1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng cntt trong quản lý - dạy học

23 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trích “Chỉ thị Số: 55/2008/CT- BGDĐT : Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012” Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực

Trang 1

ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ - DẠY HỌC

-PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài :

1.Cơ sở lí luận :

Công nghệ thông tin (viết tắt là CNTT), là ngành ứng dụng công nghệ quản

lý và xử lý thông tin CNTT là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để sửdụng, chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Ở ViệtNam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ49/CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp các phương phápkhoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máytính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tàinguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon người và xã hội

Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT đã được chính thức tích hợpvào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung

về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác

Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả cáctrường học, việc áp dụng CNTT trong công tác quản lý và dạy học đã trở thànhhiện thực

Thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếunhư không có các ứng dụng của CNTT bởi CNTT đã thâm nhập vào tất cả cáclĩnh vực, tất cả các đối tượng với những hiệu quả mà CNTT đã mang lại, đặc biệt

là trong giáo dục Cụ thể là tất cả các đối tượng có thể giao tiếp trao đổi với nhau

ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu Việc thường xuyên sử dụng Công nghệ thông tin

Trang 2

sẽ trang bị cho người sử dụng kỹ năng tiếp cận, xử lý thông tin, giải quyết vấn đềmột cách sáng tạo

Việc truy cập Internet cũng tạo cho CBQL, GV niềm say mê, hứng thú trongcông việc, học tập và giảng dạy, thực hành khả năng làm việc và nghiên cứu độclập Giáo viên có thể chủ động, liên kết nhiều nguồn kiến thức, kỹ năng trongviệc giảng dạy và giáo dục học sinh

Ngoài ra, CNTT giúp chúng ta có thể thực hiện nhiều công việc cùng lúc, cókhả năng chuyển sự chú ý một cách nhanh chóng, thời gian đáp ứng nhanh, luônthực hiện kết nối, thúc đẩy quá trình làm việc nhóm, nghe nhìn và tư duy Hơnnữa, công nghệ liên kết các nguồn tri thức lại với nhau, kết nối công dân toàncầu Điều này làm cho không gian địa lý bị xoá nhoà và công nghệ trở thành một

phần trong cuộc sống Trích “Chỉ thị Số: 55/2008/CT- BGDĐT : Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012”

Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảngdạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệuquả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng nótrong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triểncủa đất nước

Trang 3

bước về cơ sở vật chất như phòng học, hệ thống máy tính, máy chiếu, kết nốiInternet cho tất cả các nhà trường Đồng thời, chỉ đạo nâng cao chất lượng bộmôn tin học thông qua việc tổ chức các chuyên đề huyện hàng tháng, chỉ đạo cáctrường tổ chức các đợt tập huấn cho CBGV trong hè theo các chuyên đề đã xâydựng.

Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục

ở Tiên Du nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của ngànhgiáo dục, sự ủng hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh

mẽ, rộng lớn và đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ

Từ chỗ chỉ một vài trường có máy tính đến nay, 100% các trường đã cóphòng máy tính để dạy tin học cho học sinh Hơn 80% các trường có máy chiếuprojecter Trong các kì thi GVDG cấp Huyện có hơn 50% các tiết dậy bằng giáo

án điện tử có chất lượng tốt Đội ngũ giáo viên ngày càng tỏ ra thành thạo hơntrong việc thiết kế, chỉnh sửa và trình chiếu Chất lượng giáo án điện tử ngàycàng được nâng cao

Mới qua mấy năm, đến nay, tất cả các trường đã có hòm thư liên kết với Bộgiáo dục, Sở giáo dục theo địa chỉ: https://mail.google.com/a/moet.edu.vn/ đểtrao đổi thông tin Các trường cũng đã có địa chỉ Gmail để chuyển nhận thông tinbáo cáo với Phòng giáo dục đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, kịp thời Các thầy

cô giáo đều có email để trao đổi thông tin…Tất cả đem đến một sự thay đổi cănbản, làm cơ sở cho việc ứng dụng CNTT vào công việc quản lý và dạy học

Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mớicách dạy và học đã được nhiều CBGV hưởng ứng tích cực Đây được coi là mộttrong những biện pháp góp phần chất lượng quản lý và dạy học trong các nhàtrường Tuy nhiên, để CBGV làm chủ được CNTT trong quản lý và dạy học còncần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc…Trong các năm họctới phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chắc chắn sẽ phát

Trang 4

triển mạnh mẽ hơn nữa và đó cũng là yêu cầu cấp thiết của đổi mới trong ngànhgiáo dục, trong công tác quản lý và dạy học ở trường phổ thông.

Là một giáo viên được bổ nhiệm làm công tác quản lý, bản thân luôn say mêCNTT, tôi muốn qua đề tài này nêu lên một vài kinh nghiệm và những suy nghĩcủa bản thân về vấn đề này Mong được sự ủng hộ của các cấp quản lý và cácđồng nghiệp

II Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

1 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài này nhằm mục đích trao đổi cùng đồng nghiệp vai trò của ứng dụngcông nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục, đưa ra một số kinhnghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đề xuất một số biện phápnâng cao hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và đẩy mạnhphong trào ứng dụng CNTT trong nhà trường

1 Vị trí chức năng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học.

Công nghệ thông tin, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) làngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin Ở Việt Nam, khái niệmCNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, cácphương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễnthông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên

Trang 5

thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

và xã hội

Công nghệ thông tin (viết tắt là CNTT) là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mớiphương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phầnnhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT

và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết

định sự phát triển CNTT của đất nước ( Trích Chỉ thị Số: 55/2008/CT- BGDĐT)

2 Ứng dụng CNTT trong soạn giáo án.

a) Soạn giáo án bằng máy vi tính (đánh máy giáo án):

* Hiện nay các trường đều khuyến khích giáo viên soạn giáo án bằng máy vitính, đặc biệt trong các đợt hội giảng cấp trường, cấp Huyện, cấp tỉnh

ra : ví dụ như tuần, ngày soạn, ngày dạy, kẻ khung, các mục của giáo án…,

+ Soạn giáo án bằng máy vi tính làm cho chúng ta có thể chỉnh sửa rất dễdàng Ngoài ra, phầm mềm còn cho phép chúng ta sưu tầm, lựa chọn sao chépnhững ý tưởng, nội dung hay trong các giáo án cũ của mình, của đồng nghiệp + Có thể lưu trữ đến các năm học sau để bản thân, đồng nghiệp sử dụng thamkhảo

+ Có thể sử dụng để đưa các nội dung cần thiết vào bài giảng điện tử mộtcách nhanh chóng mà không cần gõ lại

Trang 6

+Qua việc soạn giáo án, giáo viên được tìm hiểu, học hỏi thêm về công nghệthông tin từ đó nâng cao trình độ tin học của giáo viên góp phần nâng cao phongtrào ứng dụng CNTT trong dạy học.

+Giáo viên có thể dễ dàng đưa vào giáo án những sơ đồ, biểu đồ, tranh, ảnhminh họa… điều mà giáo án viết tay khó có thể làm được

Thực trạng:

Qua việc chỉ đạo công tác chuyên môn cùng với một số năm được đi thanh trachuyên môn các trường và chấm thi GVDG Huyện Tiên Du, bản thân thấy cómột số bất cập của giáo án in như sau:

- Nhiều giáo viên chưa có đủ điều kiện có được bộ máy tính, máy in đểsoạn giáo án

- Nhiều giáo viên còn lúng túng khi sử dụng máy vi tính và các phần mềmvăn phòng để soạn giáo án, chưa biết khai thác mạng internet để sưu tầm giáo án,

tư liệu phục vụ cho giáo án

- Một số giáo viên lợi dụng mạng internet để khai thác một cách tiêu cực

giáo án của đồng nghiệp như: sao chép y nguyên, không có sự nghiên cứu, không

có chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện dạy học của mình

- Giáo án sao chép từ nhiều nguồn nên bộ font chữ rất lộn xộn, không thựchiện theo đúng thể thức trình bày văn bản thông thường Giáo viên không đủtrình độ tin học để sửa lỗi theo ý mình

- Việc đóng bìa, kẹp, đánh số trang còn rất tùy tiện

- Giáo án in không đủ cơ sở pháp lý: Không ghi họ tên, trường, lớp hoặcghi bằng bút mực(ghi sau)

- Thậm chí có giáo viên còn nhờ hoặc thuê người download giáo án cốt để

có giáo án đối phó với kiểm tra, hầu như không xem lại giáo án

Trang 7

Những việc làm đó không những không mang lại hiệu quả cho việc dạyhọc bằng giáo án đánh máy mà còn làm cho người dạy lười không nghiên cứu bàidạy và kết quả là làm cho tiết dạy đạt hiệu quả thấp

Do vậy, rất cần có sự chỉ đạo cụ thể của cán bộ quản lý và các cơ quanchuyên môn để điều chỉnh

b) Xây dựng bài giảng với sự hỗ trợ của máy tính

Khái niệm giáo án điện tử và bài giảng điện tử là khái niệm mà nhiều nhà

giáo, nhà nghiên cứu vẫn còn tiếp tục tranh luận, tôi chỉ muốn nói nên nhữnghiểu biết của mình về việc ứng dụng CNTT trong xây dựng bài giảng

Bài giảng có ứng dụng CNTT nói chung được xây dựng bằng máy tính vớicác phần mềm hỗ chợ chuyên dụng như: phần mềm trình chiếu MicrosoftPowerPoint, phần mềm Movie Maker, Violet, Geo Sketchpad, Carbi, Crocodile

Clips, Crocodile Physics, Macromedia Flash,… và sự hỗ trợ của máy chiếu,

camera, máy ảnh cùng các thiết bị khác

Những năm gần đây, việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến đổi mới về phương tiện, các thiết bị dạy học ngày càng phong phú về số lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao Việc xây dựng và ứng dụng các phần mềm vào dạy học hiện nay đang được nhiều trường, nhiều giáo viên thực hiện để thiết kế bài giảng nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt độnghọc tập của học sinh Đây là một trong những hướng đổi mới PPDH đạt hiệu quả

Do đó, Công nghệ thông tin (CNTT) có vai trò rất quan trọng trong dạy học,

nó mang lại hiệu quả cao, tiết học sinh động, học sinh hứng thú học tập và tích cực tham gia xây dựng bài Tuy nhiên, khi ứng dụng CNTT vào thiết kế bài giảng, giáo viên cần đảm bảo các nguyên tắc chung, các quy trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT sao cho có hiệu quả

Trang 8

Dạy học với CNTT đòi hỏi người giáo viên phải biết định hướng, điều khiểnquá trình học tập, giúp học sinh tự mình lĩnh hội tối đa kiến thức Vì vậy giáoviên cần phải tích cực bồi dưỡng kiến thức tin học, sẵn sàng đổi mới phươngpháp giảng dạy và ứng dụng CNTT vào dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn

* Các nguyên tắc chung của một bài giảng có ứng dụng CNTT.

- Đảm bảo tính khoa học sư phạm và khoa học tin học

- Đảm bảo tính hiệu quả, tính thực tế, tính giáo dục

- Đảm bảo tính mở và tính phổ dụng

- Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức bài giảng

- Cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của bài học, xác định trọng tâm bài và căn cứ trình độ nhận thức của học sinh cùng các điều kiện hiện có để thiết kế bài giảng

- Đa dạng hóa kiến thức

- Ứng dụng CNTT theo quan điểm dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm

* Những chú ý khi thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT

Ba khâu quan trọng nhất: soạn giáo án, trình chiếu giáo án và hướng dẫn học sinh ghi chép

Mỗi lớp học thường có trung bình từ 35-45 học sinh Trong khi đó các tiếtdạy GAĐT thường phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạn chế ánhsáng trời để ảnh trên màn rõ hơn Như vậy, những học sinh ngồi ở các dãy cuốilớp hay những học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh, chữ viết haycông thức trên màn chiếu Do đó để học sinh có thể ghi chép được bài học chínhxác từ màn chiếu, giáo viên khi soạn giáo án trên Power Point cần chú ý một sốnguyên tắc về hình thức sau:

- Các trang trình chiếu phải đơn giản và rõ ràng

Trang 9

- Không sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ý chính vào mỗi trang slide.

 Về màu sắc của trang trình chiếu:

Màu sắc không được lòe loẹt, không nên dùng các hình đồ họa vui nhộn gây

mất tập trung cho học sinh Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản, chỉ nên sử dụng

chữ đậm màu (đen, xanh đậm, đỏ đậm…)trên nền trắng hay nền màu sáng.Ngược lại, khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng

Về font chữ:

Dùng các phông chữ, khung, nền hợp lí (vd: nền màu trắng, màu đỏ cho các

đề mục có vai trò ngang nhau “cỡ chữ, kiểu chữ giống nhau”, màu xanh mực cho học sinh ghi vào vở…)

Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn, không chân (Arial, Tahoma,VNI-Helve…) hạn chế dùng các font chữ có đuôi (VNI-times…) vì dễ mất nétkhi trình chiếu

Về cỡ chữ:

Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay

có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ Thực tế, trong kỹ thuật video, khi chiếu trênmàn hình TV (25 inches) cho vài người xem hay dùng máy chiếu Projector chiếulên màn cho khoảng 50 người xem thì cỡ chữ thích hợp nên từ khoảng 20 đến 30trở lên mới đọc rõ được Tuy nhiên, với đối tượng học sinh THCS, không nêndùng cỡ chữ quá to, trông trang chiếu thô và không mỹ thuật

Về trình bày nội dung trên trang slide:

Giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền trang từ trênxuống, từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dướitheo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/5), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét và

Trang 10

không mất chi tiết khi chiếu lên màn Khi khai thác đa phương tiện (hình ảnh, âmthanh, hiệu ứng…) cần phải được lựa chọn cẩn thận, nếu không chúng sẽ gâyphân tán tư tưởng, tư duy lệch lạc trong học sinh Những tranh, ảnh hay đoạnphim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sửdụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin như ta mong muốn.

Trình chiếu giáo án

Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học sinh có thể ghi chép kịp thì

nội dung trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc Ta nên phândòng hay phân đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương ứng.Trường hợp có nội dung dài mà nhất thiết phải xuất hiện trọn vẹn cùng lúc, tatrích xuất từng phần thích hợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổngthể, học sinh sẽ dễ hiểu và dễ chép hơn

Hướng dẫn học sinh ghi chép:

Cần thể hiện bố cục của bài giảng trong suốt quá trình giảng dạy (vd: Tên bài dạy, các đề mục) để học sinh dễ dàng củng cố

Cần quy định màu chữ cho học sinh ghi vào vở (vd: màu xanh mực…) và cần quy định để học sinh có thể tự ghi khi nhìn màn hình

Trong tiết học, học sinh phải có sẵn trước mặt sách giáo khoa quy định của

Bộ GD&ĐT và dùng vở để ghi chép Khi trình chiếu Power Point và giảng bài, giáo viên hướng dẫn học sinh cách ghi bài học vào vở như sau:

Những kiến thức căn bản, thuộc nội dung giáo khoa quy định sẽ nằm trong các slide có ký hiệu riêng Ví dụ ký hiệu (@, đặt ở góc trên bên trái, hoặc hình ảnh ngón tay chỉ, hình ảnh chiếc bút viết) Học sinh phải chép đầy đủ nội dung trong các slide này Tập hợp nội dung các slide có ký hiệu riêng tạo nên kiến thứcyêu cầu tối thiểu của tiết học

Những nội dung có tính thuyết minh, minh họa, mở rộng kiến thức sẽ nằm trong các slide khác, không có ký hiệu riêng Với những slide này, học sinh

Trang 11

tự chọn học nội dung để chép tùy theo sự hiểu bài của mình.

Với những kiến thức căn bản nhưng khá dài, nếu chép hết sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của tiết học, sau khi giảng xong giáo viên hướng dẫn học sinh đánh dấu trong sách giáo khoa để về nhà chép (học sinh sẽ chừa khoảng trống thích hợp)

Nguyên tắc giáo dục chủ động là lấy học sinh làm trung tâm Giáo viêntrong quá trình giảng dạy là phải đảm bảo được việc học sinh nắm được kiến thứctrọng tâm, nhưng giáo viên không có quyền bắt học sịnh công nhận tất cả các đơn

vị kiến thức Chính bản thân học sinh, trong khi tham gia tích cực vào tiết học,sau khi tìm hiểu lại sách giáo khoa và tìm tòi ở các phương tiện multimedia, sẽchọn lọc đúc kết những kiến thức của tiết học và ghi chép, lưu trữ cho riêngmình

Các tiêu chí đánh giá bài giảng:

- Kế hoạch bài giảng được thể hiện cụ thể, rõ ràng và logic, nêu bật mụctiêu, nội dung, tiến trình bài giảng

- Thể hiện được các yêu cầu của phương pháp dạy học tiên tiến, phát huytính tích cực của học sinh

- Nội dung bài giảng bám sát kiến thức cơ bản của chương trình theo quyđịnh, có tính hệ thống và khoa học

- Sử dụng và tích hợp các công cụ công nghệ thông tin sáng tạo, hợp lý,nhằm phát huy tối đa chất lượng, tính hấp dẫn trong bài giảng; thu hút và tạo môitrường tương tác tích cực giữa giáo viên và học sinh và giữa học sinh với nhau

- Hình thức tổ chức, bố trí nội dung bài giảng khoa học, dễ hiểu, thân thiện

- Hiệu quả, tác động và ảnh hưởng của bài giảng đối với môi trường giáodục

3 Khai thác mạng Internet phục vụ dạy học:

Ngày đăng: 06/03/2014, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w