1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIU LUN TRIT HC PHNG TAY

24 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận học kỳ III: Mụn Dẫn Nhập Triết Học Phương Tõy
Tác giả Pháp Danh: Lớp ĐTTX: KhẻA Vi MSSV: TX
Người hướng dẫn NS. T. S. T. N. Hương Nhũ
Trường học Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học Phương Tây
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 89,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông được xem là triết gia đầu tiên đã ghi chép lại những nghiên cứu của mình.Ông cũng là một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực sinh học và địa lý buổi sơ khai.Hơn nữa, ông đã dựng nên hì

Trang 1

Tiểu luận học kỳ III : Môn Dẫn Nhập Triết Học Phương Tây

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

-TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

ĐỀ TÀI

những “câu nói thời danh” của các triết gia Hy lạp Cổ đại Trình

bày những điểm tương đồng với triết học Phật giáo

Người hướng dẫn khoa học: NS.TS.TN Hương Nhũ

TP.Hồ Chí Minh ,Năm 2022.

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

những “câu nói thời danh” của các triết gia Hy lạp Cổ đại Trình bày những điểm

tương đồng với triết học Phật giáo

Tiểu luận học kỳ III : Môn Dẫn Nhập Triết Học Phương Tây

Người hướng dẫn khoa học: NS.TS.TN Hương Nhũ

TP.Hồ Chí Minh , Năm 2022.

Trang 3

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Phạm vi đề tài

3 Cơ sở dữ liiệu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Bố cục tiểu luận

B NỘI DUNG

C KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

A.MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Triết học phương Tây đề cập đến những tư tưởng và những tác phẩm triết học của thếgiới phương Tây Về mặt lịch sử, thuật ngữ này đề cập đến tư duy triết học trong vănhóa phương Tây, bắt đầu với triết học Hy Lạp trong thời kì tiền-Socrates với nhữngđại biểu như Thales và Pythagoras, và cuối cùng phát triển với phạm vi trên toàn cầu

Từ "philosophy" bắt nguồn từ chữ Hy Lạp cổ đại philosophía (φιλοσοφία) với nghĩađen là "tình yêu trí tuệ" (φιλεῖν phileîn, "yêu" và σοφία sophía, "trí tuệ") Một cáchtường minh hơn, triết học có thể được định nghĩa là: "những nỗ lực của con ngườinhằm nghiên cứu một cách hệ thống các cấu trúc căn bản nhất của toàn bộ trải nghiệm

mà ta có, nhằm đạt được những niềm tin rõ ràng về mặt khái niệm, được xác nhận vềmặt kinh nghiệm và nhất quán về mặt tư duy nhất có thể."Trong lịch sử, phạm vi củatriết học bao gồm tất cả những nỗ lực nhằm đạt tới trí tuệ, tức bên cạnh những vấn đềtriết học như cách mà ta hiểu hiện tại, nó cũng chứa đựng kiến thức của những bộ môn

mà nay được coi là khoa học như vật lý, toán học và thiên văn học Chẳng hạn, cuốnsách Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên của Newton nay được coi là mộttác phẩm về vật lý chứ không phải triết học Triết học, theo cách hiểu hiện đại hơn,thường đề cập đến các vấn đề thuộc vào ba lĩnh vực chính là nhận thức luận (ví dụ,

"Con người có thể nhận thức được những gì?"), siêu hình học ("Bản chất tối hậu củahiện thực là gì?") và luân lý học ("Tiêu chí gì đánh giá một hành động là tốt hayxấu?") Bên cạnh đó, một số chủ đề khác như logic, chính trị-xã hội và tôn giáo cũng

có thể coi là thuộc về triết học.Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho mộtbản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học phương tây Một giai đoạn lịch sửkhởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triếthọc phương tây sau này Nền triết học trung cổ là khoảng lặng của những phách nhạcthời gian trải qua hàng ngàn năm Rồi mới được thăng hoa lên những nốt thăng cungbậc là thời kỳ phục hưng Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng màkhoảng trắng quá dài Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó mà ta có cảnền triết học cận và hiện đại như nay Trong bản nhạc giao hưởng đầy tính bác học củatriết học phương tây, mà khúc dạo đầu lại rực rỡ âm sắc trang hoàng đó là nhữngtrường phái triết học Hy Lạp cổ đại, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắcthần linh để khảy lên bằng chính đôi tay của người phàm tục Do vậy học viên chọ đề

tài Phân tích và bình luận những “câu nói thời danh” của các triết gia Hy lạp Cổ đại.

Trình bày những điểm tương đồng với triết học Phật giáolàm đề tài nghiên cứu.

Trang 5

2 Phạm vi đề tài, Phương pháp nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong giai đoạn triết học Hy lạp cổ đại Vớiphương pháp nghiên cứu là phương pháp lịch sử và đối chiếu Bài nghiên cứu quy mônhư một bài thu hoạch nên các vấn đề được đề cập mang tính khái quát

Học viên dựa vào bài giảng của giáo thọ trên lớp và tham khảo một số tài liệu liênquan làm tư liệu

3 Bố cục tiểu luận:gồm 03 chương

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1- Điều kiện ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại

1.1 Về tự nhiên

Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây Đây là quốc gia rộng lớn

có khí hậu ôn hòa Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miền ven biểnphía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee Hy Lạp được chia làm ba khu vực.Bắc , Nam và Trung bộ.Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trùphú, có thành phố lớn như Athen Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồngbằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt Vùng bờ biển phía Đông củabán đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải pháttriển Các đảo trên biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa

Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giaothương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông Với điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưvậy nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền côngthương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng Nơi có nhiềutriết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ

1.2 - Về kinh tế

Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả và lòngnhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay bổng, mởrộng các mối bang giao và phát triển kinh tế.Thế kỷ VIII – VI BC, đây là thời kỳ quantrọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồngsang thời đại đồ sắt Lúc bấy giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăngnhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố Sự phát triển này đãkéo theo phân công lao động trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chănnuôi Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét Sựphát triển mạnh mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII BC là lựcđẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận Engels đã nhậnxét: “Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phâncông lao động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đấtnước Hy Lạp giàu có Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp,không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”.(1)

1.3 - Về chính trị - xã hội

Trang 6

Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân hóa ralàm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thành laođộng chân tay và lao động trí óc Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ Mỗinước lấy một thành phố làm trung tâm Trong đó, Sparte và Athen là hai thành phố cổhùng mạnh nhất, nồng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại.Thành bang Athen nằm ở vùngđồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành mộttrung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp cổ đại, và là cái nôi của triết học Châu Âu.Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủAthen.

Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển nôngnghiệp Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối Chính vì thế Sparte đãxây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với nôlệ.Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộcchiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại củathành Athen Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế, chínhtrị và quân sự của đất nước Hy Lạp Chiến tranh, nghèo đói đã nảy sinh các cuộc nỗidậy của tầng lớp nô lệ Nhưng lại thất bại vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau,không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia vào các hoạtđộng xã hội, chính trị Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp ở phía Bắc Hy Lạp đã đem quânxâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ II BC, Hy Lạp một lần nữa bị rơi vàotay của đế quốc La Mã Tuy đế quốc La Mã chinh phục được Hy Lạp, nhưng lại bị HyLạp chinh phục về văn hóa.Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và

đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được” [2] Vì điều kiện kinh tế, nhucầu buôn bán, trao đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phươngĐông trở nên thường xuyên Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, nhữngthành tựu văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên Tất cảcác lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận, “Nhữngngười Hy Lạp mãi mãi là đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”.Trong thời đại này

Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực

rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh phươngTây hiện đại.Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rấtphong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộcsống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng

tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại.[3]Về nghệ thuật, đã để lại các công trìnhkiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị.Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền phápluật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Athen.Về khoa học tự nhiên, nhữngthành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các nhà khoa học tên tuổi như Thalés,Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra Và đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một disản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc

2 Đặc trưng cơ bản của triết học cổ Hy Lạp

Đỉnh cao của nền văn minh cổ đại đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại, và cũng là điểmxuất phát của lịch sử thế giới Nhìn chung triết học Hy Lạp có những đặc trưng sau: -Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị

Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy vật duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần

Trang 7

Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vựckhác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thểthống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.

Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ

- Coi trọng vấn đề về con người

Triết học cổ Hy Lạp mang tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Tách ra khỏiyếu tố thần linh thống trị con người từ xưa, đỉnh cao của triết học cổ Hy Lạp là triếtgia Socrate Ông đã đề cập đến thân phận con người Đa phần các triết gia có xuhướng hướng ngoại thì Socrate quay về hướng nội, ông đã đề cập đến đạo đức conngười

về tự nhiên’) Trong bài thơ này, ông đã cố gắng làm sáng tỏ 1 câu hỏi lớn: Là nó, haykhông phải là nó? Thật sự mà nói, những nỗ lực của ông trong việc giải mã bí ẩn triếthọc này đã dẫn đến một tuyên bố khá nghịch lý chứ không phải là một câu trả lời thỏađáng Parmenides cho rằng ta nhận định được tất cả các sự vật là vì chúng có tồn tại.Chúng ta không thể hình dung sự không tồn tại, không hình dung được là không có.Quan niệm về tồn tại của Parmenides mang tính siêu hình, nhưng nó lại là đóng góplớn của ông cho nền triết học sau này

Trang 8

một cái khác thì hỗn hợp sẽ cản trở, do vậy nó không thể điều khiển được một vật nàonữa Nó là một vật nhẹ nhất và thuần khiết nhất, có trí thức đầy đủ về tất cả và có sứcmạnh vĩ đại nhất Trí tuệ điều khiển tất cả những gì có linh hồn.

2.3 Anaximander (610 TCN – 546 TCN)

Anaximander sinh ra tại Miletus, là một học trò nổi tiếng và là người kế tục củaThales Ông được xem là triết gia đầu tiên đã ghi chép lại những nghiên cứu của mình.Ông cũng là một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực sinh học và địa lý buổi sơ khai.Hơn nữa, ông đã dựng nên hình ảnh đầu tiên về thế giới trong một vũ trụ mở, gạt bỏkhái niệm về một vũ trụ đóng, và điều này đã giúp ông trở thành nhà thiên văn họcđầu tiên trong lịch sử nhân loại.Anaximander tiếp tục phát triển các quan điểm triếthọc của người thầy Thales – đưa ra một ‘Arche’ hoặc một nguyên lý mà ông tin đó là

cơ sở của tất cả vũ trụ Nhưng không giống như Thales, Anaximander cho rằng cơ sởnày đã có một ‘Apeiron’ (một chất không giới hạn) hoạt động như khởi nguồn cho tất

cả mọi thứ Chính khởi nguồn này đã tạo nên những điểm trái ngược trong thế giớinhư nóng và lạnh, sáng và tối,… Rất có thể phần lớn các tác phẩm của ông đã bị cắtngắn, đặc biệt là khi rơi vào tay các triết gia thế hệ tiếp theo Thế nhưng Anaximandervẫn thực sự là một trong những bộ óc vĩ đại nhất của Hy Lạp thời kỳ cổ đại

2.4 Empedocles (490 TCN – 430 TCN)

Empedocles là một trong những nhà triết học quan trọng nhất trong thời kỳ tiềnSocrates Xuất sắc hơn nữa là những bài thơ của ông đã tạo nên một sức ảnh hưởng vôcùng lớn tới các nhà thơ thế hệ sau, bao gồm cả những người như Lucretius.Empedocles nổi tiếng nhất là nhờ khởi xướng cho thuyết nguồn gốc vũ trụ tạo bởi bốnnguyên tố cổ điển Thuyết này nói rằng tất cả các vấn đề về cơ bản đều bao gồm bốnyếu tố chính: đất, không khí, lửa và nước Mặc dù một số sử gia cho rằng lý thuyếttrên là một nỗ lực để phủ nhận thuyết “vạn vật quy nhất” của Parmenides, thế nhưngđây vẫn trở thành một trong những lý thuyết sớm nhất về phân tử vật lý, được mặcnhiên công nhận.Empedocles chỉ đơn giản là phủ nhận sự hiện diện của bất kỳ khoảngtrống hoặc không gian rỗng nào, do đó quan niệm này mâu thuẫn với tư tưởng triếthọc của Parmenides Ông đưa ra ý tưởng về các động lực đối lập cùng hình thành nênthế giới – cụ thể là: Ái tình là nguyên nhân của hòa hợp, và xung đột là nguyên nhâncủa chia ly Empedocles cũng đi vào nghiên cứu và trở thành người đầu tiên đưa ramột khoản mục về sự phát triển tiến hóa các loài

2.5.Zeno (490 TCN – 430 TCN)

Vào thời điểm mà hầu hết các triết gia Hy Lạp cổ đại đang xem xét kỹ lưỡng suy luận

và kiến thức của mình để giải thích bản chất vốn có của tự nhiên Zeno Elea lại dànhthời gian để làm sáng tỏ các các khúc mắc, nghịch lý về chuyển động và đa nguyên.Giá trị của ông nằm ở chỗ ông là người đã cố gắng để tìm một lời giải thích chi tiếtcho những mâu thuẫn hiện diện trong thế giới vật chất, rất lâu trước khi logic pháttriển.Zeno tiếp tục mở rộng và bảo vệ các hệ tư tưởng triết học mà ông học được củaParmenides, những tư tưởng đã gặp phải nhiều sự phản đối từ số đông dư luận tại thờiđiểm đó Ông cũng đưa ra nhiều nghịch lý của mình, trở thành đề tài gây tranh cãi sôi

Trang 9

nổi giữa các thế hệ triết gia sau này Đa phần các đối số đương đại về nghịch lý củaông được sử dụng nhằm dẫn tới sự phân chia thời gian và không gian vô hạn – ví dụnhư nếu có một khoảng cách thì sẽ phải có một nửa của khoảng cách đó và tương tự.Zeno là nhân vật đầu tiên trong lịch sử triết học của nhân loại đã tìm ra các khái niệm

về tồn tại vô cực

2.6 Pythagoras (570 TCN – 495 TCN)

Cũng là một nhà triết học Hy Lạp tiền Socrates, Pythagoras được biết đến nhiều hơntrong lĩnh vực toán học chứ không phải triết học Trong thực tế, ông nổi tiếng với cácđịnh lý về hình học mang tên mình Ông là một trong những cái tên quen thuộc nhấtcủa xã hội tiền Socrates Nhưng đó chưa phải là tất cả, những gì chúng tôi biết về ôngcòn đáng ngạc nhiên hơn Ông được coi là người đã sáng lập ra một trường phái triếthọc được nhiều người ủng hộ đi theo.Ở trường phái này, Pythagoras đã cố gắng để tìmthấy một sự hòa hợp lẫn nhau giữa cuộc sống thực và các khía cạnh thực tiễn của triếthọc Các quan điểm của ông không hoàn toàn khô cứng như những gì chúng ta vẫnnghĩ về triết học, nhưng nó cũng bao gồm một số vấn đề chung như “Những nguyêntắc sống”, “Thực phẩm để ăn hàng ngày”, tương tự như vậy Pythagoras cho rằng thếgiới là một sự hòa hợp hoàn hảo và hướng việc giảng dạy của mình vào mục đích làmthế nào để sống một cuộc sống hài hòa

2.7 Socrates (469 TCN – 399 TCN)

Socrates đã đem lại một cái nhìn hoàn toàn mới về việc ứng dụng triết học vào đờisống hàng ngày một cách thiết thực – Điều mà phần lớn các cách tiếp cận của triết họctiền Socrates đã không làm được.Không đi theo lối mòn bản thể luận triết học của cácbậc tiền bối Với luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy tự nhận thức chính mình”,Socrates quyết định lựa chọn một con đường riêng, ông chú ý tới vấn đề con người,

mà trọng tâm trong bản tính con người là đạo đức Theo Socrates, triết học không phải

là hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề chung không liên quan gì đến cuộcsống thường nhật, trái lại, nó là phương tiện dạy con người cách sống hay cần phảisống như thế nào Theo nghĩa đó, triết học trước hết phải là tri thức hay sự hiểu biếtcủa con người về con người, tri thức ấy nhất thiết phải là tri thức về cái thiện Nếu đạođức là hành vi đối nhân xử thế đẹp thì đạo đức đó không là gì khác ngoài tri thức, dovậy, “tri thức là đức hạnh”.Triết học Socrates không có một mục đích nào khác ngoàiviệc hướng tới con người với những suy tư, trăn trở đời thường của nó Ông thực sự

“là một trong số những khuôn mặt nổi bật nhất nhưng cũng bí ẩn nhất trong lịch sửtriết học”

2.8 Plato (427 TCN – 347 TCN)

Ông là một học trò chịu ảnh hưởng rõ rệt từ cách tiếp cận triết học của người thầySocrates Thế nhưng trong khi Socrates không ngừng bận rộn với việc giải thích triếthọc chỉ dựa trên lý luận về con người, Plato lại đưa ra hướng đi của mình bằng cáchkết hợp hai cách tiếp cận chính: siêu hình học tiền Socrates thần học tự nhiên với thầnhọc đạo đức Socratic Triết học của Platon là một hệ thống triết học duy tâm kháchquan lớn và đầu tiên trong lịch sử triết học đã đạt đến sự hoàn chỉnh, nhất quán và triệt

Trang 10

để.Trong vật lý, ông đồng ý với nhiều quan điểm của trường phái Pytago Hầu hết cáctác phẩm của ông – đặc biệt là tác phẩm nổi tiếng nhất “The Republic” – dường như là

sự pha trộn giữa các khía cạnh khác nhau của đạo đức, triết học chính trị và siêu hìnhcủa những người khác, làm thành một triết lý có hệ thống, có ý nghĩa và có thể ápdụng

2.9 Aristotle (384 TCN – 322 TCN)

Aristotle là triết gia có sức ảnh hưởng lớn nhất trong số các môn đệ của Plato Cách lýgiải sự vật của ông thường dựa trên những điều đã học được từ trải nghiệm thực tế, kếthợp với những cách tiếp cận khác nhau học hỏi từ người thầy Plato Aristotle đãchứng tỏ bản thân vừa là một nhà văn giàu trí tưởng tượng, vừa là một học giả đầysáng tạo Ông ghi lại tất cả các các quan điểm của mình trong tất cả các lĩnh vực ôngnghiên cứu.Vào thời điểm khi mà các kiến thức chuyên môn của con người vẫn còn ởmức độ quá tổng quát, Aristotle đã phá vỡ sự đồng hoá kiến thức tổng thể, phân chia

nó thành các loại khác nhau như đạo đức học, sinh học, toán học và vật lý – mô hìnhphân loại này vẫn được sử dụng cho tới ngày hôm nay Aristotle thực sự là một nhânvật chủ chốt trong triết học Hy Lạp cổ đại Sức ảnh hưởng và tác động của ông khôngchỉ vượt ra ngoài giới hạn của Hy Lạp cổ đại, mà còn vượt ra cả giới hạn của thờigian

2.10 Thales (620 TCN – 546 TCN)

Thales được xếp vào vị trí đầu bảng trong danh sách này vì ông là điểm then chốttrong triết học Hy Lạp cổ đại – nơi mà từ đây, các thế hệ tiếp theo của nhiều nhà tưtưởng, nhà lý luận, biện chứng, vật lý học và triết học siêu nổi tiếng sẽ phát triển vàthành danh Các nhà sử học coi Thales như là cha đẻ của triết học Hy Lạp cổ đại Phầnlớn tư tưởng của Thales được truyền lại thông qua những miêu tả của Aristotle –người đã chỉ ra rằng Thales là nhà triết học đầu tiên nghiên cứu các nguyên tắc cơ bảntrong triết học như căn nguyên của vấn đề Thales cũng được cho là người đã sáng lập

ra trường phái triết học tự nhiên.Là một triết gia, Thales hiếm khi giới hạn nghiên cứucủa mình trong một lĩnh vực hạn chế giữa biển kiến thức sẵn có Ông đã rất đam mê

và tích cực tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của kiến thức như triết học, toán học,khoa học, địa lý, và cả những khía cạnh không tên khác Ông cũng được cho là người

đã phát triển một tiêu chuẩn rõ ràng để đưa ra giả thuyết tại sao trong sự vật lại diễn ranhững thay đổi Ông cho rằng nước là thành phần cơ bản của thế giới Thales là triếtgia được kính trọng bậc nhất trong xã hội Hy Lạp cổ đại

CHƯƠNG 3 những “câu nói thời danh” của các triết gia Hy lạp Cổ đại tương đồng với triết

học Phật giáo 3.1 Thế giới chỉ là ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt ngày đêm”

Heraclit cho rằng Lửa là khởi nguyên của thế giới, lửa tạo ra từng sự vật cụ thể hàngngày gần gũi cho đến những hành tinh xa lắc “Thế giới này chỉ là một đối với mọi

Trang 11

cái, không phải do thần thánh hay do con người tạo ra nhưng nó mãi mãi đã, đang và

sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy và mức độ củanhững cái đang lụi tàn”.Lửa là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới “Thế giới chỉ

là một ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt ngày đêm” Các hiện tượng tự nhiên nhưnắng mưa, các mùa,…theo ông không phải là những hiện tượng thần bí mà chỉ lànhững trạng thái khác nhau của lửa “Cái chết của lửa chỉ là sự ra đời của không khí,cái chết của không khí chỉ là sự ra đời của nước Nước sinh ra từ cái chết của đất,không khí sinh ra từ cái chết của nước, lửa sinh ra từ cái chết của không khí” Thế giớivận động theo trật tự mà ông gọi là logos: logos khách quan và logos chủ quan quan

hệ với nhau như là quan hệ giữa khách thể và nhận thức Và như vậy thì sự phù hợpvới logos khách quan là tiêu chuẩn để đánh giá tư duy con người Đây là một đónggóp có giá trị của Heraclit cho phép biện chứng sau này Kinh Lửa CháyAditta-pariyaya Sutta (SN 35.28).Vài tháng sau khi giác ngộ, Ðức Phật giảng bài pháp nầycho 1,000 tu sĩ theo phái thờ thần lửa đồi Gayasisa Qua lối giảng siêu việt của Ngài,Ðức Phật đã dùng ví dụ về lửa cháy (lửa tham, sân, si) để dạy về tâm xả ly đối với cáccảm thọ qua sáu căn Sau khi nghe bài giảng nầy, toàn thể thính chúng đắc quả A-la-hán."Này các tỳ kheo, tất cả đều bốc cháy Và những gì đang bốc cháy như thế ? Mắtđang bốc cháy Các hình tướng vật chất đang bốc cháy Tri thức thị giác đang bốccháy Sự tiếp xúc giữa mắt và các hình tướng vật chất đang bốc cháy Cảm giác phátsinh do sự tiếp xúc với các hình tướng vật chất, dù đấy là thích thú hay đớn đau, dùđấy không phải là đớn đau cũng không phải là thích thú, thì giác cảm ấy vẫn đang bốccháy Này các tỳ kheo, vậy những thứ ấy bốc cháy từ những ngọn lửa nào ? Ta nóirằng những thứ ấy đang bốc cháy từ ngọn lửa của dục vọng, từ ngọn lửa của hận thù,

từ ngọn lửa của ảo giác ; những thứ ấy bốc cháy từ ngọn lửa của sự sinh, của già nua,của bịnh tật, của cái chết, của nhọc nhằn, của ta thán, của đớn đau, của buồn phiền,của tuyệt vọng."Này các tỳ kheo, tai đang bốc cháy Âm thanh do tai tiếp nhận đangbốc cháy Tri thức thính giác đang bốc cháy Sự tiếp xúc với những gì do tai tiếp nhậnđược đang bốc cháy Cảm giác phát sinh từ sự tiếp xúc với những gì tai tiếp nhận đượcđang bốc cháy, dù đấy là thích thú hay đớn đau, dù đấy không phải là đớn đau cũngkhông phải là thích thú, thì cảm giác ấy vẫn đang bốc cháy Vậy những thứ ấy bốccháy từ những ngọn lửa nào ? Ta nói rằng những thứ ấy đang bốc cháy từ ngọn lửacủa dục vọng, từ ngọn lửa của hận thù, từ ngọn lửa của ảo giác ; những thứ ấy bốccháy từ ngọn lửa của sự sinh, của già nua, của bịnh tật, của cái chết, của nhọc nhằn,của ta thán, của đớn đau, của buồn phiền, của tuyệt vọng."Này các tỳ kheo, mũi đangbốc cháy Mùi đang bốc cháy Tri thức khứu giác đang bốc cháy Sự tiếp xúc giữa mũi

và mùi đang bốc cháy Cảm giác phát sinh do sự tiếp xúc với những gì do mũi tiếpnhận, dù đấy là thích thú hay đớn đau, dù đấy không phải là đớn đau cũng không phải

là thích thú, thì cảm giác ấy vẫn bốc cháy Vậy những thứ ấy bốc cháy từ những ngọnlửa nào ? Ta nói rằng những thứ ấy đang bốc cháy từ ngọn lửa của dục vọng, từ ngọnlửa của hận thù, từ ngọn lửa của ảo giác ; những thứ ấy bốc cháy từ ngọn lửa của sựsinh, của già nua, của bịnh tật, của cái chết, của nhọc nhằn, của ta thán, của đớn đau,của buồn phiền, của tuyệt vọng."Này các tỳ kheo, lưỡi đang bốc cháy Vị đang bốccháy Tri thức vị giác đang bốc cháy Sự tiếp xúc giữa lưỡi và vị đang bốc cháy Cảmgiác phát sinh do sự tiếp xúc với những gì lưỡi tiếp nhận, dù đấy là thích thú hay đớnđau, dù đấy không phải là đớn đau cũng không phải là thích thú, thì cảm giác ấy vẫnbốc cháy Vậy những thứ ấy bốc cháy từ những ngọn lửa nào ? Ta nói rằng những thứ

Trang 12

ấy đang bốc cháy từ ngọn lửa của dục vọng, từ ngọn lửa của hận thù, từ ngọn lửa của

ảo giác ; những thứ ấy bốc cháy từ ngọn lửa của sự sinh, của già nua, của bịnh tật, củacái chết, của nhọc nhằn, của ta thán, của đớn đau, của buồn phiền, của tuyệtvọng."Này các tỳ kheo, thân xác đang bốc cháy Các vật thể sờ mó được đang bốccháy Tri thức xúc giác đang bốc cháy Sự tiếp xúc giữa thân xác và các vật thể sờ móđược đang bốc cháy Cảm giác phát sinh do sự tiếp xúc với những gì do thân xác tiếpnhận được, dù đấy là thích thú hay đớn đau, dù đấy không phải là đớn đau cũng khôngphải là thích thú, thì cảm giác ấy vẫn bốc cháy Vậy những thứ ấy bốc cháy từ nhữngngọn lửa nào ? Ta nói rằng những thứ ấy đang bốc cháy từ ngọn lửa của dục vọng, từngọn lửa của hận thù, từ ngọn lửa của ảo giác ; những thứ ấy bốc cháy từ ngọn lửa của

sự sinh, của già nua, của bịnh tật, của cái chết, của nhọc nhằn, của ta thán, của đớnđau, của buồn phiền, của tuyệt vọng."Này các tỳ kheo, Tư duy đang bốc cháy Các vậtthể tâm thần đang bốc cháy Tri thức tâm thần đang bốc cháy Sự tiếp xúc của tư duyvới các vật thể tâm thần đang bốc cháy Cảm giác phát sinh do sự tiếp xúc với những

gì tư duy tiếp nhận được, dù đấy là thích thú hay đớn đau, dù đấy không phải là đớnđau cũng không phải là thích thú, thì giác cảm ấy vẫn bốc cháy Vậy những thứ ấy bốccháy từ những ngọn lửa nào ? Ta nói rằng những thứ ấy đang bốc cháy từ ngọn lửacủa dục vọng, từ ngọn lửa của hận thù, từ ngọn lửa của ảo giác ; những thứ ấy bốccháy từ ngọn lửa của sự sinh, của già nua, của bịnh tật, của cái chết, của nhọc nhằn,của ta thán, của đớn đau, của buồn phiền, của tuyệt vọng

"Này các tỳ kheo, nếu biết nhìn tất cả mọi thứ theo phương cách đó, thì một đệ tử sángsuốt sẽ phải kinh tởm mắt, kinh tởm những hình tướng vật chất, kinh tởm tri thức thịgiác, kinh tởm sự tiếp xúc của mắt với những hình tướng vật chất, kinh tởm cảm giácphát sinh do sự tiếp xúc với các hình tướng vật chất, dù đấy là thích thú hay đớn đau,

dù đấy không phải là đớn đau cũng không phải là thích thú, thì cảm giác ấy vẫn đangbốc cháy.Liên quan đến lửa có một ghi chú như sau: Ở trong kinh trường bộ bài kinh

số 33 Kinh phúng tụng đức Phật có đề cập đến 3 loại lửa Thứ nhất là lửa của cha mẹ

Từ pali là āhuneyyaggi Āhuneyya nghĩa là những người xứng đáng nhận sự cúngdường dâng tặng đối với những vật dụng được mang lại từ nơi xa Những người nhưvậy được gọi là cha mẹ cho nên cha mẹ được gọi là những người xứng đáng thọ nhậnnhững vật dụng từ phương xa mang lại do những người con của mình mang lại, và nếunhư những người con không có tôn trọng cha mẹ, có những hành động bất hiếu vớicha mẹ thì cha mẹ có thể trở thành ngọn lửa Vì sao, vì những người con đó phạmnhững điều bất hiếu, cho nên do nghiệp của mình có thể bị đoạ xuống địa ngục, và bịlửa địa ngục thiêu đốt.Cách dùng āhuneyyaggi này là cách dùng tu từ theo nghĩa đenāhuneyyaggi có nghĩa là lửa cha mẹ, như vậy cha mẹ là lửa hay sao Thực ra khôngphải, ở đây chỉ là cách dùng tu từ, đó là cha mẹ phải được sự cung kính bởi nhữngngười con, nhưng nếu những người con bất hiếu có những hành động bất hiếu, xấu ácđối với cha mẹ, thì chính những nghiệp họ làm có thể đoạ xuống địa ngục, bị lửa thiêuđốt Vì vậy mà cha mẹ được ví như ngọn lửa, nếu như không khéo rất là nguy hiểm

Và ở trong chú giải cũng có những minh chứng rất rõ ràng, đó là một người thanh niêntên là … vì bất kính với mẹ mình đã dùng chân đá mẹ và do nghiệp bất kính bất hiếu

đó đã đoạ xuống địa ngục, bị lửa địa ngục thiêu đốtLoại lửa thứ hai đó là gahapataggi( gahapati+aggi ) Gahapati có nghĩa là gia chủ, aggi có nghĩa là lửa Nghĩa đen rằng

là lửa của gia chủ Gia chủ ở đây là người đứng đầu trong gia đình Theo truyền thốngthời xưa và một vài nơi thời nay, gia chủ là những người chồng, những người chủ chốt

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w