Giáo trình Bệnh cây chuyên khoa kết hợp giữa kiến thức lý thuyết cơ bản và kỹ năng thực hành về nhận dạng các triệu chứng bệnh, các tác nhân gây bệnh cây trồng và tìm hiểu thực tế về cách phòng trừ nhằm củng cố và ứng dụng cụ thể phần lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng tay nghề về bảo vệ thực vật. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 1 giáo trình.
Các bệnh phổ biến hại lúa
Bệnh do nấm
Bệnh đạo ôn hay còn gọi là bệnh cháy lá có thể tấn công trên phiến lá, cổ lá, đốt thân, cổ gié, nhánh gié và hạt Trên lá, đốm bệnh ban đầu thường là đốm úng nước nhỏ màu xám xanh; sau đó lan rộng thành vết hình mắt én, hai đầu hơi nhọn, tâm xám trắng và viền nâu hoặc đỏ Tùy tuổi cây, điều kiện thời tiết và tính nhiễm của giống mà hình dạng và kích thước vết thay đổi; khi trời ẩm và giống có tính nhiễm cao, vết bệnh có màu xám xanh do đài và bào tử nấm phát triển trên đó, viền nâu hẹp hoặc mờ và có quầng vàng quanh vết Kích thước có thể dài tới 1,5 cm khi liên kết thành mãng khiến lá cháy khô (hình 1.1) Ở các giống kháng, đốm bệnh là những đốm nâu nhỏ từ bằng đầu kim đến 1–2 mm, dễ bị nhầm với vết bệnh đốm nâu mới phát triển.
Hình 1.1: Triệu chứng bệnh đạo ôn lá lúa
(a): Vết bệnh hình thoi, viền vàng; (b): Vết bệnh liên kết làm cháy lá
Trên đốt thân, cổ gié và nhánh gié bị nhiễm sẽ có màu nâu sậm đến đen (Hình 1.2) Khi thời tiết ẩm, vết bệnh ướt và có mốc xám xanh; trời khô, vết bệnh bị nhăn lại Bệnh làm gãy thân, gãy gié, làm hạt lem, lép và gây giảm năng suất.
Hình 1.2: Triệu chứng bệnh đạo ôn trên lúa
(a): cổ lá (b): đốt thân và (c): cổ bông
Phạm Văn Kim, ĐHCT ( Phạm Văn Kim, ĐHCT b) ( a)
Do nấm Pyricularia grisea (= P oryzae) gây ra Giai đoạn sinh sản hữu tính là nấm nang Magnaporthe grisea
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh
Thời tiết, đặc biệt là độ ẩm không khí và nhiệt độ, ảnh hưởng mạnh tới tính nhiễm và sự phát triển của bệnh trên cây trồng Độ ẩm cao làm tăng mức độ nhiễm và khiến bệnh trở nên nghiêm trọng hơn; thời tiết mát thích hợp cho sự hình thành vết bệnh ở giai đoạn đầu, nhưng ở giai đoạn sau sự phát triển của vết bệnh sẽ được kích thích khi có một ít nắng Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, những tháng sương mù nhiều và ban ngày có nắng khiến bệnh dễ phát triển mạnh và có nguy cơ thành dịch nếu không được quản lý và theo dõi kịp thời.
Cân đối phân đạm (N) với phân lân (P) và phân kali (K) là yếu tố quan trọng để kiểm soát bệnh trên lúa Nếu không có phân lân (P) và phân kali (K), càng bón nhiều phân đạm (N) thì bệnh càng nghiêm trọng Ảnh hưởng của phân đạm (N) thay đổi tùy theo tình trạng đất và thời tiết, cũng như cách áp dụng Bón dư thừa phân đạm, bón quá muộn hoặc bón khi nhiệt độ quá thấp trong giai đoạn đầu phát triển của lúa cũng có ảnh hưởng lớn Phun phân lên lá cũng làm bệnh phát triển mạnh hơn.
Phân lân là yếu tố dinh dưỡng thiết yếu cho sự phát triển của cây; khi được bón đúng liều để đáp ứng nhu cầu phát triển, bệnh sẽ nhẹ và cây phát triển khỏe mạnh Ngược lại, bón phân lân vượt quá nhu cầu sẽ làm tăng mức độ bệnh, nhất là khi đã bón nhiều phân đạm Vì vậy, việc cân đối liều lượng phân lân theo mức độ tăng trưởng của cây là chìa khóa để hạn chế bệnh và tối ưu hóa dinh dưỡng.
Phân kali nên được bón ở mức vừa đủ cho cây; bón đúng liều sẽ giúp giảm bệnh, trong khi bón quá nhiều kali, đặc biệt khi cây đã được bón nhiều phân đạm, sẽ làm bệnh gia tăng Thêm magnesium khi bón phân kali có thể làm giảm bệnh và tối ưu hóa sức khỏe cùng sự phát triển của cây trồng.
Phân silica làm tăng tính chống chịu của cây nhờ silic hóa tế bào biểu bì, ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh Khi cây hấp thụ lượng silica lớn, khả năng hấp thụ đạm sẽ giảm, từ đó giúp hạn chế mức độ nhiễm bệnh trên cây trồng Vì vậy, bón silica với liều lượng phù hợp là một chiến lược quản lý dinh dưỡng và bảo vệ cây khỏi bệnh một cách hiệu quả.
* Phòng trị bệnh đạo ôn
Biện pháp canh tác hiệu quả bắt đầu từ vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch và sử dụng giống kháng nhằm giảm sự xâm nhập của bệnh Không gieo sạ quá dày và không cấy quá sâu để cây phát triển khỏe mạnh, giảm nguy cơ bệnh tấn công và gây hại Bón phân cân đối theo nhu cầu của cây, không bón thừa đạm (bón ít hơn 100 kg N/1000 m2) Thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện bệnh đạo ôn gây hại và có biện pháp xử lý nhanh chóng.
Quản lý nước trên ruộng lúa là yếu tố then chốt giúp cây lúa phát triển khỏe mạnh và hạn chế bệnh Nếu ruộng bị khô ở giai đoạn mạ, cây lúa sẽ dễ nhiễm bệnh khi trưởng thành Trong quá trình sinh trưởng, lúa có giai đoạn rút nước, vì vậy cần theo dõi nước ở giai đoạn này và áp dụng các biện pháp phòng bệnh phù hợp để bảo vệ năng suất.
+ Sử dụng vi sinh vật: chủng vi sinh vật không gây bệnh trước hay cùng lúc với nấm Pirycularia thì gây ra tính kháng bệnh cháy lá lúa
Induced resistance can be promoted by applying biological elicitors Two Can Tho University (ĐHCT)–developed products, Biobac-1 and Biosar-3, along with the SAR3 elicitor (SAR3-ĐHCT), act as disease-resistance elicitors to trigger plant immune responses and improve crop protection.
Phòng bệnh đạo ôn cho lúa khi thời tiết mát, mưa nhiều khiến ruộng lúa biểu hiện thừa đạm và lá xanh thẫm, nên phun phòng bằng một trong các loại thuốc Beam 20WP; Trizole 20WP; Fuji-one 40EC; Bump 650WP; FILIA-525EC; Kabim 30EC Đối với bệnh đạo ôn, phun thuốc sớm khi lúa vừa nhiễm, trên lá có dấu chấm kim màu trắng nhìn ngược sáng hoặc chấm kim màu nâu là thời điểm phun hiệu quả nhất Áp dụng đúng bốn nguyên tắc bảo vệ thực vật: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách Các loại thuốc đặc trị đạo ôn có thể sử dụng theo một trong các hoạt chất và liều lượng được khuyến cáo.
• Tricyclazole: Filia, Beam, Rocksai, Travil, Lash super, Forvil New, Vista…
• Azoxystrobine: Amistar Top, Cure Gold, Trobin Top, TT Over
• Isoprothiolane: Fuan, Ninja, Kara One …
BỆNH ĐỐM VẰN (BỆNH KHÔ VẰN)
Trên đồng ruộng bệnh thường xuất hiện khi lúa đạt 45 ngày tuổi trở về sau, thường nhất là khi lúa ở khoảng 60 ngày tuổi Lúc đầu bệnh xuất hiện trên các bẹ lá gần mặt nước ruộng Đốm có hình bầu dục, dài 1-3 cm, có màu xám trắng hay xám xanh, viền nâu Mô nhiễm bị hư, chỉ còn biểu bì ngoài của bẹ, nên vết bệnh lõm xuống, phần biểu bì còn lại áp sát vào bẹ lá bên trong Kích thước và màu sắc đốm bệnh cũng thay đổi theo điều kiện môi trường, nếu trời ẩm khuẩn ty sẽ phát triển như tơ trắng trên bề mặt vết bệnh Bệnh lan dần từ các bẹ dưới lên các bẹ trên, kể cả phiến lá Nhiều đốm liên kết làm cho vùng bệnh có dạng vằn vện, bẹ và phiến bị cháy khô, khuẩn ty sẽ hình thành hạch nấm tròn, dẹt, có màu trắng khi
5 non, biến sang màu ngà, nâu và nâu sậm khi già; hạch có kích thước 1-3 mm Khi lá bệnh bị đổ, rơi chồng sang các lá khác, tơ nấm sẽ phát triển để lây lan làm cho các lá bệnh dính vào nhau
Trong giai đoạn lúa chưa khép tán, bệnh phát triển từ gốc và có khuynh hướng lây lan ngang sang các chồi lân cận; khi giai đoạn trổ và sau khi tán lá khép kín, bệnh lan dọc nhanh hơn, làm cháy khô các lá ở phía trên, kể cả lá cờ Khi bệnh lên tới lá cờ, năng suất có thể giảm từ 20–25% Nếu bệnh nặng, toàn bộ cây lúa héo úa, khô, hạt bị lép và năng suất bị giảm sút.
Hình 1.3: Triệu chứng bệnh đốm vằn trên lúa
(a) Bệnh ở gốc; (b) Hạch nấm và tơ nấm (c) vết bệnh mới trên lá; (d) vết bệnh cũ
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani
Nấm có giai đoạn sinh sản hữu tính bằng đảm bào tử và được gọi tên là
Nấm gây bệnh khô vằn lưu tồn dưới dạng khuẩn ty và hạch nấm Hạch nấm là những hạt nhỏ, màu trắng đến nâu nhạt, lưu tồn trong đất Trong điều kiện khô hạn, hạch nấm có thể sống tới 21 tháng; trong điều kiện ẩm ướt, hạch nấm vẫn tồn tại trong đất và có thể gây nhiễm khi gặp điều kiện thuận lợi.
Bệnh do vi khuẩn
Bệnh thường xuất hiện trên đồng ruộng ở giai đoạn trổ, nhưng đôi khi cũng gây hại cho mạ Trên mạ, mép và bìa của các lá già ở phía dưới có đốm úng nước nhỏ; đốm lớn dần khiến lá vàng và khô héo.
Trên phiến lá, vết bệnh thường bắt đầu ở một khoảng cách từ chóp lá, tạo các sọc dài úng nước ở một hoặc hai bên mép lá Vài ngày sau, vùng bệnh chuyển sang màu vàng và mép lá gợn sóng Vùng bệnh tiếp tục phát triển, kéo rộng từ mép vào sâu phần mô, khiến phần mô tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khỏe bị úng nước.
Biểu hiện triệu chứng của bệnh tùy thuộc vào mức độ nhiễm của giống; vết bệnh có thể lan khắp phiến lá khiến lá bị khô đi, còn ở những giống kháng hơn thì vết bệnh chỉ là những sọc vàng Trên các vết bệnh mới, vào sáng sớm có thể thấy giọt vi khuẩn đục hoặc vàng ứa ra trên mặt lá và bị gió làm rơi xuống nước ruộng.
Hạt có thể bị nhiễm bệnh, vỏ hạt xuất hiện đốm biến màu và viền úng nước khi hạt còn non Ở hạt già, đốm có màu xám trắng hoặc trắng vàng.
* Tác nhân: Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv oryzae
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh
Các khu vực dọc theo sông, vùng trũng dễ ngập lụt và có nhiều cỏ dại thường dễ bị nhiễm bệnh Bệnh thường liên quan đến mưa to, bão lụt, nước sâu và gió mạnh, và nhiệt độ không khí ở mức tương đối cao tạo điều kiện cho sự phát triển của bệnh Bón quá thừa phân đạm, đặc biệt là phun lên lá ở giai đoạn cuối vụ, hoặc bón thừa các chất như silicat, magiê và thiếu lân và kali làm tăng nguy cơ mắc bệnh Phân đạm không tác động trực tiếp lên sự hình thành của từng vết bệnh; tác động của đạm là gián tiếp, làm tăng sự phát triển dinh dưỡng của cây, từ đó nâng cao độ ẩm và tăng khả năng lây lan của bệnh.
- Gieo sạ mật độ vừa phải
- Bón phân cân đối, không bón thừa đạm
- Phòng trị bằng thuốc hóa học hoạt chất streptomycine như: Kasumin, thuốc đặc trị Ychatot, Xanthomix
Trên lá có vết bệnh ban đầu là những sọc nằm giữa các gân lá, màu xanh úng và kích thước 0,5–1,0 mm Các sọc sau đó mở rộng dần; khi trời ẩm, bề mặt vết bệnh xuất hiện giọt vi khuẩn ứa ra và khô lại thành các gai vàng nhỏ dọc theo sọc Với độ ẩm cao do mưa hay sương, vi khuẩn trong các gai này phân tán và lây lan sang vùng lá lân cận Các sọc bệnh cũ chuyển màu nâu nhạt; trên các giống nhiễm, mô xung quanh vùng bệnh cũng trở vàng Lá bệnh cuối cùng khô đi thành màu nâu và xám trắng do sự phát triển của nhiều vi sinh vật hoại sinh, ở giai đoạn này dễ bị nhầm với bệnh cháy bìa lá.
* Tác nhân: Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv oryzicola
* Phòng trị bệnh: tương tự như bệnh cháy bìa lá lúa
BỆNH VÀNG LÁ THỐI GỐC DO VI KHUẨN
Vụ lúa hè thu thường chứng kiến sự phát triển của các bệnh do vi khuẩn gây hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng lúa Các bệnh như cháy bìa lá và bệnh sọc trong có thể xuất hiện sớm và làm giảm hiệu quả sinh trưởng của cây trồng Gần đây nhất là vụ hè thu 2012, bệnh thối thân đã phát triển mạnh và gây thiệt hại lớn cho sản xuất Việc nhận diện sớm và áp dụng biện pháp quản lý hiệu quả các bệnh do vi khuẩn là yếu tố then chốt để bảo vệ năng suất và chất lượng lúa, giảm rủi ro cho người nông dân và chuỗi cung ứng lúa gạo.
Bệnh thường phát triển tại cổ lá, nơi phiến lá gắn vào bẹ; ban đầu lúa bị héo nhưng màu lá vẫn xanh, bẹ lá phình nước rồi thối và dần chuyển sang màu nâu sậm, khiến phiến lá vàng, khô và rụng Triệu chứng đặc trưng là bẹ bị thối màu nâu sậm, vết bệnh lan rộng khiến lá bị vàng và khô, rụng dần Dần tới, thân, cọng và rễ cũng bị nhiễm và thối; khi nhổ lên, chồi bệnh dễ tuột khỏi đất tại gốc và có mùi thối Đốt nhiễm bệnh có màu đen; cắt dọc cọng bị nhiễm sẽ thấy phần bên trong thối nâu sậm, có mùi khó chịu và ứa ra các giọt vi khuẩn trên mặt trong Mô của các đốt trên và lá đọt bị thối nhủn; lá đọt héo và đổi màu, rễ ở các đốt bệnh cũng bị thối và chuyển sang màu nâu đậm.
* Tác nhân: Do vi khuẩn Erwina chrysanthemi
+ Bón phân cân đối không bón dư thừa phân đạm
Khi thấy có một vài cây mới bị bệnh (cây héo, lá còn xanh, nhổ lên đứt gốc và có mùi thối), tháo nước trong ruộng ra càng sớm càng tốt; sau đó rải vôi bột với liều lượng 20-25 kg vôi cho mỗi 1.000 m2.
+ Trường hợp ruộng lúa bị bệnh thối gốc nặng có thể kết hợp phun vôi và rải vôi, cách thực hiện như sau:
Phun vôi là quá trình phun dung dịch vôi lên lá cây Pha vôi vào nước và để lắng, sau đó lấy nước trong để phun lên lá với liều 1,5 kg vôi cho mỗi bình 16 lít nước Đối với loại vôi nung (CaO), cho nước vào để vôi rã ra thành dạng bột rồi thêm nước để ngâm, tạo dung dịch phun.
Rải vôi bằng vôi bột (CaCO3) với liều lượng 20-25 kg cho mỗi 1.000 m² Để dễ thực hiện, có thể phun nước vừa đủ để vôi hút ẩm hoặc trộn vôi bột với trấu ướt và mụn xơ dừa trước khi rải.
Sau khoảng 3 ngày sau khi xử lý, tiến hành kiểm tra tình trạng cây lúa Nếu rễ lúa đã trắng và lúa bắt đầu phát triển trở lại, hãy bắt đầu bón phân và chăm sóc lúa bình thường để đảm bảo quá trình phục hồi và cho năng suất tối ưu.
+ Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ vi khuẩn như: Anti-Xo 200WP + Kasumin 2L, Xantocin 40WP,
Trong trường hợp trên ruộng xuất hiện đồng thời bệnh đạo ôn và bệnh thối thân do vi khuẩn, có thể sử dụng cặp thuốc Roksai Super 525 SE và Physan 20L để phòng trừ cả hai bệnh.
Khi lúa bị nhiễm bệnh, ngừng ngay việc bón phân đạm và tuyệt đối không phun phân bón lá đồng thời với thuốc trừ bệnh Việc bón phân chỉ nên thực hiện sau khi đã xử lý bệnh triệt để, và cần quan sát để vết bệnh khô hoàn toàn cùng với rễ lúa trắng trước khi tiếp tục bón phân.
BỆNH LÉP VÀNG VI KHUẨN TRÊN HẠT LÚA
Triệu chứng của bệnh gây hại trên bông lúa bắt đầu từ giai đoạn ngậm sữa đến vào chắc Trên bông lúa xuất hiện các nhánh gié đứng thẳng, trong khi một số nhánh gié khác lại cong xuống Các nhánh gié mắc bệnh (đứng thẳng) mang nhiều hạt lép, nhưng vỏ trấu vẫn giữ màu bình thường, không bị lem; khi bông lúa chín, vỏ trấu của các hạt lép này vẫn có màu vàng.
Bệnh do virus
Bệnh vàng lùn (VL), hay bệnh vi rút lúa cỏ, do vi rút lúa cỏ gây ra và rầy nâu là môi giới truyền bệnh; bệnh gây hại cho cây lúa và ảnh hưởng đến năng suất Bệnh vàng lùn mới xuất hiện và gây hại nặng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, sau đó lan dần ra các tỉnh phía Bắc.
Trong quá trình phát triển, lá lúa chuyển dần từ xanh nhạt sang vàng nhạt, sau đó vàng cam và cuối cùng vàng khô; các lá phía dưới vàng trước, sau đó lần lượt lan lên các lá phía trên, và vết vàng thường bắt đầu từ chóp lá.
21 vàng lần vào trong bẹ;
+ Điểm đặc trưng của lá lúa bị bệnh: lá lúa có khuynh hướng xoè ngang; + Bệnh làm giảm chiều cao cây và số chồi của bụi lúa;
+ Ruộng lúa bị bệnh ngả màu vàng, chiều cao cây không đồng đều
Để phân biệt vàng lùn với các triệu chứng vàng lá khác trên đồng ruộng, cần nhận diện các đặc điểm riêng biệt của từng hiện tượng: Triệu chứng ngộ độc hữu cơ biểu hiện khi nhổ cây lúa lên có đất màu đen và rễ bị thối đen, do rễ không hút được dưỡng chất khiến lá ngả vàng từ chóp lá xuống và từ mép lá vào Trong khi đó, bệnh vàng lùn bộ rễ khiến lá vàng nhưng rễ vẫn phát triển bình thường, cho thấy khác biệt căn bản về nguyên nhân và diễn biến.
Bệnh lùn xoắn lá (LXL) là bệnh do vi rút gây hại trên cây lúa và rầy nâu là môi giới truyền bệnh Giai đoạn mẫn cảm nhất của lúa là từ mạ đến khi lúa cuối làm đòng, tức là giai đoạn cây còn non, dễ nhiễm và lan truyền virus Do vậy, quản lý rầy nâu và theo dõi mật độ virus ở thời kỳ từ mạ đến đòng là rất quan trọng để ngăn ngừa LXL và bảo vệ năng suất lúa.
Triệu chứng của bệnh trên cây lúa gồm lùn cây và lá xanh đậm; rìa lá rách gợn sóng, dọc theo các gân có bướu khiến chóp lá biến dạng và xoắn lại Ở mức độ nặng, lúa không trổ được, đòng bị nghẹn và hạt lép.
Lưu ý : Có trường hợp trên một bụi lúa đồng thời xuất hiện cả triệu chứng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá
+ Bụi lúa lùn cho ra nhiều dảnh tép, mọc thẳng có dạng giống như bụi cỏ + Lá ngắn, hẹp, mầu xanh vàng
Lá non bị nhiễm có nhiều đốm rỉ sắt hoặc màu nâu đỏ, là dấu hiệu nhận biết của bệnh lúa Bệnh không được truyền qua đường cơ học và không lây qua đất, qua hạt hay qua các côn trùng khác, ngoại trừ rầy nâu (Nilaparvata lugens) là tác nhân truyền bệnh Khả năng truyền bệnh của rầy nâu không bị ảnh hưởng bởi biotype của rầy.
Rầy nâu cần chích hút trên cây bệnh tối thiểu 8 giờ để lấy nguồn virus Thời gian ủ virus trong cơ thể côn trùng từ 2–33 ngày (trung bình 9 ngày) Thời gian tối thiểu để rầy đã mang mầm bệnh chích hút và truyền bệnh được là 1 giờ; thời gian chích hút càng dài thì hiệu quả truyền bệnh càng cao Sau một lần chích hút để hấp thu nguồn virus, rầy nâu có thể kéo dài khả năng truyền bệnh từ 3–35 ngày (trung bình 15 ngày), tức khoảng 13–35% chu trình sống của rầy Qua các lần lột xác, rầy nâu không mất khả năng truyền bệnh, nhưng virus không truyền qua trứng Như vậy đây là lối truyền bệnh bền vững nhưng không truyền qua trứng.
Phòng trị bệnh virus trên lúa gồm các bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn lúa cỏ do virus gây ra, là đối tượng gây hại nguy hiểm nhưng hiện nay chưa có thuốc phòng trị đặc hiệu Rầy là môi giới truyền bệnh nên mức độ lây lan rất nhanh và khó kiểm soát Vì vậy cần áp dụng tổng hợp các biện pháp phòng trừ, kết hợp quản lý rầy, vệ sinh đồng ruộng, chọn giống kháng và các biện pháp sinh học, nông học và hóa học phù hợp để giảm thiểu tác hại.
- Gieo sạ đồng loạt, tập trung theo lịch né rầy cụ thể của từng địa phương
- Vệ sinh đồng ruộng, tiêu huỷ tàn dư nguồn bệnh trên lúa, bắp, cỏ lồng vực, cỏ chát,
Ngay từ đầu vụ, áp dụng 3 giảm 3 tăng để giảm chi phí và tăng năng suất, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dịch hại trên đồng ruộng Thăm đồng thường xuyên kết hợp với theo dõi bẫy đèn nhằm xác định mật độ rầy lưng trắng và các loại rầy khác truyền bệnh, từ đó điều chỉnh lịch chăm sóc và biện pháp phòng trừ, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường nông nghiệp.
Việc sử dụng thuốc hoá học cần được thực hiện hợp lý trên nền quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) nhằm tối ưu hiệu quả kiểm soát dịch hại và giảm thiểu tác động tiêu cực Người dùng nên tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn cụ thể từ cán bộ chuyên môn tại địa phương để đảm bảo an toàn cho người, môi trường và hiệu quả vườn trồng.
- Khi phát hiện cây lúa bị bệnh phải sớm tiến hành nhổ bỏ và tiêu huỷ
- Thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp phòng trừ rầy nâu
Xử lý mầm trước khi gieo bằng Cruiser Plus 312.5FS để trừ rầy ngay từ giai đoạn đầu của cây lúa, giảm thiểu sự gây hại và bảo vệ năng suất vụ mùa Áp dụng các biện pháp canh tác đồng bộ như quản lý nước, bón phân cân đối và chăm sóc ruộng để tạo cây lúa khỏe mạnh, nhất là ở giai đoạn lúa non, từ đó tăng sức đề kháng của cây Việc kết hợp xử lý mầm với các biện pháp nông học đúng cách sẽ mang lại hiệu quả trừ rầy cao và bảo vệ môi trường.
Biện pháp trừ bệnh hữu hiệu nhất là tiêu hủy nguồn bệnh trên đồng ruộng Đối với lúa dưới 30 ngày tuổi, khi ruộng bị nhiễm bệnh trên 20% số dảnh, cần tiêu hủy ngay bằng cách tiêu hủy hoặc cày vùi toàn bộ ruộng để diệt mầm bệnh; trước khi cày vùi, phải phun trừ rầy triệt để để tránh rầy phát tán sang ruộng khác.
- Nếu bị nhiễm nhẹ dưới 20% số dảnh thì phải nhổ bỏ cây bị bệnh và vùi xuống ruộng, không bỏ tràn lan trên bờ ruộng.
Bệnh do tuyến trùng
Bệnh có thể nhiễm ở giai đoạn mạ Cây bệnh có thể bị lùn, phiến lá đọt có những vết trắng do lá mất diệp lục, rõ nét nhất là ở phần chân phiến lá Lá đọt càng non triệu chứng càng rõ, có khi cả phiến lá hay phần lớn phiến lá bị trắng hoàn toàn, lá yếu ớt, ngọn lá bị rũ xuống, nên nông dân còn gọi là bệnh Tiêm đọt nhiễu Ở giai đoạn trổ, bệnh rất dễ phát hiện Lá bị biến dạng xoắn, nhất là lá cờ
Gié bên trong cũng bị biến dạng, rõ nhất ở phần chân của gié Chồi bệnh có thể nhảy nhánh thân Bẹ lá và các lóng trên của thân có thể có màu nâu tối Tuy nhiên, việc biến màu này có thể là do sự xâm nhiễm của các nấm khác, nhất là nấm
Tác nhân gây bệnh là tuyến trùng Ditylenchus angustus (Butler) Filipjev, 1936, một loại tuyến trùng ngoại ký sinh bắt buộc Mạ vài ngày tuổi có thể bị nhiễm bệnh; khi độ ẩm đủ, tuyến trùng sẽ leo dần lên mô tăng trưởng Tuyến trùng xâm nhập vào trong qua khe hở giữa bẹ và các lá chưa nở, không chui xuyên qua mô mà bám bên ngoài và dùng kim chích hút dịch từ tế bào biểu bì Khi cây lúa lớn lên, tuyến trùng cũng bò dần lên các mô non ở phía trên để tiếp tục sinh sống và hút dịch.
Trong cây lúa, tuyến trùng chủ yếu tập trung ở cuống gié, lóng và trong hạt Mật số cao nhất nằm ở các khoảng trống giữa bẹ và lá non chưa nở, và mật số cao có thể tạo lớp phủ trên bề mặt mô trông như tơ trắng hoặc xám Tuyến trùng không có tập tính sống thành cộng đồng.
Tuyến trùng sinh sản bên trong cây lúa, số lứa và số trứng đẻ của một con cái chưa được xác định; khi cây lúa già, tuyến trùng trở nên bất hoạt và cuộn thành một cuộn tròn, đầu tuyến trùng nằm giữa, và khi gặp nước sẽ mở cuộn, hoạt động mạnh và di chuyển uốn lượn như hình con rắn Ở 31°C, tuyến trùng hoạt động mạnh và sống lâu hơn so với ở nhiệt độ lạnh (16–19°C) Khi độ ẩm không khí đạt 85% trở lên, tuyến trùng có thể bò trên mặt mô cứng Khả năng sống của tuyến trùng này khá cao và có thể hoạt động lại sau 6 tháng trong điều kiện khô của chậu hút ẩm.
Ở tuổi 15 tháng, tuyến trùng vẫn giữ được khả năng mở cuộn để hoạt động Tuy nhiên, khi bị ngập nước, khả năng sống của tuyến trùng bị suy giảm rất nhanh, khiến chúng khó tồn tại qua đợt ngập tiếp theo.
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh
- Đất trũng, trầm thủy quanh năm, không có bờ bao, mực nước lên xuống theo thủy triều
- Mưa nhiều, ẩm độ không khí cao
- Trồng liên tục nhiều vụ lúa trong năm, không có thời gian phơi đất, không vệ sinh gốc rạ giúp tuyến trùng có điều kiện lưu tồn
- Trồng giống dài ngày, tuyến trùng có thời gian sinh nhiều thế hệ, thiệt hại càng cao và mật số tuyến trùng cũng gia tăng
1 Ruộng nên có bờ bao để xiết nước, tránh lây lan
2 Trước khi cấy, nên diệt sạch lúa rài, lúa chét, gốc rạ và cày ải phơi đất 3 tuần hay cho ngập nước 1 tháng để giảm mật số lưu tồn
3 Rải Basudin, Furadan hay Mocap vào nương mạ 1 tuần trước khi nhổ cấy, thuốc sẽ lưu dẫn và có thể bảo vệ lúa trong vòng một tháng sau khi cấy Có thể nhổ mạ và ngâm vào dung dịch thuốc qua đêm trước khi cấy
4 Sau khi cấy phải theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm bệnh và sử dụng các loại thuốc trên từ 15-30kg/ha Ở các vùng nước sâu, có thể phun Benomyl hay Furadan hay Azodrin lên đọt lúa
5 Sau mùa vụ phải vệ sinh đồng ruộng
6 Thay đổi cơ cấu mùa vụ, trồng giống ngắn ngày
Bệnh bướu rễ ở đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện ở nhiều nơi, thường gây hại vào vụ đầu mùa do ruộng thiếu nước hoặc đất không giữ nước và chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống Bệnh làm giảm sức tăng trưởng của cây lúa, gây giảm chiều cao, giảm trọng lượng hạt và ảnh hưởng đến thân, rễ khi nhiễm nặng.
Trên đồng ruộng, mạ gieo khoảng một tháng tuổi thường có các triệu chứng của một bệnh trên cây Cây bị lùn, lá có màu vàng nhạt và tăng trưởng chậm Khi nhổ rễ lên, rễ vẫn trắng và khỏe nhưng bị ngắn lại, đỉnh rễ bị phù to tạo bướu kích thước khoảng 1–2 mm.
Đối tượng gây hại là Meloidogyne graminicola, một tuyến trùng nội ký sinh Khi trưởng thành, tuyến trùng cái đổi sang hình quả lê, còn tuyến trùng đực vẫn giữ dạng giun kim; tuyến trùng cái đẻ trứng bên trong bướu rễ Nó cần khoảng 41 giờ để đầu tuyến trùng xâm nhập vào mô phân sinh rễ, khiến tế bào vỏ rễ bắt đầu phồng to và sinh sản nhanh để hình thành bướu trong vòng 72 giờ Sau khi xâm nhiễm 4 ngày, các đại tế bào được hình thành.
Trên một cây mạ có 16 ổ trứng tuyến trùng, tổng cộng khoảng 770 trứng Sau khoảng 72 ngày nhiễm, lá bắt đầu có triệu chứng vàng, rồi lá bị cháy khô từ chóp xuống; lá non mọc lên có bìa bị uốn vẹo Triệu chứng này có thể kéo dài đến giai đoạn mạ 50 ngày tuổi và không rõ dần khi cây lớn lên Chồi lúa nhiễm bệnh bị lùn, gié trổ sớm và cho rất ít hạt Trong một búi có thể có đến 62 con tuyến trùng, trong đó có tới 45 con cái đang đẻ trứng.
Vòng đời của tuyến trùng kéo dài từ 26 đến 51 ngày, tùy điều kiện môi trường, và quá trình phát triển của chúng có thể kích thích sự tăng trưởng ở nhiều mô của cây như mô phân sinh, mô vỏ, biểu bì trong, chu luân và mô mộc Các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và nguồn dinh dưỡng ảnh hưởng đến thời gian và nhịp độ phát triển của tuyến trùng, từ đó tác động đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng ở các lớp mô trên Hiểu rõ chu trình vòng đời và tác động của tuyến trùng giúp xây dựng các biện pháp quản lý thông minh và bảo vệ cây trồng hiệu quả.
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của tuyến trùng
Nhiệt độ và độ ẩm của đất ảnh hưởng trực tiếp đến mật số tuyến trùng và sự hình thành bướu Trứng nở tốt nhất ở 25–30 °C, trong khi ở khoảng 21–23,5 °C mật số tuyến trùng và mức độ thành lập bướu cao nhất Độ ẩm đất cũng rất quan trọng cho sinh sản và phát triển của tuyến trùng; ở đất có độ ẩm khoảng 30–32 % sẽ thuận lợi cho cả trứng và sự xâm nhiễm Bón nhiều phân đạm và phân lân, dù riêng lẻ hay kết hợp, sẽ gia tăng sự sinh sản của tuyến trùng Sa cấu đất cũng ảnh hưởng: đất nhẹ giúp tuyến trùng di chuyển dễ dàng để lây lan và thuận lợi cho đẻ trứng Ở đất khô, tuyến trùng tập trung ở khoảng 4–12 cm mặt đất, còn ở đất có dẫn thủy, chúng tập trung ở khoảng 2–6 cm mặt đất.
1 Chọn và sử dụng giống kháng: Các trắc nghiệm cho thấy phản ứng của các giống có thể từ rất nhiễm đến rất kháng Ở giống kháng thường thấy có ít rễ nhưng rễ thường dày đặc lông hút, có vùng vỏ, lỏi và libe hẹp, có hàm lượng protein và đạm thấp, nhiều lignin, aspartic acid và alanine Do đó, ở vùng nhiễm nặng có thể chọn tạo giống kháng để sử dụng
Thực hành
Nhận dạng các triệu chứng bệnh hại trên cây lúa
Chương tập 1: Nhận dạng các triệu chứng bệnh hại lúa
Các bước thực hiện : Sinh viên quan sát các triệu chứng bệnh được ghi chú trên mẫu vật và tươi được trang bị
- Nhận dạng triệu chứng của bệnh đạo ôn trên lá, cổ bông…
- Nhận dạng các dạng đốm trên lá
Đoạn này so sánh đặc điểm của các dạng đốm trên lá gồm đạo ôn, đốm nâu và gạch nâu, nhấn mạnh cách nhận diện dựa trên hình dạng và màu sắc của vết bệnh để phân biệt giữa các dạng Khi quan sát dưới kính hiển vi ở mức phóng đại X4, ta mô tả hình dạng và màu sắc của vết bệnh, từ đó xác định các đặc trưng nhận diện từng loại đốm.
- Nhận dạng các triệu chứng than đen, than vàng, lúa von, đốm vằn, thối bẹ lá cờ, vàng lá chín sớm
+ Bệnh do vi khuẩn: nhận dạng triệu chứng bệnh cháy bìa lá, lép vàng, thối gốc
Để so sánh đặc điểm triệu chứng của bệnh vàng lá chín sớm và cháy bìa lá ở cây lúa, ta phân tích hai nhóm tác nhân chính là virus và tuyến trùng Bệnh do virus thường thể hiện bằng vàng lá lan rộng, cuộn hoặc xoắn lá, và hiện tượng cháy mép lá ở một số giống, điển hình với các bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá Bệnh do tuyến trùng lại nhận diện qua triệu chứng bướu rễ lúa, rễ bị sưng phồng và suy giảm khả năng hút nước, dưỡng chất khiến cây còi cọc và vàng lá dần Việc nhận diện sớm các dấu hiệu này giúp phân biệt giữa virus và tuyến trùng để chọn biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả.
+ Ngộ độc: nhận dạng rễ lúa của ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ
Trong kết quả trình bày, bài viết cung cấp hình minh họa các triệu chứng bệnh trên lúa và cho biết tác nhân gây bệnh tương ứng với từng loại Mỗi hình ảnh liên kết rõ ràng giữa các triệu chứng đặc trưng và tác nhân gây bệnh để người đọc nhận diện nhanh các loại bệnh Ngoài ra, kết quả mô tả cụ thể các bệnh xuất hiện trên từng bộ phận của cây lúa, như lá, bẹ lá, thân, rễ và bông, kèm theo dấu hiệu nhận biết ở mỗi bộ phận và danh sách tác nhân gây bệnh liên quan, nhằm phục vụ cho công tác nhận diện và chẩn đoán dịch hại lúa một cách hiệu quả.
Lập bảng tổng hợp các loại bệnh trên lúa
Lá Bẹ lá Đốt thân
Gốc Rễ Đạo ôn Đốm vằn Đốm vòng
Phân biệt các triệu chứng đốm trên lá, bệnh vàng lá chín sớm và cháy bìa lá
Chương tập 2: Tìm tác nhân gây bệnh
Mỗi nhóm sinh viên tiến hành thu thập mẫu thực tế từ các nhóm người có triệu chứng và thực hiện tiêu bản để quan sát tác nhân gây bệnh Quá trình thu thập mẫu được thực hiện một cách có hệ thống và an toàn, nhằm phân tích đặc điểm của tác nhân và hỗ trợ nhận diện nguyên nhân cũng như hiểu rõ cơ chế lây truyền, từ đó phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng.
Các bệnh đốm trên lá và hạt do đạo ôn gây ra có thể được nhận diện thông qua thu thập mẫu lá nhiễm và phân tích bằng kỹ thuật nhuộm và quan sát dưới kính hiển vi Phương pháp này giúp làm nổi bật đặc điểm hình thái của tác nhân gây bệnh, hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi mức độ nhiễm trên cây trồng, từ đó góp phần quyết định các biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả.
30 bào tử dưới kính hiển vi ở vật kính X10 hoặc X40 Vẽ hình tác nhân gây bệnh đạo ôn
Vết bệnh vàng lá và cháy lá được xác định bằng cách sinh viên lấy lá nghi ngờ triệu chứng, cắt thành mẫu nhỏ, xử lý bằng dung dịch sát khuẩn và nước cất tiệt trùng để làm sạch, sau đó đặt mẫu lên đĩa Petri có giấy ẩm tiệt trùng và đậy kín nhằm duy trì độ ẩm Sau một thời gian quan sát, sự xuất hiện của giọt dịch màu vàng trên bề mặt cho biết lá nhiễm bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn; nếu không có giọt dịch, tiến hành kiểm tra sự phát triển của nấm để xác định nguyên nhân gây bệnh.
Kết quả trình bày gồm việc vẽ hình tác nhân gây bệnh trên lá và trên hạt để nhận diện đặc điểm hình thái và phạm vi xâm nhiễm; mô tả hiện tượng lá sau khi ủ như biến đổi màu, xuất hiện đốm hoặc nứt nẻ và từ đó rút ra kết luận về khả năng gây bệnh và điều kiện phát triển của tác nhân; nộp tiêu bản lam để đối chiếu và lưu trữ dữ liệu.
Bệnh hại cây mè
3 Chương 3: Bệnh hại cây rau
1 Các bệnh phổ biến hại rau
2 Biện pháp quản lý bệnh hại
4 Chương 4 Bệnh hại cây hoa
Thực hành
5 Chương 5: Bệnh hại cây ăn trái
2 Bệnh hại cây có múi
4 Bệnh hại cây thanh long
Thi kết thúc môn học 1 1
CHƯƠNG 1 BỆNH HẠI CÂY LÚA
Chương học trình bày về các triệu chứng bệnh và biện pháp phòng trị bệnh hại lúa
+ Trình bày được triệu chứng và tác nhân gây bệnh cây lúa
+ Chẩn đoán bệnh hại lúa
+ Áp dụng các biện pháp quản lý bệnh hại lúa
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có khả năng thực hiện chẩn đoán đúng các bệnh phổ biến hại cây lúa,
1 Các bệnh phổ biến hại lúa
Bệnh đạo ôn, hay còn gọi là bệnh cháy lá, có khả năng tấn công trên phiến lá, cổ lá, đốt thân, cổ gié, nhánh gié và hạt Trên lá, đốm bệnh ban đầu thường là những đốm úng nước nhỏ có màu xám xanh, sau đó lan rộng thành vết hình mắt én với hai đầu hơi nhọn và tâm màu xám trắng; hình thái và kích thước của vết thay đổi tùy tuổi cây, điều kiện thời tiết và mức độ nhiễm của giống Ở những giống nhiễm cao và khi trời ẩm, vết bệnh có màu xám xanh do đài và bào tử nấm phát triển, viền nâu hẹp hay mờ và có quầng vàng quanh vết Kích thước vết có thể lên tới 1,5 cm và khi các vết liên kết thành mãng, lá bị cháy khô (hình 1.1) Với các giống kháng, đốm bệnh chỉ là những đốm nâu nhỏ từ bằng đầu kim đến 1–2 mm, dễ bị nhầm với vết bệnh đốm nâu mới phát triển.
Hình 1.1: Triệu chứng bệnh đạo ôn lá lúa
(a): Vết bệnh hình thoi, viền vàng; (b): Vết bệnh liên kết làm cháy lá
Trên đốt thân, cổ gié và nhánh gié nhiễm bệnh có màu nâu sậm đến đen; khi trời ẩm, vết bệnh ướt và có mốc xám xanh, còn khi trời khô thì vết bệnh bị nhăn lại Bệnh làm gãy thân, gãy gié và làm hạt lem, lép, gây giảm năng suất.
Hình 1.2: Triệu chứng bệnh đạo ôn trên lúa
(a): cổ lá (b): đốt thân và (c): cổ bông
Phạm Văn Kim, ĐHCT ( Phạm Văn Kim, ĐHCT b) ( a)
Do nấm Pyricularia grisea (= P oryzae) gây ra Giai đoạn sinh sản hữu tính là nấm nang Magnaporthe grisea
* Các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển của bệnh
Thời tiết và độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ nhiễm và sự phát triển của bệnh trên cây trồng Khi ẩm độ không khí càng cao, bệnh càng nghiêm trọng hơn; trời mát tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển vết bệnh ở giai đoạn đầu, nhưng ở giai đoạn sau sự phát triển của vết bệnh sẽ được kích thích bởi một ít nắng Vì vậy, tại đồng bằng sông Cửu Long, những tháng sương mù nhiều và ban ngày có nắng khiến bệnh phát triển mạnh và có khả năng thành dịch nếu không được quan tâm và kiểm soát kịp thời.
Nếu thiếu phân lân (P) và phân kali (K), việc bón nhiều phân đạm (N) sẽ khiến bệnh phát triển nghiêm trọng hơn Ảnh hưởng của phân đạm thay đổi tùy theo tình trạng đất và thời tiết cũng như cách bón Bón thừa phân đạm, bón quá muộn hoặc bón khi nhiệt độ còn thấp ở giai đoạn đầu phát triển của lúa cũng làm tăng nguy cơ và mức độ bệnh Phun phân đạm lên lá cũng có thể khiến bệnh phát triển mạnh hơn.
Phân lân đóng vai trò thiết yếu cho sự phát triển của cây trồng Khi bón phân lân vừa đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển của cây, bệnh sẽ ở mức nhẹ Ngược lại, bón phân lân vượt quá nhu cầu sẽ khiến bệnh nặng hơn, đặc biệt khi đất đã nhận nhiều phân đạm.
Phân kali nên được bón với liều lượng vừa đủ cho cây; bón đúng lượng sẽ giúp làm giảm bệnh, còn bón quá nhiều kali, đặc biệt khi đất đã nhận nhiều phân đạm, sẽ làm bệnh tăng Thêm magie khi bón kali có thể giúp làm giảm bệnh và tăng hiệu quả dinh dưỡng cho cây.
Phân silica giúp tăng khả năng chống chịu của cây bằng cách silic hóa tế bào biểu bì, ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh Khi cây hấp thụ nhiều silica, khả năng hấp thụ đạm giảm, từ đó làm giảm tính nhiễm bệnh.
* Phòng trị bệnh đạo ôn
Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch là biện pháp căn bản để ngăn ngừa mầm bệnh Sử dụng giống kháng giúp cây trồng có khả năng chống chịu tốt hơn Không gieo sạ quá dày và không cấy quá sâu để cây phát triển khỏe mạnh, vì cây yếu dễ bị bệnh đạo ôn tấn công và gây hại Bón phân cân đối theo nhu cầu của cây, không bón thừa đạm, với mức tối ưu khoảng dưới 100 kg N trên 1000 m2 Thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện bệnh đạo ôn gây hại và có biện pháp xử lý sớm.
Quản lý nước trên ruộng đúng cách là yếu tố then chốt để ngừa bệnh cho cây mạ và cho cả giai đoạn phát triển sau Nếu ruộng khô ở giai đoạn mạ, cây sau này sẽ dễ nhiễm bệnh Trong quá trình phát triển, cây có giai đoạn rút nước, vì vậy cần theo dõi nước trên ruộng trong giai đoạn này và áp dụng biện pháp phòng bệnh hợp lý để bảo vệ năng suất.
+ Sử dụng vi sinh vật: chủng vi sinh vật không gây bệnh trước hay cùng lúc với nấm Pirycularia thì gây ra tính kháng bệnh cháy lá lúa
Induced disease resistance is achieved by applying biological elicitors, i.e., bio-stimulants Two notable products from ĐHCT—Biobac-1 ĐHCT and Biosar-3 ĐHCT—along with the SAR3-ĐHCT resistance elicitor, are used to activate plant defense responses and enhance crop resilience against pathogens.
Phòng bệnh đạo ôn cho lúa khi thời tiết mát, mưa nhiều và ruộng lúa biểu hiện thừa đạm, lá xanh thẫm nên phun phòng bằng một trong các loại thuốc sau: Beam 20WP, Trizole 20WP, Fuji-one 40EC, Bump 650WP, FILIA-525EC, Kabim 30EC; Đối với bệnh đạo ôn, phải phun thuốc sớm khi lúa vừa nhiễm; trên lá có dấu chấm kim màu trắng khi nhìn ngược sáng hoặc chấm kim màu nâu là lúc phun hiệu quả nhất; Theo phương pháp bốn đúng trong bảo vệ thực vật là đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách; Các loại thuốc chuyên trị bệnh đạo ôn có thể sử dụng một trong các hoạt chất sau đây theo liều lượng khuyến cáo.
• Tricyclazole: Filia, Beam, Rocksai, Travil, Lash super, Forvil New, Vista…
• Azoxystrobine: Amistar Top, Cure Gold, Trobin Top, TT Over
• Isoprothiolane: Fuan, Ninja, Kara One …
BỆNH ĐỐM VẰN (BỆNH KHÔ VẰN)
Ở đồng ruộng, bệnh lúa thường xuất hiện khi lúa đạt khoảng 45 ngày tuổi trở đi, phổ biến nhất vào khoảng 60 ngày tuổi Lúc đầu bệnh xuất hiện trên các bẹ lá gần mặt nước ruộng, với các đốm hình bầu dục dài 1–3 cm có màu xám trắng hoặc xám xanh và viền nâu Mô nhiễm bị hư, chỉ còn biểu bì ngoài của bẹ, nên vết bệnh lõm xuống và phần biểu bì còn lại áp sát vào bẹ lá ở phía bên trong Kích thước và màu sắc đốm bệnh thay đổi theo điều kiện môi trường; khi trời ẩm, khuẩn ty sẽ phát triển như tơ trắng trên bề mặt vết bệnh Bệnh lan dần từ các bẹ dưới lên các bẹ trên, kể cả phiến lá; nhiều đốm liên kết tạo thành dạng vằn vện, bẹ và phiến bị cháy khô, khuẩn ty sẽ hình thành hạch nấm tròn, dẹt, có màu trắng.
Biểu hiện của bệnh gồm các hạch kích thước 1–3 mm, biến đổi màu từ ngà sang nâu và nâu sẫm khi già Khi lá bệnh bị rụng và rơi lên các lá khác, tơ nấm sẽ phát triển để lây lan, khiến các lá bệnh dính chặt với nhau và làm tăng sự lan rộng của bệnh trên cây.
Trong giai đoạn lúa chưa khép tán, bệnh phát triển gần gốc và có xu hướng lây lan ngang sang các chồi lân cận; khi giai đoạn trổ và tán lá khép kín, bệnh lan dọc nhanh, làm cháy khô các lá phía trên và kể cả lá cờ Khi bệnh phát triển lên đến lá cờ, năng suất có thể giảm 20-25% Bệnh nặng khiến toàn bộ cây lúa héo nâu, khô; hạt bị lép lửng và năng suất giảm.
Hình 1.3: Triệu chứng bệnh đốm vằn trên lúa
(a) Bệnh ở gốc; (b) Hạch nấm và tơ nấm (c) vết bệnh mới trên lá; (d) vết bệnh cũ
Bệnh do nấm Rhizoctonia solani
Nấm có giai đoạn sinh sản hữu tính bằng đảm bào tử và được gọi tên là
Nấm gây bệnh khô vằn lưu tồn dưới dạng khuẩn ty và hạch nấm Hạch nấm là những hạt nhỏ, màu trắng đến nâu nhạt Hạch nấm lưu tồn trong đất; trong điều kiện khô hạn, hạch nấm có thể sống đến 21 tháng; trong điều kiện ướt hạch nấm