1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Lịch sử Văn Minh Thế giới

25 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời kì lịch sử cổ trung đại của Ấn Độ đã tồn tại một nền văn minh rực rỡ. Trong số các điều kiện hình thành nên nền văn minh này thì điều kiện địa lí có vai trò định hình nền móng ban đầu. Nhưng điều kiện cơ bản nhất khẳng định sự phát triển về sau của nền văn minh đó chính là yếu tố kinh tế. Trong khuôn khổ bài Tiểu luận này, em xin phép được trình bày về cơ sở hình thành nền văn minh Ấn Độ cổ trung đại dưới góc nhìn của điều kiện địa lí và điều kiện kinh tế.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Văn minh là một nền văn hoá phát triển ở một trình độ cao của con người,gắn với một thiết chế chính trị, xã hội nhất định từ sau chế độ công xã nguyênthuỷ

Thời kì lịch sử cổ trung đại của Ấn Độ đã tồn tại một nền văn minh rực rỡ.Trong số các điều kiện hình thành nên nền văn minh này thì điều kiện địa lí cóvai trò định hình nền móng ban đầu Nhưng điều kiện cơ bản nhất khẳng định sựphát triển về sau của nền văn minh đó chính là yếu tố kinh tế

Trong khuôn khổ bài Tiểu luận này, em xin phép được trình bày về cơ sởhình thành nền văn minh Ấn Độ cổ trung đại dưới góc nhìn của điều kiện địa lí

và điều kiện kinh tế

Nền văn minh Ấn Độ là một nền văn minh nổi tiếng và thuộc về nhữngnền văn minh cổ nhất thế giới, bao gồm cả vùng đất ở các nước như: Ấn Độ,Pakistan, Nepan, Bangladesh ngày nay Hằng năm vào mùa tuyết tan, nước từdãy Himalaya theo sông Hằng và sông Ấn đổ xuống vùng đồng bằng mang theolượng phù sa lớn bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn, nền văn minh ở lưuvực sông Ấn (3.000 - 1.800 Trước công nguyên) đã thấm đượm những tư tưởng

và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho ẤnĐộ

Trang 2

NỘI DUNG

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH:

I.1 Điều kiện địa lí.

Ấn Độ được coi nh mép tiểu lục địa nằm ở phía nam châu Á.Vào thời kìhình thành và phát triển nền văn minh cổ trung đại thì lãnh thổ Ấn Độ vẫn baogồm cả Pa-ki-xtan, Băng-la-đet và Nê-pan

Về mặt vị trí địa lí, bán đảo Ấn Độ có chiều ngang rộng từ 67 đến 87°kinh đông và có chiều dài từ 7 đến 32° vĩ bắc Phía đông bắc, Ấn Độ được ngăncách với lục địa châu Á bằng dãy núi Hi-ma-lay-a cao nhất thế giới Ấn Độ chỉ

có thể liên hệ bằng đường bộ với thế giới qua phía tây-bắc, qua đèo Bolan, hoặc

từ Ta-xi-la qua Ka-bul để đến I-ran và Trung Á Tuy nhiên 2 mặt phía tây nam

và phía đông nam của Ấn Độ đều giáp biển Vị trí của Ấn Độ nằm giữa đườngbiển từ Tây (Hồng Hải và vịnh Ba-tư) sang Đông (biển Đông và Thái BìnhDương) Đây chính là nơi dừng chân bắt buộc trên con đường hàng hải Tây-Đông Đặc biệt, với đường biển thuận lợi nh thế thì việc thông thương giữa cácvùng khác trên thế giới với Ấn Độ hoặc từ Ấn Độ đi các nơi khác là hết sức dễdàng và thuận tiện

Trang 3

Về mặt địa hình thì lãnh thổ Ấn Độ được chia thành 2 miền tương đối rõrệt qua sự ngăn cách của dãy núi Vindhya.

Nửa lãnh thổ phía bắc là lưu vực của 2 con sông lớn: sông Ấn (Indus) ởphía tây- bắc và sông Hằng (Ganga) ở phía đông- bắc Lưu vực sông Ấn mộtthời có điều kiện đất đai rất thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp Và đây làmột trong những cái nôi để hình thành nền văn minh cổ đại Ấn Độ Tuy nhiênsau đó khu vực này đã bị chi phối bởi các hiện tượng như hoang mạc hoá, cátlấn nên phần chủ yếu của lưu vực sông Ấn chịu tác động từ hoang mạc Thar.Tuy nhiên lưu vực sông Hằng thì màu mỡ và ổn định hơn

Nửa lãnh thổ phía nam rất rộng lớn nhưng lại là vùng đất không có nhiều

ưu đãi Mặc dù có hai mặt giáp biển nhưng ảnh hưởng của biển không nhiều đốivới khu vực này do hai dãy núi Gát-Đông và Gát-Tây bao chắn ở hai bờ phíađông và phía tây của bán đảo Sự khép lại của hai dãy núi này đã tạo nên một caonguyên Đê-can khô hạn Đây là vùng núi cao, rừng rậm rộng lớn và khá khắcnghiệt Tuy nhiên chạy dọc theo hai bờ đông tây của bán đảo Ấn Độ là hai vùngđồng bằng duyên hải nhỏ hẹp Đây là những nơi điều kiện sống thuận lợi nên cưdân tập trung khá đông đúc

Về mặt khí hậu, khí hậu Ấn Độ khá đa dạng xét theo chiều giảm dần của

vĩ độ Phía bắc, vùng giáp chân núi Himalaya thì khí hậu rất lạnh, có tuyết rơi.Nhưng ngay ở phía bắc Ên Độ, tính từ vĩ độ 23° bắc thì khí hậu đã rất nóng vàkhô do ảnh hưởng của đới chí tuyến Vùng tây bắc thuộc lưu vực sông Ấn, khíhậu khô nóng Chính kiểu khí hậu này đã tạo nên hoang mạc Thar rộng lớn, mỗichiều khoảng 600 km Và đến lượt nó, hoang mạc Thar lại tác động trở lại đốivới khu vực Lưu vực sông Ấn vốn ít mưa lại chịu tác động trực tiếp từ hoangmạc Thar nên cát bay dữ dội, phủ một líp dày trên hai bê trung lưu sông Ấn.Nhưng phía đông bắc, vùng lưu vực sông Hằng thì lại là một bức tranh khác hẳn.Chịu ảnh hưởng của gió mùa từ biển thổi vào nên lưu vực sông Hằng có mưa và

Trang 4

thực vật phát triển tốt Nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là trồng lúa nước khá pháttriển

Dịch xuống phía nam, nh đã nói ở trên, là khu vực cao nguyên Đê-can rấtkhô, nóng và rất nóng Nhưng ở vùng duyên hải thì gió biển đã đem lại mưa, khíhậu dịu mát hơn và có nhiều nước sinh hoạt cho người dân ở đây

Nh vậy Ấn Độ là một quốc gia có thiên nhiên đa dạng Miền Bắc có lắmsông ngòi và nhiều điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển Miền Nam cólắm rừng nhiều núi, có sa mạc nóng cháy lại có mưa gió theo mùa Đây quả thật

là một thiên nhiên vừa đóng kín, vừa cởi mở, vừa là một tiểu lục địa thống nhất,cách biệt với bên ngoài, vừa chia cắt và khác nhau ở bên trong, vừa hùng vĩ vàcực kì đa dạng

Chính sự đa dạng trên đây, đặc biệt là các điều kiện thuận lợi ở các lưuvực sông ở miền Bắc mà cư dân cổ đại Ấn Độ đã sáng tạo nên một nền văn minhrực rỡ Trong điều kiện thời kì cổ đại, khi các yếu tố về khoa học kĩ thuật chưachi phối thì những điều kiện địa lí thuận lợi chính là những viên gạch đầu tiênxây dựng nên nền văn minh cổ trung đại Ấn Độ

I.2 Điều kiện kinh tế.

Kinh tế thời cổ trung đại Ấn Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giátrị của nền văn minh Ấn Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh đó Tuy nhiên,tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền văn minh cổ trung đại

Ấn Độ thì sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn là khác nhau Vì thế, xin phépđựoc trình bày các điều kiện kinh tế theo các giai đoạn của nền văn minh

I.2.1 Thời kì văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu TNK III TCN đến giữa TNK II TCN).

Nh trên chúng ta đã biết, khởi nguyên của nền văn minh cổ trung đại Ấn

Độ là nền văn minh sông Ấn (văn minh Indus) Từ rất sớm cư dân Indus đã định

Trang 5

cư trên lưu vực sông Ấn tạo nên các thành phố cổ với những ngành kinh tế sơkhai.

Đầu tiên là ngành kinh tế nông nghiệp Thời kì này công cụ đồng thau đãxuất hiện nhưng cư dân chưa biết đến kĩ nghệ đồ sắt Họ không trồng lúa nước

mà trồng lúa đại mạch Nông nghiệp đã khá phát triển biểu hiện qua số thóc thừachứa trong các kho đụn

Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng đã có sự phát triển Sảnphẩm thủ công nghiệp khá phong phú, từ công cụ lao động đến đồ gốm, đồ trangsức Sản phẩm thủ công nghiệp của Ấn Độ cũng đã có mặt tại Lưỡng Hà vàngược lại Do buôn bán phát triển mà sản phẩm của Lưỡng Hà cũng có mặt ởđây Một con dấu hình trụ của Lưỡng Hà được chế tạo mô phỏng theo kiểu của

Ấn Độ đã nói lên quan hệ giao lưu thương mại giữa hai vùng

Tuy nhiên do nhiều lý do, trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết

mà sau đó cư dân sông Ấn đã loạn li Hướng đi của cư dân Arya là về phía đông,định cư trên lưu vực sông Ganga Lúc này cư dân bản địa ở đây mới bước vàothời kì đồng thau, vừa chăn nuôi vừa làm nông nghiệp sơ khai và chế tác đồgốm Người Arya đến và đã dạy người dân bản địa cách dùng ngựa để chuyênchở Còn người bản địa thì lại dạy người Arya cách trồng lúa nước Vì thế, mộtngành nông nghiệp định cư đã thay thế cho chăn nuôi du mục, thực sự phát triểnnăng động, nhanh chóng chiếm ưu thế và làm chủ lưu vực sông Ganga

Đó là cơ sở để làm nên nền văn minh ở lưu vực sông Hằng

I.2.2 Thời kì nền văn minh ở lưu vực sông Hằng (từ khoảng giữa TNK II TCN đến giữa TNK I TCN).

Nh trên đã trình bày thì nông nghiệp thời kì này ở lưu vực sông Hằng đã

có những chuyển biến lớn Cư dân đã biết dùng công cụ đồng và đá để đẽo cácdụng cụ bằng gỗ, nhất là lưỡi cày Họ còn đan bện các đồ dùng bằng lau sậy,thuộc da, làm đồ gốm, mà loại gốm phổ biến nhất là gốm đen bóng có hoa văn

Trang 6

giải băng chấm Cuối giai đoạn này, từ khoảng 800 năm TCN, kĩ nghệ luyện sắt

đã được áp dụng Điều này đã thúc đẩy nghề đúc kim khí, làm đồ gỗ, nhất là xekéo, nhà cửa

Chính ở thời gian này thương nghiệp bắt đầu xuất hiện Cư dân trao đổisản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp giữa các vùng Có lẽ cũng đã xuấthiện ngoại thương Các tài liệu có nói đến việc buôn bán ven biển với vịnh Ba-tư

và Hồng Hải qua đường biển Tây-Đông Hình thức phổ biến trong buôn bán vẫn

là trao đổi trực tiếp tuy đã bắt đầu xuất hiện hình thức vật trung gian

Sự phát triển kinh tế nêu trên đã thúc đẩy sự phân hoá xã hội theo tínhchất nghề nghiệp Họ gọi dân làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ấn Độ là Panis vàdân làm ruộng là Dasa Suđra hẳn được dùng để chỉ tầng lớp này

I.2.3 Thời kì các quốc gia sơ kì ở miền bắc Ấn Độ (từ 600-321 TCN).

Đây là giai đoạn mà ở lưu vực sông Ganga có sự hình thành của hàng loạttiểu quốc trong đó thừa nhận vai trò bá quyền của tiểu quốc Magađa Nhưng đâycũng là giai đoạn người Ấn Độ bắt đầu có sự tiếp xúc với người Iran và người

Hy lạp, mà một trong những biểu hiện của sự tiếp xúc đó là sự xâm lược củaAlêchxăngđrơ Makêđônia vào phía tây bắc Ấn Độ

Tuy nhiên ở chính thời gian đó thung lũng sông Hằng vẫn đứng ngoàinhững biến động của lưu vực sông Ấn Và mặc cho những thăng trầm diễn ra,vùng này vẫn phát triển và đạt nhiều thành tựu mới

Nông nghiệp tiếp tục phát triển nhờ đất đai màu mỡ và hệ thống thuỷ lợiđược mở mang Các ngành thủ công có nhiều tiến bộ Nghề luyện sắt và rèn đúcsắt lần đầu tiên nở rộ dưới thời Magađa Các loại mũi lao, giáo, mũi tên sắt đãkhá phổ biến

Loại gốm đặc trưng của miền Bắc là loại có xương gốm mịn, tráng màuxanh thẫm, ngả từ màu xanh thép sang sám thẫm và đen bóng Chủ yếu là đĩa vàbát nhỏ- những mặt hàng thương phẩm có giá trị cao

Trang 7

Về dệt, người Ấn Độ thời kì này đã dệt được vải trắng sợi bông.

Còn về thương nghiệp, thời kì này các nhà buôn chuyên chở và trao đổihàng hoá từ hạ lưu sông Hằng đến cửa sông Ấn rồi theo đường biển đến vịnhBatư và Hồng Hải hoặc ngược sông Hằng lên Ta-xi-la và theo đường bộ đến Iran

và Tiền Á Trong trao đổi người Ên Độ đã đúc được tiền bạc và tiền đồng

I.2.4 Thời kì vương triều Môrya (321- 232 TCN).

Đây là thời kì kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp song đã thừanhận sự chiếm hữu tư nhân về ruộng đất Việc khai khẩn đất hoang thuộc về nhànước Người dân nhận ruộng của làng, tự canh tác và nộp thuế

Gắn với nông nghiệp là thuỷ lợi Nhà nước rất quan tâm đến công tác đắp

đê, đào kênh, đập để phát triển nông nghiệp

Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có nhiều tiến bộ Nhà nước điềukhiển việc chế tạo vũ khí và tàu thuyền bên cạnh các nghề thủ công truyềnthống Thợ thủ công tập hợp lại với nhau trong các phường hội Việc buôn bánnội địa lúc này phát triển hơn nhiều do không còn có sự phân biệt quốc gia nàyvới quốc gia khác từ bắc đến nam

I.2.5 Thời kì phân liệt trên bán đảo Ấn Độ (232 TCN-320 sau CN).

Đây là thời kì Ấn Độ diễn ra sự phân chia các quốc gia với sự phát triểnkhác nhau giữa các tiểu quốc ở các miền Nam-Bắc Tuy nhiên có thể nói rằngsau thời kì thống nhất của vương triều Môrya thì đây không phải là một giaiđoạn khủng hoảng tan rã của Ấn Độ mà đây là sự chia cắt để phát triển cao hơn,tương đối đồng đều hơn trong từng phạm vi nhỏ hơn ở mỗi miền đất nước

I.2.6 Từ triều đại Gupta đến triều đại Hacsa (từ 320 đến 648).

Nông nghiệp vẫn được chú trọng với việc khai hoang và làm thuỷ lợi.Trong khi đó thì thủ công nghiệp khá phát triển Nghề dệt là nghề phát triển nhất

và có ý nghĩa hàng đầu đối với kinh tế Tiếp đến là khai mỏ và luyện kim, đặcbiệt là nghề làm đồ trang sức đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao và hoàn thiện

Trang 8

Thương nghiệp cũng được phát triển với mạch máu giao thông chính làcon sông Hằng Hàng hoá trao đổi rất phong phú Một loạt các hải cảng quantrọng đã thu hót các tàu buôn từ Trung Quốc, Ai Cập, Đông Dương, Mã Lai

I.2.7 Thời kì bị chia cắt và xâm lược (giữa thế kỉ VII đến thế kỉ XII).

Nhìn chung kinh tế Ấn Độ thời kì này sa sút dù rằng cũng đã được duytrì ở một mức độ nhất định để phục vụ chiến tranh

Nông nghiệp được canh tác 2 mùa với những kĩ thuật canh tác mới Sảnphẩm thừa từ nông nghiệp được mang ra trao đổi khá phong phú thời gian nàythợ thủ công được các chóa phong kiến đưa vào thành phố nên thủ công nghiệp

ở thành thị phát triển mạnh Ngoại thương vẫn được duy trì nhưng thời kì nàyngười ta còn biết buôn bán cả với Nhật Bản Thương nhân cũng tập hợp lại trongcác đẳng cấp

I.2.8 Thời kì Xuntan Đêli và Ấn Độ Môgôn (thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX).

Thời kì Xuntan Đêli: Nền kinh tế với nông nghiệp vẫn là chủ yếu nhưngthời kì này năng suất đã tăng lên Thủ công nghiệp vẫn phát triển các ngànhtruyền thống làm cho ngoại thương cũng trở nên tấp nập với nhiều hải cảng ởvịnh Bengan, biển Arập

Bước sang thời kì vương triều Môgôn, với sự tập trung nhất định của nhànước trong việc điều hành đất nước thì nền kinh tế Ấn Độ đã được nâng cao hơnnhiều Ngoài trồng cây lương thực người ta còn trồng các loại cây công nghiệp.Mỗi thành phố hải cảng thường có một nghề thủ công riêng nhưng thương mạicủa thành phố đó mới là quan trọng nhất

Nhìn chung mỗi thời kì nền kinh tế Ấn Độ có những bước phát triển riêngnhưng về cơ bản ngành kinh tế truyền thống của nước này vẫn là nông nghiệp vàcông thương nghiệp Giao lưu trao đổi nội vùng và với thế giới bên ngoài pháttriển mạnh Nhờ đó, nền văn minh cổ trung đại Ấn Độ vừa có những thành tựu

đa dạng khẳng định những giá trị của văn hoá truyền thống vừa có sự tiếp thu

Trang 9

những tinh hoa văn hoá từ bên ngoài vào Như vậy kinh tế chính là một trongnhững điều kiện qui định tính chất và trình độ của nền văn minh cổ trung đại ÊnĐộ.

nh đã phân tích ở trên

Đến thế kỉ V TCN thì xuất hiện một loại chữ, đó là Kharosthi, phỏng theochữ của vùng Lưỡng Hà Sau đó xuất hiện chữ Brami được sử dụng rộng rãi, đặcbiệt trên bia mộ của Axôca Trên cơ sở chữ Brami, người Ấn Độ đã đặt lại chữ

Trang 10

Đêvanagari có cách viết thuận tiện hơn Loại chữ này còn được dùng tới ngàynay tại Ên Độ và Nêpan.

II.2 Văn học.

Trong cuộc sống sinh hoạt, đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai và chốngxâm lấn, nền văn học Ấn Độ đã ra đời và có nhiều thành tựu đáng kể Hai bộphận quan trọng của văn học là sử thi và Vêđa

II.2.1 Vêđa.

Thông qua hình thức các bài ca và những bài cầu nguyện, các tập củaVêđa không những phản ánh bối cảnh xã hội Ấn Độ ở thời kì tan rã của chế độcông xã thị téc, hình thành một xã hội có giai cấp và nhà nước mà còn là bứctranh về cuộc sống của cư dân Ấn Độ ở thời điểm đó Đó là nội dung của 3 tậpđầu tiên: Rích Vêđa, Xama Vêđa và Yagiua Vêđa

Còn tập cuối cùng là Atacva Vêđa lại đề cập đến một lĩnh vực khác, đó làchế độ đẳng cấp, việc hành quân hay cả một số mặt của đời sống xã hội

Và sau 4 tập kinh Vêđa là một số tác phẩm viết bằng văn xuôi, tuy nhiênkhông có nhiều giá trị

II.2.2 Sử thi.

Có hai bộ sử thi rất nổi tiếng đó là Mahabharata và Ramayana Đây là hai

bộ sử thi đồ sộ được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỉ I TCN rồi được chéplại bằng khẩu ngữ

- Mahabharata (nghĩa là cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata) là bộ sử

thi dài nhất thế giới gồm có 18 chương và một chương bổ sung tài liệu, gồm220.000 câu Đây là tác phẩm phản ánh cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ

đế vương ở miền Bắc Ên Độ

Trang 11

Ramayanala là bộ sử thi kể về câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama

và người vợ chung thuỷ Sita Tác phẩm bao gồm 7 chương với 48.000 câu,tương truyền là của Vanmiki

Cả hai bộ sử thi trên là những công trình sáng tác tập thể của nhân dân Ấn

Độ trong nhiều thế kỉ và đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ cho tớitận ngày hôm nay, là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học đương đạicủa Ấn Độ

Trang 12

Ngoài hai tác phẩm đã nói ở trên, văn học Ấn Độ thời kì này còn phảinhắc đến tên tuổi của nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất thời đại Gupta Đó là

Caliđaxa với tác phẩm tiêu biểu nhất là vở kịch Sơcuntla Đây là một nhà văn

lớn của thế giới

Từ cuối thế kỉ 10, ngoài văn học tiếng Xanxcrit còn có các tác phẩm viếtbằng các phương ngữ khác nhau, dùng ngôn ngữ dân gian để phản ánh tâm tưnguyện vọng của quần chúng nhân dân nên được quần chúng nhiệt tình đón nhận

II.3.Về thiên văn học.

Người Ấn Độ từ thời cổ đại đã tính ra rằng một năm có 12 tháng, mộttháng có 30 ngày, một ngày có 30 giê và cứ 5 năm thì lại có một năm nhuận

Do yêu cầu của cuộc sống sản xuất nông nghiệp nên cư dân cổ Ấn Độ sớm

có những quan sát bầu trời và vũ trụ và tính toán, cho dù những tính toán đó cóthể là chưa chính xác Tuy nhiên việc họ cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng hìnhcầu là hoàn toàn chính xác Họ còn biết được quĩ đạo của Mặt Trăng, biết được 5hành tinh là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ

II.4 Toán học

Còng do hoạt động sản xuất nông nghiệp và buôn bán khá phát triển nênnhu cầu tính toán là rất cần thiết Vì thế người Ấn Độ đã phát minh ra một loạtcác khái niệm, con số có ý nghĩa to lớn cho toán học ứng dụng ngày nay Vĩ đạinhất có lẽ là việc người Ấn Độ đã sáng tạo ra 10 chữ số đếm ngày nay, mà tàiliệu có sử dụng sớm nhất các chữ số đó là ở trên bia đá của Axôca (thế kỉ 3TCN)

Ngoài ra, người Ấn Độ đã tính được số π bằng 3,1416 Họ cũng đã phátminh ra được đại số học Còn trong hình học họ biết tính diện tích hình vuông,hình chữ nhật, hình tam giác, đa giác, tính được quan hệ giữa các cạnh trong tamgiác vuông

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH: I.1. Điều kiện địa lí. - Tiểu luận Lịch sử Văn Minh Thế giới
1. Điều kiện địa lí (Trang 2)
* Sự hình thành và giáo lí của đạo Hinđu: - Sự hình thành:  - Tiểu luận Lịch sử Văn Minh Thế giới
h ình thành và giáo lí của đạo Hinđu: - Sự hình thành: (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w