1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bai tp trit hc

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Trí Thức Học
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 29,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phân kỳ lịch sử bằng “hình thái kinh tế xã hội.”Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một

Trang 1

MỤC LỤC

1 Sự phân kỳ lịch sử bằng “hình thái kinh tế xã hội.” 1

2 Sự phân kỳ lịch sử bằng “nền văn minh.” 3

3 Sự phân kỳ lịch sử bằng “văn hóa” 5

4 Liên hệ ở Việt Nam 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

I Sự phân kỳ lịch sử bằng “hình thái kinh tế xã hội.”

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng

để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau

+ Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh

tế - xã hội Hinh thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuât khác nhau + Các quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: Các quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Đây là những quan hệ cơ bản, ban đầu tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác Mỗi hình thái kinh tế

-xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng của nó

+ Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó

Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Học thuyết cơ sở để phân chia thời đại lịch sử hay phân kỳ lịch sử chỉ ra rằng: Xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động,

với các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác, là

Trang 1

Trang 3

tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội, phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học.

C Mác đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, làm nổi bật quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả Điều này chỉ rõ phương pháp nhận thức xã hội của Mác là gán toàn bộ sự phong phú của các quan hệ xã hội vào quan hệ sản xuất, đồng thời xem xét những quan hệ sản xuất để giải thích sự vận động của các hình thái kinh tế xã hội - hai mặt này hợp thành phương thức sản xuất nền tảng vật chất của mọi hình thái kinh tế xã hội

Lịch sử xã hội loài người đã ghi nhận 5 hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao: hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa

+ Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy: là hình thái kinh tế xã

hội đầu tiên và sơ khai nhất trong lịch sử loài người, là xã hội chưa có giai cấp,

Nhà nước và pháp luật do đó quan hệ sản xuất là quan hệ bình đẳng, cùng làm

cùng hưởng thụ.

+ Hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ: Khi chế độ thị tộc tồn tại trong

công xã nguyên thủy tan rã và hình thành nên xã hội có Nhà nước, và cuộc cách mạng xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người đã hình thành nên hình thái kinh tế

xã hội chiếm hữu nô lệ Quan hệ sản xuất trong gia đoạn này được đặc trưng

bởi chế độ chiếm hữu tư nhân của chủ nô đối với toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất và cả người sản xuất là nô lệ Nô lệ phải hoàn toàn phục tùng và trở thành

“những công cụ biết nói”

+ Hình thái kinh tế - xã hội phong kiến: Giai cấp thống trị mới trong hình

thái này là giai cấp quý tộc – địa chủ, giai cấp bị trị là nông nô Phương pháp bóc lột sức lao động trong xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng hình thức bóc lột địa tô – người nông dân được giao đất đai và canh tác trên thửa ruộng của mình, đến kỳ hạn nộp tô thuế cho địa chủ

Trang 4

+ Hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa: Quyền sở hữu tư nhân và

quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ và coi như quyền thiêng liêng của con người Mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế Gắn với nền sản xuất công nghiệp có năng suất lao động cao Bản chất sự “bóc lột” nằm ở giá trị thặng dư mà sức lao động tạo ra khi các nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động

+ Hình thái KTXH cộng sản chủ nghĩa: Là hình thái phát triển cao nhất của

xã hội, có quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích

ứng với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình

độ cao hơn cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản, có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân với trình độ xã hội hóa ngày càng cao

Như vậy có thể thấy, quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội này với xã hội khác Những quan hệ sản xuất tạo thành “bộ xương” của hình thái kinh tế xã hội, nó hợp thành cơ sở hạ tầng của xã hội.

2 Sự phân kỳ lịch sử bằng “nền văn minh.”

Trong mỗi thời đại, xã hội loài người nổi lên một số vùng mà ở đó xã hội cư dân ở điểm tập hợp được các giá trị tiên tiến, vượt trội trong nhiều lĩnh vực – từ

đó hình thành nền văn minh

Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, điển hình là A Tốp-flơ Tốp- flơ đã tuyệt đối hoá vai trò của nhân tố vật

chất, kỹ thuật trong sự phát triển của xã hội loài người, lấy nó làm tiêu chí phân

kỳ lịch sử, chia lịch sử loài người thành ba thời kỳ tương ứng với ba nền văn minh Trong đó, mỗi một thời kỳ lại có những nét đặc trưng trong tư duy, lối sống, cụ thể như sau:

– Văn minh Nông nghiệp hay tiền công nghiệp (cuộc cách mạng khoa học

công nghệ lần thứ nhất) từ 8000 TCN tới thế kỷ XVII

Trang 3

Trang 5

Giai đoạn phát triển của xã hội loài người, sau khi xuất hiện sản xuất nông nghiệp, loài người thoát khỏi thời kỳ lượm hái và bắt đầu sản xuất Trên cơ sở không ngừng phát triển nông nghiệp, loài người đã sáng tạo ra và tích lũy được tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần

Đặc trưng của văn minh nông nghiệp là kinh tế tự cung tự cấp, là sự lệ thuộc

vào điều kiện tự nhiên, mối liên hệ huyết thống và mối liên hệ giữa cá nhân và

cộng đồng rất mật thiết Quan hệ người với người mang tính truyền thống: “Ta

về ta tắm ao ta – Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Có thể nói, nền văn minh

nông nghiệp là văn minh duy tình, coi trọng đời sống tình cảm tâm linh và có

lực lượng sản xuất lạc hậu thủ công

– Văn minh Công nghiệp (cách mạng khoa học công nghệ lần thứ hai) từ

cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX

Nền văn minh công nghiệp vào nửa đầu thế kỷ XX đã được tiếp thêm xung lượng mới nhờ cuộc cách mạng thông tin-công nghệ với những phát minh sáng chế ra các thiết bị truyền thông mới bằng điện và điện tử (điện thoại, điện báo, rađiô, phát thanh, truyền hình, ) trên cơ sở của quá trình điện khí hoá trong công nghệ Trong nền văn minh công nghiệp, với các quá trình cơ khí hoá và điện khí hoá, con người đã tiến đến khai thác và sử dụng nguồn năng lượng từ các nguyên liệu tự nhiên không phục hồi được

Trên cơ sở của chất lượng thông tin mới và trên cái nền của công nghệ mới

-cơ khí hoá và điện khí hoá, được thực hiện qua các quá trình công nghiệp hoá Nền văn minh công nghiệp đã làm đảo lộn cuộc sống xã hội vốn bình lặng, êm đềm ở các làng quê trong nền văn minh nông nghiệp thành một guồng máy vĩ đại quay không ngừng, trong đó mỗi con người chỉ là một cái ốc, cái vít, một phụ tùng nhỏ Cái xã hội văn minh công nghiệp đó đã tồn tại và phát triển theo những nguyên tắc của một cỗ máy, một công xưởng, đó là tiêu chuẩn hoá, chuyên môn hoá, đồng bộ hoá, tập trung hoá tối đa hoá và tập quyền hoá

Trang 6

Đặc trưng của văn minh công nghiệp là sức máy thay sức người thông qua phân công lao động, cơ giới hoá, điện khí hoá, chuyên môn hoá, vì vậy năng suất cao Kinh tế là kinh tế công nghiệp, thương mại Như thế, nền văn minh

công nghiệp thường nghiêng về duy lý, thiên về tư duy hơn là tình cảm và có

lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên máy móc công nghiệp.

– Văn minh Hậu công nghiệp hay văn minh trí tuệ (cuộc cách mạng công

nghệ lần thứ ba) từ giữa thế kỷ XX tới nay

Trong thời kỳ này, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội -nhân văn ) do con người tạo ra và thông qua con người tác động trở lại đời sống kinh tế, xã hội Trong đó, đặc trưng của văn minh tri thức - trí tuệ là điều khiển học thông qua tự động hoá, chương trình hoá, tạo ra sản phẩm có tỉ trọng tri thức trí tuệ trong sản phẩm

đó cao Động lực phát triển là những bước đại nhảy vọt về năng suất lao động thông qua sức sáng tạo “thần kỳ” của trí tuệ (của lao động trí óc đầy phiêu lưu, nhưng cũng đầy sáng tạo) Đời sống vật chất cao, xã hội thoáng cởi mở, con người xa rời truyền thống để sống độc lập hơn, tự do hơn

3 Sự phân kỳ lịch sử bằng “văn hóa”.

Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo và lưu giữ trong quá trình lịch sử Như vậy có thể hiểu văn hoá là lĩnh vực rộng lớn bao gồm toàn bộ hoạt động và sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người từ trước đến nay Nói đến văn hóa là nói đến sự trừu tượng hóa trình độ

phát triển toàn diện những năng lực tinh thần của người (cá nhân, cộng đồng, xã hội), là nói đến trình độ phát triển "bản chất người"

Khái niệm văn hoá vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau Các định nghĩa đó được hình thành hoặc theo lối duy danh định nghĩa, hoặc là trên cơ sở các phương pháp tiếp cận khác nhau (như phương pháp nghiên cứu hệ thống - cấu trúc, hay phương pháp nghiên cứu chức năng của văn hóa) Văn hóa không được Mác đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, độc lập Nhưng toàn bộ tư

Trang 5

Trang 7

tưởng của Mác về vấn đề này tự nó lại được khái quát lên và thể hiện ra trong hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng của Mác về con người và xã hội Trong triết học Mác, bản chất của văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất của con người và xã hội

Văn hóa là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau như ngôn ngữ, văn chương, kiến trúc, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng, tôn

giáo…Tuy nhiên, người ta có thể chia ảnh hưởng tôn giáo đến văn hoá theo các vùng khác nhau: văn hoá Thiên Chúa giáo, văn hoá Phật giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá Nho giáo… Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo không chỉ có quan hệ mật thiết với văn hoá mà còn có tác động mạnh mẽ đến các thành tố khác của văn hoá Cùng với các lĩnh vực văn hóa khác thì tôn giáo đã tạo ra và

tích lũy các phương thức tồn tại của con người trong lĩnh vực hoạt động vật chất, cũng như trong lĩnh vực hoạt động tinh thần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Sau khi trở thành một bộ phận của chỉnh thể văn hóa, tôn giáo tích hợp những hiện tượng nghệ thuật, đạo đức, triết học, khoa học để xác định rõ khuôn khổ của mình và kế thừa các truyền thống thần thoại Các truyền thống này được tái hiện rõ nét trong thần thoại tôn giáo

Nhà triết học và thần học Tin lành giáo, P Tilich (1886-1965) trong tác phẩm Thần học văn hóa viết rằng: “Tôn giáo là sự quan tâm tối cao…Tôn giáo là thực thể, là cơ sở và là chiều sâu của đời sống tinh thần của con người” Tôn giáo nuôi dưỡng văn hóa và đem lại ý nghĩa cho văn hóa Tôn giáo là yếu tố của văn hóa, nên các hình thức của tôn giáo cũng tuỳ thuộc vào tình hình chung của văn hoá

Có thể nói, Tôn giáo là một hiện tượng, một bộ phận của văn hoá, là sự sáng tạo của con người, để lại giá trị về tinh thần và vật chất trong đời sống con người Tôn giáo có vai trò nhất định trong từng thời kỳ lịch sử của con người, tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, văn hoá tôn giáo có ít nhiều ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ văn hoá xã hội, cũng như các lĩnh vực riêng biệt của văn hoá

Trang 9

4 Liên hệ ở Việt Nam.

Bất kỳ lịch sử của một dân tộc nào, của một địa phương nào hay của một chuyên ngành đều có những mốc quan trọng, đánh dấu sự ra đời, hình thành và phát triển Với những thay đổi và thăng trầm, những đặc điểm, những tính chất riêng trong quá trình đi lên của nó Hiện nay trên thế giới có nhiều trường phái

sử học, mỗi trường phái có những cách phân kì lịch sử khác nhau, tuỳ quan điểm khác nhau mà có những quan niệm phương pháp phân chia các giai đoạn lịch sử khác nhau Dựa vào chủ nghĩa Mác Lênin, sự phân kỳ lịch sử ở Việt Nam diễn

ra chủ yếu trên cơ sở quan niệm khoa học và những nguyên tắc của học thuyết

về hình thái kinh tế – xã hội

Sự phát triển của lịch sử nước ta ngoài những nhân tố bên trong là chính còn chịu nhiều tác động từ bên ngoài Từ xa xưa, Việt Nam là đối tượng xâm lược và đô hộ của các triều đại phương Bắc Vào cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ

XX , Việt Nam lại là đối tượng xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp Như vậy, khi phân kỳ lịch sử bên cạnh yếu tố phát triển nội tại cần tính tới các yếu tố tác động ngoại lai Nếu chúng ta biết rằng các triều đại phương Bắc hay thực dân Pháp khi xâm lược và đô hộ nước ta đều đang tồn tại trong những hình thái kinh

tế – xã hội cao hơn thì chúng ta không thể không xem ảnh hưởng của các nước

đó đối với sự phát triển của nước ta là một thứ tiêu chí để phân kỳ lịch sử Chẳng hạn, giới sử học nước ta đã từng hội thảo về vấn đề “Việt Nam có trãi qua thời chiếm hữu nô lệ hay không, nếu không thì nội dung kinh tế- xã hội của thời

cổ đại là gì ”; hoặc “cuộc xâm lược của thực dân Pháp trong những năm 1858,

1884 có phải là mốc mở đầu thời cận đại của lịch sử Việt Nam không ”… Tất nhiên ở đây là vấn đề đã đặt ra ở trên, phân kỳ lịch sử dân tộc không thể rập khuôn phân kỳ lịch sử thế giới, mà phải xuất phát từ thực tiễn phát triển lịch sử của dân tộc mình Hiện nay chúng ta tạm thời phân chia lịch sử dân tộc ra các thời kỳ :

- Thời công xã nguyên thuỷ – bình minh của lịch sử dân tộc

Trang 10

- Thời dựng nước và giữ nước : Thời Văn lang , Âu lạc

- Thời Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộc

- Thời kỳ phong kiến dân tộc độc lập, từ thế kỳ X – giữa thế kỷ XIX

- Thời kỳ Pháp thuộc và đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc( 1858-1945 )

- Kỷ nguyên độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội, từ Cách mạng Tháng Tám

1945 đến nay

Đi vào phân chia giai đoạn của từng thời đại, nhất là ở thời cận đại và hiện đại của nước ta, lại cần suy xét nhiều hơn Cho đến nay, chúng ta vẫn phân kỳ thời cận đại theo lịch sử phong trào cách mạng, tức là lấy phong trào cách mạng làm tiêu chí Đã từng có những ý kiến khác nhau về phân kỳ lịch sử các thời đại nầy nhưng không xuất hiện một tiêu chí nào khác

4.1 Phân kỳ trong lịch sử “ Việt Nam Cận đại “

Đối với lịch sử cận đại thế giới thì thời kỳ này là thời kỳ ra đời phát triển

và suy vong của chủ nghĩa tư bản, là thời kỳ của các cuộc cách mạng tư sản Nhưng đối với Việt Nam và các nước Á, Phi thi đây là thời kỳ đấu tranh chống xâm lược và giải phóng dân tộc

Hiện nay chúng ta không gọi là thời kỳ cận đại Việt Nam theo cách gọi chung của lịch sử thế giới, chúng ta gọi là thời kỳ Pháp thuộc và đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc 1958-1945 Do điều kiện cụ thể của lịch sử Việt Nam, đất nước ta từ 1958 bị thực dân Pháp xâm lược và sau đó biến nước ta thành thuộc địa của Pháp Trong suốt quá trình vơ vét thuộc địa thực dân Pháp

đã du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, đồng thời duy trì phưong thức bóc lột phong kiến để bóc lột nhân dân ta Vì vậy đây có thể coi là thời kỳ mà xã hội Việt Nam mang tính chất phong kiến nưa thuộc địa, mang những nét tính chất hoàn toàn khác so với thời kỳ cận đại của lịch sử thế giới

Trang 9

Ngày đăng: 16/08/2022, 15:52

w