1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TIỂU LUẬN các tộc NGƯỜI ở VIỆT NAM

31 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dân Tộc, Những Nét Đặc Trưng Văn Hóa Của Tộc Người Gia Rai
Tác giả Lê Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS-TS. Nguyễn Hữu Thức
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương
Chuyên ngành Văn Hóa – Nghệ Thuật
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Gia Lai
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 210 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG KHOA VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT TIỂU LUẬN MÔN CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM Đề tài DÂN TỘC, NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI GIA RAI ĐẶC ĐIỂM CỦA MỐI.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

KHOA VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

TIỂU LUẬN

MÔN: CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Đề tài: DÂN TỘC, NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI GIA RAI ĐẶC ĐIỂM CỦA MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS-TS NGUYỄN HỮU THỨC

GIA LAI NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của tiểu luận 3

Chương 1 Khái niệm dân tộc 4

1.1 Khái niệm dân tộc 4

1.2 Các nét đặc trưng cơ bản 6

1.2.1 Cộng đồng ngôn ngữ 7

1.2.2 Cộng đồng văn hóa 7

1.2.3 Ý thức tự giác tộc người 8

Chương 2 Các đặc trưng văn hóa của tộc người Gia Rai 9

2.1 Một số yếu tố văn hóa vật chất 9

2.1.1 Ẩm thực 9

2.1.2 Trang phục 9

2.1.3 Kiến trúc nhà ở 11

2.2 Một số yếu tố văn hóa tinh thần 14

2.2.1 Đời sống và quan hệ xã hội 14

2.2.2 Cưới xin 15

2.2.3 Ma chay 15

2.2.4 Tín ngưỡng 16

2.2.5 Văn hóa văn nghệ 16

Chương 3 Đặc điểm của mối quan hệ dân tộc 18

3.1 Về quan hệ dân tộc 18

3.2 Đặc điểm mối quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay 19

Trang 3

3.3 Những vấn đề đặt ra hiện nay để giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc ở

nước ta 22KẾT LUẬN 25TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Các dân tộc ở Việt Nam có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực trong quátrình cùng tồn tại và phát triển Từ khi ra đời và suốt trong quá trình lãnh đạocách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chí Minh luôn luôn coi việc xây dựngquan hệ đoàn kết, bình đẳng, hữu nghị giữa các dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩachiến lược Chính sách dân tộc của đảng vì thế luôn nhằm vào khắc phục từngbước sự chênh lệch giữa các dân tộc, thực sự bình đẳng, cùng làm chủ tổ quốc,cùng đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và nhà nước ta luôn luônnhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, pháthuy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dântộc vì mục tiêu độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng văn minh

Bước sang thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng đất nước, nhân dân tacàng có điều kiện để thưc hiện tốt hơn việc tăng cường, mở rộng khối đoàn kếttoàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên cao nhất sức mạnhdân tộc để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc lànhững vấn đề rất lớn, phức tạp và nhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề nàyđang cần được nghiên cứu, giải quyết cả về lý luận và thực tiễn Những vấn đềthời sự liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế giới cũng như trong nước

mà cụ thể ở đây là những nét văn hóa đặc trưng của tộc người Gia Rai ở tỉnhGia Lai, đang làm cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về những nội dung trở lên rấtquan trọng và bức thiết Đây chính là lý do tôi chọn đề tài: “Dân tộc, những nétvăn hóa đặc trưng của tộc người Gia Rai và những đặc điểm mối quan hệ dân

Trang 5

tộc ở Việt Nam hiện nay” làm bài viết tiểu luận kết thúc môn của mình.

Dưới góc độ chính trị xã hội, việc nghiên cứu vấn đề dân tộc chủ yếu làtìm ra những vấn đề có tính quy luật của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc,quá trình phát triển phồn vinh và xích lại gần nhau của các dân tộc, sự thiết lậpquan hệ đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc Quan hệ dân tộc cũng như quan

hệ giai cấp và các mối quan hệ xã hội khác đều có những cơ sở khách quan,nhưng yếu tố để bảo đảm cho nó tồn tại, phát triển và vận động theo những xuhướng nhất định có tính qui luật của nó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu.

Nhằm bước đầu đặt ra những vần đề cần đi sâu nghiên cứu và tìm hiểumột số yếu tố rất cơ bản là cơ sở khách quan bảo đảm cho sự phát triển vữngchắc quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 6

Là luận giải một cách khái quát về quan hệ dân tộc và đặc điểm quan hệdân tộc của nước ta, làm căn cứ khoa học để nhận biết, xây dựng và tiếp cậnnhững yếu tố cụ thể tác động đến sự phát triển quan hệ dân tộc ở nước ta hiệnnay.

4 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp chủ yếu là phân tích, tổng hợp vấn đề

5 Bố cục tiểu luận.

Ngoài phần Mục lục, Tài liệu tham khảo, mở đầu và kết luận, tiểu luậngồm 3 chương

Chương 1: Khái niệm dân tộc

Chương 2: Các đặc trưng văn hóa của tộc người Gia Rai

Chương 3: Đặc điểm của mối quan hệ dân tộc

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM DÂN TỘC 1.1 Khái niệm dân tộc.

Hiện nay, trong ngôn ngữ diễn đạt hay trong nhận thức, quan niệm củachúng ta, khái niệm dân tộc được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ Khái niệm nàyđược sử dụng trong nhiều ngành khoa học bởi dân tộc không chỉ là đối tượngriêng của ngành dân tộc học ở mức độ khác nhau, dân tộc và các vấn đề dân tộcđều được các khoa học như: sử học, tâm lý học, văn hoá học… nghiên cứu Tuynhiên, các dân tộc là đối tượng nghiên cứu trực tiếp của khoa học dân tộc học -một ngành khoa học ra đời từ thế kỷ XIX và ngày càng phát triển, đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay

Một khái niệm trong khoa học xã hội và nhân văn được định nghĩa, đượchiểu khác nhau là hiện tượng phổ biến, với tư cách là đối tượng của một ngànhkhoa học cụ thể, ở nước ta cần sớm có quan niệm thống nhất dựa trên nhữngtiêu chí chung của khái niệm dân tộc, bởi vấn đề không chỉ liên quan đến nhậnthức khái niệm dưới góc độ khoa học mà còn liên quan đế nhận thức trong hoạtđộng thực tiễn Khái niệm dân tộc liên quan trực tiếp đến việc xác định thànhphần dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, giải quyết các quan hệ dân tộc màtrực tiếp là việc đưa ra và thực hiện đúng chính sách dân tộc

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì: dân tộc được hiểu theo 4 nghĩa, trước hếtdân tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, cácquan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tínhcách, ví dụ như: Dân tộc Việt, dân tộc Nga…

Thứ hai, dân tộc là tên gọi chung những cộng đồng người cùng chungmột ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từsau bộ lạc Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc, đoàn kết các dân tộc để cứu

Trang 8

Thứ ba, dân tộc nói tắt có nghĩa là dân tộc thiểu số

Thứ tư, dân tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân mộtnước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chínhtrị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung

Trong từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm dân tộc được định nghĩa:

“Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉđạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tậphợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mangtính tộc người ( ethnie) của bộ phận tộc người tính chất của dân tộc phụ thuộcvào những phương thức sản xuất khác nhau Bước vào giai đoạn công nghiệp,

rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây, do yêu cầu xoá bỏ tính cát cứ của cáclãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị trường chung, nên cộng đồngdân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng,phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội trong khu vực và bản thân.Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dântộc Tày, dân tộc Bana…Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số củamột dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kếtvới nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và nhất là ý thức tự giác tộcngười”

Khi đưa ra khái niệm dân tộc - tộc người, các nhà dân tộc học đều quantâm đến những tiêu chí xác định dân tộc Cũng như việc xác định các tiêu chíkhác nhau dẫn đến các định nghĩa hay quan niệm chưa hoàn toàn thống nhất

Về phương diện dân tộc học, theo cách hiểu truyền thống thì dân tộc là kháiniệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định được hình thành và phát triểntrong những điều kiện lịch sử nhất định với một số đặc trưng cơ bản là:

- Có một lãnh thổ chung

Trang 9

- Phương thức sinh hoạt kinh tế chung.

- Ngôn ngữ giao tiếp chung

- Tâm lý chung biểu hiện trong văn hoá dân tộc

Quan niệm này cho đến nay vẫn tồn tại trong nhiều công trình nghiên cứutrong và ngoài nước Tuy nhiên, vấn đề xác định các tiêu chí tộc người là rấtphức tạp Ở Việt Nam, nhiều quan điểm về tiêu chí xác định thành phần dân tộc

đã được tập hợp trong cuốn sách Vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu

số ở Miền Bắc Việt Nam Đa số các nhà dân tộc học Việt Nam cho rằng, cộngđồng tộc người hay là dân tộc phải được coi là đơn vị cơ bản để tiến hành xácminh thành phần các dân tộc Khi nêu lên tầm quan trọng của lãnh thổ như làmột điều kiện quan trọng của lãnh thổ như là một điều kiện quan trọng làm xuấthiện và tồn tại tộc người, nhưng trong tình hình biến động về lãnh thổ diễn raphức tạp, ở nhiều quốc gia đa dân tộc, vấn đề lãnh thổ tộc người rất khó xácđịnh Bởi vậy, lãnh thổ hay địa vực cư trú không được coi là tiêu chí khi xácđịnh thành phần tộc người ở Việt Nam Thông qua các hội thảo khoa học, hầuhết các ý kiến đều tán thành ba tiêu chí xác định thành phần dân tộc, đó lànhững đặc trưng về tiếng nói, về đặc điểm sinh hoạt văn hoá và ý thức tự giáctộc người được coi là tiêu chuẩn chủ yếu 3 Đây cũng là quan điểm của dân tộchọc hiện nay

1.2 Các nét đặc trưng cơ bản.

Như vậy, từ quan niệm truyền thống, coi cộng đồng tộc người hay dântộc là một tập đoàn người tương đối ổn định hoặc ổn định, được hình thànhtrong quá trình lịch sử dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, sinhhoạt kinh tế, tiếng nói, những đặc điểm sinh hoạt – văn hoá, và dựa trên ý thức

về thành phần và tên gọi chung, các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra mộtquan niệm về dân tộc, làm cơ sở để xác định các thành phần dân tộc ở nước talà: Dân tộc là một cộng đồng người tương đối ổn định hoặc ổn định, được hình

Trang 10

thành và phát triển trong lịch sử với ba đặc trưng làm tiêu chí cơ bản:

1.2.2 Cộng đồng văn hoá.

Những đặc điểm chung về văn hoá hay bản sắc văn hoá tộc người cũng làtiêu chí quan trọng để xem xét, phân định một dân tộc Những biểu hiện cụ thểcủa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần ở mỗi một dân tộc phản ánh nhữnggiá trị truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dântộc đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với lịch sử văn hoá, truyềnthống văn hoá của họ Rất nhiều dân tộc trải qua hàng ngàn năm phát triền vẫnkhông bị đồng hoá về văn hoá nhờ sức sống trường tồn của văn hoá dân tộc.Ngày nay cùng với xu thế giao lưu văn hoá vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn

Trang 11

và phát huy bản sắc văn hoá của mỗi một dân tộc như là su thế tất yếu đối với

sự phát triển dân tộc

1.2.3 Ý thức tự giác tộc người.

Đây là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí xem xét, phân định mộtdân tộc Đặc trưng nổi bật ở các dân tộc, tộc người là luôn luôn tự ý thức về dântộc mình: Từ nguồn gốc đến tộc danh Đó cũng là ý thức tự khẳng định sự hiệntồn tại và phát triển của mỗi dân tộc dù có nhiều tác động hoặc thay đổi về địabàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hoá…Sựhình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến cácyếu tố của ý thức dân tộc, tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc Tuỳ thuộc vào nhiềuyếu tố khách quan và chủ quan khác nhau ở mỗi dân tộc, mà ý thức tự giác tộcngười được biểu hiện sinh động và đa dạng Nhưng đây vẫn là tiêu chí quantrọng, có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người

Ba tiêu chí vừa nêu đã tạo ra sự ổn định trong mỗi cộng đồng dân tộctrong quá trình phát triển tộc người Dân tộc là sản phẩm của lịch sử Vấn đềdân tộc vốn đã rất phức tạp do tính phức tạp của quá trình phát triển của các tộcngười, khái niệm “dân tộc” vì vậy là khái niệm đa nghĩa, đa cấp độ được sửdụng trong nhiềungành khoa học, đặc biệt là trong các ngành khoa học xã hội

và nhân văn Nhậnthức, sử dụng khái niệm dân tộc đòi hỏi phải đặt trong nhữngcảnh huống cụ thể.Dưới góc độ của dân tộc hay lý luận về dân tộc và chính sáchdân tộc, khái niệm“dân tộc” được xác định dựa trên những tiêu chí cơ bản vừanêu trên Ở nước ta,những tiêu chí cơ bản đó cũng là cơ sở để xác định cácthành phần dân tộc hay cáctộc người với các đặc điểm, sắc thái rất đa dạngtrong mỗi tộc người

Trang 12

CHƯƠNG 2 CÁC ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI GIA RAI.

2.1 Một số yếu tố văn hoá vật chất

2.1.1 Ẩm thực

Gạo tẻ là lương thực chính; lương thực phụ là ngô Thức ăn có rau, muối,

ớt, canh rau, lâu lâu mới có bữa thịt, cá Bữa cơm hàng ngày có thể cả gia đìnhngồi quanh nồi cơm, bát ớt hoặc chia thành từng phần cho mỗi người Bữatiệc, lấy ché rượu cần làm trung tâm, quanh đó có các món ăn đựng trên bát, đĩahoặc lá chuối để vừa ăn, vừa uống Khi rượu ngà say có hát, nhảy múa, đánhchiêng Trừ trẻ thơ, mọi người bất kể nam nữ đều hút thuốc lá Trong bữa ănthường ngày người Gia Rai thường dùng 2 món chính là xơi (cơm) và la rưk(rau)

2.1.2 Trang phục

Trong sinh hoạt hàng ngày, đàn ông Gia Rai đều đóng khố bằng vải trắng

có kẻ sọc nhiều màu, người địa phương gọi là Toai Ngoài ra, họ còn đội khăn,khăn được quấn theo lối nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặcquấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh Khố có hai loại, khố thường thìkhông có hoa văn trang trí, may bằng vải mộc để trắng, có một vài kẻ sọc màuđen Loại khố thứ hai là khố mặc trong nghi lễ hay còn gọi là Toai Kteh

Ngày lễ, đàn ông Gia Rai đóng khố bằng vải chàm dài khoảng 4m, rộngchừng 0,30m, có đường viền hoa văn và buông tua chỉ nhiều màu ở hai đầu vàđặc biệt không thể thiếu màu chàm Ngày nay, tộc người Gia Rai vẫn tồn tại hai

xu hướng, một nhóm ở trần và nhóm khác mặc áo Áo màu đen cộc tay (aolo)hoặc có loại dài tay, hở nách, khoét cổ chui đầu và có đường viền hoa văn chỉmàu chạy dọc hai sườn mang đậm dấu vết kiểu pông-sô Khi trời lạnh, họthường choàng thêm tấm mền hoặc vắt chéo trước ngực Có hai loại mền, mềnmàu chàm đen và mền màu chàm trắng Đường trang trí là những đường mép

Trang 13

vải trên khung dệt , hai đường trang trí giữa mền cũng là đường trang trí mépvải

Ở Gia Rai những người giàu có hoặc có thế quyền đều mặc áo chàm chekín mông, tay dài, chui đầu, có một mảng sợi màu đỏ làm khuy và khuyết cài từ

cổ đến ngực Dưới dải cúc là miếng vải đỏ hình vuông khâu đáp vào để làm dấuhiệu là áo

Về trang phục phụ nữ Phụ nữ có chồng ở Gia Rai thường để tóc dài, rồibúi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu Và cũng giống như nam giới, phụ nữGia Rai cũng mặc áo may kiểu chui đầu, cổ khoét cao, mở cúc ở đường bờ vai,

có trang trí các dải hoa văn ở chân gấu áo, ngang ngực, hai bên vai, nách và trênhai cánh tay áo, riêng nhóm Gia Rai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V vàcác loại cổ phổ biến Nét nổi bật trên tà áo của phụ nữ Gia Rai là những dải hoavăn màu đỏ rực lên làm lu mờ nền màu chàm đen

Phụ nữ Gia Rai mặc váy màu chàm dài ngang bắp chân, quanh thân vàgấu váy dệt nhiều đường hoa văn chỉ khác chạy song song Váy có hai loại, váymặc thường ngày thì không có nhiều hoa văn trang trí, kích thước chừng 140

cm x 100 cm Họ mặc váy bằng cách quấn quanh thân từ eo xuống bụng, mépvải giắt vào hông rồi dùng thắt lưng buộc lại Trong ngày lễ hội, phụ nữ Gia Raimặc váy đẹp hơn bởi các đường nét trang trí hoa văn Nét đặc trưng nhất trênváy là có nhiều hoa văn trang trí gần mông của váy Trang sức của người dânGia Rai thường mang theo là khuyên tai, vòng cổ, vòng tay bằng bạc hay sợidây chuyền bằng đồng hoặc bằng hạt cườm Ngày nay, cả nam và nữ Gia Raiđều mặc váy ống, cạp váy đính nhiều tua vải khác nhau Họ mặc áo váy đẹphơn, nhiều màu sắc hơn và nhiều kiểu dáng hơn, thậm chí, một tộc người GiaRai sinh sống gần quốc lộ, thị xã, thị trấn thì trang phục hàng ngày gần nhưtương tự người Kinh

2.1.3 Kiến trúc Nhà ở

Trang 14

Làng người Gia Rai thường ở những nơi gần nguồn nước như ven sông,suối, đầm, hồ Làng nhỏ vài chục nóc, làng lớn đến vài trăm nóc nhà NgườiGia Rai sống trong những ngôi nhà sàn, cửa chính quay về hướng Bắc Một sốlàng có nhà rông do ảnh hưởng văn hóa của dân tộc Ba Na, Xơ Đăng lánggiềng Những ngôi nhà dài truyền thống của người Gia Rai nay không còn nữa.Đối với người dân tộc Gai Rai, ngôi nhà vừa mang giá trị sinh hoạt, vùa manggiá trị tâm linh sâu sắc, chính vì thế họ rất cẩn trọng trong việc cất dựng ngôinhà Người Gia Rai có lối dựng nhà rất độc đáo

Trước những năm 1990 tuy 100% là nhà sàn (chỉ chòi canh rẫy là làmnền đất), làm nhà hoàn toàn không dùng đến một cái đinh bằng sắt hoặc dâykim loại Dụng cụ để làm nhà chỉ bằng cây búa có lưỡi ở cả hai đầu, lưỡi todùng để chặt, vạc; lưỡi nhỏ để đục, dùi lỗ (không sử dụng cưa, đục, bào) Chotới nay khi muốn sửa chữa hay cất mới nhà kể cả nhà Rông họ cũng khôngdùng cưa hay đục Khi cây rừng được đốn về là họ chất lá khô, rơm, rạ đốt âm ỉnhiều ngày cho cháy hết vỏ sém đến phần gỗ Họ cho rằng đốt như vậy tốt hơnphơi nắng bởi sau này gỗ không có độ co giãn lớn khi thời tiết thay đổi, lại vừachống mối mọt Sau đó đẽo cho thẳng hoặc cong tuỳ y, rồi gọt cho nhẵn vàdùng đá mài lại cho bóng

Tất cả các chỗ nối đều được cắt mộng mang cá hoặc mộng vuông có níumóc để không bị xê dịch; kèo nối vào đầu cột ngoài mộng rồi dùi lỗ để xỏ quabằng then gỗ Để chắc chắn hơn họ dùng sợi me vóc (mây rừng) chẻ ra bỏ ruột,tuốt nhẵn cột kiểu nút xoắn chéo nhiều lớp tạo thành múi rất đẹp Nhà lớn haynhỏ người ta đều dựng hướng một bên hông phía mặt trời mọc (phía Đông).Các lỗ chôn cột đã đào cố định sẵn rồi dùng dây kéo lên dựng vào kè, cho thậtvững chắc rồi mới dựng đến hông nhà phía mặt trời lặn (phía Tây) Đòn taybuộc vào kèo cũng bằng dây me vóc có giá đỡ bên dưới; vách bằng ván gỗ hoặc

Trang 15

đan bằng tre nứa khi dựng lều có nẹp ngang dọc từng đoạn để giữ và cũng buộcchứ không đóng đinh, vậy mà không có gió nào làm bung ra nổi

Dù vách bằng gỗ hay tre người ta cũng tạo nhiều hoa văn cho thoáng thaycửa sổ, vừa là trang trí cho đẹp Sàn nhà người Gia Rai khá độc đáo, người tarất thích làm sàn bằng nguyên cả đoạn cây lồ ô dài hết lòng ngang nhà Đốn đủ

gỗ một sàn nhà rất công phu, phải lựa từng đoạn to đều, hai đầu đoạn cây cóđường kính tương đương nhau đem về đốt sơ qua, uốn thẳng, róc mắt cho nhẵn.Công đoạn tiếp theo là nung đỏ mũi dùi to bằng ngón tay, dùi mỗi đoạn 4 lỗ để

xỏ dây liên kết cây nọ vào cây kia cho khít hết sàn Thường cứ vào đầu tháng 11

âm lịch, khi thời tiết khô ráo người Gia Rai mới khởi công, làm nhà riêng haynhà Rông Cả làng cùng xúm vào chung tay góp công đi đốn cây, cắt tranh vềlàm khung, bện mái để sẵn, đầu tháng 12 âm mới dựng

Cho đến nay nếu là nhà xây thì bà con mới mướn thợ, còn nhà gỗ thì dânlàng tập trung làm theo kiểu truyền thống không dùng đinh sắt, cưa, bào vàđục Những ngôi nhà của người Gia Rai đã tạo nên một dấu ấn riêng trong bứctranh văn hóa dân gian của người Việt Nam Cách lựa chọn vật liệu, cách dựngnhững ngôi nhà gỗ thật sự là những kinh nghiệm dân gian hữu ích và độc đáo

Nhà mồ cổ Gia rai - Kiến trúc nghệ thuật độc đáo Theo phong tục từ ngànđời nay, trước lễ bỏ mả vài chục ngày, người Gia-rai vào rừng chọn cây gỗ tốt

để dựng nhà mồ Nhà mồ là sản phẩm kiến trúc độc đáo được xây dưng từnhững bàn tay tài hoa, khéo léo của cả cộng đồng Những người già có nhiềukinh nghiệm thì chịu trách nhiệm trang trí mỹ thuật, còn thanh niên trai tráng thìdựng cột và làm những việc nặng nhọc hơn Khi đo đạc làm nhà mồ, người takhông dùng thước mà dùng những đơn vị cơ thể người Ví dụ: 1 hapa (một sảitay); 1 hlok (1 cánh tay); 1 hagan (1 bàn tay)… Lấy con người làm trung tâm,làm hệ thống đơn vị đo lường đã cho thấy việc coi tầm vóc con người là chuẩn

Ngày đăng: 03/09/2022, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bế Viết Đẳng (1990): Một số vấn đề về đời sống các dân tộc và chính sách dân tộc. Tạp chí dân tộc học số 3/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đời sống các dân tộc và chính sáchdân tộc
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Năm: 1990
2. Đặng Nghiêm Vạn (1993) Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc. NXB Chính Trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc giadân tộc
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc gia Hà Nội
3. Hà Văn Tấn(1981) Về khái niệm dân tộc (Nation) của Mác và Ăngghen và sự hình thành dân tộc Việt Nam, Tạp chí dân tộc học số 2/1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm dân tộc (Nation) của Mác và Ăngghen và sựhình thành dân tộc Việt Nam
4. Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam (1990) Bản sắc văn hoá các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá các dântộc Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc. Hà Nội
5. Một số văn kiện về chính sách dân tộc về chính sách dân tộc miền núi của Đảng và Nhà nước. NXB Sự Thật, Hà Nội - 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về chính sách dân tộc về chính sách dân tộc miền núi củaĐảng và Nhà nước
Nhà XB: NXB Sự Thật
6. Nguyễn Dương Bình (1995) Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Tạp chí dân tộc học số 1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
7. Nguyễn Duy Quý - Đỗ Huy (1992): Xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta hiện nay. NXB KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hoá mới ở nước tahiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Quý - Đỗ Huy
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
Năm: 1992
8. Nguyễn Văn Huy (1990) Bàn về sự phát triển các quan hệ dân tộc ở nước ta.Tạp chí dân tộc học số 4/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự phát triển các quan hệ dân tộc ở nước ta
9. Phan Huy Lê (1990) Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam. Đại Học Tổng Hợp . Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam
10. Phan Hữu Dật (1973) Cơ sở dân tộc học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dân tộc học
Nhà XB: NXB Đại học và Trung họcchuyên nghiệp. Hà Nội
12. Phạm Như Cương (1989) Đi đến nhận thức mới về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc. Tạp chí dân tộc học số 1/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi đến nhận thức mới về vấn đề dân tộc và quanhệ dân tộc
13. PGS.PTS Trần Quang Nhiếp (1997) Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay. NXB Văn Hoá dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển quan hệ dân tộc ở ViệtNam hiện nay
Nhà XB: NXB Văn Hoá dân tộc. Hà Nội
14. PTS Nguyễn Quốc Phẩm- GS Trịnh Quốc Tuấn (1999) Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam . NXB Chính Trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luậnvà thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốcgia. Hà Nội
15. Viện KHXH Việt Nam, Viện Thông tin KHXH (1990) Những vấn đề cấp bách của sự phát triển CNXH: Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấpbách của sự phát triển CNXH: Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trongCNXH
16. Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng (2003), Dân tộc học đại cương, NXB Giáo dục, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộchọc đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
17. Ngô Văn Lệ (2004), Tộc người và văn hoá tộc người, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tộc người và văn hoá tộc người
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: NXB Đại học quốcgia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
11. Phan Hữu Dật (1990) Giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa các dân tộc.Tạp chí dân tộc học số 3/1990 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w