1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Môn CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

77 31 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 104,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO TRÌNH CHÍNH SÁCH XÃ HỘI (Ban hành theo Quyết định 322010QĐTTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 2020 của Thủ tướng Chính phủ) Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI. 1. Khái niệm chính sách xã hội. 1.1. Khái niệm về chính sách Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được thể hiện khác nhau, các nhà hoạch định chính sách tương đối thống nhất về những nội dung cơ bản của khái niệm “chính sách” như sau: Chính sách là những quy định, quyết định đã được thể chế hóa bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, thực hiện những mục tiêu đã được xác định. Chính sách của Nhà nước có thể được hiểu là tập họp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với các mục đích rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội. Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, ở nghĩa rộng hơn, chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý (Nhà nước) sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể. Những mục tiêu này không nằm ngoài định hướng của mục tiêu tổng quát.

Trang 1

SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ….

GIÁO TRÌNH

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

(Ban hành theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt

Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020

của Thủ tướng Chính phủ)

Trang 2

MỤC LỤC Chương 1: Lý luận chung về chính sách xã hội.

Chương 2: Chính sách xã hội đối với nhóm xã hội đặc thù

1 Chính sách giáo dục đào tạo……… 20

1.1 Quan điểm về giáo dục đào tạo……… 211.2 Nội dung chủ yếu của chính sách giáo dục đào tạo………23

Trang 3

4 Chính sách bảo đảm xã

hội……… 36

4.1 Chính sách bảo hiểm xã hội………

36 4.2 Chính sách trợ giúp xã hội……… 40

4.3 Chính sách ưu đãi xã hội………46

5 Chính sách phòng chống tệ nạn ma túy……….50

5.1 Khái niệm về tệ nạn ma túy………50

5.2 Mục tiêu và giải pháp phòng chống tệ nạn ma túy……….51

6 Chính sách phòng chống tệ nạn mại dâm……… 54

6.1 Khái niệm về tệ nạn mại dâm……….54

6.2 Mục tiêu và giải pháp phòng chống tệ nạn mại dâm……… 55

7 Chính sách tôn giáo……… 57

7.1 Quan điểm về tôn giáo………57

7.2 Nội dung chính sách về tôn giáo………59

8 Chính sách đối với vùng dân tộc ít người………

61 8.1 Quan điểm về dân tộc ít người……….61

8.2 Nội dung chính sách………

62 9 Chính sách đối với vùng đặc biệt khó khăn………

63 10 Quy chế dân chủ cơ sở……… 64

Trang 4

Chương 3: Hoạch định và tổ chức thực hiện.

sách……….66

1.1 Khái niệm………66

1.2 Quan điểm chỉ đạo……… 67

Trang 5

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI.

1 Khái niệm chính sách xã hội.

1.1 Khái niệm về chính sách

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xãhội Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chínhsách được thể hiện khác nhau, các nhà hoạch định chính sách tương đối thống nhất

về những nội dung cơ bản của khái niệm “chính sách” như sau:

Chính sách là những quy định, quyết định đã được thể chế hóa bởi cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, thực hiện những mục tiêu đãđược xác định

Chính sách của Nhà nước có thể được hiểu là tập họp văn bản mà Chính phủxây dựng, ban hành với các mục đích rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn

bộ người dân trong xã hội Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng vănbản pháp luật và các văn bản dưới luật Tuy nhiên, ở nghĩa rộng hơn, chính sách làtổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý (Nhà nước) sửdụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện nhữngmục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể Những mục tiêu nàykhông nằm ngoài định hướng của mục tiêu tổng quát

Trong phạm vi tập bài giảng này, chính sách được hiểu là chính sách công,tức là chính sách được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thựchiện trong cuộc sống

Chính sách công được xác định với năm tiêu chí sau:

Một là, chính sách công là chính sách do Nhà nước ban hành, ở các cấpthẩm quyền trong bộ máy nhà nước, từ trung ương đến địa phương

Hai là, chính sách công nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước quản lý

và điều hành nền kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đề ra

Ba là, chính sách công được thể chế hóa thành các quyết định có hiệu lựcpháp lý của các cơ quan nhà nước

Bổn là, chính sách công được thực thi dựa vào việc sử dụng quyền lực củanhà nước Các tổ chức trong bộ máy nhà nước sử dụng thẩm quyền được pháp luậtthừa nhận để điều hành, thực thi chính sách công

Trang 6

Năm là, các chính sách công gắn với việc phân bổ và sử dụng các nguồn lựccông của nhà nước như ngân sách và các tài sản công khác do nhà nước quản lý.

1.2 Khái niệm về chính sách xã hội

Chính sách xã hội là một khái niệm động, mang tính lịch sử Trong quá trìnhlịch sử cùng với sự chuyển đổi của các quan hệ kinh tế và xã hội thì quan điểm,mục đích và đối tượng của chính sách xã hội lại có sự thay đổi cho phù hợp Vìvậy, các hợp phần của chính sách xã hội trong từng thời kỳ là khác nhau Ví dụ,trong nền kinh tế thị trường, các chính sách xã hội có sự vận động dựa trên cơ sởcác chính sách kinh te và hướng vào khắc phục các khiếm khuyết, rủi ro xã hội củanền kinh tế thị trường Các rủi ro xã hội thường mang lại một cách ngẫu nhiên từ

sự nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, thiên tai, bão lũ dẫn đến mất cân đốimột cách thường xuyên đối với nhóm dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình trạng việclàm, nghề nghiệp, sức khỏe, gia đình và thu nhập, gây bất ổn định và sự phát triển

xã hội

Ở nước ta thuật ngữ "‘‘chỉnh sách xã hội” lần đầu tiên được chính thức sửdụng trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Ở nước ta chính sách xã hộíthường được nhìn nhận ở hai cấp độ Cho đến nay, mặc dù cùng bàn về một kháiniệm “chính sách xã hội” song có rất nhiều tác giả đã xem xét, tiếp cận ở nhữnggóc độ khác nhau nên có những kết luận khác nhau được đưa ra Tuy vậy, đó chỉ làhình thức thể hiện khác nhau về cùng một nội hàm nên xét một cách tổng thể, cácquan niệm này đều có những điểm chung nhất định Tìm hiểu về các quan niệmnày sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về chính sách xã hội ở mọichiều cạnh Sau đây là một số quan niệm tiêu biểu của một số tác giả

Chính sách xã hội là một loại chính sách nhằm điều chỉnh những quan hệ xãhội của con người, giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra và thực hiện bình đẳng,công bằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người Định nghĩa này cho thấy,chính sách xã hội là một hệ thống những quy định, những quyết định, những biệnpháp của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh hành vi, hoạt động và quan hệ xãhội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh của đất nước Chính sách xã hộigóp phần làm giảm tình trạng bất bình đẳng xã hội, thực hiện công bằng xã hội,phát triển toàn diện con người

Tác giả Trần Đình Hoan cho rằng: “Chính sách xã hội là loại chính sáchđược thể chế bằng pháp luật của Nhà nước thành một hệ thống quan điểm, chủtrương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những cao tuổi, phụ nữ mangthai, người cô đon, người khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Trang 7

2 Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội.

Đại hội đại biểu lần thứ VI thể hiện bước ngoặt trong đổi mới tư duy củaĐảng về chính sách xã hội, đã đặt đúng vị trí, tầm quan trọng của chính sách xã hộitrong phát triển đất nước Chính sách xã hội được coi là một bộ phận quan trọngtrong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, là động lực to lớn, phát huy tínhnăng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt củacuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan

hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc… thể hiện đầy đủ trong thực tế quanđiểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chínhsách xã hội”[1] Từ nhận thức: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất đểthực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của cáchoạt động kinh tế”, Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: “Cần có chính sách xã hội

cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khảnăng trong chặng đường đầu tiên Đó là một bước tiến mới trong nhận thức vềchính sách xã hội của Đảng”.[2]

Từ chính sách xã hội chung đó, Đại hội đề cập tới chính sách đối với cácgiai cấp, tầng lớp dân cư trong cộng đồng xã hội, đã nhấn mạnh: “ quan điểm đúngđắn và thống nhất, kèm theo những chính sách, biện pháp hiệu quả xây dựng toàndiện giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức xã hội chủnghĩa, làm cho nền tảng chính trị - xã hội của xã hội mới ngày càng vững chắc, ưuthế của lực lượng xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh giữa hai con đường ngàycàng được phát huy mạnh mẽ Tiến hành điều tra cơ bản, nắm chắc cơ cấu giai cấp

và xã hội của cả nước và từng địa phương sau hơn mười năm cải tạo và xây dựngchủ nghĩa xã hội, phát hiện những vấn đề cần được giải quyết về mặt chính sáchgiai cấp”.[3]

Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của chính sách xãhội, trong đó nổi bật quan điểm về sự thống nhất giữa mục tiêu của chính sách kinh

tế và chính sách xã hội – tất cả vì con người Nghị quyết Đại hội cũng nêu ranhững phương hướng, nhiệm vụ cụ thể của chính sách xã hội: Đó là vấn đề do lịch

sử và do hậu quả chiến tranh để lại; đó là loại vấn đề nảy sinh từ nền kinh tế - xãhội lạc hậu, kém phát triển; đó là vấn đề mới phát sinh về xã hội liên quan đến việcphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần…

Đại hội nhấn mạnh: “ Huy động mọi khả năng của Nhà nước và của nhândân, trung ương và địa phương để cùng nhau giải quyết các vấn đề của chính sách

xã hội Xây dựng các quỹ bảo hiểm xã hội của nhân dân trong tất cả các thànhphần kinh tế…”[4] và “cải cách chế độ tiền lương cho đủ tái sản xuất sức lao động,tiền tệ hóa lương, gắn cải cách tiền lương với chỉnh đốn bộ máy tổ chức và giảm

Trang 8

biên chế Chăm sóc những người có công với nước,…đặc biệt chú trọng vùng núibiên giới và đồng bào các dân tộc thiểu số”[5].

Đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn vớitiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình pháttriển” và “Các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hộihóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanhnghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham giagiải quyết những vấn đề xã hội”[6] Sự phát triển nhận thức thể hiện ở các nhiệm vụtrước mắt về chính sách xã hội, đó là: Tập trung sức tạo việc làm; thực hiện xóađói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động nhân đạo, từthiện; chăm sóc bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất của nhân dân; đẩy mạnh côngtác dân số - kế hoạch hóa gia đình; đẩy lùi tệ nạn xã hội…

Xuyên suốt các kỳ Đại hội IX, X, XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vaitrò, nhiệm vụ, mục tiêu của chính sách xã hội, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới vấn

đề công bằng trong các chính sách xã hội Văn kiện Đại hội IX nêu rõ: “Thực hiệncác chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiệncông bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ trong phát triển sản xuất, tăngnăng xuất lao động, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khíchnhân dân làm giàu hợp pháp Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản”.Tiếp tục phát triển nhận thức mới về chính sách xã hội, Đại hội X của Đảng đã chỉrõ” kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ởtừng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từngbước và từng chính sách phát triển…Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bứcxúc”[7]

Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vìcon người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyềnlợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triểnvăn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước vàtừng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần.”[8]

Để thực hiện tốt mục tiêu công bằng trong các chính sách xã hội, Đảng tanhấn mạnh chính sách xã hội phải phù hợp với từng đối tượng, từng giai cấp, tầnglớp trong xã hội: “Tạo môi trường và điều kiện để mọi lao động có việc làm và thunhập tốt hơn Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để pháttriển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội Khuyến khích làm giàu hợp pháp điđôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu – nghèo giữa cácvùng, miền, các tầng lớp dân cư Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội Thực hiện tốtchính sách đối với người và gia đình có công với nước.”[9]

Đến Đại hội XII, quan điểm về chính sách xã hội phù hợp với các giai cấp,tầng lớp và cộng đồng dân cư được nhấn mạnh và nhận thức sâu sắc hơn: “Xây

Trang 9

dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; giải quyết hài hòacác quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bứcxúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội… quan tâm thích đáng đếncác tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùngcao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu – nghèo, bảođảm sự phát triển xã hội ổn định và bền vững Kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi

ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội ”[10]

Ngoài các chủ trương chung về chính sách xã hội đối với cộng đồng dân cư,Đảng ta có những nghị quyết riêng để phát huy vai trò tích cực của mỗi giai cấp,tầng lớp Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khoá X), Đảng ta đãban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục xây dựng giaicấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước” Đến Hội nghị Trung ương 7 (khoá X), có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày5/8/2008 về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Cũng trong Hội nghị này, xácđịnh rõ vai trò to lớn của tầng lớp trí thức, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước” Đến Đại hội khoá XI, lần đầu tiên, Đảng ban hành nghịquyết riêng để phát triển tầng lớp doanh nhân Ngày 9/12/2011, Bộ Chính trị khoá

XI, ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Xây dựng và phát huy đội ngũ doanhnhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.Nghị quyết 15, khóa XI, ngày 1/6/2012 một số vấn đề về chính sách xã hội giaiđoạn 2012-2020; Những chủ trương, chính sách phát huy đội ngũ doanh nhân ViệtNam tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị Trung ương 5, khoá XII với sự ra đờicủa Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017 về “Phát triển kinh tế tư nhân trởthành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa” Bên cạnh đó, có các Nghị quyết 27, khóa XII, về cải cách chính sách tiềnlương; Nghị quyết 28, khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội tiếp tụchoàn thiện chính sách xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Vai trò của chính sách xã hội.

Chính sách xã hội là một trong các công cụ, biện pháp để Nhà nước tiếnhành phát triển toàn diện con người Chính sách xã hội là chính sách đối với conngười, nó phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực con người trong việc ổn định và pháttriển xã hội, nó ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của xã hội Nhiệm vụ của chínhsách xã hội là căn cứ trên các yếu tố kinh tế xã hội để đề ra và thực thi biện pháp,các giải pháp làm cho con người, cho nhân dân lao động có điều kiện sống ngàycàng tốt hơn về cả vật chất lẫn tinh thần Các chính sách xã hội được xây dựng dựatrên nhu cầu hợp lý và lành mạnh của con người cả về vật chất lẫn tinh thần, dựatrên những dự báo khuynh hướng phát triển của con người, của nền kinh tế xã hội

để khơi dậy tính tích cực, kích thích kinh tế xã hội phát triển, nó góp phần điều tiết

Trang 10

quan hệ xã hội nhằm bảo đảm và thiết lập xã hội công bằng, văn minh, để conngười chăm lo làm việc tốt cho mình và cho xã hội Với ý nghĩa đó, chính sách xãhội thật sự là một nhân tố ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

– Chính sách xã hội như một công cụ để khắc phục những phân hóa, mâuthuẩn và khác biệt xã hội, để điều tiết các quan hệ xã hội nhằm phát huy khả năngcủa toàn xã hội vào những mục tiêu chung Nói cách khác, khi xã hội có “vấn đề xãhội” nảy sinh, tức là cơ cấu xã hội của xã hội đó không còn phù hợp để thúc đẩy xãhội phát triển, khi đó, cần phải điều chỉnh vào các phân hệ của cơ cấu xã hội bằngcách dùng các chính sách xã hội tác động vào để cho xã hội được công bằng, tạomôi trường tích cực cho xã hội phát triển và từ đó hướng tới hình thành cơ cấu xãhội mới phù hợp, tối ưu, đảm bảo cho xã hội tồn tạị và phát triển trong sự ổn định.Tóm lại, để đảm bảo xã hội phát triển trong sự ổn định nhất thiết phải có chínhsách xã hội hợp lý và giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ xã hội trên nhiều khíacạnh và lĩnh vực khác nhau

– Chính sách xã hội còn có vai trò quan trọng để hướng tới sự công bằng xãhội, do đó tạo tính tích cực, năng động xã hội, làm cho xã hội phát triển bền vững

Vì vậy, công bằng ở đây là sự cân đối mặt bằng giữa các chính sách, là giải quyếtchính sách xã hội sao cho vấn đề lợi ích giữa các đối tượng có thể có chênh lệchnhưng xã hội chấp nhận được Nếu không có chính sách xã hội phù hợp, giải quyếtđúng đắn vấn đề mấu chốt này, có thể sẽ làm triệt tiêu các động lực xã hội, dẫn tới

sự trì trệ và khủng hoảng xã hội Bài học kinh nghiệm qua việc áp dụng một chínhsách cào bằng chung chung trong thời bao cấp trước đây ở nước ta dẫn đến tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng cho thấy rõ điều đó

4 Đặc trưng của chính sách xã hội.

Chính sách xã hội khác với chính sách khác như chính sách kinh tế, chínhtrị, văn hóa, tư tưởng…, sự khác biệt này bắt nguồn từ khía cạnh xã hội, tính chất

xã hội của nó Theo đó ta thấy chính sách xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:

– Chính sách xã hội là chính sách đối với con người nhằm vào con người, lấy con người làm trung tâm phát triển con người một cách toàn diện.

Chính sách xã hội xuất phát từ các vấn đề xã hội của một đất nước Đồngthời, chính sách xã hội là công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý chí của Đảng, Nhànước Chính vì vậy, nó là một phưong tiện quan trọng định hướng mọi hoạt động

và hành vi của các chỉ thể tham gia hoạt động trong các lĩnh vực xã hội theo nhữngmục tiêu, phương hướng đã định trước của Nhà nước Nó có vai trò thúc đẩy các

Trang 11

vấn đề xã hội vận động một cách đúng đắn theo quy luật kinh tế, xã hội khách quantrong điều hiện toàn cầu hóa.

Trên thực tế, quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, khi xây dựng cácchính sách xã hội, các nhà hoạch định chính sách xã hội phải dựa trên các chiếnlược, đường lối, chủ trương của Đảng trong các lĩnh vực xã hội, nhằm giải quyếtnhững vấn đề bức xúc đặt ra trong từng thời kỳ Do đó, các chính sách xã hội củaNhà nước luôn phản ánh đường lối, chủ trương của Đảng trong việc phát triển cáclĩnh vực xã hội, có chức năng định hướng sự phát triển các hoạt động xã hội cũngnhư mọi hoạt động liên quan nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, công bằng

và tiến bộ

– Chính sách xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, luôn hướng tới việc hình thành những giá trị chuẩn mực mới, tiến bộ góp phần đẩy lùi các

ác, cái xấu trong xã hội.

Trong quá trình phát triển đất nước, dưới sự tác động của các quy luật kháchquan và nhân tố chủ quan, có rất nhiều vấn đề xã hội nảy sinh ảnh hưởng đến đờisống, sự ổn định xã hội Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội thông quacông cụ chính sách giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, điều tiết những mấtcân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi chocác hoạt động xã hội vận động theo mục tiêu phù hợp với chiến lược phát triểnkinh tế xã hội của đất nước

Nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực cũng mang lại nhữngmặt khiếm khuyết, tiêu cực, đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước, như sự bất

ổn định của nền kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ônhiễm môi trường Để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những ảnh hưởngtiêu cực của nền kinh tế thị trường Nhà nước sử dụng công cụ chính sách để điềutiết các mối quan hệ xã hội, tác động vào quá trình phân phối thu nhập, tạo cơ hộiphát triển cho các đối tượng yếu thế, bị ảnh hưởng Ví dụ như: Nhà nước phát triển

hệ thống tín dụng nông thôn; ban hành áp dụng các chính sách xóa đói giảm nghèo,chính sách phát triển cơ sở hạ tầng đối với vùng sâu, vùng xa nhằm giảm bớtkhoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; thực hiện các chính sách đào tạonghề cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất làm trong các khu công nghiệp, khu

đô thị để họ chuyển đổi nghề, gia nhập thị trường lao động; hoàn thiện chính sáchbảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Trang 12

– Chính sách xã hội có tính trách nhiệm xã hội cao, bao giờ cũng quan tâm đến số phận của những con người cụ thể, quan tâm đến những cá nhân sống trong những điều kiện thiệt thòi, khó khăn so với mặt bằng chung của xã hội lúc bấy giời Tạo điều kiện cho những cá nhân đó phát huy những khả năng vốn có của mình vươn lên hoà nhập với xã hội.

Chính sách xã hội là loại chính sách liên quan đến con người và bao trùmmọi mặt cuộc sống của con người Vì vậy, đặc trưng bao quát nhất của chính sách

xã hội là lấy con người, các nhóm người trong cộng đồng làm đối tượng tác động

để hoàn thiện và phát triển toàn diện con người; lấy con người làm trung tâm, coitrọng yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng đất nước Con người vừa là độnglực của sự phát triển xã hội và tiến bộ xã hội, vừa là mục tiêu của quá trình pháttriển xã hội Con người ở đây là con người cụ thể, có thể lực, trí lực và nhân cáchkhác nhau, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với cộng đồng và xã hội Con người vừa

có cuộc sống riêng, vừa hòa quyện với đời sống xã hội Tác động của chính sách

xã hội đối với đời sống con người ở đây là nhằm hình thành các chuẩn mực xã hội

và giá trị xã hội, vừa là chuẩn mực mạng tính chất phổ biến, vừa là sản phẩm tổnghợp của một quá trình lịch sử lâu dài mang tính chất đặc thù phù họp với yêu cầucủa thời đại trong từng nấc thang phát triển của lịch sử Tính phổ biến và tính đặcthù là hai mặt gắn bó hữu cơ của chính sách xã hội không phủ định lẫn nhau, tráilại cùng tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau

– Chính sách xã hội để thực hiện đúng mục tiêu, đối tượng bao giờ cũng

có cơ chế hoạt động, bộ máy nhân sự, chương trình dự án và kinh phí hoạt động riêng của nó.

Chính sách xã hội không chỉ nhằm vào giải quyết các hậu quả của các vấn

đề xã hội mà nó là công cụ quản lý vĩ mô, có vai trò kích thích, tạo động lực mạnh

mẽ cho sự phát triển kinh tế và xã hội Bản thân mỗi chính sách xã hội có vai tròtác động tích cực vào sự vận động của các vấn đề xã hội theo chiều hướng tích cực.Ngoài ra, khi một vấn đề xã hội được giải quyết thì sẽ có tác động dây chuyền đếncác vấn đề kinh tế, xã hội khác và chính nó có vai trò thúc đẩy những nhu cầu pháttriển mới

Ví dụ, chính sách tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông nghiệptrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác động đến thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu lao động nông thôn từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệpdịch vụ Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động này lại kích thích sự

Trang 13

phát triển doanh nghiệp, các ngành công nghiệp, dịch vụ mới nhằm tạo ra nhiềuviệc làm cho lao động nông thôn.

5 Quan hệ giữa chính sách xã hội và chính sách kinh tế.

TCCS - Trước đây người ta thường đồng nhất tăng trưởng kinh tế với pháttriển, nên chạy theo chỉ tiêu tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và thunhập bình quân đầu người bằng bất cứ giá nào Nhưng càng ngày người ta càngnhận ra rằng, tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ

để phát triển Nói cách khác, ngày nay không thể chỉ chú ý đến tốc độ tăng trưởng

mà còn phải quan tâm đến tính chất của tăng trưởng, tức là đạt được tăng trưởngbằng cách nào, những ai tham gia, thể chế nào được hình thành và những ai đượchưởng lợi thành quả của sự tăng trưởng ấy? Có những nước nhờ nguồn tàinguyên giàu có (dầu mỏ, kim loại quý hiếm ), ủy thác cho các công ty xuyên quốcgia khai thác, xuất khẩu và chia lời, nên thu nhập quốc dân tính theo đầu ngườităng nhanh và đạt mức rất cao Nhưng chỉ một tầng lớp nhỏ bên trên được hưởnglợi, đa số người dân vẫn nghèo đói vì sự tăng trưởng kinh tế nói trên không tácđộng đến phần còn lại của nền kinh tế quốc dân Nguồn ngoại tệ thu được chảy vàocác ngân hàng của các nước phát triển chứ không được tái đầu tư Sự tăng trưởngkinh tế như vậy không thể coi là "sự phát triển"

Trong bài "ý nghĩa của sự phát triển" đăng trên Tập san Phát triển quốc

tế (số 11, tháng 12-1969), Dudley Seers đã đặt câu hỏi: Điều gì đang xảy ra đối với

sự nghèo khổ, thất nghiệp và sự bất bình đẳng? Nếu như cả ba vấn đề này trở nên ítnghiêm trọng hơn thì đó là nền kinh tế đang trải qua một thời kỳ phát triển Nếumột hoặc hai trong các vấn đề trung tâm ấy trở nên xấu đi, đặc biệt, nếu cả ba cùng

bị xấu đi mà coi kết quả đó là "phát triển" thì thật lạ lùng, ngay cả khi thu nhậpbình quân tính theo đầu người tăng lên Như vậy, phát triển phải là sự tăng trưởngkinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội

Tiến bộ và công bằng xã hội có nội dung rất rộng Để minh họa mối quan hệqua lại giữa tiến bộ và công bằng xã hội với tăng trưởng kinh tế, trong bài này chỉxét một số chính sách xã hội chủ yếu, như dân số và việc làm, thất nghiệp, sự bấtbình đẳng, an sinh xã hội

1 - Tăng trưởng kinh tế là động lực cơ bản thúc đẩy phát triển, là nhân tốquan trọng hàng đầu và điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội

Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là chủ yếu dựa vào tăng số lượng các yếu

tố “đầu vào”, như lao động giản đơn giá rẻ, vốn, đất đai, công nghệ thấp thìkhông thể phát triển bền vững và cũng khó thực hiện tốt các chính sách xã hội

Trang 14

Những nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và chuyển lên nhóm nước pháttriển trung bình, nếu cứ tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng thì sẽ đứng trước nguy

cơ rơi vào cái gọi là "bẫy tăng trưởng" hay "bẫy thu nhập trung bình" Nghĩa làtăng trưởng dựa vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, sử dụng công nghệ lạc hậu,lao động giản đơn giá rẻ , đến một lúc nào đó tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt;không đủ tài chính để đổi mới công nghệ và thiết bị; thu nhập thấp, nhưng lạikhông có điều kiện được đào tạo để nâng cao trình độ, không thể sử dụng côngnghệ mới nên bị thất nghiệp, khiến người lao động bất bình Những hiện tượng ấytrở thành lực cản quá trình phát triển tiếp theo

Phát triển bền vững đòi hỏi phải tăng trưởng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vàocác nhân tố tăng sức sản xuất của lao động xã hội, như nâng cao trình độ của ngườilao động, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức và quản lý sảnxuất, tăng hiệu suất của tư liệu lao động và tận dụng hiệu quả các nguồn tài nguyênthiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường Nhờ đó tăng năng suất lao động xã hội tăngnhanh giá trị gia tăng, nên có nhiều sản phẩm và dịch vụ để nâng cao mức sống củanhân dân

Tăng trưởng kinh tế có tác động hai mặt đến việc thực hiện các chính sách

xã hội Một mặt, nó làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế, hình thành nhiều ngànhmới, tạo ra nhiều việc làm Mặt khác, do ứng dụng công nghệ tiên tiến, tăng nhucầu về nhân lực chất lượng cao, nếu giáo dục đào tạo không đáp ứng kịp sẽ dẫnđến tình trạng dư thừa nhiều lao động giản đơn, tăng thất nghiệp nhưng lại thiếulao động lành nghề Hoặc là, tăng trưởng kinh tế theo cơ chế thị trường, diễn racạnh tranh gay gắt, vừa thúc đẩy sản xuất, vừa dẫn đến phân hóa hai cực: nhữngngười chiến thắng thu lợi nhuận cao sẽ giàu lên, những người thua cuộc sẽ nghèo

đi, thậm chí bị phá sản, nảy sinh khoảng chênh lệch lớn về thu nhập giữa các tầnglớp dân cư, đòi hỏi nhà nước phải có sự điều tiết thu nhập để giảm bớt bất bìnhđẳng xã hội

2 - Các chính sách xã hội phù hợp là công cụ để phát triển kinh tế - xã hộibền vững

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, những chính sách xã hội năng độngvới thể chế hợp lý sẽ tạo điều kiện giữ vững ổn định chính trị, giảm các xung độtlợi ích và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Thí dụ: Vào đầu thế kỷ XX, trong cơ cấu dân số của Thụy Điển số trẻ em,thiếu niên và thanh niên chiếm tỷ lệ lớn, nhưng do đất nước còn nghèo không thểtạo được nhiều việc làm, nên những người lao động trẻ đã di cư sang châu Mỹ, đe

Trang 15

dọa sự ổn định xã hội Chính phủ Thụy Điển đã nỗ lực cải thiện giáo dục, điều kiệnlao động và tăng phúc lợi xã hội để hạn chế di cư Nhưng về sau lại gặp một tháchthức khác, khi tỷ lệ sinh giảm, dân số già nhanh chóng, đòi hỏi phải bảo đảm trợcấp cho người cao tuổi và tăng nguồn lao động bằng cách thu hút phụ nữ gia nhậpthị trường lao động và mở cửa cho lao động nhập cư.

Ở Hàn Quốc, khi nền kinh tế đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêmtrọng năm 1997, mức bất bình đẳng thu nhập lại tăng cao Hệ số Gini từ 0,3115(năm 1985) giảm xuống 0,2847 (năm 1993) và được duy trì ổn định đến năm 1997

và lại tăng mạnh lên 0,3210 (năm 1999) Xu hướng này liên quan mật thiết với sựgia tăng tỷ lệ thất nghiệp Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện cải cách chínhsách xã hội để có phúc lợi cho nhiều người hơn, như chương trình bảo hiểm laođộng, gồm trợ cấp thất nghiệp và các kế hoạch đào tạo mở rộng đối tượng thụhưởng Các chính sách xã hội và cơ chế phúc lợi xã hội này đã giúp nền kinh tếHàn Quốc phục hồi và tránh được những xung đột xã hội có thể xuất hiện saukhủng hoảng kinh tế

Có quan niệm sai lầm cho rằng, thực hiện các chính sách xã hội sẽ hút bớtmột phần nguồn lực và làm cho việc đầu tư tập trung vào sản xuất bị giảm, dẫn đếnhạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế Thực tế thì ngược lại, việc thực hiện các chínhsách xã hội chính là đầu tư vào nguồn lực con người Con người vừa là chủ thểsáng tạo, vừa là đối tượng phục vụ của sản xuất Chính sách xã hội, như giáo dục, y

tế, bảo hiểm giúp cho con người có tri thức, có sức khỏe, có cuộc sống yên lành

sẽ làm tăng tính tích cực, sáng tạo, tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Chính sách nâng cao thu nhập không những cải thiện mức sống của nhữngngười yếu thế mà còn kích cầu khả năng thanh toán, từ đó đẩy mạnh sản xuất

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có lộ trình phát triển tương tựnhư ở Việt Nam cũng cho nhiều bài học thực tiễn sinh động trong việc giải quyếttốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội Có thể khái quátthành những nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, vào thời kỳ đầu của nền kinh tế thị trường, để giải quyết những trởngại về thể chế kinh tế theo kế hoạch, cản trở sự phát triển sản xuất, mục tiêu lúc

ấy được xác định là tập trung giải phóng lực lượng sản xuất Nhưng nếu tập trungquá nhiều vào tăng trưởng GDP, coi nhẹ các vấn đề xã hội sẽ cản trở đa số ngườihưởng lợi từ tăng trưởng này Mức thu nhập thấp của số đông công chúng dẫn tớilàm suy yếu dài hạn nhu cầu trong nước, tác động tiêu cực đến sự phát triển toàndiện của lực lượng lao động Cho nên, phát triển xã hội là điều kiện quan trọngnhất cho tăng trưởng kinh tế và phải nhanh chóng chuyển từ chủ trương ưu tiên

Trang 16

phát triển kinh tế so với phát triển xã hội, sang thực hiện chủ trương phát triển hàihòa kinh tế và xã hội.

Thứ hai, từ trong bối cảnh nghèo khó và chủ nghĩa bình quân chiếm ưu thế,cần khuyến khích những người, những vùng có điều kiện làm giàu trước Nhưngkhi kinh tế thị trường đã phát triển lại xuất hiện những nhóm lợi ích khác nhauđược hưởng lợi khác nhau từ thành quả phát triển Tăng trưởng kinh tế đạt đượcbằng sự tổn thất của một số nhóm xã hội và sự tăng tiến của nhóm xã hội khác íthơn, xuất hiện tình trạng phân chia dân cư thành những nhóm có quyền lực lớn vànhững nhóm chịu thua thiệt Mặc dù nhóm dân cư ưu thế có quy mô nhỏ nhưng lạithu lợi lớn hơn, họ có quyền lực trong tay và sở hữu những nguồn lực mạnh Nhómquyền lực này không chỉ có thể bảo vệ tốt lợi ích riêng của họ, mà còn phát huyảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Sự phân cực giàu - nghèo tăng nhanh,khiến cho nhóm người bị thiệt thòi cảm thấy tuyệt vọng, làm yếu cơ sở của sự ổnđịnh xã hội Vì thế, cần phải đặt ra mục tiêu bình đẳng hơn, công bằng hơn

Thứ ba, khi khu vực tư nhân và khu vực kinh tế hỗn hợp tăng lên, khu vựcthuần túy quốc hữu bị thu hẹp lại, thì khoảng cách giàu - nghèo cũng mở rộng Sựchênh lệch thu nhập thực sự giữa dân cư đô thị và nông thôn có khoảng cách lớn.Chính phủ phải sử dụng công cụ phân phối lại như là một đòn bẩy để điều tiết phânphối thu nhập quốc dân, làm thu hẹp khoảng chênh lệch về thu nhập giữa các tầnglớp dân cư

Thứ tư, mới đầu cuộc cải cách kinh tế bắt đầu từ nông thôn vì nông thôn mới

là nơi có đất đai và lao động Càng về sau nông dân lại là đối tượng chịu nhiềuthiệt thòi, quyền về đất đai của họ liên tục bị xâm phạm Trong thời gian dài nôngdân không được tiếp cận các dịch vụ công Do đó, việc chuyển đổi hệ thống thểchế thống nhất giữa nông thôn và thành thị trở nên cấp bách, thúc đẩy sự thu hẹpkhoảng cách nông thôn với thành thị, bảo đảm hài hòa về xã hội

Thứ năm, tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng nếu xuất hiện sự tụt hậu của vănhóa, chính trị, xã hội sẽ cản trở quá trình cải cách hệ thống kinh tế Bởi sự xuốngcấp về đạo đức xã hội, sự thiếu vắng lòng tin và hệ thống an sinh xã hội nghèo nàntạo ra khó khăn lớn, cản trở phát triển

Phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần nâng caohiệu quả quản lý xã hội ở Việt Nam

Phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội góp phần to lớn vàoviệc quản lý, phát triển xã hội Nhờ kinh tế tăng trưởng nhanh, theo hướng bền

Trang 17

vững, Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều nguồn lực, điều kiện tốt hơn trongquản lý, phát triển xã hội, thể hiện trên một số vấn đề lớn sau:

- Kinh tế phát triển, lòng tin của nhân dân được nâng lên, góp phần quantrọng vào việc giữ ổn định xã hội, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,quản lý của Nhà nước, tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhànước, tích cực tham gia cụ thể hóa và tổ chức thực hiện, thúc đẩy trở lại tăngtrưởng kinh tế

- Kinh tế phát triển góp phần giảm các điểm nóng, xung đột xã hội, chínhngười dân chủ động tham gia bảo vệ sự ổn định xã hội, đấu tranh chống lại cácphần tử cơ hội làm mất ổn định môi trường sống, kinh doanh, hình ảnh của đấtnước đối với bên ngoài

- Có điều kiện để Nhà nước thực hiện các chính sách bình đẳng giữa các dântộc, giai tầng xã hội; giữa thành thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc, miền núi;

hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư, quản lý nhà nước về đô thị, nông thôn, vùngdân tộc, miền núi được hoàn thiện theo hướng phù hợp, công bằng

- Có điều kiện thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng tốt hơn,người dân được chăm lo đầy đủ hơn về đời sống vật chất, tinh thần; có điều kiệnhơn về đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, con người có điều kiệnphát triển toàn diện Thực tế việc giải quyết đại dịch Covid- 19 vừa qua cho thấy,nhờ có phát triển kinh tế, nhà nước Việt Nam có nhiều điều kiện hơn để chăm losức khỏe cho người dân, giữ vững ổn định xã hội

- Kinh tế phát triển, Nhà nước có thêm nhiều nguồn lực để thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; an ninh xã hội, an ninh conngười Do vậy, để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ này bền vững, cần phải nhấtquán trong nhận thức và hành động, phải gắn ngay từ đầu, trong từng bước đi vàtừng chính sách phát triển

Bối cảnh thế giới và trong nước thời gian tới có nhiều nhân tố tích cực vàhạn chế, thời cơ và thách thức trong việc phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ở Việt Nam Quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế đi vào chiềusâu, những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra nhiều vấn đề mới cho Việt Nam, phhats triển kinh

tế, văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mặt trái của quá trình toàn cầuhóa, kinh tế thị trường Do đó, trong thời gian tới, Việt Nam cần tập trung vàomột số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền vềphát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong điều kiệnmới Xác định tiến bộ và công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triểnkinh tế, kinh tế chỉ phát triển nhanh và bền vững khi coi trọng phát triển văn hóa,

Trang 18

thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và đặt con người là trung tâm của sự pháttriển.

Tiến bộ và công bằng xã hội cần được tập trung trong phát triển văn hóa, conngười Do đó, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, con người Việt Nam phát triển toàndiện Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh; ngăn chặn sự xuống cấp

về văn hóa, đạo đức; xây dựng các cơ chế, chính sách để gắn kết chặt chẽ xây dựngvăn hóa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển văn hóa với phát triểnkinh tế - xã hội

Hai là, tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt làNghị quyết Đại hội XII về phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội thành các chính sách, pháp luật của Nhà nước, xử lý hài hòa mối quan

hệ giữa phát triển kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị với phát triển vănhóa; khắc phục tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế, không quan tâm đúng mức cácgiá trị văn hóa Thực hiện tốt quan điểm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế

và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước

và từng chính sách phát triển Mỗi chính sách phát triển kinh tế phải hướng tới pháttriển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Quản lý phát triển xã hội phảitập trung vào việc xây dựng mô hình phát triển xã hội hợp lý, không ngừng nângcao đời sống nhân dân

Ba là, quan tâm, giải quyết tốt những mâu thuẫn trong quá trình phát triển,

như: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế phát triển chưacao, nguồn lực còn hạn chế; tăng trưởng kinh tế với xây dựng văn hóa, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội Kinh tế phát triển, đời sống vật chất của nhân dânđược nâng lên, nhưng một số lĩnh vực văn hóa, giáo dục phát triển không tươngxứng; giữa chủ trương phát triển, quản lý xã hội với việc tổ chức thực hiện; giữayêu cầu phát triển xã hội, phát triển con người với thực trạng hạn chế về nguồnnhân lực; giữa thực tiễn thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với công tác lý luận,định hướng phát triển

Bốn là, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồnnhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy sự pháttriển Quán triệt quan điểm tiến bộ và công bằng xã hội trong thực hiện chủ trươngphát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là các khu vựccòn nhiều khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dân tộc thiểu số Việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong việc quản lý,phát triển xã hội Cần có định hướng và những chính sách nhằm phát huy năng lực,bồi dưỡng chuyên môn và nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong lĩnh vực này Bốtrí cán bộ chỉ đạo, quản lý xã hội đúng chuyên môn sở trường, có năng lực, kinhnghiệm Thường xuyên có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ để đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ

Trang 19

Năm là, xây dựng, củng cố, phát huy thiết chế xã hội các cấp trong việc gắnkết phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Các địa phươngquan tâm đầu tư, phải dành quỹ đất và ưu tiên bố trí địa điểm cho việc xây dựng và

mở rộng, phát triển hệ thống thiết chế xã hội các cấp, đồng thời thực hiện chủtrương xã hội hoá Xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ phát triển xã hội,quyền tiếp cận bình đẳng của người dân và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xãhội ở địa phương

Chính quyền các cấp đầu tư đúng mức cho lĩnh vực quản lý, phát triển xãhội,tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiêncứu lý luận để nâng cao khả năng dự báo về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

và định hướng phát triển; xây dựng con người Việt Nam toàn diện, thấm nhuần tinhthần dân tộc, nhân văn, góp phần phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng

xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

6 Các nhóm xã hội đặc thù.

Hệ thống các chính sách xã hội là tập hợp các chính sách xã hội trong lĩnhvực xã hội, hướng vào các vấn đề xã hội, đảm bảo cho sự phát triển kinh te - xã hộicủa một quốc gia ổn định, bền vững Hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam baogồm các nhóm chính sách chủ yếu sau:

Nhóm chính sách tác động vào quá trình phát triển con người

Các chính sách này bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển conngười về mặt thể lực, trí lực và sức khỏe của con người, bao gồm các chính sáchnhư:

 Chính sách dân số: nhằm tạo ra một quy mô dân số, cơ cấu dân số hợp

lý giữa các vùng thành thị, nông thôn và miền núi; giữa các ngành nông, lâm, ngưnghiệp, dịch vụ

 Chính sách giáo dục - đào tạo: nhằm thực hiện các giải pháp hướngvào phát triển con người toàn diện, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực vàbồi dưỡng nhân tài

 Chính sách việc làm: Nhằm thực hiện các giải pháp nhằm tạo môitrường, cơ hội giải quyết việc làm, thu nhập, không ngừng nâng cao mức sốngcho người lao động và dân cư

 Chính sách văn hóa và thể thao: Nhằm thực hiện các giải pháp thảomãn nhu cầu văn hóa, nghệ thuật và thể thao của đông đảo quần chúng nhân dân,biến các thành tựu văn hóa, thể thao thành tài sản chung, nhằm phát triển con

Trang 20

người trên nền tảng văn hóa lành mạnh và các hoạt động thể thao tăng cườngphẩm chất thể lực của con người.

 Chính sách an toàn và vệ sinh lao động: Nhằm thực hiện các giải pháp

và kỹ thuật hướng vào bảo vệ an toàn sức khỏe và tính mạng con người dưới tácđộng của môi trường lao động

 Chính sách về môi trường sống: Nhằm thực hiện các giải pháp, kỳthuật giữ gìn môi trường trong sạch, lành mạnh để bảo vệ sức khỏe và tính mạngcủa cộng đồng dân cư

 Chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân: Nhằm vào thực hiện các giảipháp phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân để bảo vệ sức khỏe và tính mạngcủa nhân dân

4.2 Nhóm chính sách trong lĩnh vực phân phối

Bao gồm các chính sách như liên quan đến phân phối thu nhập trong cácdoanh nghiệp và nền kinh tế, bảo đảm lợi ích vật chất hài hòa giữa những ngườilao động, tầng lớp dân cư và cộng đồng xã hội, bao gồm các chính sách như:

 Chính sách tiền lương: Nhằm đảm bảo nguyên tắc phân phối theo laođộng, kết hợp với các giá trị truyền thống trả lương trong lao động, đảm bảo mứclương tối thiểu đủ cho lao động giản đơn tái sản xuất sức lao động, tiền lươngmang cạnh tranh trên thị trường lao động, điều tiết thu nhập thông qua chính sáchthuế thu nhập họp lý

 Chính sách phúc lợi xã hội: Hướng vào thực hiện các giải pháp đảmbảo phần bổ sung, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao độn và dâncư

 Chính sách bảo hiểm xã hội: Nhằm vào thực hiện giải pháp quản lýrủi ro xã hội, bao gồm nhiều lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tài sảnphương tiện

 Chính sách trợ giúp đặc biệt: Nhằm thực hiện các giải pháp ưu đãingười có công với cách mạng để họ có cuộc sống đầy đủ về vật chất, tinh thần,thể hiện trách nhiệm, đạo lý, truyền thống của dân tộc

 Chính sách trợ giúp xã hội: Gồm các chính sách trợ cấp về vật chất,chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tạo cơ hội sống cho các nhóm đối tượng yếu thếtrong xã hội như: Hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, người bị tai nạn ngoàivùng cư trú (trợ cấp xã hội đột xuất); người không có khả năng chăm sóc bản

Trang 21

thân, bệnh tật hoặc không có nguồn thu nhập, hoàn cảnh khó khăn (trợ cấpthường xuyên); hộ gia gia đình nghèo đói (chính sách xóa đói giảm nghèo) và trợgiúp các đối tượng sa vào tệ nạn xã hội

4.3 Nhóm chính sách tác động vào cơ cấu xã hội

Bao gồm các chính sách điều chỉnh lợi ích giữa các giai cấp, tầng lóp xã hội:công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp, tiểu thương Các điều chỉnh lợi íchnày phải đảm bảo cho thúc đẩy xã hội tiến bộ, củng cố hài hòa giữa các giai cấp,tầng lớp theo mục tiêu của Đảng, Nhà nước ở từng giai đoạn Do vậy nhóm chínhsách này quan tâm đến các nhóm xã hội trong từng tầng lớp xã hội, bao gồm cảchính sách đối với các nhóm xã hội đặc thù, cụ thể:

 Chính sách đối với các nhóm xã hội như: công nhân, nông dân, tríthức, doanh nghiệp, tiểu thương Các chính sách này nhằm tác động vào sự pháttriển, đảm bảo hài hòa quyền lợi giữa các tầng lóp xã hội và sự hòa hợp, ổn định

xã hội

 Chính sách đối với nhóm xã hội đặc thù, hướng vào các giải pháp đảmbảo cho sự phát triển bình đẳng, công bằng đối với các nhóm xã hội nhất định,bao gồm các chính sách như: chính sách đối với thanh niên, trẻ em, người caotuổi, phụ nữ, nhóm dân tộc ít người, người khuyết tật, chính sách tôn giáo, chínhsách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

4.4 Nhóm chính sách tác động đến các hiện tượng tiêu cực và tội phạm trong xã hội.

Các chính sách này nhằm vào các giải pháp phòng và chống tệ nạn xã hội vàtội phạm trong xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển lành mạnh và bao gồmcác chính sách như:

 Chính sách phòng, chống tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, cờ bạc, mêtín dị đoan )

Chương 2: Chính sách xã hội đối với nhóm xã hội đặc thù

Thời gian: 30 giờ

Mục tiêu:

+ Phân tích được nội dung chính sách và dịch vụ cho các nhóm đối tượngđặc thù

Trang 22

+ Quy chế dân chủ ở cơ sở và những ưu tiên với đối tượng và vùng đặc biệtkhó khăn

+ Thực hiện và áp dụng được chính sách cho từng loại đối tượng đặcthù

+ Lập kế hoạch tài chính và tổ chức các hoạt động trợ giúp đối tượng+ Tận tâm với đối tượng đặc thù

+ Tôn trọng quyền được chăm sóc và hỗ trợ của đối tượng xã hộiNội dung:

1 Chính sách giáo dục đào tạo.

1.1 Quan điểm về giáo dục đào tạo.

Khái niệm về giáo dục và đào tạo

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo

Giáo dục, đào tạo có vai trò quan trọng đối với quốc gia dân tộc, nhận thức

rõ vai trò của giáo dục, đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, theo mục tiêu

“ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn quan tâmchú trọng lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quan trọng này Đại hội XII của Đảng đã xác định đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đàotạo; phát triển nguồn nhân lực là một trong những định hướng lớn đề hiện thực hóamục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại Quan điểm về giáo dục đào tạo trong văn kiện Đại hội XII của Đảng làbước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng, được thể hiện ở một số nội

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn

Đại hội XI của Đảng đề ra 12 nhiệm vụ tổng quát trong đó có nhiệm vụ “Đổimới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” Đây là quanđiểm tổng quát, bao trùm của Đảng về giáo dục, đào tạo Đổi mới căn bản toàndiện giáo dục, đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm,

tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiệnbảo đảm thực hiện và sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý nhà nước đến hoạt độngquản trị của các cơ sở giáo dục đào tạo; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Trang 23

nhằm hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Nội dung quan điểm về phát triển nguồn nhân lực được thể hiện xuyên suốttrong văn kiện đại hội XII của Đảng và được xác định là một trong sáu nhiệm vụ

Lần đầu tiên Đảng đưa ra quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục,đào tạo gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhânlực chất lượng cao là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực quốc gia, là nguồnnhân lực đáp ứng các tiêu chí về chất lượng cao và trình độ cao; đồng thời là nguồnlực con người được đào tạo và sử dụng có chất lượng, hiệu quả cao với tổng hợpcác phẩm chất và nhân cách, năng lực và thể lực con ngườiĐại hội XII xác định: “ Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đấtnước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ”, “ Thực hiệnđồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng caođáp ứng yêu cầu kinh tế- xã hội” Trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo lạinguồn nhân lực trong nhà trường, trong sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng caotính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành Phát triển hợp lý, hiệu qủa trường cônglập đối với giáo dục nghề nghiệp, và giáo dục đại học

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn khẳng định giáo dục đàotạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính yếu,được quan tâm, ưu tiên đi trước một bước so với các chính sách phát triển kinh tế-

Kế thừa tư tưởng của các Đại hội Đảng và các nghị quyết về giáo dục đàotạo trước Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định :“Giáo dục đào tạo là quốcsách hàng đầu” Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân.Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong cácchương trình, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội Phát triển giáo dục đào tạo làphát triển nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng của phát triển kinh tế- xã hội

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học

Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộcác yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lựccủa người học” Đây là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Nghị quyết Trungương 8 khóa XI Mục tiêu này thể hiện sự chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệuquả về giáo dục đào tạo, hướng đến xây dựng một nền giáo dục hiện đại, nhân văn

Trang 24

đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo về tổ quốc thời kỳ mở cửa hội nhập

Đổi mới những vấn đề cốt lõi, cấp thiết Đổi mới chương trình, nội dunggiáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, ngànhnghề Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học,hình thức phương pháp thi, kiểm tra

và đánh giá kết quả giáo dục đào tạo bảo đảm trung thực, khách quan Quan điểm này của Đảng thể hiện mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới:Chuyển quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diệnnăng lực và phẩm chất người học, chú trọng dạy chữ, dạy người, dạy nghề Tậptrung dạy cách học khuyến khích tự học, tạo cơ sở đề người học tự cập nhật trithức, kỹ năng, phát triển năng lực Giáo dục đào tạo phải thấm nhuần phương châmhọc đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

Đây là một chủ trương lớn của Đảng, có vai trò quan trọng nhằm phát huynguồn lực con người Bản chất xã hội học tập là môi trường giáo dục trong đó mọingười đều có điều kiện, cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linhhoạt, thích ứng với điều kiện học của từng người, từng tổ chức Xã hội học tập làmột môi trường trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác họctập, cả xã hội trở thành một trường học lớn Học tập suốt đời là quá trình học tập diễn ra trong suốt cuộc đời, dựa trên 4trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để cùng nhau chungsống

Yêu cầu này đòi hỏi quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp,giáo dục đại học gắn với quy hoach phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch phát triểnnguồn nhân lực Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, chotừng ngành, từng lĩnh vực phát triển hợp lý, hiệu quả các loại hình trường ngoàicông lập đối với giáo dục nghề nghiệp và đại học

- Đổi mới căn bản công tác giáo dục, đào tạo

Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đổi mới căn bản công tác giáodục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng cường quyền tự chủ và tráchnhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng” Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cườngtính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai tròcủa hội đồng nhà trường Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và

xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo

Trang 25

- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo

Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo vàcán bộp quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Thực hiện chuẩnhóa đội ngũ nhà giáo theo cấp học và trình độ đào tạo”

Có cơ chế tuyển sinh để tuyển chọn những người thực sự có phẩm chất, nănglực vào ngành sư phạm Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học

và trình độ đào tạo Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao

- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo

Giáo dục, đào tạo có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, anninh, quốc phòng, là nguồn lực trí tuệ trong nguồn lực phát tiển của đất nước Pháttriển giáo dục, đào tạo góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hội nhậpquốc tế, những nội dung, quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giảipháp phát triển giáo dục, đào tạo cần được tuyên truyền, tổ chức thực hiện đểnhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đi vào cuộc sống

1.2 Nội dung chủ yếu của chính sách giáo dục đào tạo.

Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 và tiếptục xác định:

Thứ nhất, về đề mục, các văn kiện lần này, như trong Báo cáo Chính trị tậptrung đề cập đến giáo dục và đào tạo ở mục V, so với Đại hội XII, tên đề mục đãthay cụm từ ” phát triển” bằng cụm từ “ nâng cao” chất lượng nguồn nhân lực vàthêm cụm từ ” phát triển con người” Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội

giai đoạn 2021-2030, vấn đề này được đề cập ở tiểu mục 3, phần V, phương hướng,

nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế- xã hội, với tiêu đề: phát triển nguồn nhânlực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cáchmạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế Điểm mới lần này, trực tiếp đềcập đến giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, trước đây chỉ nhấnmạnh “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”

Thứ hai, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục vàđào tạo, yêu cầu phải “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệuquả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sáchhàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”[4] Trước đây chỉ đề cậpphương hướng chung: “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Văn kiện lần này yêu cầu

Trang 26

xác định rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm xây dựngcon người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ýthức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọnggiáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinhthần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc”[5] Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống vớigiáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xâydựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo thích ứng với Cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triểnnguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao Phát triển đội ngũ chuyên gia,nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhânlực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý

xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người Trước đây chỉ đề cập:“ chú trọngphát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế trithức”, điểm mới lần này nhấn mạnh đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọngdụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mớisáng tạo Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho pháttriển kinh tế - xã hội Đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghềnghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỉ lệ lao động khuvực phi chính thức Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng caonăng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động

Thứ tư, cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, sắp xếplại hệ thống trường học, phát triển hài hoà giữa giáo dục công lập và ngoài cônglập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu

số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách Đa dạng hóa các loại hình đàotạo Đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học trong điều kiện mới, tạo tiền đề

và bảo đảm điều kiện thuận lợi, để mỗi người dân đều được thụ hưởng một cáchcông bằng thành quả của nền giáo dục Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tậpsuốt đời Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục

Thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù hợp với xu thếchung của thế giới Có chính sách đột phá phát triển, nâng cao chất lượng giáo dụcđại học “Có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạmtrở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới”.[6]Thúc đẩyphát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao Xây dựng các cơ chế,chính sách và giải pháp để đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi nghềnghiệp do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động củaCách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 27

Thứ năm, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo,như: thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc Đưa vàochương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu, chútrọng xây dựng nền tảng kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông.Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụngtiếng Anh Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ởtrung học phổ thông Giảm tỉ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộcthiểu số Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đàotạo Nghiên cứu để hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ởcác cấp học.

Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang pháttriển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổchức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua Internet, truyềnhình, các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trườngkết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội ”Đào tạo con người theo hướng

có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năngsống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sángtạo và hội nhập quốc tế”[7]

Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáodục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, “Lấy chấtlượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo Xây dựng và triển khai thực hiện lộ trìnhtiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông, trước hết là đối với học sinh tiểuhọc và trung học cơ sở”[8] Đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các

cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của ViệtNam trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội và các giá trị cơ bản của định hướng xãhội chủ nghĩa Nhấn mạnh hơn yêu cầu thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hộitrong giáo dục và đào tạo Tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ một số trường phổthông tại các đô thị lớn, các nơi có điều kiện; thí điểm cơ chế cho thuê một số cơ

sở giáo dục sẵn có theo nguyên tắc bảo đảm tất cả học sinh được đến trường

Thứ bảy, tiếp tục hoàn thiện các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạotheo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ,nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý và quản trị nghiệp vụchuyên môn trong giáo dục và đào tạo, từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tựchủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục và đào tạo Xây dựngmôi trường giáo dục lành mạnh, kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, ngăn ngừa

và xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục và đào tạo Hoàn thiện và thực hiện ổnđịnh các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo, thi tốtnghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và đàotạo nghề Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc

tế về giáo dục và đào tạo

Trang 28

Thứ tám, đặt ra mục tiêu Việt Nam tham gia thị trường đào tạo nhânlực quốc tế, vì vậy yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng caochất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sởgiáo dục và đào tạo ‘Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu, triểnkhai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâmnghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh“[9] Thực hiện đào tạo theonhu cầu của thị trường lao động Cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xãhội, cần đổi mới mạnh mẽ chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt, sắp xếp, đổi mới căn bản hệ thốngcác cơ sở đào tạo sư phạm, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp

để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiêntiến trong khu vực

Văn bản quy định hiện hành

lực Luật

Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013 4 01/01/201

Nghị định

Nghị định 77/2021/NĐ-CP quy định về chế độ phụ cấp 01/08/202

Trang 29

thâm niên nhà giáo 1

Nghị định 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ

sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập

15/05/2021

Nghị định 04/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực giáo dục

10/03/2021

Nghị định 141/2020/NĐ-CP quy định về chế độ cử tuyển

đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số

23/01/2021

Nghị định 116/2020/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ

tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm 15/11/2020

Nghị định 110/2020/NĐ-CP quy định về chế độ khen

thưởng đối với học sinh, sinh viên, học viên đoạt giải trong các

kỳ thi quốc gia, quốc tế

01/11/2020

Nghị định 105/2020/NĐ-CP quy định về chính sách phát

Nghị định 84/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục 0 01/09/202Nghị định 71/2020/NĐ-CP quy định về lộ trình thực hiện

nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu

học, trung học cơ sở

18/08/2020

Nghị định 14/2020/NĐ-CP quy định về chế độ trợ cấp đối

với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm

niên trong lương hưu

15/03/2020

Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo

dục đại học sửa đổi

15/02/2020

Nghị định 15/2019/NĐ-CP hướng dẫn Luật giáo dục nghề

nghiệp

20/03/2019

Nghị định 145/2018/NĐ-CP bổ sung Nghị định

86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với

cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách

miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016

đến năm học 2020-2021

Còn hiệu

14/10/2021Nghị định 81/2021/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản Sẽ có hiệu

Trang 30

lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc

dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá

dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo

dục đại học sửa đổi

15/02/2020

Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư

của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục

01/08/2018

Nghị định 49/2018/NĐ-CP quy định về kiểm định chất

lượng giáo dục nghề nghiệp

15/05/2018

Nghị định 111/2017/NĐ-CP quy định về tổ chức đào tạo

thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe 20/11/2017

Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo

dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học

đường

05/09/2017

Nghị định 69/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo

25/05/2017

Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên

tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh

viên dân tộc thiểu số rất ít người

01/07/2017

Nghị định 46/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư

và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục

21/04/2017

Nghị định 143/2016/NĐ-CP quy định điều kiện đầu tư và

hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

14/10/2016

Nghị định 116/2016/NĐ-CP Quy định chính sách hỗ trợ

học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn

01/09/2016

Nghị định 55/2016/NĐ-CP điều chỉnh mức lương hưu, trợ

cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng và trợ cấp đối với giáo

01/08/2016

Trang 31

viên mầm non có thời gian làm việc trước năm 1995

Nghị định 113/2015/NĐ-CP quy định phụ cấp đặc thù,

phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng

nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo

dục nghề nghiệp công lập

01/01/2016

Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản

lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc

dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ

năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021

01/12/2015

Nghị định 81/2021/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản

lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc

dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá

dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Nghị định 11/2015/NĐ-CP Quy định về giáo dục thể chất

và hoạt động thể thao trong nhà trường

01/07/2015

Nghị định 99/2014/NĐ-CP quy định việc đầu tư phát triển

tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ

trong cơ sở giáo dục đại học

15/12/2014

Nghị định 59/2014/NĐ-CP sửa đổi Nghị định

69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với

hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể

thao, môi trường

01/08/2014

Nghị định 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù

chữ

15/05/2014

Nghị định 13/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật giáo dục quốc

phòng và an ninh

10/04/2014

Nghị định 186/2013/NĐ-CP về Đại học quốc gia 4 01/01/201Nghị định 143/2013/NĐ-CP quy định về bồi hoàn học 10/12/201

Trang 32

bổng và chi phí đào tạo 3

Nghị định 141/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật giáo dục đại

học

10/12/2013

Nghị định 124/2013/NĐ-CP quy định chính sách ưu đãi,

hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Nghị định 42/2013/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động thanh

tra giáo dục

01/07/2013

Nghị định 125/2011/NĐ-CP quy định về trường của cơ

quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực

lượng vũ trang nhân dân

15/02/2012

Nghị định 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng

nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ

thông và trung tâm giáo dục thường xuyên

31/08/2010

Nghị định 139/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Giáo dục và

Nghị định 61/2006/NĐ-CP về chính sách đối với nhà giáo,

cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

13/07/2006

Thông tư

Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học

sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông

05/09/2021

Thông tư 56/2021/TT-BTC hướng dẫn nội dung chi, mức

chi cho hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận

đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo

dục phổ thông và hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối

với cơ sở giáo dục thường xuyên

01/09/2021

Thông tư 05/2021/TT-BLĐTBXH quy định về quy chế

tuyển sinh và xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp,

trình độ cao đẳng

22/08/2021

Thông tư 20/2021/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Điều 3

Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ

thông

16/08/2021

Trang 33

Thông tư 19/2021/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục

phổ thông môn Ngoại ngữ 1 Tiếng Nga, Tiếng Nhật, Tiếng Pháp,

Tiếng Trung Quốc

16/08/2021

Thông tư 21/2021/TT-BGDĐT sửa đổi Quy chế đánh giá,

xếp loại học viên theo học Chương trình giáo dục thường xuyên

cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông kèm theo Quyết

định 02/2007/QĐ-BGDĐT và Thông tư 26/2014/TT-BGDĐT

16/08/2021

Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và

đào tạo trình độ tiến sĩ

15/08/2021

Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT quy định về chuẩn chương

trình đào tạo; xây dựng, thẩm định và chương trình đào tạo các

trình độ của giáo dục đại học

07/08/2021

Thông tư 12/2021/TT-BGDĐT về chương trình và thực

hiện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có bằng cử nhân

chuyên ngành phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên trung

học cơ sở, trung học phổ thông

22/05/2021

2 Chính sách lao động việc làm

Một số khái niệm và phạm trù có liên quan.

Người lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiềukhía cạnh Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, baogồm toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường cả về thể lực lẫn trí lực (không bịkhiếm khuyết, dị tật bẩm sinh)

Nguồn lao động với tư cách là nguồn lực cách mạng nhất, quan trọng nhấtquyết định tới sự phát triển kinh tế, xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồmnhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Nguồn lao động được xem xét trên hai góc độ số lượng và chất lượng

Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như quy mô

và tốc độ phát triển nguồn lao động

Chất lượng nguồn lao động được xem xét trên các mặt: Sức khoẻ, trình độvăn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất

Phương pháp xác định nguồn lao động

Trang 34

Việc xác điịnh quy mô, cơ cấu nguồn lao động được thực hiện thông qua cáccuộc tổng điều tra dân số hoặc điều tra thực trạng lao động và việc làm hàng năm.Phương pháp xác định cũng được quy định cụ thể và áp dụng cho từng thời kỳ.

Dân số trong độ tuổi lao động.

Để có thể sống và phát triển, con người phải tiêu dùng một lượng của cảinhất định dưới nhiều dạng như: lương thực, thực phẩm, vải vóc, nhà cửa, phươngtiện thông tin liên lạc những tư liệu sinh hoạt này không phải là quà tặng của tựnhiên mà ro con người sáng tạo ra thông qua quá trình lao động Tuy vậy khôngphải toàn bộ dân số tham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ một bộ phận có đủ sứckhoẻ và trí tuệ mà thôi Khả năng đó chỉ gắn với một giới hạn tuổi nhất định, gọi là

"độ tuổi lao động" Một số nước quy định "độ tuổi lao động" đối với nam từ 15 đến

64 tuổi, một số nước khác lại từ 15 đến 59 tuổi, thậm chí từ 10 đến 59 tuổi tuỳ theotrình độ phát triển về thể lực cũng như trí lực của người dân mỗi nước và nhu cầu

về lao động của nước họ Đối với lao động nữ giới hạn trên về độ tuổi lao độngthường ngắn hơn Hiện nay bộ luật Lao động của nước Việt nam ban hành năm

1994 quy định về "độ tuổi lao động" nam từ đủ 15 đến 60 tuổi, nữ đủ từ 15 đến 55tuổi Tuy nhiên không phải mọi người trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạtđộng kinh tế Việc quy đổi người trên và dưới độ tuổi lao động thành người laođộng như sau: cứ hai người trên tuổi lao động được tính bằng một người lao động,

ba người dưới độ tuổi lao động được tính bằng một người trong độ tuổi lao động

Dân số hoạt động kinh tế.

Trong nghiên cứu nguồn lao động, các thuật ngữ sau đây được sử dụng theonghĩa tương tự: Lực lượng lao động, dân số làm việc và "dân số hoạt động kinh tế"thông thường, người ta phải chia dân số thành hai khối lớn: Một khối là nhữngngười tích cực với các hoạt động kinh tế Khuyến nghị của Liên hợp quốc đối vớicác cuộc điều tra dân số, hai bộ phận này được tách bạch như sau: Dân số hoạtđộng kinh tế bao gồm tất cả những người không phân biệt giới, có thể cung cấp sứclao động cho các hoạt động sản xuất ra các hàng hoá kinh tế hoặc các hoạt độngtrong lĩnh vực hoạt động dân sự hopặc những người hoạt động trong lĩnh vực vũtrang; khi phân tích số liệu, nhóm người làm việc trong lĩnh vực vũ trang có thểtách riêng không tính vào "lực lượng lao động" Như thế, lực lượng nhân sự baogồm:

- Những người đang có việc làm: Là những người làm việc trong khoảngthời gian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả cônghoặc tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặcngừng việc tạm thời do thời tiết xấu, trục trặc dây truyền sản xuất

Trang 35

- Không có việc làm, thất nghiệp: Gồm những người trong khoảng thời gianxác định của cuộc điều tra không có việc làm Nó cũng bao gồm cả những ngườitrước đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không

có thoả thuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên,hoặc họ tạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ởnhững nơi mà cơ hội kiếm việc làm rất hạn hẹp Khối thất nghiệp cũng bao gồmnhững người không có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cựckiếm việc làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ

Dân số không hoạt động kinh tế.

Khối này bao gồm các nhóm sau:

Người làm việc nhà: Bao gồm những người không phân biệt giới tính, khôngthuộc dân số hoạt động kinh tế, tham gia vào các hoạt động trong phạm vi gia đìnhcủa chính họ Ví dụ người làm việc nội trợ hoặc trông nom nhà cửa con cái (nhữngngười được thuê giúp việc nhà có trả công thì lại được coi là có hoạt động kinh tế)

- Học sinh, sinh viên: Bao gồm tất cả mọi người không phân biệt giới tínhđang tham gia học tập thường xuyên, không kể trường công trường tư hay các khoáhuấn luyện ở bất kỳ cấp giáo dục nào

- Người hưởng lợi tức, hưởng thu nhập mà không làm việc Bao gồm tất cảnhững người không phân biệt giới tính, không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế,nhưng thu nhập do đầu tư, do có tài sản cho thuê, do tiền bản quyền hay phát minhsáng chế, tiền tác giả, tiền lương hưu do các năm làm việc trước đó

- Các người khác: Bao gồm tất cả những người khác không phân biệt giớitính, không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế nhưng được trợ cấp hoặc đượcnhận các khoản hỗ trợ có tính tư nhân khác và những người không thuộc bất kỳmột diện nào trong các diện kể trên, chẳng hạn như trẻ em không hoặc chưa đi học

Người thất nghiệp.

Là người có tuổi nằm trong tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhucầu lao động nhưng không có việc làm trong thời điểm xác định của cuộc điều tra

Việc làm.

Việc làm, phân loại việc làm.

Nói đến việc làm là nói đến vai trò của con người trong sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội Để đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống, người lao động phảithông qua hoạt động sản xuất, chính là người lao động có việc làm Tuy vậy khái

Trang 36

niệm về việc làm lại có sự khác nhau, tuỳ vào từng thời kỳ, từng giai đoạn pháttriển kinh tế - xã hội.

Trước đây trong chế độ quan liêu bao cấp, ở nước ta thì việc làm được xem

là những hoạt động lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và cácđơn vị kinh tế tập thể Tức là người lao động phải nằm trong biên chế nhà nước thìmới được xem là người có việc làm

Tuy nhiên khi nước ta chuyển đổi cơ chế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơchế thị trường có sự điều tiết và định hướng của Nhà nước thì quan niệm việc làm

có thay đổi cho phù hợp hơn với cơ chế mới Ngày nay Nhà nước ta quy định rất rõ

về việc làm trong bộ luật Lao động là: "Việc làm là những hoạt động có ích không

bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động" Vậy, theo quanniệm mới này thì tất cả các hoạt động lao động trong mọi thành phần kinh tế,không bị pháp luật cấm và tạo ra thu nhập từ hoạt động đó được coi là việc làm

Việc làm là hoạt động tạo ra giá trị, của cải vật chất chỉ thông qua hoạt độngsản xuất con người mới có điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống

"Lao động là nguồn gốc của mọi của cải lao động là điều kiện cơ bản đầu tiêncủa toàn bộ đời sống loài người." Ta có thể thấy việc làm được thể hiện dưới cácdạng sau:

- Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhấthoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác

- Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian nhấtsau công việc chính

- Việc làm hợp lý: Là công việc mà người thực hiện nhận thấy phù hợp vớiđiều kiện và năng lực của bản thân

- Việc làm hiệu quả: Là công việc mà đem lại hiệu quả cao nhất đối vớingười lao động

Cũng từ cách phân chia như vậy, người ta phân chia:

- Việc làm đầy đủ: Là những người có việc làm ổn định và sử dụng hết thờigian làm việc theo mức chuẩn quy định có thu nhậo cao từ việc làm đó

- Thiếu việc làm: Bao gồm những người có việc làm bấp bênh (không ổnđịnh) hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ tham giakhông đầy đủ thời gian làm trong ngày, trong năm và hưởng thu nhập rất thấpkhông đủ sống từ việc làm đó nhưng không thể kiếm được việc làm khác

- Thất nghiệp: Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định: người thấtnghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế mà trong tuần lễtrước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc

Trang 37

2.1 Quan điểm về lao động việc làm Khái niệm về Lao động - Việc làm Khái niệm về Lao động

Khái niệm về việc làm Chính sách của Nhà nước về lao động

1 Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động,người làm việc không có quan hệ lao động khuyến khích những thỏa thuận bảođảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật

về lao động

2 Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quản lýlao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xãhội

3 Tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm,dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiềulao động; áp dụng một số quy định của Bộ luật này đối với người làm việc không

5 Có chính sách phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức kếtnối cung, cầu lao động

6 Thúc đẩy người lao động và người sử dụng lao động đối thoại, thươnglượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định

7 Bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hộinhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi,lao động chưa thành niên

2.2 Biện pháp tổ chức thực hiện Các vn bản về Lao động vệc làm

Bộ luật

Trang 38

Bộ luật Lao động 2019 1 01/01/202

Luật

6

Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Nghị định

Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động

về điều kiện lao động và quan hệ lao động

01/02/2021

Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu 01/01/202

1Nghị định 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập

của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

20/12/2020

hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người

lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

15/4/2020

Nghị định 14/2020/NĐ-CP quy định về chế độ trợ cấp đối

với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm

15/3/2020

Ngày đăng: 20/08/2022, 05:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w