1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÀI GIẢNG BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA ĐĂK LĂK,

125 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word TO BIA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN TS NGUYỄN VĂN NAM BÀI GIẢNG BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA ĐĂK LĂK, 2011 Mục lục Trang MỞ ĐẦU 1 I Một số phương thức phân loại bệnh hại trê.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

TS NGUYỄN VĂN NAM

BÀI GIẢNG BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA

ĐĂK LĂK, 2011

Trang 2

Mục lục

Trang

MỞ ĐẦU 1

I Một số phương thức phân loại bệnh hại trên cây trồng 1

II Các loại tài liệu liên quan đến bệnh hại trên cây trồng 1

Chương I: Bệnh hại trên cây lương thực 2

I Bệnh hại trên cây lúa 2

1.1 Một số nghiên cứu bệnh hại trên cây lúa 2

1.2 Một số bệnh hại do nấm 3

1.2.1 Bệnh Đạo ôn 3

1.2.2 Bệnh Khô vằn 5

1.2.3 Một số bệnh nấm khác 5

1.3 Một số bệnh hại do vi khuẩn 6

1.3.1 Bệnh bạc lá lúa 6

1.3.2 Một số bệnh vi khuẩn khác 7

1.4 Một số bệnh virus gây hại trên cây lúa 7

1.4.1 Bệnh Tungo 8

1.4.2 Một số bệnh vi rus khác 9

1.5 Một số bệnh tuyến trùng gây hại trên cây lúa 9

1.6 Một số bệnh sinh lí 10

II Bệnh hại ngô 12

2.1 Một số thông tin chung về cây ngô 12

2.2 Một số nghiên cứu về bệnh hại trên cây ngô 12

2.3 Một số bệnh hại do nấm gây ra 15

2.3.1 Bệnh đốm lá lớn 15

2.3.2 Bệnh đốm lá nhỏ 15

2.3.3 Bệnh gỉ sắt 16

2.3.4 Bệnh khô vằn 16

2.4 Một số bệnh do vi khuẩn 17

2.4.1 Bệnh thối thân 17

2.5 Một số bệnh do virus 17

2.5.1 Bệnh khảm lá ngô 17

2.5.2 Bệnh khảm lùn cây 17

2.6 Bệnh do tuyến trùng 18

2.6.1 Tuyến trùng Pratylenchus gây hại trên cây ngô 18

2.7 Một số bệnh khác trên cây ngô 19

III Bệnh hại trên cây khoai lang 21

IV Bệnh hại trên cây đậu xanh 23

Chương II: Bệnh hại trên cây công nghiệp dài ngày 25

I Bệnh hại trên cây cà phê 25

1.1 Bệnh gỉ sắt 25

1.2 Bệnh khô cành khô quả 30

1.3 Bệnh nấm hồng 32

1.4 Các bệnh hại rễ 32

1.4.1 Tuyến trùng gây hại 32

1.4.1.1 Radopholus gây hại trên cây cà phê 34

1.4.1.2 Pratylenchus gây hại trên cây cà phê 34

1.4.2 Bệnh lỡ cỗ rễ 38

II Bệnh hại trên cây cao su 34

2.1 Bệnh phấn trắng 40

Trang 3

2.2 Bệnh loét sọc mặt cạo 42

2.3 Bệnh thối rễ trắng 43

2.4 Bệnh nấm hồng 43

III Bệnh hại trên cây hồ tiêu 44

3.1 Bệnh vàng lá chết chậm 45

3.2 Bệnh vàng lá chết nhanh 48

3.3 Bệnh xoăn lùn 49

3.4 Bệnh nấm hồng 50

3.5 Một số bệnh hại trên lá 50

IV Bệnh hại ca cao 51

4.1 Bệnh do nấm Phytophthora 51

4.1 Bệnh khô cành 53

4.2 Bệnh nấm hồng 53

4.3 Bệnh thối nhũn bên trong trái 54

4.4 Một số bệnh hại khác 54

Chương III: Bệnh hại trên cây công nghiệp ngắn ngày 56

I Bệnh hại trên cây bông 56

1.1 Bệnh lở cỗ rễ 56

1.2 Bệnh thán thư trên cây bông 57

1.3 Bệnh xanh lùn trên cây bông 57

1.4 Bệnh mốc trắng 58

1.5 Bệnh cháy lá 59

II Bệnh hại trên cây mía 59

III Bệnh hại trên cây đậu phộng 60

2.1 Bệnh đốm lá 61

2.2 Bệnh héo xanh cây lạc 63

IV Bệnh hại trên cây đậu tương 65

Chương IV: Bệnh hại trên cây rau 76

I Một số bệnh chung 76

II Bệnh hại bắp cải 76

2.1 Bệnh sưng rễ 76

2.2 Bệnh thối hạch 77

2.3 Bệnh thối nhũn 78

III Bệnh hại cà chua 80

IV Bệnh hại ớt 83

V Bệnh hại hành 85

VI Bệnh hại trên bầu, bí, dưa chuột 87

Chương V Bệnh hại trên cây ăn quả 94

I Bệnh hại trên cây bơ 94

1.1 Bệnh thán thư 94

II Bệnh hại trên cây chuối 95

2.1 Bệnh héo Fusarium 95

2.2 Bệnh chùn ngọn 95

III Bệnh hại trên cây cam 96

IV Bệnh hại trên cây đu đủ 102

V Bệnh hại trên xoài 102

VI Bệnh hại trên cây sầu riêng 106

Chương VI Bệnh hại khác trên cây trồng 114

I Bệnh hại trên cây cảnh 114

II Một số bệnh do nấm trong đất gây ra 115

ii

Trang 4

III Bệnh hại cây rừng 116

Tài liệu tham khảo 121

Trang 5

MỞ ĐẦU

I Một số phương thức phân loại bệnh hại trên cây trồng

1.1 Phân loại dựa vào cây kí chủ

Chúng ta có thể dựa vào cây kí chủ để phân loại bệnh hại trên cây trồng nông nghiệp

Điều

Đậu phộng

phận của cây trồng

Trên cây lúa người ta phân chia bệnh hại do virus, vi khuẩn, nấm, tuyến trùng, bệnh sinh lí

các bộ phận của cây kí chủ như bệnh hại trên lá, bệnh hại trên thân cành, bệnh hại trên hoa quả, bệnh hại trên rễ, củ

1.2 Phân loại dựa vào kí sinh gây hại

Dựa vào kí sinh gây hại, chúng ta phân loại bệnh hại trên cây trồng theo kí sinh gây hại như bệnh virus, bệnh vi khuẩn, bệnh nấm, bệnh tuyến trùng, bệnh do mycoplasma, thực vật thượng đẳng kí sinh Trong từng nhóm người ta nghiên cứu bệnh hại trên từng loại cây kí chủ và từng bộ phận của cây trồng

1.3 Phân loại dựa vào nguồn gốc phát sinh

Bệnh phát sinh từ đất, bệnh từ hạt giống, bệnh từ các bộ phận khí sinh, bệnh trong vườn ươm

II Các tài liệu liên quan đến bệnh cây chuyên khoa

- Giáo trình bệnh cây

- Tài liệu chuyên sâu về các kí sinh, tác nhân gây hại cây trồng

• Vi khuẩn gây bệnh cây

• Virus gây bệnh cây

• Tuyến trùng gây bệnh cây

• Nấm gây bệnh cây

• Bệnh sinh lí trên cây trồng

- Các sổ tay hướng dẫn xác định bệnh hại ngoài đồng ruộng

• Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

• Sổ tay hướng dẫn bệnh hại trên rau

- Các tài liệu bệnh chuyên sâu

• Bệnh hại trên lúa

• Bệnh hại trên cao su

- Các tài liệu về cẩm nang bệnh hại trên cây trồng

• Cẩm nang bệnh hại trên cây ăn quả

• Cẩm nang bệnh hại trên cây đậu

- Các tài liệu về sâu bệnh hại trên cây trồng nhiệt đới

- Các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam và Quốc tế: Tạp chí BVTV, Tạp chí bệnh cây của Mỹ (Phytopathology, http://www.apsnet.org/PUBLICATIONS), bệnh cây Nhật, Úc…

Trang 6

CHƯƠNG I: BỆNH HẠI TRÊN CÂY LƯƠNG THỰC Nội dung và yêu cầu

Nắm vững thành phần và bệnh hại chính trên cây lúa, cây ngô, cây khoai lang, một số bệnh thường gặp và gây hại ở khu vực Tây Nguyên

I BỆNH HẠI TRÊN CÂY LÚA

Lúa là cây lương thực chủ yếu của con người, được gieo trồng ở nhiều nước trên thế giới, diện tích trồng lúa ở Châu Á chiếm trên 90% diện tích lúa trên thế giới Năm 1995 diện tích trồng lúa trên thế giới là 147,5 triệu ha ở 107 nước, sản lượng đạt 527,4 triệu tấn thóc

Cây lúa có rất nhiều sâu bệnh, cỏ dại phá hại, theo ước tính hàng năm trên thế giới thiệt hại trên 210 triệu tấn thóc do cỏ dại và sâu bệnh

Việt Nam là đất nước có lịch sử trồng lúa từ rất lâu đời, cây lúa được gieo trồng

ở khắp nơi trên đất nước Với khí hậu nhiệt đới ẩm thích hợp cho nhiều loài sâu bệnh phát triển Theo nhiều tài liệu trên cây lúa có hơn 461 loài sâu, bệnh và cỏ dại gây hại

1.1 Một số nghiên cứu về bệnh hại trên cây lúa

Đỗ thị Hiền (1992) bệnh đạo ôn xuất hiện trên cây lúa ở các tỉnh phía Bắc thay đổi trên lá từ tháng hai, cao nhất tháng tư, trên cổ bông bệnh xuất hiện vào cuối tháng

4 cao nhất vào giữa tháng 5

Bệnh đốm vằn trên cây lúa thay đổi tùy theo vụ: Vụ chiêm phát sinh từ giữa tháng 3, phát triển mạnh vào cuối tháng 4; Vụ mùa bệnh phát triển vào cuối tháng 7, phát triển trên diện rộng vào cuối tháng 8

Bệnh vàng lá xuất hiện trên diện rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, bệnh trên diện hẹp có tỉ lệ bệnh thay đổi từ 5 - 10%

Bệnh đen hạt có tỉ lệ bệnh thay đổi từ 5 đến vài chục phần trăm

Trong quá trình tổ chức sản xuất và thâm canh tăng năng suất, hệ sinh thái ruộng lúa có những thay đổi, tạo điều kiện cho sâu bệnh hại phát sinh, phát triển Theo tài liệu của viện nghiên cứu lúa IRRI, bệnh hại trên cây lúa gồm 12 bệnh virus, 5 bệnh

vi khuẩn, 36 bệnh nấm, 6 bệnh tuyến trùng, 4 bệnh sinh lí

Sự phân chia bệnh hại lúa theo đối tượng gây hại như bệnh virus, bệnh vi khuẩn, Bệnh nấm, bệnh tuyến trùng và bệnh sinh lí Trong từng loại bệnh theo đối tượng gây hại người ta phân chia bệnh theo các bộ phận của cây như bệnh hại trên lá, bệnh hại trên thân, bệnh hại trên hoa, hạt và bệnh hại rễ

Trang 7

Bảng 1.1: Một số bệnh hại trên cây lúa

Lá, cổ bông

Lá, thân, đòng Hạt

Vi rus Ditylenchus angustus Xanthomonas oryzae Xanthomonas translucena Pseudomonas panici Erwinia carotovora Ramularia oryzae Aschochyta oryzae Puccinia graminis Helmimthosporium sp

Cylindrocladium sp

Sclerotium Fusarium, Pythium, Pythiomorpha sp

Tilletia sp

Lá, thân

Lá, thân, hạt Thân, hạt Thân, ngọn

1.2 Một số bệnh hại do nấm

1.2.1 Bệnh đạo ôn

Bệnh có lịch sử lâu đời, Trung Quốc (1704), Italia (1828), phạm vi phân bố rộng nhất so với các bệnh hại trên cây lúa, hơn 70 nước, gây thiệt hại kinh tế lớn cho cây lúa ở vùng Đông Nam Á và các nước trồng lúa trên thế giới

Triệu chứng bệnh

Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây, hại tất cả các bộ phận trên cây, rõ nhất trên lá, cổ bông, đốt thân

+ Trên ruộng mạ: Vết bệnh trên lá có hình bầu dục, nhỏ sau chuyển sang hình

thoi ở giữa có màu nâu vàng, xung quanh có màu nâu hồng Trên các giống lúa nhiễm bệnh, nhiều vết bệnh lớn hơn và liên kết lại với nhau tạo thành mảng cháy lớn

+ Trên lá: Vết bệnh trên lá giai đoạn đầu tiên có kích thước nhỏ, màu xanh, sau

đó phát triển lớn dần có dạng gần hình thoi, rìa màu nâu đỏ, phần mô giữa bạc trắng Tùy theo giống mà kích thước vết bệnh khác nhau, một số trường hợp nhiều vết bệnh hợp lại tạo thành mảng cháy lớn

+ Trên cổ bông: Lúc đầu vết bệnh nhỏ có màu xám gần cổ bông giáp lá đòng

hay chuỗi hạt thóc, vết bệnh sau phát triển bao quanh cổ bông làm bông héo

Tác nhân và đặc điểm hình thái của nấm Pyricularia oryzae

Tác nhân: Pyricularia oryzae Cav

Nấm được nuôi cấy trên môi trường PDA có thêm nước chiết cây lúa, đặc điểm hình thái của nấm như trình bày bảng 1.2

Bào tử nấm Pyricularia oryzae có dạng hình elip, 2 - 3 vách ngăn, một đầu to,

Trang 8

đầu kia thon nhỏ lại, thấu quang kích thước thay đổi tùy theo dòng từ 8,7 x 22,8 - 8,1

x 27,3 μm, cành sinh bào tử dài mảnh, thỉnh thoảng phân nhánh, có chiều dài 60 - 120

μm

Khuẩn lạc trên môi trường nuôi cấy phát triển nhanh, sau 2 ngày nuôi cấy khuẩn lạc đạt 2,1 - 2,5 cm, sau 7 ngày nuôi cấy khuẩn lạc phát triển kín đĩa petri, sợi nấm phát triển trên môi trường nhân tạo thay đổi khi thưa, khi dày tạo thành đám khuẩn lạc như sợi bông trên môi trường nuôi cấy, màu sắc luôn thay đổi từ trắng nhạt, hồng đến xám ôliu Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước

do nấm Pyricularia oryzae bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện môi trường và có nhiều

dòng sinh lý khác nhau

Bảng 1.2: Đặc điểm hình thái khuẩn lạc và bào tử nấm P oryzea

Đường kính khuẩn lạc sau

khi cấy (cm) Mẫu

3 ngày 5 ngày 7 ngày

Màu sắc khuẩn lạc

Màu sắc môi trường

Kích thước bào tử (μm)

Thời gian (giờ) 10 8 6

Bảng 1.4.: Thời gian tiềm dục bệnh đạo ôn

Khả năng sinh sản 200-6000 bào tử/ngày, bào tử bay cao 24m, lan truyền xa, sợi nấm tồn tại trong rơm rạ 3 năm

Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh

- Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ thấp

- Thường xảy ra trên nương mạ khô, điều kiện ẩm, bệnh phát triển nhanh

- Mật độ dày, trời nhiều mây, sương, âm u bệnh phát triển nhanh

- Bón nhiều phân đạm, tập trung bệnh phát triển nhanh

- Bón nhiều K, P tăng tính kháng bệnh của lúa

- Tùy theo giống độ nhiễm bệnh khác nhau

- Công thức dự tính, dự báo: Y = 0,69x + 2,8 ( Y tỉ lệ bị hại, x tỉ lệ bông bị hại)

Bảng 1.5: Một số loại cây kí chủ phụ của nấm Pyricularia

Eleusina indica Sorghum sp

23,9 x 8,2 22,5 x 10,2 23,1 x 8,1 21,1 x 8,9 Quần thể cây kí chủ phụ của bệnh đạo ôn khá nhiều, đặc biệt cỏ dại trong ruộng

và trên bờ

Biện pháp phòng trừ

- Giống kháng: Giống OM 269, OM 296, OM 723 - 7, OM 723- 11, MTL 103, MTL

105

Trang 9

- Chọn giống kháng đa gen

- Canh tác: Thời vụ thích hợp, bón phân cân đối, tránh để khô hạn kéo dài

- Biện pháp hóa học: sử dụng thuốc theo khuyến cáo: Tilt supper 0,1%, Rabcid 0,1%, Hinosan 0,15%

1.2.2 Bệnh khô vằn

Bệnh phân bố rộng ở hầu khắp các nước trồng lúa châu Á, châu Mỹ , bệnh làm giảm năng suất lúa 20 - 25%

Triệu chứng

Vết bệnh lúc đầu xuất hiện trên bẹ lá có hình dạng bầu dục, oval, kích thước 1-

10 mm, có màu xám xanh nhạt, vết bệnh sau đó phát triển mạnh và có hình dạng không nhất định, kích thước biến thiên từ 2 - 3 cm, phần mô ở giữa trắng, phần ngoài

có viền đen nâu trông vằn vện, hạch nấm tròn, oval có màu hồng nhạt, trong điều kiện ẩm sợi nấm mọc trắng phần thân gần mặt nước

Tác nhân gây bệnh

Nấm Rhizoctonia solani

Bảng 1.6: Một số đặc điểm hình thái của nấm Rhizoctonia solani

khi cấy (cm)

Màu sắc khuẩn lạc

Màu sắc môi trường

Kích thước hạch nấm(cm)

1 ngày 3 ngày 5 ngày

Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh

- Trong đất khô hạn hạch nấm sống trên 21 tháng, đất ẩm sống 130 - 224 ngày, hạch nấm sau 18 - 24 h có thể phát triển sợi nấm và xâm nhập vào cây

- Bệnh phát triển mạnh vào giai đoạn lúa đẻ rộ

- Bệnh phát triển từ dưới lên trên, từ cây lúa này sang cây bên cạnh, khi nấm lên lá đòng gây giảm năng suất nghiêm trọng

- Bệnh phát triển mạnh trên ruộng bón nhiều N, P

- Ký chủ phụ: nấm kí sinh trên 188 loài cây trồng khác nhau

- Cày vùi ruộng độ sâu 8 - 13cm

- Ngâm ruộng nước

1.2.3 Một số bệnh nấm khác

1.2.3.1 Bệnh than vàng

Tác nhân: Ustilaginoidea virens (CK) Tak

Triệu chứng: Bệnh thấy được khi hạt lúa bắt đầu chín, một số hạt lúa trên thân biến thành một khối bào tử bên ngoài có màu hơi xanh, bên trong có màu vàng cam

1.2.3.2 Bệnh đốm nâu(bệnh tiêm lửa)

Tác nhân: Helminthosporium oryzae Breda de Haan

Trang 10

Triệu chứng: Biểu hiện rõ trên lá và vỏ trấu, đốm trên lá hình bầu dục có kích thước nhỏ như hạt mè, hình dạng của vết bệnh giống nhau và trải đều khắp mặt lá, kích thước vết bệnh 0,4 - 1 x 0,05 - 0,1 cm, vết bệnh có màu nâu, tâm vết bệnh có màu trắng

1.2.3.3 Bệnh gạch nâu

Tác nhân: Cercospora oryzae Miyake

Triệu chứng: Trên phiến lá có nhiều gạch rõ nét, ngắn, hẹp màu nâu chạy song song với gân lá, vết bệnh có thể xuất hiện trên thân, vỏ trấu Giống nhiễm bệnh gạch rộng hơn màu nâu nhạt, ở giữa có màu sáng

1.2.3.4 Bệnh thối bẹ

Tác nhân: Sarocladium oryzae Gums and Hawksưorth

Triệu chứng: Bệnh xảy ra ở giai đoạn lúa có lá cờ vào giai đoạn sắp trổ bông, triệu chứng lúc đầu là đốm bầu dục dài hoặc có dạng bất thường, kích thước 0,5 - 1,5 cm, tâm màu xám, viền màu nâu hay toàn bộ vết bệnh có màu nâu xám, vết bệnh to dần và thường liên kết chiếm cả bẹ lá, bệnh nặng làm bông lúa bị nghẹn không trổ bám đầy nấm màu trắng

1.2.3.5 Bệnh phỏng lá

Tác nhân: Rhynchosporium oryzae Has and Yokogi

Triệu chứng: Thường xảy ra trên chóp lá đã trưởng thành, đôi khi ở bìa lá và các phần khác của bẹ lá, vết bệnh có dạng bầu dục, có góc cạnh hay vết bệnh phát triển thành những vùng to màu xanh hình bầu dục hay hơi dài có viền hẹp đậm màu bao quanh, ngoài cùng có viền hẹp đậm màu, lá bị bệnh nặng bị khô có màu vàng rơm lợt, viền nâu

1.2.3.6 Bệnh lúa von

Tác nhân: Fusarium moniliform Shel

Triệu chứng: Cây lúa cao hơn bình thường, có màu xanh vàng Một số trường hợp cây chết, cây không chết trổ bông có hạt lép hay lửng, bệnh thường xảy ra trong điều kiện

biểu hiện rõ nhất giai đoạn lúa đẻ - trỗ - chín sữa

Trên mạ:

Vi khuẩn gây hại ở mép lá, đầu lá với những vết bệnh có kích thước khác nhau

có màu xanh vàng, nâu nhạt, khô xác, giai đoạn này dễ nhầm lẫn với bệnh do sinh lý

Trên lúa:

Triệu chứng thường xuất hiện ở mép lá, chóp lá sau đó kéo dài theo gân lá hay vào trong phiến lá, vết bệnh có màu vàng, mô bệnh xanh tái, vàng lục, lá nâu bạc, khô xác Hiện nay theo một số nghiên cứu cho rằng có 2 loại triệu chứng, bạc lá gợn vàng (phổ biến trên hầu hết các giống) và bạc lá tái xanh (xuất hiện trên một số giống lúa)

Tác nhân

Vi khuẩn Xanthomonas oryzea

Trang 11

Loài vi khuẩn này có nhiều chủng khác nhau, dạng hình que, đầu tròn, kích thước 1-2 x 0,8- 1 μm, chiều dài lông roi 6-8 μm, nhuộm gram -, không hình thành bào

tử Khuẩn lạc có màu vàng trên môi trường nhân tạo, hình vành khuyên, đường kính 1-2μm

Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh

Vi khuẩn có khả năng sống trong đất từ 1- 3 tháng, sống tiềm sinh trong hạt lúa

từ vài tháng hơn 1 năm, kí sinh trên cỏ dại, lúa chét, tồn tại trong rơm rạ

Sau khi xâm nhập qua thủy khổng 1-2 ngày, vi khuẩn có thể nhân lên theo cấp

số nhân xâm nhập vào mạch dẫn và di chuyển đến các bộ phận khác

Bệnh lây lan do gió, mưa, dòng nước với mật độ khuẩn lạc cao 100.000 kl/1ml, bệnh phát triển mạnh trong điều kiện lũ lụt, úng, nhiệt độ cao, bón nhiều N, thừa Mn,

Si, thiếu P, K bệnh phát triển mạnh

• Vệ sinh đồng ruộng, lúa chét

• Bón phân cân đối

- Hóa học: Xử lí thuốc Kasuran, liều lượng 0,02%

1.3.2 Một số bệnh vi khuẩn khác

1.3.2.1 Bệnh sọc trong

Tác nhân: Xanthomonas campestris pv oryzea translucens f sp oryzicola

Triệu chứng: Vệt hẹp, trong suốt giữa các gân lá, vết bệnh chuyển sang màu nâu và lớn dần Vi khuẩn xâm nhập qua vết thương hay khí khổng

1.3.2.2 Bệnh thối gốc

Tác nhân: Ewinia chrysanthemi

Triệu chứng: Chồi có màu nâu đậm, mô thối, bệnh xảy ra trên chồi non, thân lúa mền

nhũn, có mùi hôi, lá chuyển vàng Bệnh được ghi nhận ở Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia

1.3.2.3 Bệnh sọc lá

Tác nhân: Pseudomonas setariae

Triệu chứng: Sọc dài trên lá mạ, màu xanh đậm trông giống như thấm nước, vết sọc

kéo dài và có màu nâu đậm, kích thước 3 - 10cm x 0,5 - 1mm, bệnh xảy ra trên đọt non chưa bung gọi là thối đọt

1.4 Một số bệnh virus gây hại trên cây lúa

Có 12 bệnh virus gây hại trên cây lúa, bệnh lúa lùn được phát hiện đầu thế kỷ

20 Một số bệnh virus phát hiện từ lâu nhưng mới được giám định trong thời gian gần đây Hầu hết các bệnh virus được truyền qua rầy nâu và rầy xanh Hình thức truyền lan theo kiểu bền vững và không bền vững Theo phương thức truyền bền vững, virus

được giữ trong côn trùng suốt đời và truyền qua trứng Rầy xanh Nephotextix là loài

quan trọng nhất truyền một số virus hại lúa

Trang 12

Bảng 1.7: Một số bệnh virus gây hại trên cây lúa

4 Đốm sọc đen

lụi

Bệnh Tungro phát hiện đầu tiên ở trại thí nghiệm lúa Quốc tế, Philippine năm

1963 Bệnh xảy ra ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là vùng Đông Nam Á với nhiều tên gọi khác nhau như: Bệnh lúa lùn, bệnh lúa vàng Hiện nay bệnh này được coi là bệnh quan trọng gây hại cho các nước trồng lúa ở khu vực Đông Nam Á

Triệu chứng

Triệu chứng chung là cây lúa thấp, lùn, lá chuyển sang màu vàng hay vàng da cam Lá biến màu từ phần đỉnh, có thể hoặc không lan xuống phần dưới và thường chỉ phần trên của phiến lá biến màu Trên các lá non có thể xuất hiện các đốm khảm, các

lá già xuất hiện các đốm màu gỉ Các giống chống bệnh, sự biến màu ở bộ lá xuất hiện từng phần, các giống nhiễm bệnh sự biến màu xuất hiện toàn bộ phiến lá

biệt nhiều về chiều cao cây Trong cùng giống lúa hiện tượng thấp cây sẽ giảm dần nếu cây bị nhiễm bệnh càng lớn Các lá bị bệnh chứa hàm lượng tinh bột rất lớn, khi nhuộm với Indol chuyển sang màu nâu sẫm hay đen

Tác nhân và môi giới truyền bệnh

Virus có hai nòi: S và M, hình dạng virus có nhiều góc cạnh kích thước 30 - 33nm

Tác nhân truyền bệnh: N impicticeps Ishihara

bọ rầy có thể hút và truyền bệnh trong 2 giờ, sau 5- 6 ngày bọ rầy không mang virus nữa, sự suy giảm hiệu lực truyền bệnh có thể đo được theo giờ Thời gian ủ bệnh trong cây 6 - 9 ngày Virus không truyền qua trứng, qua hạt giống và không truyền qua đất

Trang 13

Có 63 loài cỏ dại, lúa cỏ là kí chủ tốt của virus: Eleusine indica, Echinochloa

colonum, Ischaemum rugosum, Dactyloctenium aegyptinum

Quần thể rầy mang mầm bệnh phụ thuộc vào kí chủ Ở các vùng nóng ẩm có cây kí chủ quanh năm, chu kì rầy liên tục do vậy mang mầm bệnh cao Vùng trồng một

vụ, ít cây kí chủ, rầy sinh trưởng không liên tục mầm bệnh ít

Phòng trừ

- Giống kháng bệnh

- Diệt trừ môi giới truyền bệnh

- Nhổ bỏ các cây bị bệnh, loại bỏ cây kí chủ phụ

1.4.2 Một số bệnh virus khác

1.4.2.1 Bệnh lúa lùn có bướu trên lá

Triệu chứng: Cây lúa bị bệnh có chiều cao thấp, ít chồi, lá ngắn thường xoắn ở chóp,

màu xanh, xanh đậm, trổ bông trễ không mang nhánh phụ, gân lá phồng lên, có các bướu trên mặt phiến lá, bướu có màu xanh nhạt đến trong suốt, kích thước bướu 0,4 - 0,5 - x 0,4 - 8mm, bướu rất khó phát hiện, tuy nhiên có cảm giác khi sờ vào mặt lá

Véc tơ truyền bệnh: rầy xanh, rầy bông

1.4.2.2 Bệnh lúa cỏ

Triệu chứng: Cây lúa bị bệnh rất lùn, nhiều chồi như bụi cỏ, lá hẹp, ngắn, cứng có màu xanh đến xanh nhẹ, cây bệnh có thể sống đến trưởng thành nhưng cho ít bông, bông nhỏ, ít hạt, hạt lép màu nâu đậm

Véc tơ truyền bệnh: Rầy nâu

1.4.2.3 Bệnh lá trắng

Triệu chứng: Bệnh nhiễm càng sớm cây càng bị lùn, triệu chứng rõ ràng nhất là có

một hay nhiều sọc trắng đến hơi vàng làm cho cả lá trắng hay lốm đốm như dạng khảm, cây bệnh cho bông nhỏ và thường không trổ ra khỏi bẹ, vỏ trấu màu hơi vàng nâu, khô nhanh và thường cong queo, bông lúa có ít hay không có hạt do vậy vẫn đứng thẳng đứng, cây bệnh thường không chết trừ khi bị nhiễm ở giai đoạn sớm

Tác nhân truyền bệnh: Rầy châu mỹ

1.4.2.4 Bệnh lùn xoắn lá

Triệu chứng: Cây bị bệnh có chiều cao thấp, giai đoạn cây nhỏ lá bị rách, chỗ rách có

màu vàng nâu và rơi ra, cây lớn hơn lá xoắn ở chóp lá hay cuốn lá, giai đoạn lúa lớn lá xoắn, dị hình, trổ muộn và trổ không hoàn toàn, chồi đâm nhánh phụ ở các đốt bên trên trổ ra các bông nhỏ, cây bệnh có bông và hạt nhưng ít hạt chắc

Tác nhân truyền bệnh: Rầy nâu

1.5 Bệnh tuyến trùng gây hại trên cây lúa

Tuyến trùng gây hại trên các bộ phận của cây lúa: Aphelenchoides gây hại lá,

Ditylenchus gây hại thân, Hirschmanniella, Meloidogyne gây hại rễ

Tác nhân gây bệnh

Trang 14

Một số loài tuyến trùng Meloidogyne như M incognita, M exigua, M

graminicola

Sự phát sinh phát triển bệnh

Ấu trùng cần 48 giờ để bám chặt vào mô phân sinh, các tế bào đỉnh phình to và hình thành nốt sần trong 72 giờ, sau 4 ngày xâm nhập các tế bào to được hình thành Trong điều kiện lây bệnh trong nhà lưới sau 10 - 12 ngày lá lúa bị biến màu, lá khô từ đỉnh xuống, từ mép lá vào trong gân chính

Phòng trừ

- Ngâm nước đồng ruộng

- Một số giống kháng được tuyến trùng như CH 47, TKM 6

- Xử dụng thuốc hóa học

- Luân canh cây trồng cạn

- Cày ải, phơi đất

1.6 Một số bệnh thiếu dinh dưỡng và sinh lí trên cây lúa

Theo khái niệm chung bệnh sinh lí là tất cả các hiện tượng rối loạn và không bình thường của cây trồng không do vi sinh vật gây ra Các triệu chứng chung một số bệnh sinh lí trên cây lúa

1.6.1 Thiếu N

Cây lúa có nhu cầu N cao, thiếu N cây sinh trưởng chậm, đẻ nhánh ít, giảm số lượng và kích thước nhánh, lá hóa vàng, mọc thẳng đứng, một số lá bị đốm, hầu hết tán lá vàng chỉ có lá non vẫn còn xanh

1.6.2 Thiếu P (P 2 O 5 )

Thiếu P làm giảm sản lượng đặc biệt trên chân đất có hàm lượng Al, Fe cao Triệu chứng thiếu lân biểu hiện trên cây mạ như cây chậm phát triển, lá nhỏ, xanh đậm mọc thẳng đứng, đường kính thân nhỏ, triệu chứng phát triển thành các vết đốm hoại

tử trên lá, bộ rễ phát triển cạn, kém, đường kính nhỏ

1.6.3 Thiếu K (K 2 O)

Cây phát triển còi cọc, lá trên màu xanh đậm, sự chuyển vàng từ lá dưới, bắt đầu từ chóp lá bệnh phát triển tạo ra các vết đốm

1.6.4 Thiếu Ca

nhưng lá vẫn còn xanh, rễ mọc kém, đầu rễ biến nâu

Trang 15

Biến màu giữa các gân lá non nhất, các lá ra trước có màu xanh vàng nhạt, lá biến màu từ đỉnh xuống phiến lá, xuất hiện các đốm mô chết có màu nâu đậm, các lá ra sau ngắn và hẹp

Trang 16

II BỆNH HẠI TRÊN CÂY NGÔ

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: http://www.nue.okstate.edu) & FAOSTAT, 2004 - 2006)

Bảng 1.9: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam (1996-2006)

(Nguồn: Niên giám Thống kê, 2006)

2.2 Một số nghiên cứu bệnh hại trên cây ngô

phổ biến ở vùng nhiệt đới như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêsia, Trung Phi và vùng

biển Caribê Nguyễn Hữu Thụy, 1963, cho biết bệnh bạch tạng ở nước ta phát sinh,

đặc biệt trong những thời gian có nhiều sương, âm u, nắng nhẹ xen mưa phùn

Helminthosporium maydis gây ra Vết bệnh ban đầu nhỏ như mũi kim, hơi vàng sau

đó lan rộng ra thành hình tròn hoặc bầu dục nhỏ, kích thước vết bệnh khoảng 5-6 x 1,5

mm, màu nâu đỏ Bệnh đốm lá lớn do nấm Helminthosporium turcicum gây hại, vết

Trang 17

bệnh là những sọc màu xám bạc, kích thước 6-15 x 2-4 mm Nhiều vết bệnh có thể liên kết, nối tiếp làm cho lá khô táp, rách tươm ở chóp lá

những đốm vàng, về sau tế bào biểu bì nứt vỡ, bào tử bung ra rất dễ nhận thấy Bệnh

gỉ sắt có 2 dạng bào tử, bào tử hạ đơn bào, hình cầu hoặc bầu dục, màu vàng nâu, có

vỏ dày gờn gai nhỏ Bào tử đông thon dài, hai tế bào, vỏ dày có màu nâu, có cuống dài màu nâu

là vết bệnh tạo thành những u sưng, nhiều bào tử màu đen Bệnh này do nấm Ustilago

zeae Ung thuộc bộ Ustilaginales, lớp Nấm Đảm

virus), bệnh làm cây thấp, lá co ngắn, có hiện tượng khảm rõ trên lá non và lá bánh tẻ, khảm lùn cây ngô, sọc lá, sọc vằn, sọc trắng lá ngô

sinh trưởng và phát triển của cây ngô Khi cây bị nhiễm bệnh, vết bệnh có hình dạng

da báo ở bẹ lá và phiến lá, gây khô vỏ thân làm cây dễ đổ Khi các sợi nấm phát triển lan tới bắp gây chín ép, hạt không chặt sự xâm nhiễm chủ yếu bằng các hạch nấm (Sclerotia)

Bảng 1.10: Thành phần bệnh hại trên cây ngô

23 Bệnh đen mạch dẫn và héo

muộn

Cephalosporium acremonium, C maydis

Thân

Trang 18

TT Tên bệnh hại Tên khoa học Bộ phận bị hại

40 Thối thân héo xanh do vi

khuẩn

Erwinia carotovora f.sp zeae Thân

Ghi chú: theo tài liệu của trung tâm lúa mì và ngô quốc tế

Bảng 1.11: Thành phần bệnh hại trên cây ngô ở một số địa phương tỉnh Đak Lak

Trang 19

Triệu chứng

Bệnh khá phổ biến trên cây ngô, vết bệnh là những sọc dài hình thoi không đều đặn, màu nâu hoặc xám bạc, không có quần vàng Kích thước vết bệnh 1,6 - 9,8 x 0,1 - 0,9 cm, nhiều vết bệnh có thể liên kết nối tiếp với nhau làm cho lá khô táp, rách tươm ở đoạn chóp lá Bệnh thường xuất hiện ở lá phía dưới rồi lan dần lên các lá trên Trên vết bệnh thấy xuất hiện một lớp mốc đen nhỏ, đó là các cành bào tử và bào tử phân sinh của nấm gây bệnh

Tác nhân gây hại

Nấm Helminthosporium turcicum Pass

Nấm Helminthosporium turcicum thuộc họ Dematiaceae, lớp nấm bất toàn Có

cành bào tử phân sinh thẳng hoặc hơi cong, màu nâu vàng, có nhiều ngăn ngang, kích thước 66 - 262 x 7,7 - 11,5 µm Bào tử phân sinh tương đối thẳng, ít khi cong, có từ 2 – 9 vách ngăn ngang, thường 5 – 6 ngăn, màu nâu vàng, kích thước bào tử nấm từ 45 –

vàng, đỏ gạch, kích thước vết bệnh 0,4 - 3,1 x 0,1 - 0,2cm, nhiều vết bệnh có thể liên kết làm lá khô cháy, bệnh lây lan từ lá phía dưới lên lá phía trên

Nấm Helminthosporium maydis có cành bào tử phân sinh mảnh hơn Nấm

Helminthosporium turcicum, màu vàng nâu nhạt, có nhiều ngăn ngang, kích thước

(162-487) x ( 5,1-8,9) µm Bào tử phân sinh hình thoi hơi cong, đa bào có 2-15 vách ngăn ngang, thường 5-8 ngăn ngang màu vàng nâu nhạt, kích thước (30-115) x (10-17) µm

Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh đốm lá lớn và đốm lá nhỏ

- Bệnh phát triển thích hợp trong điều kiện nóng, ẩm

- Bệnh thường phát triển mạnh giai đoạn cây ngô trưởng thành

- Trên các ruộng đất xấu, chăm sóc kém, bệnh gây hại giai đoạn sớm hơn gây thiệt hại nặng hơn

- Bệnh đốm lá lớn phát sinh mạnh khi cây ngô 7 - 8 lá, bệnh gây hại các lá già lây lan sang các lá phía trên

- Bệnh lây lan bằng bào tử phân sinh, xâm nhập qua lỗ khí khổng, nguồn bệnh tồn tại trong hạt giống, thân lá, thời gian tiềm dục 3 - 9 ngày

Trang 20

Tác nhân gây bệnh

Nấm Puccinia maydis Ber

Nấm Puccinia maydis Ber, thuộc bộ Uredinales lớp Nấm Đảm Trên cây ngô

nấm có 2 giai đoạn phát triển chính, là giai đoạn bào tử hạ và bào tử đông Bào tử hạ đơn bào, hình cầu hoặc bầu dục, màu vàng nâu có vỏ dày gợn gai nhỏ Bào tử đông thon dài, 2 tế bào, vỏ dày màu nâu, có cuống dài màu nâu

Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh

đông và sợi nấm

- Bào tử hạ tồn tại lâu dài trên tàn dư thực vật và hạt, bào tử hạ nẩy mầm ở nhiệt

- Sau khi xâm nhập 1 tuần lễ có thể xuất hiện ổ bào tử hạ mới, từ ổ bào tử này nấm lây lan ra các cây khác

Phòng trừ

xâm nhập của bào tử

2.3.4 Bệnh khô vằn

Triệu chứng

Gây hại chủ yếu vào giai đoạn cây chuẩn bị trổ cờ phun râu đến ngô chín cho thu hoạch Khi cây bị nhiễm bệnh biểu hiện các vết bệnh có hình dáng kiểu da báo Vết bệnh ban đầu xuất hiện ở bẹ lá, sau lan lên phiến lá Sau khi vết bệnh lan lên phiến lá khoảng một vài ngày lá bị khô hoàn toàn và rũ xuống

Tác nhân gây hại

Nấm Rhizoctonia solani Kuhn

Nấm Rhizoctonia solani không giống các loại nấm khác, nấm không có bào tử

và cành bào tử mà chỉ có sợi và hạch nấm hạch nấm có dạng hình tròn, màu hồng nhạt, kích thước (10-17,5) x (7,5-15) µm

Trang 21

Tác nhân

Vi khuẩn Erwinia dissolvens (Rosen) Burkholder

Vi khuẩn có dạng hình gậy, kích thước 0,5 - 0,9 x 0,7 - 1,2 µm, có vỏ nhờn,

nhuộm gram âm Trên môi trường thạch khuẩn lạc tròn, màu trắng đục, rìa nhẳn, phân giải glucose, saccarose, galactose, lactose, glycerin tạo ra acid và khí Có khả năng khử

Đặc điểm phát sinh, phát triển

khí khổng, thủy khổng, qua vết thương cơ giới, qua vết thương do côn trùng gây ra Nguồn bệnh tồn tại ở tàn dư thực vật trên đất ruộng, hạt giống cũng có thể mang mầm bệnh

Phòng trừ

- Vệ sinh đồng ruộng

- Cày đất, vùi tàn dư thực vật

- Biện pháp canh tác như chế độ tưới tiêu hợp lý không để đất úng nước

- Luân canh cây trồng

- Sử dụng giống sạch bệnh

2.5 Bệnh virus hại ngô

phổ biến trên cây ngô như bệnh khảm lá ngô, bệnh sọc vằn lá ngô, bệnh sọc lá ngô, bệnh khảm lùn cây Các bệnh virus có thể gây thiệt hại tới 25% năng suất ngô, các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hungrari rất coi trọng công tác phòng trừ bệnh virus ngô

2.5.1 Bệnh khảm lá ngô

Phân bố, tác hại

Bệnh phát hiện ở Mỹ năm 1992 (Kuckel), bệnh rất phổ biến ở các nước Trung

Mỹ, vùng biển Caribê, Nam Mỹ, và một số nước Đông Nam Á

2.5.2 Bệnh khảm lùn cây

Virus gây cây ngô bị lùn, lá co ngắn có hiện tượng khảm xuất hiện trên lá non

và lá bánh tẻ

truyền qua hạt giống với tỉ lệ thấp 0,0007 - 0,04% Virus chủ yếu truyền qua rệp họ

Trang 22

Aphididea theo kiểu không bền vững Rệp hút dịch trong vài phút và có thể lây bệnh

trong 1 - 2 giờ Virus có truyền qua cơ giới

Bệnh xuất hiện trên đồng ruộng có tỉ lệ thấp hơn 10%, giống VM1 có tỉ lệ bị bệnh cao hơn các giống ngô khác

giống kháng bệnh

2.6 Bệnh hại do tuyến trùng

Hơn 60 loại tuyến trùng được phát hiện ở các bộ phận khác nhau của cây ngô, hầu hết các loại tuyến trùng này phát hiện ở vùng rễ, tuy nhiên chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về đặc điểm sinh học, tính gây bệnh Một vài dạng tuyến trùng gây hại trên cây ngô gồm tuyến trùng gây vết thương, tuyến trùng nốt sần và tuyến trùng tạo ra

cyst Một số tuyến trùng gây hại trên cây ngô gồm Pratylenchus,Heterodera,

mô bị hoại tử, các rễ bị đứt này sẽ phát sinh ra các rễ ngang Pratylenchus gây hoại tử

mô biểu bì và mô bên trong hình thành các vùng lõm vào Triệu chứng đặc trưng của tuyến trùng gây vết thương là gây các vết thương màu đen trên bề mặt của rễ

Tác nhân, đặc điểm sinh học

- Nhiệt độ, cây kí chủ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sinh sản của

pratylenchus spp P zeae, P brachyurus P hexincisus sinh sản nhanh ở nhiệt độ

- Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển cũng thuận lợi cho tuyến

tuyến trùng xâm nhập vào cây

Các loại đất và các kỹ thuật canh tác có ảnh hưởng đến mật độ Pratylenchus

spp, hầu hết các loài Pratylenchus spp đều thích nghi rộng với các loại đất, tuy nhiên

mật độ P delattrei cao hơn trong đất cát Các thí nghiệm thấy rằng mật độ

Pratylenchus spp tăng lên trong mùa mưa

Các loài tuyến trùng gây vết thương có phổ kí chủ rộng, đặt biệt là các loài cỏ dại do vậy rất khó trong biện pháp lựa chọn cây trồng luân canh

Việc canh tác liên tục cây ngô dẫn đến mật độ Pratylenchus spp tăng liên tục

dẫn đến làm giảm có ý nghĩa năng suất cây ngô Trong các thí nghiệm sử dụng thuốc trừ tuyến trùng năng suất tăng lên có ý nghĩa, năng suất tăng từ 32 đến 128% khi có áp dụng thuốc phòng trừ

Hầu hết sau khi tuyến trùng xâm nhập các loài gây hại khác như nấm, vi khuẩn xâm nhập theo sau

Biện pháp phòng trừ

Mục tiêu giảm được mật độ tuyến trùng và số lượng cây bị nhiễm bằng cách làm mất nguồn dinh dưỡng, giết trực tiếp tuyến trùng bằng hóa chất, các biện pháp khác trước khi gieo trồng, xử dụng hóa chất hợp lí và các biện pháp phòng trừ tuyến trùng trên đồng ruộng có cây trồng

Ngăn ngừa bệnh:

Trang 23

- Sản xuất giống sạch bệnh

- Vi khuẩn kí sinh bắt buộc Pasteuria penetrans

Giống kháng bệnh

Biện pháp hóa học

- Nhóm thuốc xông hơi: Methyl bromide, dazomet

- Nhóm không xông hơi: Mocap, Nemacur, Nemaphos, Furadan

2.7 Mốt số bệnh khác trên cây ngô

2.7.1 Bệnh đốm nâu

Tác nhân: Physoderma maydis

Bệnh hại trên lá, thân, bẹ lá và cả trên vỏ bắp, bệnh trên phiến lá là dạng đốm vàng xen giữa các mô xanh, phần gân lá và thân có màu nâu Bệnh xuất hiện vùng có mưa và nhiệt độ cao

2.7.2 Bệnh mốc sương sọc nâu

Tác nhân: Sclerophthora rayssira

Bệnh thường phát triển trong vùng nóng ẩm

2.7.3 Bệnh gỉ sắt nhiệt đới

Tác nhân: Physopella zeae

Bệnh xảy ra ở vùng châu Mỹ ổ nấm có quầng đen nhưng ở giữa có màu vàng nhạt và có lỗ ở giữa, ổ nấm nằm dưới lớp biểu bì

2.7.4 Bệnh hắc ín

Tác nhân: Phyllachora maydis

Bệnh xuất hiện ở những vùng ẩm mát, những nơi bệnh đốm lá lớn thịnh hành thường có bệnh hắc ín, vết bệnh rất đặc trưng với có đốm màu đen bóng, sau đó có thêm phần hoại tử của mô

2.7.5 Bệnh đốm lá Leptosphaeria

Tác nhân: Leptosphaeria michotii

Bệnh xuất hiện vùng cao, ẩm

2.7.6 Bệnh đốm lá

Tác nhân: Phaeosphaeria maydis gây ra

Trang 24

Vùng mưa nhiều và có nhiệt độ ban đêm tương đối thấp tạo điều kiện cho bệnh phát triển

2.7.7 Bệnh vết nâu

Tác nhân: Cercospora zeae

Xuất hiện vùng ôn hòa, ẩm Vết bệnh hoại tử kéo dài sau đó phát triển song song với gân lá

Tác nhân: Claviceps gigantea

Bệnh phát triển ở các vùng cao có khí hậu lạnh và ẩm

Tác nhân: Gibberella fujikuroi, giai đoạn vô tính: F moniliorme

Nấm gây hại từng hạt hay từng vùng trên quả, hạt bị bệnh phủ một lớp nấm trắng và có thể nẩy mầm Bệnh phát triển ở các vùng nóng ẩm

2.7.14 Bệnh phấn đen

Tác nhân: Ustilago maydis

Nấm gây hại trên lá, cờ và bắp trái Nấm xâm nhập vào hạt tạo ra các bướu trắng chiếm chỗ các hạt bắp, các bướu vỡ ra giải phóng các khối bào tử màu đen

2.7.15 Bệnh héo xanh thối thân do vi khuẩn

Tác nhân: Erwinia carotovora f sp zeae

Cây bệnh có màu đậm úng nước ở gốc thân, vi khuẩn lan truyền nhanh và làm chết cây, cây bệnh có mùi khó chịu

2.7.16 Bệnh héo do vi khuẩn

Bệnh do vi khuẩn E stewartii

Bệnh lây lan do bọ nhảy, bệnh thường xuất hiện giai đoạn đầu của cây ngô, vi khuẩn xâm nhập qua vết thương do côn trùng cắn, vết bệnh có dạng bầu dục thấm nước, vết bệnh kéo dài theo gân lá, các vết bệnh liên kết làm cho lá chết hoàn toàn

2.7.17 Bệnh sọc lá do vi khuẩn

Tác nhân: Vi khuẩn P rubilinean

Bệnh xảy ra ở vùng nóng ẩm Bệnh xảy ra từ cây con đến thụ phấn

2.7.18 Bệnh lùn cây

Tác nhân: Mycoplasma

Bệnh có sọc vàng rộng ở gốc lá non, những lá này chuyển sang màu đỏ tía về phía ngọn

Trang 25

III BỆNH HẠI CÂY KHOAI LANG

3.1 Bệnh đốm lá (Leaf spot)

Bệnh đốm lá tương đối phổ biến trên khoai lang, nhưng chưa được quan tâm nhiều vì mức độ thiệt hại không nặng lắm Tuy nhiên, trên những ruộng trồng đại trà, bệnh có điều kiện phát triển sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của khoai lang

Triệu chứng bệnh

Bệnh có triệu chứng hơi khác nhau tùy theo loại nấm gây bệnh:

* Cercospora batatae Zim:

Đốm bệnh tròn, đường kính 5-15 mm, màu nâu sậm, về sau ngả sang đen, thường ít ở riêng rẽ mà tập hợp lại với nhau và chiếm hầu hết phiến lá Bệnh phát triển mạnh khi khoai sinh trưởng kém và ẩm độ cao

* Cercospora bataticola Cif và Bruner:

Đốm bệnh nhỏ hơn đốm bệnh trên, kích thước 3-8 mm, màu nâu đỏ, khi vết bệnh còn non, ranh giới giữa vết bệnh với phần mô không bệnh xung quanh thì không

rõ ràng

* Ngoài ra, trên lá còn gặp nhiều dạng triệu chứng khác nhau, do nhiều loài

Cercospora khác gây hại

Tác nhân gây bệnh

* Nấm Cercospora batatae Zim: Cành sinh bào tử có màu nâu, gấp khúc nhiều

ở phần trên, nơi đính bào tử rụng, còn để lại sẹo trên đính bào đài Kích thước: 35-45 x 4-5 μm

có 3-5 vách ngăn, kích thước: 60-100 x 3-4 μm

* Nấm Cercospora bataticola Cif và Bruner: Đính bào đài có các đặc tính

tương tự như của loài trên Đính bào tử có hình con giun, đầu nhọn, không màu hoặc

có màu nâu vàng sáng, có nhiều vách ngăn hơn và có kích thước lớn hơn loài nấm trên: 140-180 x 2-4,5 μm

Cách phòng trị bệnh

Bón phân đầy đủ và cân đối, chăm sóc cho cây phát triển tốt để tăng sức chống bệnh, nhấc dây, làm cỏ và vun thêm đất cho dây khoai Sau vụ mùa, cần đốt dây và lá bệnh Nên áp dụng biện pháp luân canh trên các ruộng khoai thường xuyên bị nhiễm bệnh

3.2 Bệnh đốm đen (Black spot)

Bệnh còn được gọi là bệnh đốm vòng, đây là một trong những bệnh chủ yếu hại

lá, thường gây hại từ khi mới trồng cho đến khi thu hoạch Bệnh phát triển mạnh khi

có mưa nhiều, đất ẩm ướt và vào giai đoạn cuối sinh trưởng của cây

Triệu chứng bệnh

Trên lá có những vết tròn hoặc vết có góc cạnh (khi vết bệnh xuất hiện gần các gân lá) có màu nâu hoặc đen, có kích thước độ 1cm hoặc lớn hơn Vết bệnh hơi lõm xuống, có viền rất rõ và có những vòng đồng tâm, vết bệnh thường bị khô nứt ở giai đoạn sau, cả lá bị vàng hoặc khô cháy đi Đôi khi vết bệnh cũng xuất hiện trên củ dưới dạng các vết màu nâu đen với đường kính 1cm

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Alternaria solani (Ell và Martin) Jones và Crout (A bataticola

Ikata) Đính bào đài có màu nâu, phát triển nhô ra khỏi hai mặt lá, có kích thước:

50-90 x 8-9 μm Đính bào tử có màu nâu vàng, có 5-12 vách ngăn, trong số đó có những

Trang 26

vách ngăn dọc Đính bào tử có hình quả chùy với cuống dài, kích thước rất thay đổi:

năng lưu tồn trong củ giống và trong xác cây bệnh

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Rhizopus nigricans Ehr Sợi nấm không màu lúc còn non, về sau

có màu hơi vàng, từ đó mọc thẳng ra các bào đài (sporangiophores), bào đài rất dài:

2-4 mm Bào tử phòng (sporangiospores) hình cầu màu nâu, bề mặt có dạng hình mạng lưới, đường kính: 10-15μm Các sợi nấm giao phối tạo thành các hợp bào tử (zygospores) màu nâu sậm, hình cầu với đường kính: 160-220 μm, bề mặt có gai Ngoài loài nấm này, trên củ còn có thể gặp một số loài Rhizopus khác và bên cạnh triệu chứng thối củ, các loại nấm này còn tạo ra các vết bệnh cạn và nằm riêng rẽ trên các vỏ củ Nấm phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao Lúc đầu, nấm sống hoại sinh trên các vết thương, tiết ra men diastaza làm chết tế bào xung quanh, rồi lan dần

ra Về điều kiện nhiệt độ, các loài nấm Rhizopus có các đòi hỏi khác nhau, được chia làm hai nhóm nấm:

như các loài nấm: R tricici Saito, R nodosus Namsyl, R oryzae Went và Prings và R

maydis Bruderl

như các loài nấm: R nigricans Ehr., R reflexus Bain và R artocarpi Rac

Cách phòng trị bệnh

Khi thu hoạch, cần nhanh chóng, không gây vết thương cho củ Tồn trữ củ nơi thoáng mát, khô ráo Khi chất khoai, cần nhẹ nhàng và không chất thành đống cao Xử

3.4 Bệnh thối đen (Black rot)

Đây là một trong những bệnh hại củ tương đối phổ biến và quan trọng, vì bệnh rất dễ lây lan và có thể tấn công từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch và tồn trữ Đôi khi trong lúc thu hoạch, bề ngoài củ trông vẫn bình thường, nhưng sau một thời gian tồn trữ thì củ mới biểu hiện triệu chứng và gây thiệt hại nhiều, nhất là khi chuyên chở

Triệu chứng bệnh

Ở cây con: thân dưới đất có vết đen, gốc thân cũng có màu đen và thối, cây héo chết Trên củ và thân ngầm: có các đốm tròn màu nâu hoặc đen, đường kính: 2-3 cm, đốm bệnh ăn sâu vào trong củ, làm củ có vị đắng và gây độc cho động vật Đôi khi

Trang 27

giữa đốm bệnh có mốc đen, đó là phần cổ của bao nang có miệng (perithecium) của nấm bệnh

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Ceratostomella fimbriata (Ellis và Halsted) Elliot

(Endoconidiophora fimbriata (Ellis và Halsted) Davidson Đính bào tử có hình trụ dài, không màu, là một tế bào có kích thước thay đổi: 16-31 x 6,5-8 μm Các đính bào tử được thành lập bằng hình thức nội sinh và được sắp xếp thành chuổi

Bào tử hậu (chlamydospore) rất ít khi được hình thành, có dạng hình cầu hoặc bầu dục, màu nâu ô-liu, có vách dày, chứa các giọt dầu, kích thước: 13,6-22,2 x 12,2-13,8μm

Bao nang có miệng, dạng hình cầu với đường kính: 50-100 μm, có cổ dài và thẳng, màu đen, thường dễ nhầm là túi đài vì các nang (asci) bị phân hủy rất nhanh Nang bào tử có kích thước: 4,5-8,7 x 3,5-4,7 μm

Nấm gây bệnh có thể sống trong đất vài ba năm Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt

Cách phòng trị bệnh

Dùng củ hoặc dây khoai không bệnh để gây giống Vệ sinh đồng ruộng: gom và thiêu đốt xác cây bệnh sau khi dở khoai Áp dụng luân canh đối với các ruộng thường xuyên nhiễm bệnh Xử lý củ giống bằng cách ngâm củ vào một trong các dung dịch

3.5 Bệnh hà vỏ (Scurf)

Phần thân trong đất và củ đều bị nhiễm bệnh, lúc đầu là các đốm nhỏ, màu nâu nhạt; sau đó, đốm lớn hơn và có màu nâu đen hoặc đen Đốm bệnh chỉ có trên lớp vỏ

củ, không ăn sâu vào trong, đây là đặc điểm được phân biệt với bệnh thối đen

Bệnh do nấm Monilochaetes infustans Ellis và Halsted Đính bào đài mọc

thẳng, riêng rẽ, không màu, dài 40-170 μm Đính bào tử là một tế bào không màu, có hình ellip, kích thước: 12-20 x 4-7 μm

Áp dụng cách phòng trị giống như đối với bệnh thối đen

IV BỆNH HẠI CÂY ĐẬU XANH

4.1 Bệnh đốm lá (Leaf spot, sooty blotch)

Triệu chứng bệnh

Trên lá có đốm tròn hoặc có góc cạnh, đốm bệnh không đều, màu vàng nâu hoặc nâu, kích thước: 3 - 5 mm Sau đó đốm chuyển sang màu nâu với tâm màu trắng xám Các đốm bệnh thường liên kết lại làm cháy từng mảng lá Bệnh thường nặng vào giai đoạn tăng trưởng cuối của cây

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Cercospora canescens Ellis & Martin Nấm bệnh thuộc lớp

Deuteromycetes, cơ quan sinh sản vô tính gồm:

cong nhiều, kích thước: 20 - 175 x 3 - 6,5 μm

- Đính bào tử (conidia) không màu, dài như cái roi, có 5 - 11 vách ngăn, kích thước: 30 - 300 x 2,2 - 5 μm

Cách phòng trị bệnh

- Vệ sinh đồng ruộng trước và sau vụ trồng, nhằm hạn chế lây lan

Trang 28

- Gieo tỉa với mật độ trung bình

- Phun phòng và trị bệnh bằng thuốc Bordeaux 0,8 - 1%, Copper B, Benomyl, hoặc các thuốc gốc đồng khác

4.2 Bệnh rỉ (Rust)

Triệu chứng bệnh

Bệnh thường xảy ra trên lá Lúc đầu trên mặt lá có những đốm nhỏ li ti, màu vàng, sau đó đốm bệnh to dần, khoảng 1mm, màu nâu vàng hay nâu đỏ, giống như màu rỉ sắt Đốm bệnh hơi nhô lên khỏi mặt lá Lá phát triển kém, co lại và rụng sớm Bệnh này thường xuất hiện cùng lúc với bệnh Đốm lá, gây hại trầm trọng

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Uromyces appendiculatus (Person) Link Nấm thuộc lớp Nấm

Đãm (Basidiomycetes) Mầm bệnh được lưu tồn và lây lan bằng hai dạng bào tử vô tính:

- Hạ bào tử (uredospores) gồm một tế bào, màu vàng hoặc nâu vàng, kích thước: 20 - 30 x 10 - 27 μm, hình cầu hoặc bầu dục, bề mặt có nhiều gai mềm nổi lên

- Đông bào tử (teleutospores) cũng gồm chỉ một tế bào, màu nâu đỏ, hình cầu hơi phình to ở đỉnh, kích thước: 24 - 41 x 19 - 30μm

Trong điều kiện thời tiết ở Miền Nam Việt Nam, dạng hạ bào tử thường xuất hiện hơn dạng đông bào tử Các hạ bào tử được sinh ra từ ổ nấm hạ bào quần (uredosore) và các đông bào tử từ ổ nấm đông bào quần (teleutosore) Chính các ổ nấm này tạo ra màu sắc và độ nhô của đốm bệnh

Vào mùa đông, gặp trời rét, đốm bệnh có màu nâu đen, do có sự hiện diện của ổ nấm đông bào quần Ngoài hai dạng ổ nấm nêu trên, còn có hai dạng ổ nấm khác là túi đài (pycnidium) và túi bào cơ (aecidium), nhưng hai dạng này hiếm khi xuất hiện trên cùng một cây bệnh

Cách phòng trị bệnh

Áp dụng cách phòng trị giống như đối với bệnh đốm lá đậu xanh

4.3 Bệnh thối gốc rễ (Root rot)

Triệu chứng bệnh

Bệnh thường xuất hiện sớm Cây bị vàng héo từ các lá dưới lan dần lên các lá trên rồi chết khô, quanh gốc có vết nâu lõm vào và trong điều kiện ẩm ướt, thường được phủ đầy bởi các loại nấm màu trắng Sau đó, xuất hiện các hạch nấm màu trắng rồi chuyển dần sang màu nâu Hạch nấm cũng rơi rải trên đất quanh gốc Mô dẫn truyền trong thân bị thối nâu

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Rhizoctonia spp và nấm Sclerotium spp Đây là hai giống nấm

tạo hạch, có cơ quan lan truyền là sợi nấm và hạch nấm Nấm đa thực có thể tấn công trên nhiều loại cây Các loại họ đậu đều bị nhiễm bệnh này, nấm lưu tồn trong đất và xác cây bệnh

Cách phòng trị bệnh

Câu hỏi ôn tập

1 Bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá lúa, bệnh tungo và bệnh tuyến trùng trên cây lúa

2 Bệnh gỉ sắt, khô vằn, đốm lá lớn, lá nhỏ trên cây ngô

3 Đặc điểm bệnh hại lá, hại thân và hại rễ cây lúa, cây ngô

Trang 29

CHƯƠNG II: BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY

Nội dung và yêu cầu:

thức bảo vệ thực vật trên các cây nêu trên

I BỆNH HẠI TRÊN CÂY CÀ PHÊ

Cây cà phê được những người truyền đạo đưa vào trồng đầu tiên ở Quảng Bình, Quảng Trị từ năm 1857, và được trồng ở Tây Nguyên từ năm 1925 Tính đến năm

1998 cả nước có hơn 300.000ha và sản lượng hơn 390.000 tấn Giá trị xuất khẩu cà phê trong những năm vừa qua biến động từ 380 triệu đến 596 triệu USD, mục tiêu của chương trình Cây Công Nghiệp Xuất Khẩu của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, dự kiến đến năm 2010 riêng giá trị sản phẩm của cà phê sẽ đạt tới con số 1,2 tỷ USD/năm với tổng diện tích canh tác cà phê là hơn 400.000ha, tổng sản lượng hàng năm đạt từ 550-600 ngàn tấn (chỉ đứng sau Brazil và Colombia) Tính riêng ở Daklak cho đến năm 1998, theo những thống kê sơ bộ, thì tổng diện tích canh tác cây cà phê là 172.000ha, nếu chỉ tính từ năm 1994-1998 thì chỉ trong vòng 4 năm số diện tích trồng mới đã đạt >100.000ha (bình quân mỗi năm diện tích trồng mới vào khoảng 25.000ha) Năng suất bình quân đạt trên 2,4 tấn nhân/ha, có những vườn cà phê vối đạt năng suất đến trên 7 tấn nhân/ha, cà phê Chè đạt 5 tấn nhân/ha (trong khi năng suất bình quân của thế giới khoảng 0.8 tấn nhân/ha, của Brazil, nước có diện tích cà phê lớn nhất thế giới, chỉ đạt 0,475 tấn nhân/ha vào năm 1994, và của Colombia, nước có diện tích cà phê lớn thứ 2 trên thế giới, cũng chỉ đạt 0,738 tấn nhân/ha) Từ đó cho ta thấy rằng, trong những năm qua việc phát triển cây cà phê ở nước ta nói chung và ở Daklak nói riêng, không chỉ là phát triển theo chiều rộng bằng cách mở rộng diện tích,

mà còn theo chiều sâu bằng cách chuyên canh, đầu tư thâm canh tăng cao năng suất Trên cây cà phê xuất hiện nhiều loại bệnh gây hại trên lá, thân, cành, hoa, quả và hệ thống rễ

1.1 Bệnh rỉ sắt (Hemileia vastatrix B.& Br.)

Phân bố và tác hại

Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, có thể xuất hiện trên thân, quả nhưng rất ít Tác hại của bệnh là làm rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém, và nếu nặng thì có thể chết cây

Xuất hiện đầu tiên từ năm 1868 ở Srilanca, bệnh đã gây nạn dịch dữ dội và có tính cách hủy diệt tại đây: làm giảm hơn 75% sản lượng chỉ trong vòng 10 năm (1869-1878), đến năm 1890 hầu như phải hủy bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây chè và cao su

Sau đó bệnh lan dần sang châu Phi và châu Á Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh đã

có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai Châu này và gây nhiều thiệt hại về kinh

tế

Đến năm 1970 bệnh xuất hiện tại châu Mỹ ở bang São paulo của Brasil và lan

dần khắp các bang khác, sau đó là Paraguay (1972), Nicaragua (1976), Colombia

(1983), Cuba (1985) Ở bang Parana của Brasil, trong vụ 73 - 74 bệnh đã làm giảm

34% sản lượng mặc dầu 40% diện tích đã được phun thuốc hóa học Vụ 89 - 90,

Colombia đã chi 123 triệu đô la để phun thuốc cho 250.000 ha bị bệnh gây hại

Tại Việt Nam, bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1888 và cũng đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng Ở miền Bắc, nhiều đồn điền của Pháp trước kia phải phá cà phê chè

và thay bằng cà phê mít Tháng 3/1958 bệnh làm rụng lá toàn bộ cà phê chè của nông

Trang 30

trường Đông Hiếu Tại Đaklak bệnh đã hủy hàng nghìn ha cà phê chè trong những

năm 1940 - 1945, chỉ còn khoảng 60 ha vào năm 1957, toàn bộ diện tích phải thay bằng cà phê vối

giống cà phê từ lâu được xem là kháng bệnh rỉ sắt Tỉ lệ cây bệnh hiện nay đã lên đến 50%, thậm chí có vườn 70 - 85% Trên đồng ruộng hiện nay đã xuất hiện những cây cà phê vối rụng gần hết lá do rỉ sắt

Triệu chứng

Đầu tiên ở mặt dưới lá có những chấm nhỏ, màu vàng lợt như những giọt dầu

và chỉ thấy ở mặt dưới lá Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện những bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm rỉ sắt Bào tử chuyển dần sang màu trắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy Các vết cháy có thể kiên kết với nhau thành các vết cháy lớn, dẫn dến việc cháy toàn bộ lá và lá rụng Nếu bệnh nặng cây có thể rụng hết lá dẫn đến hiện tượng khô cành, sản lượng kém và chết

Tác nhân gây bệnh và đặc điểm sinh học:

Bệnh rỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix B & Br gây ra, thuộc họ

Puccinniaceae, bộ Uredinales, lớp nấm đảm Basidiomycetes Đây là loại nấm chuyên

tính chỉ ký sinh trên cà phê

Nấm Hemileia vastatrix đã được Berkeley mô tả và đặt tên vào năm 1869 Gọi là

Hemileia vì bào tử có dạng hình bán nguyệt và tên loài là vastatrix vì bệnh có tính hủy

diệt

Chu kỳ sinh học của H.vastatrix là chu kỳ không đầy đủ Theo Ward, Thirumalachar và Narashimhaswamy trong vòng đời của nấm H.vastatrix chỉ có 3 dạng bào tử là Uredospore (bào tử hạ), Teleutospore (bào tử đông) và Basidiospore

(bào tử đảm) Trong 3 loại bào tử kể trên thì bào tử hạ phổ biến nhất Bào tử hạ có dạng tương tự hình bán nguyệt, hình hạt đậu, hình trứng, đôi khi có hình tam giác, có màu vàng nâu rỉ sắt, mặt bằng của bào tử không có gai nhưng các mặt bên có mang nhiều gai nhỏ không đều Khác với bào tử hạ là có khả năng nảy mầm và xâm nhiễm vào mô cây sau khi được sinh ra, bào tử đông và bào tử đảm chỉ xuất hiện trong những

điều kiện nhất định và hầu như không có khả năng xâm nhập vào mô cây vì thế vai trò

của chúng trong sự lan truyền là không đáng kể Bào tử nấm nảy mầm, xâm nhập qua các khí khổng ở mặt dưới lá Ở những lá của cây mẫn cảm với bệnh, sau khi xâm nhiễm tạo nên một túi ở bên dưới khí khổng, sợi nấm bắt đầu phát triển, đâm nhánh lan xuyên qua các khoảng trống gian bào của lá Nấm mọc nhanh với nhiều vòi hút có

vỏ bọc, các sợi nấm liên kết với nhau lại thành bó và chui ra khỏi khí khổng mang các bào tử hạ ở đầu những cuống nhỏ gọi là sterigma

bào tử nảy mầm trong 3 - 4 giờ Người ta chưa xác định được nhiệt độ tối ưu cho sự nảy mầm nhưng khi cho bào tử nảy mầm trên các đĩa thạch giữ ở nhiệt độ không đổi thì thấy tỷ lệ nảy mầm cao nhất ở 22oC Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải có sự hiện diện của nước

Nước là yếu tố cần thiết cho sự nảy mầm của bào tử (Burk, 1889) Mayne, Nutman và Roberts thấy rằng mặc dù có ẩm độ không khí bão hòa bào tử cũng không

thể nảy mầm được nếu không được tiếp xúc với giọt nước Marshall Ward cho thấy bào tử chỉ có thể nảy mầm trong nước thoáng khí và nhiệt độ là yếu tố quyết định sự nảy mầm này Trong nước, sau khi nảy mầm 1 giờ ống mầm xâm nhập vào khí khổng

và tiến hành xâm nhiễm Sau đó 12 - 18 giờ vết bệnh mới xuất hiện ở mặt dưới lá và 3 tuần sau bào tử mới xuất hiện

Trang 31

Theo Mayne và Rayner, ánh sáng ngăn cản sự nảy mầm của bào tử, do đó ban

đêm là lúc thuận lợi cho sự nảy mầm

Đối với thời gian sống của bào tử thì Ward thấy các bào tử giữ khô trong ống gắn kín có thể nảy mầm sau 6 tuần Burk cho rằng bào tử của những vết bệnh từ các lá rụng dưới đất ít nguy hiểm xét về mặt lan truyền bệnh George cũng đã nhất trí với

quan điểm này và cho biết các bào tử xuất phát từ những vết bệnh mới có tỷ lệ nảy mầm cao hơn các bào tử từ vết bệnh đã có từ lâu Trong điều kiện phòng thí nghiệm, việc cất giữ làm giảm sức sống bào tử trong vòng 2 ngày, nhưng các lá rụng dưới đất

có thể cho nhiều bào tử có khả năng xâm nhiễm trong vòng 1, 2 tuần

Về thời gian tiềm dục, Ward lây bệnh nhân tạo ở 25.5oC, thấy thời gian từ sau

khi lây đến khi xuất hiện các vết màu vàng nhạt dài 10 - 16 ngày, trong đó nhiều nhất

ở 14 ngày, từ 1 - 4 ngày sau khi lây bệnh thấy xuất hiện những bào tử đầu tiên, Mayne

nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở cà phê chè và vối thì thấy ở cà phê chè 7 - 12

ngày sau khi xuất hiện các vết vàng, còn ở cà phê vối mất 20 ngày

Các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo để xác định thời gian tiềm dục của nấm rỉ sắt trên các giống cà phê của Bộ môn Bảo vệ thực vật Viện KHKT nông lâm nghiệp Tây nguyên tại ĐakLak cho thấy có sự khác nhau khá rõ về thời gian tiềm dục và phát triển giữa các giống

Thời gian tiềm dục và phát triển của nấm rỉ sắt trên 2 giống Caturra và Robusta (ngày)

334.9 258.2 307.9

dục (ngày), PT: Thời gian phát triển (ngày)

Thời gian tiềm dục và phát triển của nấm rỉ sắt trên cà phê vối bao giờ cũng dài hơn trên cà phê chè nhất là đối với thời gian phát triển Trên cà phê vối mức độ nhiễm bệnh cũng rất khác nhau đối với từng cá thể Nhóm cây nhiễm bệnh nhẹ mặc dù có xuất hiện vết bệnh nhưng không xuất hiện hay chậm xuất hiện bào tử hơn các nhóm nhiễm bệnh trung bình và nặng

Bào tử phát tán nhờ gió, mưa, con người và các tác nhân mang mầm bệnh khác

Cho đến nay người ta đã phát hiện ra 32 chủng sinh lý của nấm H vastatrix B &

Br Mayne là người đầu tiên đã phát hiện ra 4 chủng sinh lý đầu tiên tại Ấn Độ vào

năm 1932 Trong 32 chủng này chỉ có một số chủng phổ biến Chủng II chiếm 58.2% trong 1.000 mẫu bào tử nấm kiểm tra, chủng I: 14.4%, chủng III: 8.9%, chủng XV: 3.6%, 26 chủng còn lại chiếm 15% Ở Châu Mỹ La tinh hai chủng chính là I và II Tại Việt Nam chủng I, II chiếm ưu thế trên cà phê chè Các kết quả của Dr Olivera cho thấy trên cà phê vối có các chủng sinh lý IV, XI, XIX, XX và XXI

Trang 32

trước tiín lă sự phđn bố vă cường độ mưa, kế đến lă số lượng băo tử trín lâ vă sau

cùng lă mức độ rụng lâ Câc nghiín cứu của Trần Kim Loang tại ĐakLak cho thấy

nguồn bệnh cũ đóng vai trò rất quan trọng trong sự phât sinh phât triển của bệnh rỉ sắt

Nguồn bệnh năy có thể từ câc lâ mang vết bệnh cũ còn lại trín cđy sau mùa bệnh, cũng

có thể từ câc vết bệnh trín lâ khô đê rụng xuống đất Trong đó nguồn bệnh từ câc lâ

mang vết bệnh trín cđy quan trọng hơn

Tại Tđy Nguyín, mưa lă yếu tố quyết định sự phât sinh phât triển của bệnh rỉ sắt

trín că phí Trong đó thời gian bắt đầu mùa mưa quyết định sự phât sinh sớm hay

muộn của bệnh Sự phât sinh bệnh phụ thuộc chủ yếu văo câc điều kiện khí hậu vă số

lâ còn lại trín cđy văo cuối mùa bệnh năm trước Trín că phí chỉ phât sinh từ đầu mùa

mưa (thâng 4, 5), phât triển trong suốt mùa mưa, phât triển mạnh từ thâng 7, 8 vă đạt

đỉnh cao văo thâng 9, 10 Trong mùa bệnh, tỷ lệ cđy bệnh trín đồng ruộng lă 100% vă

tỷ lệ lâ bệnh trín 90%, chỉ số bệnh đạt cao nhất khoảng 25% văo thâng 9 Trín că phí

vối nhđn giống hữu tính (bằng hạt), tỷ lệ vă mức độ nhiễm bệnh thay đổi theo vườn

(hiện nay dao động từ 35 - 75% số cđy trín vườn), sự phât sinh phât triển cũng khâc

nhau theo từng nhóm Số cđy bị nhiễm bệnh trín că phí vối được phđn lăm 3 dạng như

sau:

- Một dạng có diễn biến giống như că phí chỉ, tức lă bệnh phât sinh từ đầu mùa

mưa, phât triển văo thâng 7, 8, đạt đỉnh cao văo thâng 10 - 11 Câc cđy ở dạng năy lă

những cđy bị bệnh nặng, tỷ lệ lâ bệnh trung bình cao nhất trín 90 %, chỉ số bệnh trín

30 % Dạng năy chiếm tỷ lệ khoảng 10 % số cđy bệnh

- Một dạng có mức độ bệnh rất nhẹ, phât sinh từ đầu mùa mưa nhưng đến thâng

12 mới phât triển mạnh, đạt đỉnh cao văo thâng 1, tỷ lệ lâ bệnh dưới 40 %, chỉ số bệnh

dưới 2 % Dạng năy cũng chiếm 1 tỷ lệ tương đối không nhiều, khoảng 20 % số cđy bị

bệnh

- Dạng phổ biến trín đồng ruộng phât sinh từ thâng 6, phât triển mạnh từ thâng

11, đạt đỉnh cao văo thâng 12 - 1 với tỷ lệ lâ bệnh bình quđn 80 %, chỉ số bệnh từ 2 -

15 % Dạng năy chiếm 70 % tổng số cđy bệnh

Mức độ nhiễm bệnh khâc nhau giữa câc câ thể trong cùng một vườn chứng tỏ có

sự quan hệ trực tiếp đến bản chất di truyền của chúng tức khả năng khâng bệnh của

Tháng Tỷ lệ lá bệnh (%)

Đồ thị 2.1: Diễn biến tỷ lệ lâ bệnh trín chủng Caturra

(1980 - 1984)

Trang 33

Tỷ lệ lá bệnh (%)

Tháng

5/90 6 7 8 9 10 11 12 1/91 2 3 4

Đồ thị 2.2: Diễn biến tỷ lệ lâ bệnh trín că phí vối (1990)

Trong mùa khô bệnh hiện diện dưới câc vết nđu khô vă hầu như không phât triển Câc vết năy lă nguồn bệnh của năm sau Nguồn bệnh từ câc vết bệnh cũ trín cđy quan trọng hơn lâ bệnh khô rụng dưới đất

lý I vă II, Selection 2 ( còn gọi lă S.795) khâng được chủng sinh lý II, giống năy đang được trồng phổ biến tại Ấn Độ vă Indonesia Giống Sin 4 do Trung tđm nghiín cứu bệnh rỉ sắt Oeiras tại Bồ Đăo Nha cung cấp khâng được chủng sinh lý I, II, VIII vă XII nhưng lại mẫn cảm với chủng sinh lý XIII vă XIV Hiện tượng trín được Rodrigues (1980) vă Muller (1984) gọi lă tính khâng dọc Theo câc tâc giả năy, câc gen khâng ngang có ở loăi C canephora vă Hibrido de Timor Do đó từ năm 1950 tại Brasil người ta đê lai tạo câc con lai khâc loăi giữa că phí vối tứ bội với că phí chỉ hay lai Hibrido de Timor với că phí chỉ để tạo ra câc con lai có tính khâng ngang đối với bệnh rỉ sắt, Icatu vă Catimor lă những điển hình

Tại Việt Nam, từ năm 1978, Viện nghiín cứu că phí đê chọn lọc được một số giống có năng suất cao vă khâng bệnh rỉ sắt như S.73 vă Bourbon ĐL, hai giống năy đang được trồng thử nghiệm tại một số vùng trồng că phí trong nước Từ năm 1986, Viện nghiín cứu că phí đê tiếp nhận một số giống có khả năng khâng bệnh rỉ sắt gồm

36 ký hiệu có nguồn gốc Ethiopia, giống Catimor F4 của Trung tđm nghiín cứu bệnh

rỉ sắt Oeiras, Bồ Đăo Nha vă Arabusta F1 Từ cơ sở năy Viện nghiín cứu că phí đê chọn lọc được giống că phí chỉ Catimor F6 khâng bệnh rỉ sắt, giống năy được Bộ NN

& PTNT công nhận lă giống quốc gia văo năm 1994 Hiện nay giống năy đang được trồng phổ biến tại câc vùng trồng că phí ở nước ta để thay thế cho câc giống că phí chỉ mẫn cảm với bệnh rỉ sắt được trồng từ nhiều năm nay như Caturra, Typica, Mundo novo

+ Ghĩp chồi

Câc kết quả điều tra về khả năng nhiễm bệnh rỉ sắt trín că phí vối cho thấy có

sự khâc nhau rất rõ về mức độ nhiễm bệnh rỉ sắt giữa câc dòng vô tính Ít có sự phđn ly

về khả năng nhiễm bệnh giữa câc cđy trong cùng một đời con của câc từng dòng vô

Trang 34

tính, trong khi ở vườn được nhân giống bằng hạt bao giờ cũng có một tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh rỉ sắt nặng chiếm tỷ lệ từ 8 - 10% Do đó, đối với cà phê vối nhân giống

vô tính là một biện pháp có hiệu quả cao trong việc phòng trừ bệnh rỉ sắt

Chương trình chọn lọc giống cà phê vối của Viện nghiên cứu cà phê đã chọn ra được một số dòng vô tính có năng suất cao và ít nhiễm bệnh rỉ sắt, trong số đó có 3 dòng vô tính đã được Bộ NN & PTNT công nhận giống vào tháng 9/1997 là: 16/20, 4/55 và 1/20 Đặc điểm của 3 dòng vô tính này là có năng suất trung bình nhiều vụ từ 2.81 đến 5.92 tấn nhân/ha, kích cỡ hạt to, tỷ lệ tươi/ nhân thấp và chỉ số bệnh rỉ sắt rất thấp từ 0.07% - 0.9% Hiện nay Viện nghiên cứu cà phê đang sử dụng chồi của các dòng vô tính trên để thay thế các cây bị bệnh rỉ sắt trên vườn cà phê Trên đồng ruộng chúng ta cũng có thể dùng chồi của các cây có năng suất cao, không bị nhiễm bệnh rỉ sắt trong nhiều năm để ghép thay thế cho các cây bị nhiễm bệnh nặng

+ Hóa học

Trong các thuốc được thí nghiệm trên nhiều nước thì thuốc gốc đồng vượt hơn hẳn các thuốc khác Trước khi bệnh rỉ sắt trở thành 1 bệnh hại chính cho cà phê ở Kenya thì nước này đã có phun thuốc gốc đồng vào cuối mùa mưa chính để được các

vụ thu hoạch cao ở những năm sau đó do việc làm trì hoãn sự rụng lá "bình thường" Tác động của các lần phun này được gọi là tăng sức hay là chống rụng lá mặc dù bản chất của hiện tượng vẫn còn được nghiên cứu Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế sản xuất ngoài thuốc gốc đồng còn có các thuốc nội hấp Trong khi đó các thí nghiệm phòng trừ bệnh rỉ sắt bằng Bordeaux được thực hiện tại Viện nghiên cứu cà phê trước đây cho thấy một lượng mưa khá lớn và tập trung tại Buôn Ma Thuột trong mùa mưa

đã làm giảm hiệu lực của Bordeaux tại đây Hiện nay có thể dùng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ bệnh rỉ sắt: Impact 125 SC (2 - 4cc/200cc nước/gốc), Anvil 5

SC (0.2%) phun 2 - 3 lần cách nhau 1 tháng, Tilt 250 EC (0.1%) phun 2 lần cách nhau

1 tháng Phun thuốc phải đảm bảo các yêu cầu sau:

mẫn cảm với bệnh rỉ sắt) phun từ đầu mùa mưa (tháng 4, 5), phun từ 3 đến 4 lần trong mùa bệnh Trên cà phê vối, Impact được tưới một lần trong mùa bệnh trước thời gian bệnh phát triển mạnh 2 tháng (tại Tây Nguyên vào khoảng tháng 6, 7), các thuốc khác được phun vào khoảng tháng 8, tùy theo bệnh phát sinh sớm hay muộn

doanh

- Nên phun vào mặt dưới lá

1.2 Bệnh khô cành, khô quả

Phân bố, tác hại

Đây là bệnh quan trọng thứ hai sau bệnh rỉ sắt trên cà phê chè Bệnh làm khô quả, khô cành và chết cây Bệnh được phát hiện phổ biến ở Ấn Độ năm 1918 và gây hại ở đây vào năm 1928, gây dịch ở Kenya (1960) làm giảm 50% sản lượng Tại Việt Nam bệnh được phát hiện năm 1930 và cho đến nay cùng với việc gia tăng diện tích cà phê chè tại các tỉnh Tây Nguyên tỷ lệ cây bệnh và mức độ bệnh cũng gia tăng Các kết quả điều tra của Bộ môn Bảo vệ thực vật Viện nghiên cứu cà phê tại ĐakLak cho thấy

tỷ lệ quả bệnh trên cây từ 4.6 - 20.4%, tỷ lệ quả bệnh rụng dưới đất là 6%, không kể tỷ

lệ quả rụng do sinh lý là 26%, tỷ lệ cây bệnh nặng là 12% Bệnh đã làm giảm 7% sản lượng qua việc làm giảm 22.8% trọng lượng 100 nhân

Triệu chứng

Bệnh xuất hiện trên cả 3 bộ phận: quả, cành và lá nhưng gây hại nặng trên quả

Trang 35

Tài liệu cho thấy bệnh xuất hiện trên cả hoa nhưng tại ĐakLak chưa thấy triệu chứng trên hoa

- Trên quả: Bắt đầu bằng vết chấm nhỏ màu nâu trên vỏ quả sau lan rộng ra và

có màu nâu sẫm, ở phần bệnh lõm sâu xuống Đây là triệu chứng đặc trưng của bệnh

trên quả do Colletotrichum gây ra.Vết bệnh lan dần khắp vỏ quả, ăn sâu vào trong

nhân làm quả đen và rụng Bệnh cũng bắt đầu từ nơi đính vào cuống hay tại điểm tiếp xúc giữa hai quả, những nơi mà nước có thể đọng lại

- Trên cành: Bệnh xuất hiện đầu tiên từ những đốt giữa của cành Đầu tiên là

những vết nhỏ màu nâu vàng sau đó nâu và nâu sẫm Vết bệnh lan rộng khắp chiều dài của đốt và lõm xuống so các vùng kế bên Lá trên cành rụng dần, cành khô dần và chết, ở cây nặng bệnh tấn công cả cành lớn và thân

- Trên lá: lá bệnh có nhiều đốm nâu, sau đó lan rộng ra, chuyển sang màu nâu

sẫm hay nâu đen

Tác nhân gây bệnh

- Do nấm: Colletotrichum Coffeanum Noack (trên quả), được gọi là bệnh CBD

(Coffee Berry Disease)

- Do vi khuẩn: Pseudomonas syringea, Pseudomonas garcae

- Sinh lý: làm khô cành và quả (được gọi là bệnh Die-back)

Mac Donald (1926) đã phân biệt được 3 loại Colletotrichum coffeanum: hoại

sinh, ký sinh nhẹ nhưng không xâm nhiễm, ký sinh mạnh gây ra bệnh CBD

Bào tử nấm Colletotrichum coffeanum chỉ nảy mầm khi có giọt nước Trong

sau 4 giờ bào tử nảy nầm Thời gian tiềm dục của nấm Colletotrichum coffeanum ở

ngoài đồng từ 2- 4 tuần (Mulinge, 1970) Mưa vào buổi chiều tối làm phát tán bào tử

và làm bào tử nảy nầm xâm nhiễm vào quả

Các kết quả phân tích và lây nhiễm của bộ môn Bảo vệ thực vật Viện nghiên cứu cà phê cho thấy tại Tây Nguyên hiện nay có sự hiện diện của cả hai nguyên nhân:

sinh lý và nấm bệnh mà Colletotrichum coffeanum là một trong nhiều loài

Colletotrichum đã phân lập được trên cà phê chè Catimor tại các tỉnh Tây nguyên:

- Trên quả: Colletotrichum coffeanum, Colletotrichum gloeosporioides

- Trên cành, lá: Colletotrichum gloeosporioides, Colletotrichum capsici

Hiện tượng khô cành khô quả thường xuất hiện nhiều ở các vườn có năng suất cao (trên 4 tấn nhân/ha), lượng phân bón thấp

Các biện pháp phòng trừ

Chương trình chọn giống cà phê chống bệnh CBD được bắt đầu thực hiện trên

cà phê chè tại Kenya từ năm 1936 và cho đến nay rất nhiều giống chống bệnh CBD đã được phổ biến như ‘ K7’, ‘Blue Mountain’, ‘Rume Sudan’

Bón phân cân đối cũng có thể hạn chế được bệnh khô cành

Trang 36

Tại Kenya để phòng trừ bệnh CBD, người ta phun thuốc mỗi tháng một lần trong mùa mưa Thuốc gốc đồng cho thấy có hiệu quả cao, bên cạnh dó còn có

Captafol, các thuốc nội hấp cũng cho hiệu quả cao, tuy nhiên nấm C coffeanum lại tỏ

ra nhanh chóng kháng các thuốc này

Tại ĐakLak, các thí nghiệm phòng trừ bằng thuốc hóa học của Bộ môn Bảo vệ thực vật Viện nghiên cứu cà phê cho thấy có thể dùng các thuốc sau để phun phòng trừ bệnh khô cành khô quả: Derosal 50 SC (0.2%), Tilt 250 EC (0.1%), Viben C 50 BTN (0.2%), Phun từ đầu mùa mưa (tháng 5, 6), 2 - 3 lần cách nhau 1 tháng

1.3 Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor B.& Br.)

Phân bố và tác hại

Bệnh phổ biến các nước trồng cà phê trên thế giới, bệnh được Ridley phát hiện đầu tiên ở Malaysia năm 1897, ở nước ta bệnh phát hiện năm 1962

Triệu chứng

Bệnh còn xuất hiện trên ca cao, chè, tiêu và nhiều cây ăn quả khác

Bệnh gây hại trên quả và cành Đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn Những chấm này phát triển tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử của nấm Nếu xuất hiện ở cành thì thường lớp phấn này nằm ở mặt dưới cành, nếu ở quả thường từ cuống quả Vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành và lan dần sang cả quả làm cành bị chết khô, quả thì héo, rụng non Nếu không phát hiện sớm khi cành đã khô nhìn mặt trên dễ lầm với mọt đục cành

Tác nhân gây bệnh

Nấm Corticium salmonicolor B et Br, lớp nấm đảm

Điều kiện phát sinh phát triển

Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao nhưng lại nhiều ánh sáng Do đó trong vườn cây, bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên, ít thấy ở tầng dưới

Tại ĐakLak bệnh phát sinh từ tháng 6, 7, cao điểm vào tháng 9 và chấm dứt vào cuối mùa mưa (tháng 10, 11)

Bệnh phát triển rất nhanh trên cây, tốc độ làm chết cành rất nhanh Nhưng lây lan từ cây này sang cây khác thì chậm

Hiện tượng vàng lá trên cây cà phê rất phổ biến và gây hại nghiêm trọng trên

cà phê Các số liệu điều tra sơ bộ của chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh ĐakLak trong năm

1996 cho thấy có tới hàng chục nghìn ha cà phê bị vàng lá, hàng nghìn ha bị thanh lý

mà không thể trồng lại cà phê Có nhiều nguyên nhân đưa đến hiện tượng này nhưng nhìn chung đều xuất phát từ bộ phận cổ rễ và rễ của cây bị tổn thương nên không thể hấp thụ được nước và dinh dưỡng Triệu chứng chung của các loại bệnh rễ là cây sinh trưởng kém và vàng lá, rất dễ nhầm với triệu chứng vàng lá do cây chăm sóc kém và thiếu dinh dưỡng Mặc dầu các triệu chứng ở rễ hoàn toàn khác nhau ở từng loại bệnh nhưng khi bệnh nặng hầu hết các rễ đều bị thối đen, đôi khi còn có sự xuất hiện đồng thời của nhiều loại bệnh trên cùng một vườn gây khó khăn trong việc xác định bệnh

Trang 37

Do đó để xác định bệnh được chính xác cần phải biết các yếu tố đất đai, chế độ canh tác và không nên chỉ kiểm tra các cây đã bị bệnh quá nặng

Các bệnh chính thường gặp ở rễ cà phê là:

- Bệnh thối rễ: tuyến trùng Pratylenchus coffeae, Meloidogyne spp, nấm Rhizoctonia

bataticola; Fusarium spp gây ra

- Bệnh lở cổ rễ: do nấm Rhizoctonia solani gây ra

- Bệnh thối cổ rễ: do nấm Fusarium oxysporum gây ra

- Bệnh thối rễ trắng do nấm Leptoporus lignosus gây ra

- Bệnh thối rễ nâu do nấm Phellinus lamaoensis gây ra

- Bệnh thối rễ đen do nấm Rosellinia bunodes gây ra

1.4.1 Tuyến trùng gây hại trên cây Cà phê

Bảng 2.1: Thành phần tuyến trùng gây hại trên cây cà phê

ngoại kí sinh (ectoparasite)

- Meloidogyne sp, M.africana, M exigua,

- Trichodorus christiae,

T monchystera

- Xiphinema mericantum, X.brevicola, X.insigne, X radicicola, Ditylenchus procerus

Brazil

Brazil, Tanzania, Zaire, EL Salvador, India

Brazil, Tanzania, Zaire, India

Trang 38

Bảng 2.3: Thành phần và mức độ gây hại của một số loại tuyến trùng ở tỉnh Đăk Lak

1.4.1.1 Radopholus sp gây hại trên cây cà phê

Đây là loại tuyến trùng gây hại khá nghiêm trọng trên cây cà phê chè catimor tại DakrLap Hơn 130 ha cà phê catimor trồng năm 1997 có rải rác các cây bị nhiễm bệnh, trong đó có 5 ha bị nhiễm nặng tỉ lệ bệnh trên 30%

Triệu chứng bệnh

Giai đoạn nhẹ, cây có biểu hiện lá rũ xuống dưới trời nắng nhưng màu lá vẫn còn xanh, trên những cây nặng hơn lá chuyển sang màu vàng nhạt, cây sinh trưỏng kém và có bộ tán nhỏ hơn so với các cây bình thường, một số cây bị nặng lá vàng toàn

bộ và héo, cây suy kiệt dần và chết

Trên rễ cọc, vết bệnh mới xuất hiện nhỏ cỡ 1-2 mm, có màu vàng nâu nhạt, sau

đó kích thước vết bệnh lớn dần, phần mô chuyển sang màu đen, hoại tử và lõm xuống tạo thành lỗ hổng, một số trường hợp phần mô xung quanh vết bệnh lồi lên giống như mụn cóc Vết bệnh có thể lớn hơn 10cm và phần mô bị hại tới phần lõi

Trên rễ nhánh, mô vùng vết bệnh bị nứt, sần sùi và có màu đen Trên những rễ nhánh lớn hơn vết bệnh không có hình dạng nhất định, phần mô xung quanh lồi lên bao quanh phần giữa bị hoại tử, có màu đen và lõm xuống

Tác nhân gây bệnh

Tuyến trùng Radopholus similis các loài nấm Fusarium spp

Đặc điểm Radopholus similus

Radopholus là loại Tuyến trùng gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên cây

trồng lâu năm Là loài nội kí sinh di động gây hại phần mô vỏ của cây trồng Vòng đời

1.4.1.2 Tuyến trùng Pratylenchus spp

Phân bố tác hại

Thời gian dài được ghi nhận gây hại trên cây cà phê ở Nam Mỹ (Lordello,1972), ở nước cộng hòa Dominica, El Salvador, Guatemala, Costarica, Brazil, Ấn độ, Đông Nam Á Ở Việt Nam nghiên cứu Pratylenchus spp gây hại trên

Trang 39

cây cà phê năm 1974 (Phan Quốc Sủng), Trần Kim Loang (1996), Nguyễn Văn Nam (1999) Ở Dăk Lak bệnh phát sinh thành dịch, gây thiệt hại lớn cho nhiều Nông trường

cà phê từ năm 1995 - 1999

Triệu chứng

Cà phê kiến thiết cơ bản

Xuất hiện nặng trên cà phê kiến thiết cơ bản được trồng lại trên đất khai hoang

từ các vườn cà phê già cỗi Triệu chứng chung là cây vàng lá rất rõ vào đầu mùa khô, sau khi dứt mưa và trước mùa tưới do rễ cọc và rễ tơ bị thối Vào mùa mưa phần rễ tơ gần mặt đất phát triển mạnh Trong mùa mưa nếu được chăm sóc tốt cây vẫn xanh nhờ

hệ thống rễ tơ gần mặt đất, tuy nhiên do không có rễ cọc nên các cây bệnh dễ bị nghiêng khi có gió to và dễ nhổ lên bằng tay Nếu không được chăm sóc tốt bộ rễ tơ phát triển kém, cây sẽ còi cọc, vàng lá hay chết ngay trong năm trồng

Bệnh gây hại trên cà phê kinh doanh

Cây bị bệnh chậm phát triển (mặc dầu đã được chăm sóc, bón phân đầy đủ), lá vàng dần, cành khô, rễ tơ bị thối đen từ chóp rễ vào Ở cây nặng, rễ lớn cũng bị thối từ lớp vỏ ngoài vào, dần dần cây không hấp thu được dinh dưỡng và chết Giai đoạn đầu của bệnh, cây thường có biểu hiện vàng lá vào mùa khô, hóa xanh vào mùa mưa, giai đoạn sau cây vàng, cành khô, hoa quả ít

Tác nhân gây bệnh, đặc điểm sinh học

Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tuyến trùng Pratylenchus coffeae kết hợp với nhiều loại nấm, chủ yếu là Fusarium oxysporum, trong một số trường hợp còn có

sự phối hợp với rệp sáp Các ký sinh này có sẵn trong đất và rễ của các vườn cà phê già cỗi và chỉ làm suy yếu các vườn này nhưng lại dễ dàng gây chết cho cà phê kiến thiết cơ bản khi trồng lại

Bảng 2.4: Đặc điểm hình thái của tuyến trùng

Mật độ tuyến trùng Pratylenchus coffeae trên cây cà phê bị bệnh

Bảng 2.5: Mật độ tuyến trùng trên cây cà phê có triệu chứng vàng lá

Cà phê vối kinh

Ngưỡng gây hại của Pratylenchus coffeae

Với mật độ > 200 con/ 5 gam rễ Pratylenchus coffeae có thể gây hại cho cây

cà phê

Diễn biến cây cà phê có triệu chứng vàng lá

Diễn biến triệu chứng cây cà phê kinh doanh trên đồng ruộng ở Đăk Lăk

Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4, cây cà phê có tỉ lệ vàng lá cao nhất, giai đoạn này trùng vào mùa khô

Trang 40

Bảng 2.6: Động thái mật độ tuyến trùng Pratylenchus coffeae

11710390

648947960

Bảng 2.7: Mật độ Pratylenchus coffeae trên cây cà phê vối giai đọan kiến thiết

cơ bản có các cấp triệu chứng khác nhau tại nông trường cà phê Chư Quynh

480971020

82353

173308310

8

53

53

113173255

152345

Sự biến động Pratylenchus coffeae trong đất không theo qui luật chung, mật độ

trong rễ có biến động trung bình chung giảm dần theo thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 Theo dõi động thái tuyến trùng gây hại trên cà phê vối kinh doanh tại nông trường cà phê Chư Quynh Qui luật chung vào các tháng mùa khô mật độ duy trì ở mức 300con/5g rễ, tăng dần đến tháng 6 và sau đó giảm dần

Bảng 2.8: Sự biến động mật độ tuyến trùng Pratylenchus coffeae trên cà phê vối KD

theo thời gian (con/5g rễ hoặc 50g đất)

760

0233

030

08

180300

231230

3830

898

23105

0120

3845

3068

Mối liên quan giữa tuyến trùng và nấm gây hại trên cây cà phê

Tuyến trùng là kí sinh gây hại sống trong môi trường đất, có nhiều loại kí sinh khác luôn tồn tại và phối hợp gây hại làm mức độ bệnh nghiêm trọng hơn, có 10 loài

nấm gây hại phân lập từ rễ cây cà phê, trong đó có F oxysporum, F solani, R

bataticola có liên quan với Pratylenchus coffeae gây hại trên cây cà phê

Ngày đăng: 28/08/2022, 22:36

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w