Đất nước ta là một quốc gia có 54 thành phần dân tộc không giống nhau , được phân ra các vùng miền khác nhau , và mỗi một dân tộc ở mỗi miền đều mang một những nét văn hóa, bản sắc rất r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TW
KHOA: VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM
TÊN ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Văn Hào
Mã số SV: 2053420054
Lớp tín chỉ: 01
Giảng viên : NÔNG THỊ THANH THÚY
Hà Nội, năm 2021
Trang 2Mục lục
A Mở đầu……… ……… Trang 3
1 Lý do chọn đề tài……….……… Trang 3
2 Mục đích nghiên cứu……… ………… …….… Trang 3
3 Phương pháp nghiên cứu……… ……… Trang 3
B Nội dung……….………… Trang 4 Chương 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC CÁC VÙNG VĂN HÓA VN ….Trang 4 Chương 2: TIỂU VÙNG VĂN HÓA XỨ NGHỆ ……… Trang 6
I XỨ NGHỆ ………Trang 6 1.1 Vị trí địa lý ……… Trang 6
1.3 Lịch sử hình thành ……… Trang 7
II ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA……… Trang 8 1.Văn hóa tinh thần……… ………….….Trang 8
1.1 tín ngưỡng……… ……… …Trang 8 1.2 phong tục tập quán ……….…… ……… Trang 8 1.3 lễ hội……… ……… …… …… Trang 10 2.VĂN HÓA NGHỆ THUẬT……… …… …… …… Trang 11
3 VĂN HÓA VẬT CHẤT ……… …… …… Trang 11 3.1 văn hóa ẩm thực….……… …… …… Trang 11 3.2 văn hóa ăn mặc…… ……… … …… Trang 12 III DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN ……… Trang 12 3.2 di sản văn hóa ……….trang 12 3.3 di sản thiên nhiên ………trang 12
IV ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH ………Trang 13 Chương 3 PHƯƠNG ÁN BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN ……… Trang 14
C KẾT LUẬN ……….Trang 15
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam có từ ngàn đời xưa Đất nước ta là một quốc gia có 54 thành phần dân tộc không giống nhau , được phân ra các vùng miền khác nhau , và mỗi một dân tộc ở mỗi miền đều mang một những nét văn hóa, bản sắc rất riêng và ấn tượng
Chính sự khác biệt về thành phần dân tộc này đã góp phần tạo nên nét đẹp rất đa dạng, phong phú và đặc sắc cho nền văn hóa của đất nước ta mà không một quốc gia nào có thể thay thế được Nền văn hóa ở nước ta có truyền thống lâu đời trải qua hàng nghìn năm nay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong lòng của mỗi người dân nước ta Theo sự thăng trầm của lịch sử dân tộc, nền văn hóa của người Việt cũng không ngừng được đổi mới theo trào lưu của xã hội
Mỗi một tiểu vùng đều có những sự khác biệt về văn hóa , lối sống ,phong tục , con người khác nhau, nơi thì cần cù ,chịu khó, nơi thì hiền hậu , chất phác , nơi thì nhanh nhẹn , dễ mến Con người xứ Nghệ có những nét tính cách nổi trội khó pha lẫn với bất kỳ một vùng miền nào của đất nước, điều này đã được không ít nhà nghiên cứu, nhà chính trị nhận định
Và chính cái tính cách nổi trội khó pha ấy đã khiến em rất ấn tượng , thế nên em
đã chọn đề tài tìm hiểu về tiểu vùng văn hóa xứ nghệ để làm bài tiểu luận cuối kì này
2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu về tiểu vùng văn hóa xứ nghệ và trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp bảo tồn văn hóa của tiển vùng này
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích
- Tổng hợp
Trang 4B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN VÙNG VĂN HÓA
1.1 Tìm hiểu về vùng văn hóa
Có thể nói người ở vùng văn hóa nào thì giữ nét văn hóa của vùng đó qua giọng nói, cách nghĩ, cách làm việc, cách ăn uống, cách giao tiếp, cách bày tỏ thái
độ Trang phục thì có thể giống nhau, nhưng cái chất vùng miền thì khó có thể thay đổi được Mỗi vùng đều có nét đặc sắc riêng, để ý một chút chúng ta sẽ thấy
rõ sự khác biệt này, rất thú vị
1.2 Phân vùng văn hóa
Các nhà khoa học ở Việt Nam đều có chung quan điểm về kết quả phân vùng văn hóa Chẳng hạn, tác giả Ngô Đức Thịnh (năm 1993) cho rằng ở nước ta có 7 vùng văn hóa là: Việt Bắc, Tây Bắc, Trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên và Nam Bộ.(3) Các tác giả Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận năm 1995 xác đinh nước
ta có 10 vùng văn hóa: Việt Bắc, Tây Bắc, đồng bằng miền Bắc, Vùng Nghệ - Tĩnh, Thuận Hóa - Phú Xuân, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng miền Nam, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.(4) Các tác giả Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn (năm 1995) xem xét văn hóa Việt Nam là tổng hòa các vùng văn hóa: Việt Bắc, Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ,
Trường Sơn - Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long (5) Tác giả Trần Quốc Vượng (năm 1997) phân văn hóa Việt Nam thành 6 vùng: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ (6) Đây có thể là cách phân chia hợp lý về văn hóa nói chung Nhưng nếu chú ý đến sự khác biệt về mặt kinh tế và
từ đó cũng có sự khác biệt nhất định về mặt văn hóa thì nên tiếp tục chia Trung Bộ thành 2 vùng: Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ; và cũng tiếp tục chia Nam Bộ thành 2 vùng: Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Như vậy sẽ
Trang 5có 8 vùng kinh tế - văn hóa: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay quan niệm về 8 vùng kinh tế - văn hóa được thừa nhận rộng rãi Chỉ
có một bất cập là dùng thuật ngữ “Đồng bằng sông Hồng” để chỉ cả lưu vực châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình, là chưa chính xác Đúng ra phải dùng thuật ngữ
“Đồng bằng Bắc Bộ” để định danh cho cả vùng châu thổ này Cuối cùng, có thể quan niệm “vùng văn hóa” là một thực thể văn hóa, bao gồm những đặc điểm về cảnh quan - lãnh thổ, trình độ và cách thức hoạt động kinh tế, và các đặc điểm về văn hóa vật thể (nhà cửa, y phục, ăn uống ), về văn hóa phi vật thể (phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng - tôn giáo ); trong đó có một số đặc trưng điển hình so với các vùng khác
Các vùng văn hóa dẫu sao cũng không phải là những “ốc đảo” Các đặc điểm,
kể cả những đặc trưng điển hình của vùng, như thực tế trong và ngoài nước đều cho thấy, chủ yếu là kết quả tiếp biến từ hai, ba vùng khác nhau liền kề vùng đó Trong quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế, những đặc điểm, kể cả những đặc trưng điển hình, có thể đã và sẽ mai một ở mức độ nào đó Tính thống nhất của các vùng văn hóa đã và sẽ được tăng cường, đồng thời ngày càng bộc lộ rõ trên nhiều phương diện
Vì thế, vấn đề đặt ra hiện nay là phải chú trọng bảo tồn, phát triển những đặc điểm, đặc trưng điển hình với tính cách là những lợi thế so sánh, nhằm thúc đẩy các vùng văn hóa phát triển nhanh, ổn định trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất
mà đa dạng
Trang 6CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TIỂU VÙNG VĂN HÓA
I XỨ NGHỆ
1 Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ từ thời nhà Hậu Lê, tức Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam Núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh và sông Lam nằm ở ranh giới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh Trung tâm của Xứ Nghệ nằm ở hai bên dòng sông Lam là phủ Đức Quang và phủ Anh Đô khi xưa, tức là các huyện Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của Hà Tĩnh và các huyện Thanh Chương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Anh Sơn của Nghệ An ngày nay
1.1 Vị trí địa lý :
Nghệ An nằm ở vĩ độ 180 33' đến 200 01' vĩ độ Bắc, kinh độ 1030 52' đến
1050 48' kinh độ Đông, ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ
Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ
Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.481,62 km2 Với hơn 80% diện tích là vùng đồi núi nằm ở phía tây gồm 10 huyện, và 01 thị xã miền núi; Phía đông là phần diện tích đồng bằng và duyên hải ven biển gồm 07 huyện, 02 thị xã và thành phố Vinh
Rừng Nghệ An mang nhiều nét điển hình của thảm thực vật rừng Việt Nam
1.2 Khí hậu :
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là hè và đông Từ tháng
4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô
và nóng Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt
Trang 7Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 -
540mm/tháng,
Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam
1.3 Lịch sử hình thành
Thời xa xưa, Xứ Nghệ thuộc đất Việt Thường
Sau đó trở thành 2 trong 15 bộ của nước Văn Lang, có tên: bộ Hoài Hoan, bộ Cửu Đức
Bộ Hoài Hoan là tên gọi vùng đất tương đương với Diễn Châu khi xưa, ở phía bắc tỉnh Nghệ An Bộ Cửu Đức là tên gọi vùng đất tương đương với phần nam của tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, tức đất Hoan Châu thời nhà Đường
ùng với việc phân lại địa giới hành chính giữa các kỳ và các xứ thuộc địa của Pháp trong Liên bang Đông Dương, người Pháp đã cắt một số các phủ huyện thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ cho Lào thuộc Pháp vào các năm 1895 và
1903, bao gồm các vùng: phủ Trấn Biên (khoảng phía Đông Nam tỉnh Hủa Phăn), phủ Trấn Ninh (Xiêng Khoảng, Hủa Phăn (phần phía Nam Hủa Phăn)), phủ Trấn Định (Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn (phía Bắc tỉnh Khăm Muộn)), phủ Trấn Tĩnh (khoảng phía Đông tỉnh Khăm Muộn, giáp các huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, Tuyên Hóa, Minh Hóa tỉnh Quảng Bình ngày nay), phủ Lạc Biên
(khoảng bờ Bắc và thượng lưu sông Xê Bang Phai và sông Xê Nơi, phía Nam tỉnh Khăm Muộn) Đất Nghệ An-Hà Tĩnh trở nên giống với hiện trạng ngày nay và lúc
đó chỉ còn lại phần đất thuộc 6 phủ: Hà Hoa, Đức Quang, Anh Đô, Trà Lân, Diễn Châu, Quỳ Châu
Trang 8II ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA
1 Văn hóa tinh thần :
Tôn giáo , hiện nay nghệ an có hai tôn giáo chính và hợp pháp là đạo Thiên Chúa giáo và phật giáo Đạo Công giáo có khoảng 28 vạn tín đồ, 188 chức sắc (3 Giám mục và 185 Linh mục) sinh hoạt ở 13 giáo hạt, 111 giáo xứ, tập trung ở 174/460
xã, phường, thị trấn thuộc 20/21 huyện, thành phố, thị xã Phật giáo có 9,5 vạn phật
tử sinh hoạt ở 63 cơ sở thờ tự (62 chùa và 1 niệm phật đường), 97 tăng, ni, tu sĩ hoạt động trên địa bàn, trong đó có 30 tăng, ni trụ trì ở 36 chùa (26 chùa và 1 niệm phật đường chưa có sư trụ trì) Chiếm 11,37 % dân số toàn tỉnh
1.1 Tín ngưỡng của người dân xứ nghệ
Trong bối cảnh chính trị - xã hội phức tạp, khủng hoảng niềm tin, tín ngưỡng ở Nghệ An phát triển khá phong phú, đa dạng Người Nghệ An rất kính cẩn thờ Thành hoàng Thành hoàng là các phúc thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho cư dân làng xã Thành hoàng của cư dân Nghệ An có thể là Nhiên thần, Thiên thần hay Nhân thần như các vị: Thượng Ngàn công chúa, Cao Sơn Cao Các, Tứ vị Thánh Nương, Liễu Hạnh công chúa, Tam Tòa đại vương Lý Nhật Quang, Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn… Nhiều danh nhân từ thế kỷ XVI - XVIII có công với dân làng như Đinh Bạt Tụy (1516-1590) ở Hưng Nguyên, Hồ Sĩ Dương (1621-1681) ở Quỳnh Lưu, 2 anh em Trần Hưng Học (1631-1673), Trần Hưng Nhượng (1635-1710) ở Thanh Chương, Trần Đăng Dinh (thế kỷ XVII - đầu t.k XVIII) ở Yên Thành… đều được dân làng quê hương thờ làm Thành hoàng
1.2 Phong tục tập quán
Phong tục trong dân gian được hình thành và tồn tại hàng ngàn năm, đã đi vào tâm thức mỗi con người, tạo nên thói quen trong cuộc sống của từng gia đình và tập quán từng vùng Phong tục là vẻ đẹp của mỗi dân tộc, nó mang nhiều giá trị tích cực, hun đúc, rèn luyện, bồi lắng, tạo nên cốt cách con người xứ Nghệ, con người
Trang 9Việt Nam Phong tục, tập quán đã góp phần cố kết cộng đồng tạo ra sức mạnh, hình thành bản sắc riêng từng địa phương và bản sắc văn hóa dân tộc
Ở nghệ an có rất nhiều các phong tục nổi tiếng điển hình là một vài phong tục dưới đây
Lễ cầu ngư đầu năm
Tại lễ cầu ngư, ngư dân đã tái hiện một cách sinh động phong tục đánh bắt ngoài biển với khí thế thắng lợi ngay từ đầu năm, qua đó gửi gắm khát vọng vươn khơi
xa, cầu mong thần biển phù hộ mưa thuận, gió hòa, đánh bắt đạt sản lượng đạt cao
Lễ hội được ngư dân Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu Nghệ An lưu truyền từ hàng trăm năm, trở thành nét sinh hoạt truyền thống Đặc biệt, những năm gần đây khi đời sống ngư dân ngày càng phát triển, lễ hội cũng được tổ chức quy mô hơn, không chỉ người dân địa phương mà còn thu hút đông du khách từ các nơi đến
Khí thế cầu mong thắng lợi ngay từ đầu năm sẽ tạo điểm tựa tinh thần cho gần 1.500 tàu thuyền ở Diễn Châu nỗ lực đánh bắt, phấn đấu đạt sản lượng gần 41 nghìn tấn hải sản
Khai bút đầu xuân
Khai bút đầu Xuân là một nét đẹp văn hóa ở vùng đất học Xứ Nghệ nói chung và
xã Quỳnh Đôi (huyện Quỳnh Lưu) nói riêng Xưa nay, ở Quỳnh Đôi “đi học” được xem như một nghề; Lễ khai bút đầu Xuân được người dân nơi đây đặc biệt coi trong, gìn giữ phát huy Xuân Bính Thân 2016 là năm thứ 7, Quỳnh Đôi tổ chức lễ khai bút tập trung…
Lễ khai bút đầu Xuân được tổ chức ở các gia đình ở xã Quỳnh Đôi, tổ xóm dân cư vào tối ngày 29 (hoặc 30) Tết Còn lễ khai bút tập trung vẫn được tổ chức vào sáng ngày mùng 2 Tết tại di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đình làng Quỳnh Đôi Trước đây, chỉ có những nhà nho học vấn cao, văn hay chữ tốt mới được tham gia lễ khai bút ở đình làng; Ngày nay, phong tục này vẫn được chính quyền và nhân dân địa
Trang 10phương gìn giữ, phát huy, có nhiều đổi mới, phát triển thành phong trào sôi nổi trong toàn xã
Tục ướm “vết chân tiên” ,Tục đón dâu của người thái nghệ an , Lễ gọi hồn, làm vía,…
1.3 Lễ hội
Nhắc tới các phong tục tập quán của xứ nghệ mà chúng ta lại không nhắc tới lễ hội thì qủa là một thiếu xót lớn Dưới đây là một số lễ hội tiêu biểu
Lễ hội đền Cuông
Là lễ hội truyền thống đặc sắc ở Nghệ An được diễn ra từ ngày 12 – 16/2 âm lịch hàng năm Trong đó hội chính vào ngày 14, 15/2 và tổ chức lớn nhất ở khu vực Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An Lễ hội ở đây được chia ra làm 2 phần chính đó là: Phần lễ bao gồm: Lễ khai quang, lễ cáo trưng thiên, lễ yết, lễ đại và cuối cùng là lễ
tạ Còn lại là phần hội, các hoạt động ở đây diễn ra náo nhiệt vời các cuộc thi dân gian như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá,… cùng với rất nhiều trò chơi hấp dẫn, thú vị được tổ chức tại lễ hội đền Cuông Nhìn chung, khi tham dự lễ hội đền Cuông, bạn không những được khám phá nét đẹp văn hóa truyền thống nơi đây, với những sự kiện tâm linh tín ngưỡng, mà còn được hòa mình trong bầu không khí sôi nổi, náo nhiệt
Hội Vật Cù ở Thanh Chương
Nếu bạn muốn khám phá văn hóa lễ hội ở Nghệ An thì hãy sắp xếp thời gian tới đây vào vào dịp mùng 2 – 7 tháng Giêng (Tết âm lịch) Đây là lễ hội được tổ chức thường niên và được người dân mong chờ nhất, bởi nó tôn vinh lên nét đẹp văn hóa của người dân Thanh Chương Được biết, lễ hội này bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XV, khi tổ chức cuộc thi tuyển chọn những võ sĩ khỏe mạnh để phục vụ cho quân đội của tướng Phan Đàn (Võ tướng thời Lê Thái Tổ cai quản vùng đất này)
Trang 11Sau này, khi đất nước thái bình, lại trở thành một sự kiện văn hóa và cũng là món
ăn tinh thần đầu năm của người dân Thanh Chương
Lễ hội đền cờn ,Lễ hội đền quả sơn , Lễ hội đền chín gian , …
2 Văn hóa nghệ thuật
2.1 Dân ca ví dặm của xứ nghệ
Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay Ví, Giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật: lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa… Vì vậy, các lối hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường nón, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên… Dân ca Ví, Giặm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh và là phương tiện nghệ thuật để biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng
3 Văn hóa vật chất
3.1 Văn hóa ẩm thực
Có thể nói rằng, bên cạnh những nét giản dị, mộc mạc của người dân nơi đây thì
ẩm thực cũng là một trong những nét đặc trưng trong văn hóa xứ Nghệ tạo được sự
ấn tượng mạnh mẽ đối với nhiều du khách thập phương Có thể nói rằng, bên cạnh những nét giản dị, mộc mạc của người dân nơi đây thì ẩm thực cũng là một trong những nét đặc trưng trong văn hóa xứ Nghệ tạo được sự ấn tượng mạnh mẽ đối với nhiều du khách thập phương Xứ Nghệ đã để lại dấu ấn trong lòng nhiều người với
vô vàn món ăn ngon, tuy giản dị nhưng không kém phần hấp dẫn Ẩm thực Xứ Nghệ quen thuộc nhưng dường như nó có cái khác biệt so với những vùng miền khác, các món ăn như mang trong đó tấm lòng người dân bản xứ nên có phong vị rất riêng mà không ở đâu trên bất kỳ dân tộc này có được