ĐỀ BÀI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG KHOA VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT TIỂU LUẬN MÔN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Đề tài NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA HỌC VIÊN VŨ HỒNG.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
KHOA VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
TIỂU LUẬN MÔN: CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
Đề tài: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP VĂN HÓA
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS ĐÀO THỊ THỦY TIÊN
GIA LAI NĂM 2020
Trang 2ĐỀ BÀI
Trình bày những đặc điểm chung của các ngành công nghiệp văn hóa? Liên hệ thực tế với một số ngành cụ thể?
BÀI LÀM
Các ngành công nghiệp văn hóa được UNESCO định nghĩa là: "Các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện dưới dạng các sản phẩm hay dịch vụ Hiện nay, ở rất nhiều nước, các ngành công nghiệp văn hóa đang dần chiếm vị trí trung tâm trong nền kinh tế Chúng tạo ra và lưu thông các sản phẩm văn hóa Trước đây, những sản phấm này chỉ được nhấn mạnh về giá trị phi vật thể, nhưng với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, chúng được sàn xuất và lưu thông như các sản phẩm vật thể, mang lại giá trị đa dạng cho nền kinh tế, văn hóa và xã hội
Ngày nay, với sự phát triển của ngành truyền thông, các sản phẩm này ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách nhìn nhận thế giới và ứng xử của con người trong
xã hội Ngành công nghiệp văn hóa được tổ chức và phát triển trên cơ sở các ý tưởng sáng tạo, đồng thời thúc đẩy sự sáng tạo Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, sức sáng tạo là yếu tố then chốt, chi phối mọi lĩnh vực và ngành nghề Do
đó, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa sẽ tạo động lực và tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung Hơn nữa, công nghiệp văn hóa có thể hỗ trợ việc xây dựng và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Trong tương lai gần, những sản phẩm văn hoá sẽ được biết đến với "thương hiệu" mang nét độc đáo của mỗi quốc gia
Trang 3Ngay từ “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 đã khẳng định, phát triển CNVH đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới; đồng thời nhận thức rõ về xu thế tất yếu phải phát triển CNVH, những điều kiện phát triển CNVH và nhiệm vụ tập trung xây dựng cơ chế, chính sách, môi trường kinh doanh để phát triển ngành CNVH ở nước ta
Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước cũng đề ra mục tiêu xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển CNVH, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam
Một trong 6 nhiệm vụ quan trọng của Nghị quyết là phát triển CNVH đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; phát triển CNVH nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng, giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới…
Nhằm xác lập chủ trương nhất quán về phát triển CNVH, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa”1
Quán triệt tinh thần này, ngày 08/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nêu rõ: phát triển các ngành CNVH Việt Nam bao gồm: quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu
Trang 4diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam
Như vậy, có thể khẳng định, chủ trương xây dựng và phát triển CNVH là một bước tiến quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan quản lý; là kết quả của quá trình đổi mới tư duy về văn hóa gắn với đổi mới tư duy kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị trường Phát triển CNVH không chỉ là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế mà trên thực tế, CNVH đã được thừa nhận như một ngành sản xuất, như lực lượng sản xuất văn hóa, có khả năng tạo ra các sản phẩm tinh thần tốt đẹp cho xã hội, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của Việt Nam
Đối với các ngành văn hóa nó có năm đặc điểm như sau:
Đặc điểm thứ nhất đó là: được bảo hộ bởi Luật Bản quyền
Vậy Luật bản quyền là gì?
Luật Bản quyền được ra đời vào thế kỷ XVII, XVIII, đầu tiên trong lĩnh vực xuất bản sách, nhằm bảo hộ các tác phẩm in về văn học và nghệ thuật Sau
đó, do ngành tạo hình phát triển nên đối tượng bảo hộ của luật bản quyền được
mở rộng tới các bản vẽ kỹ thuật, bản đồ, bản vẽ, các tác phẩm ba chiều như điêu khắc, kiến trúc Đến thế kỷ XIX, luật này có các hình thức hiện dại hon và sang thế kỷ XX luật bản quyền đã phát triển thành một hệ thống phức hợp, bao quát
Trang 5nhiều loại hình sản phẩm đa phương tiện như nhiếp ảnh, điện ảnh, âm nhạc Các sản phẩm đa phương tiện này cần có sự tham gia của nhiều loại lao động phức hợp nên đặt ra những vấn đề liên quan đến “tác giả” của sản phẩm Gần đây, các chương trình phần mềm cho máy tính và các sưu tập dữ liệu cũng được luật bản quyền bảo hộ như đối với tác phẩm văn học Cụ thể, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu Luật Bản quyền cho phép tác giả có đặc quyền tự do khai thác tác phẩm của họ trên cơ sở thương mại hoặc phi thương mại và hưởng quyền đạo đức theo luật định Các quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ được bảo vệ theo luật bản quyền trong suốt cuộc đời của tác giả và cộng thêm tối thiểu 50 năm sau khi tác giả mất
Ví dụ:
Trong lĩnh vực phim ảnh, việc vi phạm trước đây phần lớn được gắn với cụm từ "bản cam" — tức bản phim được quay trộm lại từ màn chiếu trong rạp, rồi bị phát tán trên các trang tải phim hay xem phim trên mạng Một cách khác nữa của vi phạm bản quyền là bản phim được sao chép lại từ đĩa DVD được lưu hành hợp pháp (ví dụ các chương trình ca nhạc Thúy Nga Paris) hay đĩa nội bộ (ví dụ bản phim Bụi đời Chợ Lớn bị rò rỉ từ một đĩa DVD nội bộ, dù phim không được phát hành) rồi bị phát tán trên các kênh khác nhau của internet
Gần đây, với sự lan tỏa mạnh mẽ của mạng xã hội và cải tiến công nghệ, các hành vi vi phạm có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Trường hợp livestream (quay và phát trực tiếp) bộ phim Cô Ba Sài Gòn, trước đó xảy ra với
Em chưa 18 là ví dụ mới nhất về biến tướng của hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, xét dưới góc độ luật pháp, điều này có dễ dàng xử lý không?
Theo bà Phan Cẩm Tú, luật sư — chuyên gia tư vấn về sở hữu trí tuệ (Hà Nội), trước đây hành vi quay phim trong rạp chiếu rồi phát tán chưa bị xử lý
Trang 6theo luật hình sự Đánh giá hành vi livestream của Nguyễn Văn T (Vũng Tàu) trong vụ Cô Ba Sài Gòn, bà cho rằng việc chủ thể vi phạm bị bắt quả tang, khai nhận hành vi và hành vi vi phạm thực sự gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền là các căn cứ để xác định hình thức xử lý vi phạm mạnh hơn Bà cũng cho rằng cần có sự quyết tâm xử lý để tạo tiền lệ nhằm răn đe và ngăn chặn các hành vi vi phạm tương tự
Đặc điếm thứ hai đó là: Qui mô doanh nghiệp
Qui mô của một doanh nghiệp được xem xét dựa trên các tiêu chí như vốn, bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, số lượng nhân công và doanh thu hàng năm về qui mô của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, các nghiên cứu cho thấy có hai thái cực đối lập: một bên là các tập đoàn “khổng lồ” và một bên là các doanh nghiệp vi mô
Các tập đoàn lớn, thường là các tập đoàn truyền thông giải trí hoạt động trong lĩnh vực phim ảnh, âm nhạc, phát thanh truyền hình, giải trí, trò chơi điện
tử, đa phương tiện, xuất bản Các tập đoàn này thường có qui mô hoạt động đa quốc gia và chiếm lĩnh những thị phần lớn trên toàn cầu Mỗi Tập đoàn được tạo nên từ nhiều công ty lớn chuyên về từng lĩnh vực Bên cạnh các tập đoàn truyền thông lớn, rất nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa có qui mô vừa và nhỏ Theo các điều tra, nghiên cứu của Vương quốc Anh và Úc, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp văn hóa ở các nước này là doanh nghiệp vi
mô với qui mô dưới 10 lao động, thậm chí nhiều doanh nghiệp chỉ có từ 1 đến 3 nhân viên Doanh nghiệp thường được xây dựng xưng quanh một sản phẩm, dịch vụ hoặc một cá nhân nhất định Các doanh nghiệp này thường làm việc theo từng dự án, nhận đơn đặt hàng và điêu chỉnh những sáng tạo của họ cho phù hợp với đối tượng người tiêu dùng nhất định
Ví dụ: Hiện tại Việt Nam có khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất phim nhưng thực tế chỉ có một vài doanh nghiệp tồn tại lâu dài Đa số còn lại, thành
Trang 7lập doanh nghiệp, sản xuất 1,2 phim rồi ngưng hoạt động Thị trường điện ảnh tăng trưởng mạnh, tốc độ trung bình từ 20% đến 25% Mỗi năm, có hơn 40 phim Việt Nam chiếu rạp được sản xuất
Về hệ thống chiếu rạp, chỉ trong 10 năm đây, số lượng rạp chiếu hiện đại tăng đột biến Ngay người làm quản lý cũng không lường trước được Những năm 2.000, hệ thống rạp chiếu phim ở Việt Nam hầu như hoang phế, vừa xuống cấp, vừa vắng khách Năm 2009, Việt Nam có khoảng 87 phòng chiếu phim Năm 2018, số lượng phòng chiếu đã tăng gấp hơn 10 lần, với 922 phòng chiếu
Nếu so với chỉ tiêu 550 phòng chiếu phim vào năm 2020 của “Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030” đã tăng gấp 1,7 lần Tuy nhiên phần lớn rạp chiếu phim thuộc về các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài Đây là thách thức rất lớn đối với ngành điện ảnh
Một số công ty sản xuất truyền hình và các chương trình truyền hình nổi tiếng và có quy mô lớn lại Việt Nam gồm: Trung tâm sản xuất Phim truyền hình Việt Nam (VFC), Công ty Cổ phần Đông Tây Promotion, Công ty Cổ phần Truyền hình Thế hệ mới Next Media…
Đặc điểm thứ ba: Tính rủi ro
Mọi lĩnh vực kinh doanh đều có độ rủi ro, tuy nhiên các ngành công nghiệp văn hóa có độ rủi ro cao do đặc thù của hoạt động sản xuất và tiêu thụ của ngành Ở các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa vật chất thông thường, quá trình sản xuất thường được thực hiện theo dây chuyền, phụ thuộc vào máy móc, công nghệ xác định nên chất lượng sản phẩm thường ốn định và đồng
Trang 8nhất Hơn nữa, quá trình sản xuất thường tách biệt với quá trình phân phối và tiêu thụ nên sản phẩm được kiểm tra chất lượng trước khi xuất xưởng Trong khi đó, ở lĩnh vực công nghiệp văn hóa, các chương trình nghệ thuật biểu diễn trực tiếp hoặc chương trình truyền thông phát sóng trực tiếp, do quá trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời nên nếu có trục trặc thì ảnh hưởng ngay đên chất lượng sản phẩm Chính vì vậy, quá trình vận hành này
có thể có nhiều yếu tố khó đoán định, khó kiểm soát, dẫn đến những rủi ro ngoài dự kiến
Mặt khác, về vấn đề tiêu thụ trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất, nhà sản xuất có thể dễ xác định khách hàng cần gì ở sản phẩm của mình vì nhũng yêu cầu này thường gắn với chức năng của sản phẩm Chẳng hạn, khách hàng mua máy giặt thường trông đợi máy giặt có thể giặt sạch các loại quần áo với các chất liệu khác nhau, dễ sử dụng, tốn ít điện, máy chạy êm, kích thước gọn gàng Do đó, với hàng hóa vật chất thì khả năng thành công của một sản phâm có thể dễ đoán định Một dòng xe máy mới với các tính năng kỹ thuật tiên tiến, tiêu thụ ít nhiên liệu hơn, màu sắc kiểu dáng hợp thời trang và giá cả hợp
lý thì có thể chiếm lĩnh thị trường Trong khi đó, ở các ngành công nghiệp văn hóa, quá trình tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố tâm lý, thị hiếu, nhu cầu, sở thích và quan niệm về giá trị của khán giả Đây là những yếu tố khó đoán định và thường xuyên biến động Trong lĩnh vực văn hóa, liệu một sản phẩm đưa ra thị trường có được khán giả đón nhận nồng nhiệt không? Các nhà phê bình, những người giới thiệu chương trình, giới báo chí, phát thanh, truyền hình sẽ đánh giá và bình luận về tác phẩm như thế nào? Công chúng có nhìn nhận sản phẩm là có giá trị đối với họ không, có đáng giá với đồng tiền họ bỏ ra (giá trị kinh tế) và đáp ứng những kỳ vọng về mặt văn hóa của họ (giá trị tinh thần) không? Tất cả đều phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người tiêu dùng
và với các đối tượng khán giả khác nhau thì tiêu chuẩn và kỳ vọng có thế rất
Trang 9khác nhau Chính vì vậy, có trường hợp tác phẩm văn hóa nghệ thuật được đầu
tư nhiều công sức, được các nhà sản xuất tâm đắc nhưng khi đưa ra thị trường thì lại không được công chúng ủng hộ Có trường hợp những mẫu thiết kế thời trang được quảng bá rầm rộ nhưng đột nhiên bị người tiêu dùng cho là lỗi mốt
Ví dụ như phim hay nhưng chưa chắc doanh thu đã cao
Mặt khác, quá trình sáng tạo và sản xuất sản phẩm văn hóa phụ thuộc chặt chẽ vào tài năng và cảm hứng của nghệ sỹ, nghệ nhân vì thế nếu nó có sự
cố về sức khỏe hoặc tâm lý thì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của chương trình Chẳng hạn một bộ phim truyền hình nhiều tập đang được quay thì diễn viên đóng vai chính đột nhiên bị tai nạn không thể tiếp tục tham gia, hoặc ngay trước buổi biểu diễn thì ca sỹ có sự cố về tâm lý những trường hợp như vậy đều có thể mang đến rủi ro cho nhà sản xuất chương trình
Uy tín, danh tiếng của nghệ sỹ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc công chúng đón nhận sản phẩm nghệ thuật của họ Có trường hợp nhà tổ chức sản xuất (còn gọi là ông bầu) ký hợp đồng với ca sỹ, đâu tư nhiều vốn và công sức
để “lăng-xê” nghệ sỹ này Nhưng rồi nghệ sỹ có các vụ việc như hát nhép, chơi
cờ bạc, say rượu, đánh lộn nên bị công chúng tẩy chay Do đó, nhà tổ chức phải chịu rủi ro vì bị thất thu Báo chí nước ta cũng nói đến trường hợp một số doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua việc tài trợ cho các đội bóng đá Đội bóng có tiêu cực về dàn xếp, mua bán tỉ số, cá độ, do đó bị kỷ luật và bị công luận lên án Vậy là hoạt động phát triển thương hiệu của doanh nghiệp coi như thất bại Đây cũng có thể coi là một rủi ro trong ngành marketing và phát triển thương hiệu
Rủi ro còn có thể xảy ra vi nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất và tiêu thụ của các ngành công nghiệp văn hóa, ví dụ như điều kiện thời tiết như lụt lội, hạn hán, bệnh dịch; điều kiện kinh tế như tăng giá điện, giá xăng, lạm phát, suy thoái; hay những thay đổi về công nghệ, chính sách, giáo dục v.v Chẳng hạn một chương trình nghệ thuật dàn dựng công phu, tốn kém nhưng
Trang 10suốt thời gian biểu diễn lại có mưa bão nên ít khán giả đến xem, dẫn đến thất thu
Ví dụ cụ thể nhất về tính rủi ro trong điện ảnh đó chính là bộ phim “Bụi đời Chợ Lớn” của đạo diễn Charlie Nguyễn
Một bộ phim miêu tả về cuộc sống của những đại ca giang hồ, được làm theo phong cách xã hội đen Hongkong Phim võ thuật này có nhiều màn đánh đấm khiến người xem trầm trồ tán thưởng Được đạo diễn bởi Charlie Nguyễn, diễn viên chính Johnny Trí Nguyễn, Huỳnh Bích Phương, Long Điền… Cũng vì vậy mà bộ phim được đầu tư rất lớn, theo như tiết lộ của nhà sản xuất là gần 16
tỷ đồng
Bụi đời Chợ Lớn có kết cục bi thảm hơn những phim còn lại khi gần đến ngày công chiếu thì bị Cục điện ảnh tuýt còi, phim không qua được kiểm duyệt