Đối tượng nghiên cứu: Các ứng dụng của CNTT trong trường học để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu của GV, học tập của học sinh, công tác quản lý nhà trường….. Với mục đích của việc
Trang 11
1 Phần mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc phải ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, nhiều đơn vị đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở một số trường học nước ta còn rất hạn chế Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công
cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập” Mặt khác, giáo dục
và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu cầu
“đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn” Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực: Sản xuất, thương mại, quốc phòng Trong Giáo dục đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hoá phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học (Thiết
bị dạy học, không chỉ còn là thước kẻ, compa, bảng phụ mà là máy tính, máy chiếu…) Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và hiệu quả to lớn của nó Nhà nước, Chính phủ và ngành giáo dục đã có các văn bản chỉ thị đối với việc ứng dụng CNTT vào sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nói chung và phát triển ngành giáo dục nói riêng Thực hiện Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020 định hướng đến năm 2025
Trước tình hình đó, là một nhân viên được nhà trường giao phụ trách quản
lý CNTT bản thân luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao được hiệu quả ứng dụng CNTT trong trường THPT Hậu Lộc 4 Trên cơ sở nhiệm vụ được giao tôi mạnh
dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý, dạy học ở trường THPT Hậu Lộc 4” với mong muốn được chia sẻ cùng
đồng nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT ở trong trường học
và thúc đẩy chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp đỡ cán bộ giáo viên nhà trường làm việc nhanh, hiệu quả trong công tác thực hiện nhiệm vụ giáo dục, cũng như công
Trang 22
tác giảng dạy Tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên có cơ hội giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác, cũng như kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày Rèn luyện cho cán bộ giáo viên có kỹ năng trong công tác truy cập Internet để tìm kiếm thông tin, cũng như tìm kiếm các tư liệu phục vụ nhiệm vụ công tác giáo dục, công tác giảng dạy bộ môn Rèn luyện cho bản thân không ngừng học tập nâng cao trình độ, kinh nghiệm trong công tác khai thác, ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ hiểu rõ hơn về CNTT, từ đó vận dụng vào giảng dạy hiệu quả hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu: Các ứng dụng của CNTT trong trường học để phục
vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu của GV, học tập của học sinh, công tác quản
lý nhà trường…
Nghiên cứu hệ thống Email điện tử được cấp từ hệ thống Email có tên miền của Sở và của Bộ Giáo dục Đào tạo Nghiên cứu hệ thống Website của trường và hộp thư điện tử của cán bộ, giáo viên và nhân viên từ hệ thống Email
có tên miền, sử dụng sổ điểm liên lạc điện tử, gửi tin nhắn điều hành qua hệ thống VNEDU, CSDL ngành: Phạm vi áp dụng của sáng kiến này là: Tại trường THPT Hậu Lộc 4 của Huyện Hậu Lộc- Tỉnh Thanh Hóa, thuộc Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu, các văn bản hướng dẫn ứng dụng CNTT, các phần mềm tiện ích, các phần mềm ứng dụng trong quản lý giáo dục của Bộ giáo dục và đào tạo, của UBND tỉnh, UBND Huyện, Sở Giáo dục Thanh Hóa
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT trong trường THPT
1.4.2 Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp điều tra khảo sát tình hình thực tế
- Phương pháp tổ chức tập huấn chao đổi kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Việc hiểu biết và ứng dụng được CNTT đối với mỗi người nói chung và đối với mỗi giáo viên nói riêng là rất cần thiết và cấp bách Đối với công tác quản lý việc ứng dụng CNTT là cần thiết hơn bao giờ hết Với mục đích của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường là sử dụng CNTT như một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí nhà trường; giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao chất lượng dạy học; trang bị cho học sinh kiến thức
về CNTT, học sinh sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập; góp phần rèn luyện học sinh một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì hiện đại hoá Với ứng dụng CNTT trong nhà trường
Trang 33
sẽ góp phần hiện đại hoá giáo dục và đào tạo, gắn với phát triển nguồn nhân lực CNTT, xác định là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa rất lớn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và ứng dụng CNTT một cách hiệu quả trong công tác giáo dục của nhà trường theo tiêu chí mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo Lãnh đạo nhà trường sử dụng CNTT để quản lí kế hoạch của các tổ chức đoàn thể, các tổ chuyên môn, lịch dạy học của giáo viên, soạn thảo và quản lí các văn bản chỉ đạo và báo cáo của nhà trường Trong cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo
là tấm gương về đạo đức tự học và sáng tạo” hiện nay, nhà quản lý giáo dục “nói cần đi đôi với làm”, nhà quản lý phải là người tiên phong trong việc ứng dụng CNTT Hiệu quả quản lý sẽ thấp nếu người quản lý giáo dục chỉ hô hào, vận động giáo viên ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học, trong khi nhà quản lý giáo dục lại không biết ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý của mình Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong công tác quản lý tại cơ sở giáo dục quả là một điều cần trăn trở Với phạm vị sáng kiến cải tiến kỹ thuật này, tôi sẽ đưa ra một số ý kiến, kinh nghiệm của cá nhân mình, cũng như những việc làm cụ thể trong việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý tại trường THPT Hậu Lộc 4 trong các năm học qua để cùng các bạn đồng nghiệp thảo luận tìm ra những giải pháp tốt hơn nữa trong công tác quản lý
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Do sự nhận thức của một bộ phận CB, GV và NV còn hạn chế về vai trò của CNTT nên ngại áp dụng, không vượt qua được những khó khăn bước đầu Một số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường chỉ thấy mặt trái của CNTT, thấy một số hiện tượng tiêu cực của giới trẻ trong xã hội là đổ lỗi cho CNTT Suy nghĩ rằng việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là không thể, bởi với đồng lương nhà giáo thì không biết lúc nào mua được máy tính, không biết khi nào trường cómáy chiếu và các cơ sở hạ tầng CNTT khác Việc ứng dụng CNTT vào quản lý còn phụ thuộc nhiều vào “ý thích” của cán bộ quản lý, của một số giáo viên, chưa có
sự chỉ đạo mang tính pháp lý cùng với sự hỗ trợ thích hợp về cơ sở vật chất, của các cấp quản lý
Trong những năm học trước tại Trường THPT Hậu Lộc 4, nhất là từ năm học 2009– 2010 trở về trước, thì việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường còn rất ít, chủ yếu là dùng máy tính soạn thảo một số văn bản, in ấn tài liệu Nhiều công việc khác như tra cứu văn bản; soạn thảo văn bản, kế hoạch hàng tuần, hàng tháng; thống kê, tổng hợp báo cáo; phải làm thủ công nên mất nhiều thời gian và nhân lực nhưng đôi khi kết quả vẫn có sự nhầm lẫn ngoài mong muốn Thực tế khi không ứng dụng CNTT vào quản lý tôi thấy ở trường THPT Hậu Lộc 4 có những hạn chế như sau: Việc tra cứu văn bản, nhất là các văn bản, các kế hoạch ban hành cách đây đã lâu thì việc tìm các văn bản này trong tập hồ
sơ lưu trữ là một vấn đề không đơn giản, phải mất khá nhiều thời gian nếu cần ngay các văn bản này để giải quyết công việc thì không thể đáp ứng được Để phục vụ thống kê báo cáo phải huy động một lực lượng lớn CBGV, NV ở nhiều
bộ phận khác nhau Đơn cử như báo cáo chất lượng giảng dạy của giáo viên thì phải huy động hết giáo viên trong trường, các tổ trưởng chuyên môn, bộ phận văn
Trang 44
phòng để tổng hợp, lãnh đạo phải kiểm tra lại thông tin báo cáo Nếu các báo cáo này cần phân loại theo giới tính, lớp, môn…thì còn đòi hỏi nhân lực và thời gian nhiều hơn Tuy số lượng tham gia đông, thời gian nhiều, nhưng nhiều khi số liệu lại không khớp giữa các môn, các khối làm ảnh hưởng đến tổng hợp báo cáo của toàn trường thiếu độ chính xác Công tác thống kê kế hoạch đầu năm học, thống
kê chất lượng giữa kỳ, cuối năm việc so sánh chất lượng học tập và giảng dạy giữa các lớp, giữa các giáo viên , giữa các năm học không thể thực hiện được, việc đánh giá mang nặng cảm tính, đánh giá chung chung nên khó có thể có các quyết định quản lý để điều chỉnh mang tính kịp thời, thuyết phục Từ năm học
2012 cho đến nay nhà trường đã đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào trong quản
lý và dạy học, lắp đặt toàn bộ hệ thống máy chiếu ở các lớp học Đối với bộ môn Tin Học nhà trường đã lắp đặt hai phòng máy tính để phục vụ tốt cho các em tiếp cận dần với CNTT
Là một Trường mới được thành lập chưa được 15 năm nên cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, trong nhưng thời gian đầu CB,GV, NV Mặc dù đã có chứng chỉ nhưng kỹ năng sử dụng máy vẫn rất hạn chế do không thường xuyên rèn luyện, không tranh thủ thời gian để học tập nâng cao tay nghề, hoặc do điều kiện không có máy để rèn luyện Một số người sử dụng máy do thiếu kiến thức bảo quản máy nên chất lượng máy tính và các thiết bị nhanh xuống cấp, hư hỏng ảnh hưởng đến quá trình sử dụng phục vụ thao giảng hoặc kiểm tra toàn diện ở trường
Năm học 2019-2020: Nhà trường đã lắp đặt hệ thồng điểm dang thông minh (điểm danh bằng vân tay), nhằm đẩy mạnh công tác quản lý nề nếp học sinh, giúp học sinh có ý thức hơn trong học tập và điều quan trọng là các em đang tiếp cận dần với các ứng dụng của CNTT tại ngôi trường THPT Hậu Lộc 4
Hệ thống điểm danh thông minh giúp cho cán bộ quản lý nhà trường giám sát được việc thực hiện giờ giấc, ngày công của cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường một cách khoa học và chính sác Tạo nên môi trường làm việc hiệu quả, giúp cho cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường tiếp cận dần với các ứng dụng của CNTT
2.3 Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT
2.3.1 Tham mưu cho nhà trường tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tin học, hiện đại hoá trang thiết bị trong nhà trường
- Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất, phù hợp với từng môn học, tạo nền móng cho việc ứng dụng CNTT trong giáo dục THPT
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên được truy cập Internet ngay tại trường để giáo viên tranh thủ được thời gian tự học tin học và soạn giáo án
- Huy động các nguồn lực đầu tư về cơ sở hạ tầng CNTT cho nhà trường
Trang 55
- Tham mưu với hiệu trưởng hàng năm dành một phần kinh phí để mua sắm máy tính, các thiết bị tin học cho nhà trường và các lớp, lắp đặt thêm phòng máy
- Huy động sự đóng góp của các tổ chức chính trị xã hội đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường Phấn đấu xây dựng hệ thống CNTT trong nhà trường theo hướng
hiện đại hoá đáp ứng nhu cầu giáo dục ngày càng phát triển của xã hội
Hàng năm xây dựng kế hoạch cụ thể tham mưu và duyệt, phòng GD&ĐT và UBND Tỉnh bổ sung thêm trang thiết bị, máy tính cho nhà trường
Hình ảnh 1: Phòng học được lắp đặt máy chiếu
Hình ảnh 2: Phòng thực hành Tin học 1 của nhà trường
Trang 66
Hình ảnh 3: Phòng thực hành Tin học 1 của nhà trường
Tiết kiệm các khoản chi tiêu trong năm, tranh thủ các dự án để mua sắm, bổ sung thêm trang thiết bị, máy tính, mạng máy tính phục vụ cho giảng dạy và ứng dụng CNTT
Tích cực làm tốt công tác xã hội hóa để huy động nhân dân, cộng đồng, cha mẹ học sinh, các nhà hảo tâm tài trợ đóng góp cho nhà trường để trang bị thêm cơ sở vật chất, máy tính và mạng máy tnh cho nhà trường
Năm học 2020-2021: Nhà trường đã khắc phục mọi khó khăn, mạnh dạn thay thế toàn bộ bảng cũ bằng hệ thồng bảng kéo và lắp đặt màn hình tivi 65 inch thay cho may chiếu ở 22 phòng học, nhằm đáp ứng tốt nhất việc học tập của học sinh trong nhà trường
Hình ảnh 3: Nhà trường đã lắp đặt hệ thống bảng kéo và màn hình ti vi
Trang 77
- Giáo dục học sinh ý thức tự giác bảo quản và sử dụng các thiết bị phòng máy + Nâng cấp hệ thống máy tính cho Ban Giám hiệu, Thư kí Hội đồng
Hình ảnh 4: Phòng thực hành Tin học 2 của nhà trường
Hình ảnh 5: Nhà trường đã lắp đặt hệ thống bảng kéo và màn hình ti vi
Trang 88
+ Chuẩn bị hệ thống máy cho các tổ chức đoàn thể: Ban chấp hành Công đoàn trường, Ban chấp hành Đoàn trường,
+ Chuẩn bị mỗi lớp 1 ít nhất máy
+ Lắp đặt hệ thống mạng ngang hàng (mạng LAN nội bộ),
+ Kết nối Internet tốc độ cao ADSL cho hệ thống mạng LAN,
+ Phân cấp quản lí, thư mục dùng chung, thư mục chia sẽ thông tin,
+ Thiết lập hệ thống thư điện tử Email trong Hội đồng sư phạm theo từng chức
năng công việc, theo Tổ chuyên môn, các tổ chức đoàn thể
+ Bổ sung máy in, máy chiếu đa năng, projector,
Hình ảnh 6: Phòng thực hành Tin học của nhà trường
2.3.2 Tăng cường ứng dụng CNNT trong quản lý CBGVNV và HS
Triển khai có hiệu quả Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 (được phê duyệt theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ)
Triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn an ninh thông tin đối với các hệ thống CNTT (phần cứng, phần mềm, wesbite ) Thường xuyên rà soát, khắc phục các nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin Đẩy mạnh tuyên truyền tới toàn
Trang 99
thể cán bộ, giáo viên và học sinh kỹ năng nhận biết, phòng tránh các nguy cơ mất
an toàn thông tin đối với các thiết bị cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng, máy tính cá nhân
- Nhà trường đã sử dụng hệ thống Vnedu để quản lý CBGVNV và học sinh, nhà trường đã thiết lập một số trang, nhóm thông tin nôi bộ để thuận tiện cho việc chỉ đạo của BGH nhà trường cho CBGVNV một cách thuận tiện, nhanh trong, kịp thời
- Là trường đầu tiên trong Huyện đi đầu trong việc ứng dụng CNTT thiết lập lắp
đặt hệ thống điểm danh thông minh, để quản lý nề nếp học sinh trong nhà trường
Hình ảnh 7: Các em học sinh đang thực hiện việc điểm danh vân tay
2.3.3 Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cán bộ, giáo viên và nhân viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT trong dạy học; thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề; thông qua dự giờ thăm lớp và qua việc triển khai các cuộc thi kỹ năng sử dụng vi tính các tiết dạy có ứng dụng CNTT do trường tổ chức Phát động sâu rộng phong trào sử dụng CNTT trong dạy học và đề ra chỉ tiêu cụ thể về
số tiết dạy học có ứng dụng CNTT đối với mỗi giáo viên để chính họ có kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, đặc biệt là đối với đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
Trang 1010
Ngôi trường THPT Hậu Lộc 4 nằm trên địa bàn 5 xã vùng biển nơi có mức độ dân số đông và phức tạp chính vì thế nhà trường đã lắp đặt hệ thống camera giám sát an ninh trong nhà trường giúp cho các bộ quản lý giám sát tình hình trong khuông viên nhà trường được tốt hơn Ngoài ra còn đóng vai trò đắc lực trong việc khép chặt quản lý nề nếp trong nhà trường, từ đó nề nếp học sinh trong nhà trường được cải tiến một cách rõ rệt
Hình ảnh 8 : Nhà trường đã lắp đặt hệ thống camera khu phòng học bộ môn
Hình ảnh 9: Nhà trường đã lắp đặt hệ thống camera khu nhà xe