ nhiều thuộc tính với các vị thần và nữ thần của người Ca-na-an và tín ngưỡng đa thần Lưỡng Hà , nhưng thuyết độc thần mới nổi trong Kinh thánh tiếng Do Thái đòi hỏi sự cam kết độc quyền với một Đức Chúa Trời, được gọi

là Chúa, Đấng mà mọi quyền lực trên trời và dưới đất đều phải tuân theo Trong Do Thái giáo cổ đại, cũng như trong các tôn giáo Trung Đông khác vào thời kỳ đó, vũ trụ

có cấu trúc ba tầng Đức Chúa Trời ngự trên trời và cũng hiện diện trong Đền thờ Giê-ru-sa-lem , cung điện của Ngài trên đất Thế giới ngầm (tiếng Do Thái: She'ōl ), nơi con người được ký gửi khi chết, dường như nằm ngoài quyền hạn của Chúa Bức ảnh này đã thay đổi đáng kể, tuy nhiên, để đáp ứng với Babylon Exile và sự tàn phá của đền thờ đầu tiên năm 586 TCN , là niềm tin bắt đầu nắm lấy rằng phải có không có giới hạn quyền lực của Thiên Chúa để minh oanngười của mình ngay cả sau khi chết Trong thời kỳ hậu phát triển, kinh nghiệm về sự cai trị của ngoại bang đã thúc đẩy khao khát được giải thoát trong tương lai, khuyến khích sự suy đoán bị ảnh hưởng bởi các mô hình vũ trụ học , thiên thần học và sự bất tử của Ba Tư và Hy Lạp , đồng thời sản sinh ra những người tử vì đạo có tuyên bố về thế giới bên kia trên trời dường như đặc biệt mạnh mẽ Do đóSách Đa-ni-ên , được coi là sáng tác mới nhất trong Kinh thánh tiếng Do Thái, chứa đựng lời tiên tri này: Nhiều người trong số những người ngủ trong bụi đất sẽ thức giấc, một số được sống đời đời, và một số phải xấu hổ và khinh bỉ đời đời Những ai khôn ngoan sẽ tỏa sáng như ánh sáng của bầu trời, và những người dẫn nhiều người đến sự công bình, như các vì sao cho đến đời đời (12: 2–3)Trong khi niềm tin vào một thế giới bên kia trời trở nên phổ biến trong Age Hy Lạp (323-30 TCN ), không có mô hình đơn chiếm ưu thế, mà là một phong phú của hình ảnh và các chương trình, trong đó có sự sống lại của kẻ chết, sự bất tử của linh hồn, và chuyển đổi thành một thiên thần hay ngôi sao Các cuộc hành trình nhìn xa trông rộng qua các tầng trời (được coi như một hệ thống phân cấp của các quả cầu) đã trở thành một yếu tố quan trọng của văn học khải huyền , và các nhà thần bí Do Thái

đã tạo ra một truyền thuyết thần học rộng lớn liên quan đến các cung điện trên trời, các quyền năng thiên thần và các kích thước của cơ thể Chúa Dấu vết của sự thần bí

về thiên đàng này vẫn có thể được tìm thấy trong sách cầu nguyện của người Do Thái (siddur ).Cổ điển Rabbinic Judaism, which emerged after the destruction of the Second Temple (70 ce) and established the main lines on which Jewish eschatology would develop, admitted a plurality of images for heaven; the expression ʿolam ha-ba (“the world to come”) refers both to the messianic age and to the heavenly estate to which the righteous ascend at death After death, righteous souls await the resurrection

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w