1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công tỉnh an giang

196 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Tài Sản Công Tỉnh An Giang
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Quản Lý Tài Sản Công
Thể loại Luận Án
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 377,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộphận tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước gọi làtài sản công được Nhà nước giao cho các tổ chức, cánhân quản lý, khai thác, sử dụng và đặt ra yêu cầuquản lý của Nhà nước.. Từ những

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tinh cấp thiết của đề tài :

Trong thời kỳ dài của cơ chế quản lý kế hoạch hóatập trung quan liêu, bao cấp đối với hai thành phần kinh tếquốc doanh và kinh tế hợp tác xã thống trị toàn bộ nềnkinh tế quốc dân thì mọi tài sản, của cải đều là củacông Do đó, công tác quản lý công sản chưa đặt rathành một yêu cầu cấp bách của quản lý Nhà nước Từsau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước thực hiệnđổi mới toàn diện, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nềnkinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo động lựcđể thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, các thànhphần kinh tế mới xã hội : kinh tế nhà nước, kinh tế hợptác, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tưbản tư nhân và xã hội nhiều loại hình tổ chức xã hội, tổchức xã hội nghề nghiệp Quá trình đổi mới cũng là quátrình hình thành hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnhvực kinh tế, văn hóa, xã hội, kỹ thuật … cùng với quátrình đó là sự hình thành quyền sở hữu tài sản của Nhànước, của các thành phần kinh tế và tổ chức khác Bộphận tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước gọi làtài sản công được Nhà nước giao cho các tổ chức, cánhân quản lý, khai thác, sử dụng và đặt ra yêu cầuquản lý của Nhà nước Tuy nhiên, sự nhận thức của chúng

ta không theo kịp quá trình đổi mới của đất nước

_PAGE_2_

Trang 3

Chính vì những lý do trên, với mong muốn đóng gópmột phần nhỏ đưa công tác quản lý tài sản công đi vàonề nếp cho nên Tôi đã chọn đề tài :” Một số giải phápđổi mới quản lý tài sản công Tỉnh An giang “.

2 Mục đích nghiên cứu : đề tài giải quyết các vấn đề

sau :

_PAGE_3_

Trang 4

Sự cần thiết khách quan của công tác quản lý tàichính đối với tài sản công Tỉnh An giang.

Thực trạng công tác quản lý công sản Tỉnh An giangtrong giai đoạn trước và sau khi thành lập Cục quản lý Côngsản năm 1995

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quảnlý tài chính đối với tài sản công trên địa bàn Tỉnh Angiang

3 Đối tượng nghiên cứu :

Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về công tác quảnlý tài chính đối với tài sản công tại các cơ quan đơn vịhành chính sự nghiệp ( có xem xét qua thực trạng và giảipháp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước Tỉnh An giang

4.Phương pháp nghiên cứu :

Cơ sở nghiên cứu là kết hợp các phương pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp quy nạp, kếthợp giữa lý thuyết và thực tiễn, trong đó có xem xét tìnhhình quản lý công sản của một số nước tiên tiến trênthế giới Để minh họa cho luận án, chúng tôi đã sử dụngsố liệu của Phòng Quản lý Công sản Tỉnh An giang, CụcThống kê và các tư liệu từ sách báo tạp chí chuyên ngành

5.Nội dung nghiên cứu :

Với mục đích và đối tượng nghiên cứu như trên, luậnán đề cập đến các vấn đề sau đây :

Chương I : Một số vấn đề cơ bản về tài sản công

Chương II : Thực trạng quản lý tài sản công Tỉnh An giang.Chương III : Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN CÔNG

1 Khái niệm tài sản công :

Lịch sử xã hội loại người từ khi có phân chia giai cấp –Nhà nước xuất hiện Sự ra đời và phát triển của Nhànước gắn liền với sự xuất hiện của quốc gia Bất cứ mộtquốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vàomột trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia.Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ thành viêncủa quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các tài sản dothiên nhiên ban tặng cho con người Trong phạm vi một đấtnước tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng củatừng thành viên hoặc nhóm thành viên trong cộng đồngquốc gia Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tài sảnquốc gia thuộc sở hữu chung của tất cả thành viên gọi làtài sản công

Khái niệm về tài sản công ở mỗi quốc gia đượchiểu theo nhiều nghĩa khác nhau phụ thuộc vào đặc điểmvà trình độ quản lý công sản ở mỗi nước, có thể ghinhận một vài khái niệm :

- Ở Hàn Quốc : “ Tài sản công là tất cả các tài sản doChính phủ sở hữu phục vụ cho các mục đích công cộng “

- Luật công sản Pháp cho rằng : “ Tài sản Nhà nước là toànbộ các tài sản gồm động sản và bất động sản cấuthành tài sản của Nhà nước trung ương và chính quyền địaphương các cấp “

Trang 6

- Ở Việt Nam, tài sản công được thể chế tại điều 17 Hiếnpháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việtnam “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyêntrong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùngtrời phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trìnhthuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hóa,

Trang 7

xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninhcùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhànước đều thuộc sở hữu toàn dân “ Tiếp đó Bộ luật dânsự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt nam khóa IX kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995 vàcác văn bản pháp luật khác qui định cụ thể các tài sảnkhác thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm : “ Các tang vật,phượng tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung vào quỹ Nhànước, tài sản bị chôn dấu, chìm đắm tìm thấy, tài sảnvắng chủ, vô chủ được xác lập sở hữu Nhà nước, tài sản

do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến tặng Chínhphủ hoặc tổ chức Nhà nước “ Từ những căn cứ phápluật hiện hành, chúng ta có thể khẳng định : “ Tài sảncông là những tài sản được hình thành từ nguồn ngânsách Nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhànước theo qui định của pháp luật, đất đai, rừng núi, sônghồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùngbiển, thềm lục địa và vùng trời “

Khái niệm về tài sản công trên đây đã phản ánhđầy đủ các tài sản công đã được thể chế hóa trong Hiếppháp năm 1992 và các văn bản khác hiện hành của Nhànước ta, đồng thời đã đưa ra những đặc trưng chung về tàisản công mà ở bất kỳ chế độ xã hội nào cũng đềuphải có, đó là :

- Mọi chế độ xã hội khác nhau, với mức độ khác nhau đềutồn tại tài sản công là tài sản thuộc sở hữu của mọithành viên trong một quốc gia mà Nhà nước là người đạidiện chủ sở hữu Ở nước ta Nhà nước là người đại diệnchủ sở hữu toàn dân Nói cách khác, Nhà nước là người

Trang 8

đại diện sở hữu của tài sản thuộc sở hữu toàn dân vàcó trách nhiệm đảm bảo sử dụng tài sản thuộc sở hữutoàn dân tiết kiệm và có hiệu quả cao để đem lại lợi íchcho toàn dân.

- Khái niệm tài sản công bao hàm các loại tài sản có trongtài sản công ở tất cả các chế độ khác nhau như tài sảncó được từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quỹ tiền tệtập trung của Nhà nước, các tài sản khác mà Nhà nướcthu nạp được và các nguồn

Trang 9

tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người Tài nguyên

ở hầu hết các nước đều được Hiến pháp và pháp luậtxác nhận như là một phần của tài sản quốc gia mà Nhànước là người chủ của toàn bộ nguồn tài nguyên thiênnhiên đó

2.Vai trò của tài sản công trong đời sống kinh t ế :

Tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nói riêngđều tạo ra cho quốc gia một tiềm lực phát triển, một niềmtự hào dân tộc, một cuộc sống vật chất, văn hóa, tinhthần vô cùng quý giá Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh : “ Tài sản công là nền tãng, là vốn liếng để khôiphục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước

mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân “ (1) 1 Vai trò củatài sản công có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh:kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, tinh thần Song ở đâychỉ đề cập đến vai trò kinh tế của tài sản công Về mặtkinh tế, vai trò của tài sản công được thể hiện trên cácmặt sau :

2.1 Tài sản công là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội :

Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử, sảnxuất ra của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và pháttriển xã hội và suy cho cùng thì nó quy định và quyết địnhtoàn bộ đời sống xã hội Bất cứ nền sản xuất nào kểcả nền sản xuất hiện tại đều là sự tác động của conngười vào các yếu tố lực lượng tự nhiên nhằm thỏa mãnnhững nhu cầu nào đó của con người Nói cách khác, sảnxuất luôn luôn là sự tác động qua lại của ba yếu tố cơbản: sức lao động con người, tư liệu lao động và đối tượnglao động Đối tượng lao động là các vật thể mà lao động

Trang 10

con người tác động vào để biến thành các sản phẩm mớiphục vụ cho con người Đối tượng lao động có thể có sẵntrong thiên nhiên, có thể là loại vật thể đã qua chế biến.Nhưng suy cho cùng cơ sở của mọi đối tượng lao động đềucó nguồn khai thác từ đất đai và tài nguyên thiên nhiên.

Tư liệu lao động ( trừ đất đai là một tư liệu lao động đặcbiệt ) đều là những tài

(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tài chính, nhà xuất bản sự thật năm 1989 trang 79

Trang 11

sản do con người tạo ra để truyền dẫn sự tác động củacon người lên đối tượng lao động thành các sản phẩm mớiphục vụ con người Đối tượng lao động và tư liệu lao độnglại đều là tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nóiriêng Như vậy, nói tư liệu lao động và đối tượng lao độnglà hai yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vật chấtcũng có nghĩa là tài sản quốc gia nói chung và tài sảncông nói riêng là hai yếu tố cơ bản của quá trình sảnxuất Người lao động với kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng,kỹ xảo và thói quen lao động của họ kết hợp với tài sảncông tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triểnxã hội Để minh chứng điều này, chúng ta có thể đi từ vaitrò của đất – một tài sản công vô giá Đất là một tàisản có giá trị quý nhất của mọi quốc gia, vì nó tạo điềukiện cho sự sống của thực vật, động vật và ngay cả conngười Đất đai là một tư liệu lao động quan trọng để pháttriển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Nước ta vớikhoảng 8 triệu ha đất nông nghiệp và 10,5 triệu ha đấtlâm nghiệp trong tổng số 33 triệu ha đất tự nhiên, hàngnăm đã tạo ra khối lượng sản phẩm nông lâm chiếmkhoảng trên dưới 36% tổng sản phẩm quốc nội Trongnhững năm tới mặc dù cơ cấu kinh tế của nước ta cóchuyển đổi theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp vàxây dựng trong GDP, nhưng nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếmkhoảng 19% - 20% Sản phẩm nông lâm được tạo ra từ đấtchẳng những là nguồn lương thực, thực phẩm không thểthay thế được để nuôi sống con người, mà còn là nguồncung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến.

2.2 Tài sản công là nguồn vốn tiềm năng cho đầu tư phát triển :

Trang 12

Đầu tư phát triển có vị trí quan trọng trong hệ thốngchính sách kinh tế của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo sựtăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội vàđể phát triển toàn diện vững chắc của nền kinh tế – xãhội Nhờ đầu tư phát triển, tài sản quốc gia nói chung vàtài sản công nói riêng được bảo tồn và phát triển vàđương nhiên năng lực sản xuất tăng lên như phần trên đãtrình bày Nhưng muốn đầu tư phát

Trang 13

triển phải có vốn đầu tư Vốn đầu tư ở đây là đại diệncủa tài sản, hàng hóa và dịch vụ đưa vào sản xuất.Muốn có vốn cho đầu tư phát triển mọi quốc gia đều phảikhai thác từ các nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồntài nguyên thiên nhiên và nguồn tài sản vô hình Nguồntài nguyên thiên nhiên và nguồn tài sản vô hình chínhlà những tài sản quốc gia, trong đó tài sản công giữ vaitrò chủ yếu Các tài sản này là những nguồn tài chínhtiềm năng thể hiện dưới dạng hiện vật Dưới tác độngcủa ngoại lực ( sức lao động con người ) các tài sản nàysẽ chuyển thành nguồn tài chính tiền tệ Do đó, nếunguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng, khai thác vàosản xuất kinh doanh một cách tiết kiệm và có hiệu quả,sẽ tạo điều kiện để phát triển sản xuất, đặc biệt là cácngành sản xuất nông lâm nghiệp và các ngành côngnghiệp hoạt động dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên.Như vậy, chính nguồn tài nguyên thiên nhiên đó là vốnđể đầu tư phát triển sản xuất thay cho phần vốn muanguyên liệu, nhiên liệu đưa vào sản xuất Những nước giàucó về nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì không chỉ đảmbảo sản xuất phát triển, mà còn có thể dành mộtphần tài nguyên thiên nhiên để bán, cho thuê, liên doanh,liên kết để khai thác tài nguyên.

3.Vai trò quản lý của Nhà nước đối với tài sản công :

Nhà nước là một chủ thể xã hội đặc biệt của xãhội Sự ra đời và phát triển của Nhà nước gắn liền với sựxuất hiện của quốc gia Nhà nước nguời đại diện cho mọithành viên của cộng đồng Do đó, Nhà nuớc có chủquyền đối với tài sản quốc gia, đồng thời là người đại

Trang 14

diện chủ sở hữu của tài sản công Đối với tài sảnquốc gia thuộc sở hữu cá nhân hoặc nhóm thành viêncủa cộng đồng, Nhà nước là người bảo hộ, hướng dẫnviệc sử dụng các tài sản này tiết kiệm và có hiệu quảđể vừa đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội, vừa thỏamãn lợi ích cá nhân của nhóm thành viên cộng đồng –người chủ sở hữu tài sản Nhà nước là người đại diệnchủ sở hữu tài sản có quyền chiếm hữu, quyền sử dụngvà quyền định đoạt Nhà nước là chủ sở hữu của

Trang 15

tất cả tài sản công, nhưng lại không phải là người trựctiếp sử dụng tài sản công Nói cách khác quyền sở hữutài sản và quyền sử dụng tài sản công chưa hoàn toàngắn bó với nhau Nhà nước giao tài sản công cho các cơquan hành chánh sự nghiệp và các đơn vị kinh tế sử dụng.

Do đó, để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công củamình, Nhà nước phải phát huy chức năng quản lý đối vớitài sản công để buộc các cơ quan, đơn vị được giao quyềnsử dụng tài sản công phải bảo tồn, phát triển nguồn tàisản công và sử dụng tài sản công tiết kiệm, có hiệu quảphục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môitrường môi sinh Đồng thời, Nhà nước phải thực hiện vaitrò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành, sử dụng,khai thác và xử lý các tài sản công, cụ thể là :

- Tài sản công dù là tài sản thiên tạo hay tài sản nhân tạođều phải trải qua quá trình hình thành và đòi hỏi phải cósự đầu tư để hình thành như : đầu tư cho công tác điều trakhảo sát, thăm dò đối với đất đai, tài nguyên thiên nhiênvà đầu tư xây dựng, mua sắm đối với các tài sản nhântạo Do vậy, Nhà nước phải có nguồn tài chính để đầu tưcho việc hình thành và phát triển tài sản công Đồng thời,Nhà nước phải có cơ chế chính sách và thực hiện kiểm tra,kiểm soát của Nhà nước đối với việc sử dụng vốn đầu tưphát triển nguồn tài sản công để đạt yêu cầu sử dụngvốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả

- Trong quá trình khai thác, sử dụng tài sản công, Nhà nướckhông phải là người trực tiếp sử dụng, khai thác để hưởnghoa lợi, lợi tức từ tài sản công Ngược lại, Nhà nước lại giaotài sản công cho các cơ quan, lực lượng vũ trang nhân dân,

Trang 16

tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp sử dụng Dovậy, Nhà nước phải thực hiện quyền kiểm tra, kiểm soátviệc quản lý và sử dụng tài sản đó, nhằm buộc người sửdụng tài sản công phải sử dụng tài sản theo đúng mụcđích, có hiệu quả và phải hoàn thành nghĩa vụ với Nhànước, trong đó có nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Nóicách khác,

Trang 17

người sử dụng tài sản công phải làm theo ý chí của

người chủ tài sản công – Nhà nước

- Trong thời gian sử dụng của hầu hết các tài sản đều cóhạn Khi tài sản không còn sử dụng được phải thanh lý Nhànước với tư cách là chủ sở hữu tài sản công phải thựchiện quyền xử lý tài sản Nhưng phần lớn Nhà nước giaocho cơ quan trực tiếp sử dụng quyền xử lý tài sản Do đó,Nhà nước phải thực hiện việc kiểm tra, giám sát và thuhồi tài sản sau khi xử lý

4.Nội dung công tác quản lý công sản :

Công tác quản lý công sản là thực hiện quản lýtài sản công kể từ giai đoạn quyết định chủ trương đầu tưmua sắm và thực hiện đầu tư mua sắm tài sản còn gọi làquản lý quá trình hình thành tài sản, quản lý quá trình duytrì, khai thác, sử dụng tài sản bao gồm cả việc bảo dưỡng,sửa chữa ( duy tu ), tôn tạo tài sản và quản lý quá trìnhkết thúc tài sản Nội dung cụ thể như sau :

Quá trình này gồm 2 giai đoạn : Quyết định chủ trươngđầu tư mua sắm và thực hiện đầu tư mua sắm :

- Đối với tài sản thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp, cơquan quản lý công sản là cơ quan nắm vững định mức,tiêu chuẩn chế độ quản lý tài sản, nắm vững khả năngvà nhu cầu cần đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản củatừng đơn vị Do đó, cơ quan quản lý công sản phải là cơquan chịu trách nhiệm giúp chính quyền các cấp quyếtđịnh chủ trương đầu tư, mua sắm, xác định nhu cầu vốnđể ghi vào dự toán ngân sách Nhà nước Sau khi có chủtrương đầu tư, mua sắm tài sản, việc thực hiện đầu tư, mua

Trang 18

sắm phải được thực hiện theo quy định về đầu tư xây dựng

cơ bản, quy định về mua sắm tài sản công

- Đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc

Trang 19

gia là tài sản đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh, đảm bảo đời sống xã hội, an ninh quốc phòng …,những tài sản này được đầu tư xây dựng do yêu cầu củađời sống kinh tế, xã hội của đất nước Do đó, việc quyếtđịnh đầu tư nó có liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiềungành, nhiều cấp mà trong đó cơ quan tài chánh Nhà nướcgiữ vai trò quan trọng.

- Đối với tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, việcquyết định đầu tư phát triển loại tài sản này chủ yếu phụthuộc vào đường lối chính sách phát triển kinh tế nói chungvà phát triển các thành phần kinh tế của Đảng và Nhànước trong từng thời kỳ nói riêng Việc quyết định đầu tưtăng tài sản ở khu vực này là trách nhiệm của nhiềungành, nhiều cấp và tùy thuộc vào đặc điểm của từngngành, từng địa phương trong từng giai đoạn

- Đối với tài sản dự trữ Nhà nước, việc tăng thêm hay rútbớt lực lượng dự trữ Nhà nước được quyết định bởi chiếnlược của một quốc gia, mà trong đó cơ quan quản lý côngsản là một thành viên giúp Chính phủ quyết định

- Đối với tài sản là đất đai và tài nguyên khoáng sảnkhác, việc điều tra, khảo sát, đo đạc lập bản đồ địa chính,điều tra khảo sát tìm kiếm các nguồn tài nguyên khoángsản đều do các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiệnbằng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ riêng Nhữngcông việc ban đầu này đòi hỏi phải được đảm bảo bằngnguồn tài chính nhất định do cơ quan quản lý công sảnđảm nhiệm cả về xây dựng cơ chế quản lý và thực hiệnsự quản lý trực tiếp

4.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản :

_PAGE_10 _

Trang 20

- Đối với tài sản thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp làthực hiện sự quản lý việc sử dụng theo mục đích, tiêuchuẩn, định mức và chế độ sử dụng tài sản; quản lýquá trình điều chuyển tài sản từ đơn vị này sang đơn vịkhác, điều chuyển giữa các ngành, các cấp, quản lý việcsửa chữa tài sản … nhằm đảm bảo cho việc sử dụng tài

_PAGE_10 _

Trang 21

sản phục vụ được nhiệm vụ của đơn vị được giao sử dụng tài sản Đây là trung tâm của công tác quản lý công sản.

- Đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích côngcộng, lợi ích quốc gia là quá trình khai thác, sử dụng tàisản phục vụ cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh của cácngành kinh tế quốc dân, hoạt động của đời sống văn hóa,xã hội, hoạt động của các sự nghiệp quốc phòng, an ninhkhoa học kỹ thuật, y tế, xã hội …Quá trình khai thác, sửdụng cũng đồng thời là quá trình duy tu, bảo dưỡng, sửachữa các tài sản này Toàn bộ công việc khai thác, sửdụng tài sản thuộc kết cấu hạ tầng đều do các cơ quan kỹthuật chuyên ngành thực hiện Việc khai thác, sử dụng đặt

ra các yêu cầu về quản lý tài chính như : chế độ thu vàtổ chức, cá nhân được hưởng ứng sự phục vụ hoặc đượchưởng lợi từ công trình, nguồn tài chính và cơ chế quảnlý tài chính trong quá trình khai thác tài sản …Nhữngnhiệm vụ này các cơ quan trực tiếp khai thác sử dụng chỉcó thể đề xuất, cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và thựchiện quản lý là cơ quan quản lý công sản

- Đối với tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nhgiệp, doanhnghiệp có quyền sử dụng, khai thác thực hiện nhiệm vụ sảnxuất kinh doanh và duy trì bảo toàn giá trị tài sản – vốn doNhà nước giao Cơ quan quản lý công sản thực hiện sự quảnlý của Nhà nước đối với tài sản, vốn mà Nhà nước giaocho doanh nghiệp

- Đối với đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sảnkhác, việc khai thác được pháp luật quy định Tổ chức, cánhân được Nhà nước giao sử dụng,khai thác chịu tráchnhiệm trước pháp luật Cơ quan quản lý chuyên ngành sẽthực hiện sự quản lý của Nhà nước để đảm bảo việc

_PAGE_21 _

Trang 22

khai thác, sử dụng đất đai và các nguồn tài nguyênkhoáng sản phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và pháp luậtNhà nước quy định Quá trình khai thác sử dụng cũng đồngthời nảy sinh các mối quan hệ kinh tế tài chính giữa ngườisử dụng, khai thác với Nhà nước và giữa họ với nhau Việcgiải quyết các

_PAGE_22 _

Trang 23

mối quan hệ này phải được Nhà nước quy định và thựchiện quản lý thông qua cơ quan quản lý công sản nhưđịnh giá tài sản, cơ chế đấu thầu khai thác, cơ chế chothuê và giá thuê tài sản, chính sách thu vào người sửdụng đất đai, tài nguyên chính sách cho phép các tổ chức,cá nhân được mang giá trị đất đai, tài nguyên góp vốn liêndoanh

4.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản :

Tài sản công đưa vào sử dụng sau một thời gian nhấtđịnh đều có quá trình kết thúc của nó để thay thế bằngtài sản khác ( trừ đất đai, công trình thuộc kết cấu hạtầng và một số công trình có tính chất tài sản lâu bềnkhác ) Một tài sản kết thúc phải trải qua quá trình thanhxử lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được chongân sách Nhà nước và đồng thời đó cũng là căn cứ đểchuẩn bị đầu tư mua sắm mới, nhiệm vụ này là nhiệm vụcủa công tác quản lý công sản

5.Tổ chức quản lý công sản ở một số nước và khả năng vận dụng vào Việt

Nam

: 5.1 Tổ chức quản lý công sản ở một số nước :

5.1.1 Ở Trung Quốc : tháng 8 năm 1989 thành lập

Cục quản lý tài sản quốchữu trực thuộc quốc vụ viện, đồng thời chịu sự lãnh đạo về Đảng của Đảng ủy Bộ Tài chính

Tài sản do Cục quản lý bao gồm :

- Tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp

- Tài sản Nhà nước trong các đơn vị hành chánh sự

nghiệp – Tài nguyên

Trang 24

Cục quản lý tài sản quốc hữu Nhà nước Trung Quốc được quốc vụ viện giao thực hiện 3 nhiệm vụ cơ bản:

a.Đại diện quyền sở hữu tài sản Nhà nước tại các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước, các doanh nghiệp cổ phần

do Nhà nước chi phối, các công ty cổ phần, xí

Trang 25

nghiệp liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốnNhà nước tham gia Đại diện chủ sở hữu tài sản Nhànước tại tất cả các cơ quan hành chánh sự nghiệp, cơ quanĐảng, đoàn thể, Nhà nưóc từ trung ương đến địa phươngkể cả tài sản của Trung Quốc ở nước ngoài Đảm bảosự tồn tại và phát triển của tài sản Nhà nước tại các cơquan doanh nghiệp trong và ngoài nước Ngăn chặn mọitrường hợp hư hao, tổn thất, mất mát tài sản bằng cácbiện pháp theo quy định của pháp luật.

b.Xây dựng trình Quốc hội, Quốc vụ viện ban hành luật vàcác chính sách, chế độ dưới luật, trực tiếp ban hành cácchế độ, văn bản hướng dẫn các vấn đề liên quan đến tàisản quốc hữu Nhà nước, đảm bảo cho việc xúc tiếnchuyển đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp phù hợp với côngcuộc cải cách nền kinh tế theo cơ chế thị trường đúngđường lối của Đảng và Chính phủ

c Quản lý các doanh nghiệp, cơ sở bằng các biện phápnhằm sử dụng tốt tài sản, nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, đảm bảo tăng tích lũy, bảo toàn và tăngtrưởng vốn Nhà nước

gồm :

a.Xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ bảo đảm đối với tàisản Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, thẩm định, quản lývà duy trì hệ thống tài sản công Bên cạnh đó, cơ quanquản lý công sản Pháp còn tư vấn về mặt pháp lý đốivới tài sản Nhà nước bao gồm động sản và bất độngsản cho các cấp chính quyền địa phương

b.Tổ chức bán đấu giá động sản và bất động sản củacác cơ quan Nhà nước trong mọi trường hợp có nhu cầu

Trang 26

chuyển nhượng tài sản, tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước

c Quản lý tài sản thừa kế bị bỏ rơi, tài sản vô thừa nhậnnhưng tài sản được xác lậpquyền sở hữu Nhà nước dướicác hình thức khác nhau, tài sản công của Nhà nước ởnước ngoài ( tài sản của đại sứ quán, lãnh sứ quánhoặc của các cơ quan tổ

Trang 27

chức có đại diện ở nước ngoài …

d.Ngoài ra, cơ quan quản lý công sản còn là người đại diệncho Chính phủ trước Tòa án trong trường hợp có tranh chấpvề xác định giá đền bù đất đai, nhà cửa của dân khi trưngdụng vào các công trình phúc lợi xã hội

Nhìn chung, công tác quản lý công sản của Pháp cóbề dầy lịch sử, có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lýtài sản công bao gồm tài sản nhân tạo và tài sản thiêntạo và có những luật về quản lý công sản chặt chẽ, mọingười, mọi tổ chức có ý thức đối với tài sản công Cơquan quản lý công sản được chia theo các mặt chuyên sâunhư : Cục Công sản Pari chuyên quản lý về nhà đất và muabán tài sản, Cục Quản lý đất Pari chuyên quản lý về đấtđai và thực hiện các công việc về địa chính … Ngoài ra, họcòn xây dựng cơ sở pháp lý cho công tác quản lý côngsản bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, từ luậtđến các văn bản dưới luật để điều chỉnh toàn diện cácmặt của công tác quản lý công sản

5.1.3 Ở Đức : Tài sản công được chia làm hai loại : Tàisản quản lý và tài sản tài chính

Tài sản quản lý là những tài sản được Liên bang,Bang sử dụng cho công tác của các cơ quan Nhà nước.Tàisản do cơ quan nào sử dụng thì cơ quan đó có quyền quảnlý, song cũng có Bang Bộ Tài chính tập trung quản lý toànbộ tài sản, còn Sở Tài chính quản lý bất động sảnkhông giao nhiệm vụ quản lý cho các cơ quan sử dụng.Mặc dù cách giao quản lý khác nhau nhưng đều thống nhất

ở một cơ chế chung đó là :

a.Bộ Tài chính quyết định mua bán đất đai công, mua bánhoặc xây dựng công sở của mọi cơ quan Nhà nước ( trừ

Trang 28

xã ) Riêng các trường hợp bán nhà thuộc trụ sở làmviệc và đất có giá trị trên 3 triệu DM, thì Bộ Tài chính phảitrình Quốc hội quyết định ( tất nhiên phải thông qua Chínhphủ ).

Trang 29

b.Bộ Tài chính thu hồi cơ sở nhà đất là trụ sở làm việccủa các cơ quan Nhà nước khi cơ quan Nhà nước đang sửdụng mà xét thấy thừa hoặc cơ quan giải thể.

c Các Bộ, ngành có thừa diện tích đất và nhà thuộc trụ sởlàm việc muốn làm gì phải xin ý kiến của Bộ Tài chính, BộTài chính kiểm tra, xem xét và cho phép mới được sử dụng.d.Đối với các bất động sản là tài sản quản lý thì giao chocác Bộ, ngành quản lý theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn

do Bộ Tài chính quy định Việc mua sắm các động sản phảiđược Bộ Tài chính đồng ý ghi vào dự toán ngân sáchNhà nước và được Quốc hội phê chuẩn

e.Toàn bộ việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản Nhà nước đềuthực hiện theo định mức cố định và giao cho cơ quan quản lýsử dụng tự tổ chức thực hiện sau khi đã được Bộ Tài chínhđồng ý ghi vào dự toán ngân sách Nhà nước và đượcQuốc hội phê chuẩn Trường hợp tài sản bị hư hỏng độtxuất, thì cơ quan quản lý sử dụng phải bàn bạc với Bộ Tàichính để xử lý, có thể cho sửa chữa tạm thời sau mới sửachữa hoặc thay thế hoàn toàn

Tài sản tài chính bao gồm toàn bộ đất đai ( bất độngsản ) không sử dụng vào mục đích xây dựng nhà, công trìnhđược giữ lại phục vụ cho mục tiêu chung như : đất lâmnghiệp, đất nông nghiệp, đất bảo vệ môi trường, đất chưasử dụng trong đó chủ yếu là đất rừng Toàn bộ tài sảntài chính do Vụ công sản thuộc Bộ Tài chính trực tiếp quảnlý bao gồm : quyết định mua, bán, cho thuê hoặc đi thuê vàcó trách nhiệm giữ vốn đất ( khi bán hoặc đưa vào sửdụng thì phải tìm cách mua để bù vào)

5.1.4 Ở Hàn Quốc :

Trang 30

Từ năm 1960 đến nay, Hàn Quốc đã có 4 lần sửa đổi,bổ sung luật tài sản quốc hữu Mục đích sửa đổi luật tàisản quốc hữu là chuyển từ việc quy định cách xử lý tàisản là chủ yếu sang các quy định mới nhằm bảo tồn vàphát triển tài sản quốc hữu.

Trang 31

Theo điều 3,4 luật tài sản quốc hữu, phạm vi tài sản quốchữu là những tài sản thuộc sở hữu Nhà nước bao gồmbất động sản, cổ phần Nhà nước, bản quyền Tài sảnquốc hữu được giao cho các cơ quan Nhà nước và doanhnghiệp sử dụng, các tài sản dùng vào mục đích công cộngvà các tài sản chưa giao cho các cơ quan Nhà nước, doanhnghiệp Nhà nước sử dụng hoặc chưa sử dụng vào mục đíchcông cộng.

Từ những nội dung về quản lý công sản của Hànquốc, chúng ta có thể rút ra những nhận xét như sau :

- Để thống nhất quản lý tài sản công trong điều kiện tàisản công do nhiều ngành, nhiều cấp sử dụng, Hàn Quốcđã có Bộ luật về tài sản công, luật quy hoạch đô thị, luậttự trị địa phương Bên cạnh luật chung về quản lý tài sảncông còn có các luật riêng về quản lý cho từng loại tàisản cụ thể như : luật khoáng sản, luật rừng, luật đườngbộ Dưới địa phương, chính quyền địa phương còn ban hànhđiều lệ quản lý công sản và quy định để thực hiện điềulệ đó Nhờ có hệ thống pháp luật quản lý công sảnđầy đủ đã tạo ra hành lang pháp lý để cơ quan quản lýcông sản giám sát kiểm tra các cơ quan sử dụng tài sảncông, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan đượcgiao trực tiếp sử dụng tài sản công

- Các cơ quan nhà nước từ cơ quan hành pháp đến cơ quanlập pháp đều nắm và kiểm tra nguồn tài sản công Hàngnăm các cơ quan sử dụng tài sản đều phải báo cáo đầyđủ tình hình tăng giảm tài sản công và số lượng , giá trịtài sản công hiện có đến ngày 31/12 cho cơ quan tài chínhđể cơ quan tài chính tổng hợp cho Chính phủ và Quốc hội

Trang 32

- Về đất dùng vào xây dựng khu công nghiệp, khu dân cư,Chính phủ Hàn Quốc chuyển toàn bộ ra ngoài vùng đôthị hiện nay, đây là việc làm có nhiều ưu điểm Bởi vì,một mặt nó giúp cho kế hoạch giãn dân và tận dụngđất đồi núi của Chính phủ được thực hiện tốt Mặt khác,Chính phủ đã tiết kiệm được một khoản chi

Trang 33

phí lớn trong việc đền bù khi thu hồi đất để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia.

- Về vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, Chính phủ Hàn Quốccòn cho phép tư nhân bỏ vốn xây dựng đường giao thôngvà được phép thu phí, sau 30 năm bàn giao tài sản cho nhànước Với hình thức này, Hàn Quốc không những thu hútđược một khối lượng lớn về vốn để đầu tư xây dựng cơ sởhạ tầng, mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư,khai thác tốt tài sản thuộc hạ tầng cơ sở

5.2 Kinh nghiệm của các nước về quản lý tài sản công và khả năng vận

dụng vào Việt Nam

Từ nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, chúng ta cóthể rút ra một số nhận xét chung nhất về quản lý tàisản công và khả năng vận dụng vào Việt Nam như sau:

5.2.1 Trong các nước có các chế độ xã hội khác

nhau, nhưng đều có chung quan niệm về phạm vi tài sảncông đó là : tài sản công là tài sản thuộc sở hữu Nhànước; tài sản công bao gồm cả động sản, bất động sảnvà tài nguyên, đất đai; tài sản công chỉ giao cho cơ quanNhà nước, doanh nghiệp Nhà nước và một bộ phận dùngcho mục đích công cộng, tài sản công giao cho các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác gọi là cổ phầncủa Nhà nước trong doanh nghiệp

5.2.2 Nhà nước thực hiện quản lý tài sản công bằng

pháp luật với mức cao là luật tài sản quốc hữu ( tài sảncông ), bên cạnh đó còn có các luật khác quy định quảnlý một số tài sản cụ thể như luật đất đai, luật tàinguyên hợp thành hệ thống luật thống nhất về quản lýtài sản công của Nhà nước

Trang 34

Ở Việt Nam, trong những năm dài của thời kỳ quảnlý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp,công tác quản lý công sản chưa được quan tâm, từ năm

1995 đến nay đã có những chuyển biến nhất định, songchúng ta đang thiếu một văn bản chung ở tầm vĩ mô vềquản lý công sản Văn bản này cùng với hệ thống vănbản

Trang 35

pháp luật quản lý từng loại tài sản công như luật đất đai,luật khoáng sản tạo thành hệ thống pháp luật quản lýcông sản Tuy nhiên, việc xây dựng luật tài sản công phảiđược chuẩn bị trên cơ sở thực tiễn quản lý công sản củaViệt Nam Trước mắt cần ban hành và tổ chức thực hiệnhệ thống văn bản dưới luật tạo cơ sở ban đầu về lý luậnvà thực tiễn cho bước đi tiếp theo.

5.2.3 Định giá tài sản là một biện pháp, một công cụ

quan trọng để thực hiện quản lý tài sản công : mua sắm,xây dựng, sử dụng, thanh lý Do đó, công tác này phảiđược chú ý ngay từ đầu để góp phần hạn chế thất thoátnguồn tài sản công Phải có biện pháp theo dõi tài sảnchặt chẽ cả về hiện vật lẫn giá trị

5.2.4 Cơ quan quản lý công sản là cơ quan giúp Nhà

nước thực hiện quản lý tài sản công Tùy theo đặc điểm,tính chất, khả năng sử dụng của mỗi loại tài sản, màthực hiện phân chia phạm vi quản lý giữa cơ quan quản lýcông sản với các ngành, các đơn vị trực tiếp quản lý, khaithác sử dụng tài sản cho thích hợp với đặc thù của mỗiquốc gia Tuy nhiên, những vấn đề có tính chất chung nhất ởmọi quốc gia là:

a Ở những nước đất đai thuộc sở hữu tư nhân, cơ quan quảnlý công sản trực tiếp quản lý quỹ đất công Ở Việt Nam,đất đai thuuộc sở hữu toàn dân, nhưng theo luật đất đaihiện hành, Nhà nước muốn thu hồi đất của dân đề sửdụng vào các mục đích của Nhà nước đều phải đền bùthiệt hại tương đương với việc nhận chuyển nhượng ( mua )quyền sử dụng đất, tương tự như việc mua sắm tài sản Nhànước Mặt khác, với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước cóquyền giao đất, cho thuê đất đối với mọi tổ chức, cá nhân;

Trang 36

Nhà nước định cơ chế quản lý tài chính đối với đất đai.vậy cơ quan quản lý công sản thực hiện quản lý đếnđâu? nội dung quản lý như thế nào? cùng ngành địa chínhquản lý đất đai là vấn đề phải được xác định.

Cũng tương tự như vậy, thực hiện sự phân chia phạm viquản lý của cơ quan quản lý công sản với các cơ quanquản lý chuyên ngành về các nguồn tài nguyên

Trang 37

khoáng sản khác.

b Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng đều giao cho cơ quan kỹthuật chuyên ngành quản lý, khai thác, sử dụng Cơ quanquản lý công sản thực hiện kiểm tra giám sát của chủsở hữu tài sản, đồng thời là cơ quan xây dựng cơ chếquản lý tài chính và thực hiện quản lý tài chính trong quátrình khai thác, sử dụng tài sản

c Cơ quan quản lý công sản là cơ quan giúp Nhà nước quyếtđịnh việc đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công trongkhu vực hành chánh sự nghiệp Đây là việc phải làm Tuynhiên, ở Việt Nam cần có bước đi thích hợp để thực hiệnnhiệm vụ này Vì vấn đề đầu tư, xây dựng, mua sắm tàisản hiện nay lại đang bị chi phối bởi các cơ chế cũ - cơchế được xây dựng khi chưa có cơ quan quản lý công sản,mà nhiệm vụ của mỗi cấp, mỗi ngành ở cơ chế đã thànhthói quen

5.2.5 Về vấn đề quản lý tài sản tại doanh nghiệp nhà

nước, nhà nước với tư cách là chủ sở hữu chung giao vốnvà tài sản cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanhvà trách nhiệm của doanh nghiệp là làm thế nào để bảotoàn và phát triển vốn Vấn đề đặt ra ở đây là cầnphải xác định chủ sở hữu vốn trực tiếp là nhà nước ( Cụcquản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp ) Đểnâng cao hơn nữa quyền tự chủ của doanh nghiệp trong quátrình sử dụng vốn nhà nước chỉ nên quản lý về mặt giátrị vốn chứ không nên quản lý về mặt hiện vật ( phươngtiện vận tải, máy móc thiết bị, văn phòng… ), miễn làmsao doanh nghiệp sử dụng vốn và tài sản có hiệu quả.Nói cách khác cần tách quyền của chủ sở hữu pháp

Trang 38

nhân với quyền của pháp nhân về phương diện tài sảnvà hoạt động.

Tóm lại, chương này giúp cho chúng ta có cái nhìn tổngquan về tài sản công ở Việt Nam và các nước trên thếgiới Cho dù ở bất kỳ chế độ xã hội nào, tài sản côngluôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và luônlà yếu tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình sảnxuất xã hội Dưới tác động của ngoại lực ( sức lao

Trang 39

động con người ) nguồn tài sản công này sẽ chuyển thànhnguồn tài chính tiền tệ Do đó, việc quản lý và sử dụngcó hiệu quả nguồn tài sản công được đặt ra như một yêucầu cấp bách, đòi hỏi chúng ta phải quản lý từ quá trìnhhình thành tài sản cho đến khi tài sản đó đưa vào khaithác và kết thúc sử dụng tài sản Tài sản công có mặt

ở khắp mọi nơi : từ tài sản thiên tạo như tài nguyên thiênnhiên, đất đai, cho đến tài sản nhân tạo như cơ sở hạ tầng,tài sản tịch thu, tài sản tại các cơ quan đơn vị hành chính sựnghiệp, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế Chính vì phạm vi tài sản công rộng lớnnhư vậy, cho nên ở các nước đều có Bộ luật tài sảncông ( ở Việt Nam chưa ban hành Bộ luật này ) Bên cạnhđó, còn có các luật khác quy định quản lý một số tàisản cụ thể như luật tài nguyên, luật đất đai … hợp thànhmột hệ thống luật thống nhất về quản lý tài sản côngcủa nhà nước

_PAGE_20 _

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG

TỈNH AN GIANG

1 Thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh An giang giai đoạn 1991 - 1995 :

1.1 Thực trạng quản lý tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :

1.1.1 Về quy định chế độ quản lý và sử dụng tài sản :

Năm 1954 hòa bình được lập lại ở Miền Bắc, đến năm

1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đấtnước, nhưng mãi đến năm 1977 Chính phủ mới ban hànhquyết định số 150/CP ngày 10/06/1977 “ về việc quy địnhtiêu chuẩn định mức diện tích nhà làm việc bình quân chomỗi cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan hànhchánh sự nghiệp “ Theo quyết định này, định mức bìnhquân về diện tích cho mỗi cán bộ, nhân viên không quá4m2/người, tại các cơ quan thiết kế không quá 5m2/người.Phần diện tích phục vụ như : phòng thường trực, phòng y tế

cơ quan, kho lưu trữ, nhà để xe, căn tin không tính tiêuchuẩn trên Những bộ phận có đặt máy móc thiết bị như :phòng in Ronéo, phòng máy tính, phòng in bản vẽ đượcsử dụng diện tích theo yêu cầu kỹ thuật Những cơ quan làmcông việc tiếp xúc hàng ngày với nhân dân như Công an,Ngân hàng, Thương nghiệp, Giáo dục, quản lý nhà đất .được sử dụng diện tích riêng do cấp có thẩm quyền duyệt

y Mọi cơ quan, đơn vị phải triệt để tiết kiệm diện tích, tậndụng các cơ sở hiện có, sử dụng hợp lý diện tích nhà cửa,

_PAGE_40 _

Ngày đăng: 27/08/2022, 16:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w