Từ đó, Mạnh Tử đưa ra học thuyết “vạn vật đều có đủ trong ta, nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết được tất cả” nghĩa là không phải tìm cái gì ở thế giới khách quan mà chỉ cần tu dưỡng
Trang 1Ôn tập lịch sử triết học Câu 1: Tư tưởng cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay:
Tư tưởng cơ bản của Nho giáo:
Tư tưởng nhân nghĩa:
- Theo Khổng Tử, đức nhân có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa chính là thương người, là nhân đạo đối với con người Nhân cũng là đức hạnh của người Quân tử
- Theo Khổng Tử, có 6 nội dung chính:
• Yêu người - “ái nhân” Khổng tử nói Nhân là thương người, người nào thật lòng thương người khác thì có thể làm tròn nghĩa vụ của mình
• Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”
• Mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt, mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”
• Bắt mình phải làm theo lễ (“Khắc kỷ, phục lễ vi nhân”)
• Cung, khoan, tín, mẫn, huệ: Hình tượng-độ lượng-giữ lòng tin, lời nói đi đôi với việc làm-hoạt bát, siêng năng-sẵn sàng giúp đỡ người khác
• Nhân- Trí- Dũng: Nhân-phân biệt thật giả đúng sai- có sức giúp người
- Đặc biệt là đối với tầng lớp Quân tử Ông cho rằng, đối với người làm chính trị quản lý xã hội, muốn có đức nhân phải có năm điều:
• Một là kính trọng dân
• Hai là khoan dung độ lượng với dân
• Ba là giữ lòng tin với dân
• Bốn là mẫn cán (tận tụy trong công việc.)
• Năm là đem lòng nhân ái đối xử với dân
- Khổng Tử cho rằng để đạt được đức nhân phải chủ trương dùng lễ để duy trì xã hội
• Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế, lễ;
• Lễ còn là kỷ cương, trật tự xã hội, là những quy định có tính pháp luật đòi hỏi mọi người phải chấp hành
• Lễ là những chuẩn mực đạo đức Ai làm trái những điều quy định đó là trái với đạo đức Như vậy lễ là biện pháp để đạt đến đức nhân
- Mạnh Tử cho rằng bản chất con người vốn là thiện , tính thiện đó là do thiên phú chứ không phải là
do con người lựa chọn Nếu con người biết giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng mạnh thêm, nếu không biết giữ gìn sẽ làm cho nó ngày càng mai một đi thì con người càng thêm nhỏ nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú
- Từ đó Mạnh Tử kết luận : bản chất con người là thiện nhưng con người hiện thực có thể là ác Đó
là do xh rối loạn , luân thường đạo lí bị đảo lộn Cho nên để thiết lập quốc gia thái bình thịnh trị thì phải trả lại cho con người tính thiện bằng đường lối chính trị lấy nhân nghĩa làm gốc
Tư tưởng về chính trị xã hội:
- Khổng Tử cũng như các nhà nho đều có hoài bão về một xã hội có kỷ cương Thời đại Không Tử là thời đại xã hội rối loạn vì vậy điều căn bản của việc làm chính trị là xây dựng xã hội chính danh để mỗi người, mỗi đẳng cấp xác định rõ danh phận của mình mà thực hiện
- Quy định rõ danh phận của mỗi người trong xã hội
- Chính danh gồm có hai bộ phận danh và thực:
• Danh là tên gọi, là địa vị, là thứ bậc của con người
• Thực là quyền lợi mà con người được hưởng phù hợp với danh Khổng Tử cho rằng danh và
thực phải thống nhất với nhau
- Từ đó ông chia xã hội thành năm mối quan hệ gọi là ngũ luân:
• Vua – tôi (Quân thần): vua nhân – tôi trung
• Cha – Con (phụ tử): Cha hiền – con hiếu
Trang 2• Chồng – Vợ (phu phụ): chồng biết điều – vợ nghe lẽ phải
• Anh – em (huynh đệ): anh tốt – em ngoan
• Bạn – bè (bằng hữu): chung thủy.
- Khổng Tử cho rằng nếu mỗi người, mỗi đẳng cấp thực hiện đúng danh phận của mình thì xã hội
có chính danh và xã hội có chính danh là xã hội có kỷ cương thì đất nước sẽ thái bình thịnh trị.
- Mạnh Tử có nhiều tiến bộ đặc biệt là tư tưởng của ông về “Dân quyền”, tức đề cao vai trò của quần chúng nhân dân
• Ông cho rằng trong một QG, quí trọng nhất là dân, đến của cải xã tắc rồi mới tới vua: “dân vi
quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
• Với tinh thần ấy Mạnh Tử chủ trương xây dựng một chế độ bảo dân, dưỡng dân tức là phải chăm lo, bảo vệ nhân dân, ông yêu cầu người trị vì đất nước phải quan tâm đến dân, phải tạo
cho dân có nhà cửa, ruộng vườn, tài sản bởi vì họ “ hằng sản mới hằng tâm”.
• Ông là người chủ trương khôi phục chế độ tĩnh điền để cấp đất cho dân
• Ông khuyên các bậc vua chúa tiết kiệm chi tiêu, thu thuế của dân có chừng mực
• Đó là những quan điểm hết sức mới mẻ và tiến bộ, khiến ông mạnh dạn đưa vào đường lối chính trị của trường phái Nho gia hàng loạt vấn đề mới mẻ, toát lên tinh thần nhân bản theo con đường lấy dân làm gốc
Tư tưởng về thế giới:
- Trong quan điểm về thế giới, Khổng Tử có sự dao động giữa lập trường duy vật và lập trường duy tâm Bởi vì khi thì ông tin có mệnh trời, ông cho rằng: “tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, không thể cải được mệnh trời
- Không Tử cho rằng người Quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời thánh nhân Trong đó sợ nhất là sợ mệnh trời Nhưng có khi Khổng Tử lại không tin có mệnh trời, ông
cho rằng: trời chỉ là lực lượng tự nhiên không có ý chí, không can thiệp vào công việc của con người
- Mạnh Tử phát triển tư tưởng “thiên mệnh” của Khổng Tử và đẩy thế giới quan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng không có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời, mình nên tùy
thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy Từ đó, Mạnh Tử đưa ra học thuyết “vạn vật đều có đủ
trong ta, nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết được tất cả” nghĩa là không phải tìm cái gì ở thế giới
khách quan mà chỉ cần tu dưỡng nội tâm là biết được tất cả
Ảnh hưởng đến Việt Nam:
Tích cực:
Đời sống nhân nghĩa
Đời sống gia phong gia giáo
Góp phần đào tạo nhiều thế hệ trí thức học giả Việt Nam
Tiêu cực:
- Tư tưởng về thế giới:
- Tư tưởng về chính trị xã hội:
Câu 2: Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ trung đại Lấy dẫn chứng để minh họa
Thứ nhất: Triết học Ấn Độ cổ, trung đại chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo và rất khó
tách biệt Trong các quan niệm triết học, kể cả các quan niệm duy vật đều ẩn sau các lễ nghi tôn giáo huyền bí, và các nhà triết học cũng là những người làm công việc tôn giáo
Thứ hai: Triết học Ấn Độ ít có những cuộc cách mạng lớn, chủ yếu có tính cải cách; các trường phái
triết học đi sau thường không đặc ra mục đích tạo ra một thứ triết học mới mà thường là kế thừa, bảo
vệ, làm rõ quan điểm của các trường phái đi trước
Thứ ba: Trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại, quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm thường đan xen
vào nhau trong quá trình vận động phát triển
Trang 3 Thứ tư: Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đặc biệt chú ý đến vấn đề con người Hầu hết các trường phái triết
học đều tập trung giải quyết vấn đề “nhân sinh” và tìm con đường “giải thoát” cho con người khỏi nỗi
khổ đau trong đời sống trần tục
Câu 3: Tư tưởng triết học của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay
Tư tưởng triết học của Phật giáo:
Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thâm trầm sâu sắc về vũ trụ và con người
Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao
động.nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc Châu Á
Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ gồm ba bộ phận gọi là Tam tạng kinh, bao gồm: Tạng kinh, Tạng luật, Tạng luận
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo:
- Quan điểm về thế giới (bản thể luận) của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của các phạm trù: vô tạo giả (duyên khởi), vô ngã, vô thường và duyên.
• Vô tạo giả (không có người sáng tạo đầu tiên):
Phật giáo bác bỏ Brahman, bác bỏ vị thần sáng tạo tối cao và cho rằng thế giới xung quanh ta không phải do một vị thần nào sáng tạo ra
Theo Phật giáo, “vạn pháp do nhân duyên di khởi” (duyên khởi), nghĩa là, mọi vật đều có nguyên nhân nhưng không có nguyên nhân đầu tiên, do đó cũng không có người sáng tạo đầu tiên, tức là vô tạo giả
• Vô ngã (không có cái tôi):
Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố là vật chất và tinh thần Trong đó vật chất gọi là sắc, tinh thần gọi là danh
Sắc (v.chất) + danh (thụ, tưởng, hành, thức)= 5 yếu tố (ngũ uẩn) Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên sự vật và con người Nhưng sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó không có cái tôi chân thực
• Vô thường (vận động biến đổi không ngừng)
Phật giáo cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động biến đổi
không ngừng theo chu trình bất tận là sinh, trụ, dị, diệt Do đó không có cái gì là trường
tồn bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng Đó là quan điểm biện chứng về thế giới
• Duyên (Điều kiện giúp nguyên nhân thành KQ).
Phật giáo cho rằng mọi sự vật,hiện tượng trong quá trình vận động đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên
Trong đó duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả lại trở thành nguyên nhân cho một quá trình mới tạo thành kết quả mới cũng cần phải có điều kiện Cứ như vậy tạo nên sự vận động biến đổi không ngừng của các sự vật
VD: duyên( đất, nước,ánh sáng…)
hạt lúa cây lúa (nguyên nhân) (kết quả) duyên
cây lúa những hạt lúa…
(nguyên nhân) (kết quả)
- Như vậy, thông qua các phạm trù vô ngã, vô thường, duyên, triết học phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới
Trang 4- Phật giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các
sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng
- Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng
Về triết lý nhân sinh của Phật giáo
- Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” tức là
bốn chân lý tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được
• Một là khổ đế: Là triết lý về cuộc đời và con người là bể khổ.
• Hai là nhân đế (tập đế): Triết lý về nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng nỗi khổ của
con người là có nguyên nhân, Phật giáo đưa ra 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”
1) Vô minh: Là không sáng suốt
2) Duyên hành: Là ý muốn thúc đẩy hành động
3) Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối
4) Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai , mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5) Duyên lục nhập: Là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan
6) Duyên xúc: Là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác
7) Duyên thụ: Là sự cảm thụ, sự nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài
8) Duyên ái: Là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài 9) Duyên thủ: Do yêu thích rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy
10) Duyên hữu: Là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
11) Duyên sinh: Là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại
12) Duyên lão tử: Là già và chết vì có sự sinh thành
• Ba là diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái niết
bàn
• Bốn là đạo đế: Là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con đường
giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt tới hạnh phúc
- Phật giáo đưa ra ra tám con đường chân chính gọi là (bát chính đạo)
1) Chính kiến: Là hiểu biết đúng đắn tứ diệu đế
2) Chính tư duy: Là suy nghĩ đúng đắn
3) Chính ngữ: Nói năng phải đúng đắn
4) Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn, không làm việc xấu, nên làm việc thiện
5) Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn
6) Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng, không biết mệt mỏi
7) Chính niệm: Là tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát
8) Chính định: Là kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về vô ngã, vô thường
- Ngoài tám con đường chân chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn (ngũ giới) để
mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó là: bất sát (không được sát sinh); bất dâm (không được dâm dục); bất vọng ngữ (không được nói năng gian dối, bậy bạ); bất ẩm tửu (không được uống rượu); bất đạo (không được trộm cướp).
Liên hệ vai trò Phật giáo ở nước ta:
Phật giáo truyền vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, với bản chất từ bi, bác ái, Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng và dần dần bám rễ vững chắc trên mảnh đất này
Từ khi vào Việt Nam đến nay Phật giáo tồn tại và phát triển phù hợp với truyền thống Việt Nam Phật giáo trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lý, Lê, Trần, góp phần bảo vệ chế độ phong kiến Việt Nam giữ vững nền độc lập dân tộc
Phật giáo có công đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc trong đó có nhiều vị thiền sư, quốc sư đức độ tài cao giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Pháp Nhuận…
Vào các thời kì hưng thịnh, Phật giáo là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, kiến trúc, hội họa…Và đã để lại những giá trị mang đậm đà bản sắc dân tộc Từ
Trang 5cuối thế kỉ XIII đến nay Phật giáo không phải là quốc giáo nữa Nhưng tư tưởng tích cực của nó vẫn
là nhu cầu, là sức mạnh tinh thần của nhân dân ta
Câu 5: Phân tích bản thể luận và phép biện chứng trong triết học của Hêraclit Lấy dẫn chứng minh họa
Quan điểm về thế giới:
Hêraclit thừa nhận thế giới là vật chất mà cơ sở đầu tiên, duy nhất của nó là Lửa Lửa là nguồn gốc,
là cái có trước, là bản chất của mọi sự vật và là cơ sở của mọi sự biến đổi
Ông cho rằng, dưới tác động của lửa, đất biến thành nước, nước biến thành không khí và ngược lại giống như hàng hoá trao đổi thành vàng và vàng thành hàng hoá
Phép biện chứng:
Theo Hêraclit, mọi sự vật luôn ở trạnh thái vận động biến đổi chuyển hoá không ngừng giống như dòng chảy của con sông
Ông nêu lên luận điểm bất hủ rằng: “Người ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”
Nguồn gốc của sự vận động biến đổi của sự vật, theo ông là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật Thông qua “đấu tranh” bản chất sự vật bộc lộ ra và nhờ đó con người nhận thức đúng về sự vật
Theo Hêraclit, sự vận động và phát triển của sự vật tuân theo quy luật (ông gọi là Logos) Người nào thấu hiểu được Logos và làm đúng theo Logos thì người đó là người có trí tuệ
Câu 6: Phân tích những giá trị và hạn chế của triết học cổ điển Đức Lấy dẫn chứng để minh họa
Đặc điểm của triết học cổ điển Đức:
Một là, triết học cổ điển Đức thời kỳ này biểu hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng về tư tưởng với sự bảo thủ cải lương về lập trường chính trị xã hội của các nhà triết học
Hai là, trước đây triết học phương Tây chủ yếu bàn về những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận, thì triết học cổ điển Đức, bên cạnh những vấn đề bản thể luận, họ còn bàn đến con người, coi con người vừa là kết quả của quá trình hoạt động của mình vừa là chủ thể của quá trình ấy Đó là một thành tựu mới đáng được ghi nhận
Ba là, triết học cổ điển Đức có một cách nhìn mới, biện chứng về thế giới hiện thực Nếu gạt bỏ những yếu tố duy tâm thì cách nhìn này là một đóng góp lớn cho nền triết học của nhân loại
Giá trị:
Phép biện chứng của Hêghen là một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức
- Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy tâm của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như: chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà ông còn là người diễn đạt được các quy luật của phép biện chứng như “lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “phủ định của phủ định” với tư cách là sự phát triển diễn ra theo hình “xoáy ốc” và quy luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc của động lực của sự phát triển
- Như vậy, những vấn đề cốt lỗi nhất của phép biện chứng đã được Hêghen đề cập một cách bao quát nhất
- Mác- Ănghen đã tiếp thu, kế thừa, phát triển những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng ấy để xây dựng nên PBC duy vật và các ông coi Hêghen là người có nhiều công lao trong việc phát triển PBC
Chủ nghĩa duy vật của Phơbách.
- Thế giới quan:
• Ông cho rằng, ý thức của con người là sản phẩm của bộ óc người, một dạng vật chất đặc biệt
có khả năng phản ánh thế giới vật chất
• Từ đó cho phép khẳng định mối quan hệ khắng khít giữa vật chất và ý thức
• Quan niệm nói trên đã khắc phục được quan điểm nhị nguyên luận về sự tách rời giữa tinh thần và thể xác
• Phơbách khẳng định: không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn tại
bên ngoài không gian và thời gian
Trang 6• Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của các quy luật tự nhiên, tính khách quan của quan hệ nhân quả, thừa nhận sự vận động và phát triển của giới tự nhiên, diễn ra một cách khách quan, trong những điều kiện nhất định dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ và xuất hiện con người
- Lý luận nhận thức:
• Phơbách đứng trên lập trường duy vật, ông khẳng định đối tượng của nhận thức nói chung
và của triết học nói riêng là giới tự nhiên và con người
• Phơbách phê phán hệ thống duy tâm khách quan của Hêghen
• Phơbách thừa nhận con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên, khả năng đó đối với mỗi người là có hạn, nhưng đối với toàn bộ loài người là vô hạn
• Phơbách là người thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa trực quan cảm tính và tư duy lý tính Ông cho rằng, chúng ta đọc cuốn sách tự nhiên bằng giác quan nhưng chúng ta không dùng giác quan để hiểu nó được
- Về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phơbách:
• Phơbách là người đi sâu nghiên cứu con người, ông coi con người là đối tượng cao nhất của triết học vì vậy chủ nghĩa duy vật của ông được gọi là chủ nghĩa duy vật nhân bản
• Trong quá trình đi sâu nghiên cứu con người ông cho rằng con người có 2 nguồn gốc: con người vừa có nguồn gốc tự nhiên vừa có nguồn gốc xã hội Bởi vì con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của sinh vật, con người là thực thể tự nhiên Đồng thời con người sống thành cộng đồng do đó con người có bản chất xã hội là tình yêu thương Ông lấy tình yêu thương nam và nữ làm kiểu mẫu của bản chất yêu thương của con người
- Quan điểm về xã hội và tôn giáo:
• Phơbách là người phê phán mạnh mẽ tôn giáo, theo ông tôn giáo là sản phẩm của tâm lý cá nhân và bản chất con người dưới hình thức thần bí, tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề về tự nhiên và xã hội
• Những quan niệm nói trên của Phơbách về cơ bản đã vạch ra được nguồn gốc tâm lý con người đối với tôn giáo, đồng thời cho thấy nội dung nhân bản trong các quan niệm thần thánh
Hạn chế:
Khi trình bày các quy luật của phép biện chứng Hêghen lại cho rằng, tất cả những quy luật đó chỉ là sản phẩm của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Do đó, phép biện chứng (PBC) của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, hệ thống triết học của ông là hệ thống triết học duy tâm Mác- Ănghen đã phê phán một cách triệt để tính chất duy tâm trong PBC của Hêghen
Phơbách:
- Coi đối tượng của tư duy không có gì khác với bản chất của tư duy và do đó mà hệ thống duy tâm khách quan không thoát khỏi giới hạn của tư duy và vẫn xa lạ với hiện thực Có thể nói, đặc điểm của thế giới quan duy vật của Phơbách là lòng tin vào sức mạnh của lý trí con người
- Chưa thấy được vai trò của thực tiễn, cho nên chủ nghĩa duy vật của Phơbách về toàn bộ vẫn nằm trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình
- Tuy đòi hỏi xóa bỏ tôn giáo cũ, nhưng ông đã tuyên bố cần một thứ tôn giáo mới “không có Chúa”, tôn giáo tình yêu Vì theo ông chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người Phơbách là nhà duy vật trong tự nhiên, nhưng ông lại là nhà duy tâm trong những vấn đề xã hội Ông khẳng định rằng, những thời kỳ lịch sử của loài người sở dĩ khác nhau chỉ là do những thay đổi các hình thức tôn giáo
- Ông không thấy được vai trò của sản xuất vật chất quyết định sự vận động và phát triển của xã hội loài người
- Không thấy được phương diện xã hội của con người Con người mà ông quan niệm là con người trừu tượng, bị tách khỏi những điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử của con người Bởi vậy, khi Phơbách nghiên cứu những vấn đề về đời sống xã hội, ông đã rơi vào quan điểm duy tâm, không tưởng, phi xã hội phi lịch sử