Từ năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn NS & VSMTNT với mục tiêu đến năm 2020: tất cả cư dân nông thôn được sử dụng nư
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưới sự tác động của công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc về mọi mặt Nền kinh tế đất nước đang được xây dựng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tuy nhiên bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng lo ngại không những đối với các nước phát triển mà còn là sự thách thức đối với các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn từ nguồn nước, nhà tiêu cho đến chất thải, rác thải trong sinh hoạt của các hộ gia đình, rác thải nguy hiểm từ các khu công nghiệp - chế xuất, hay chất thải từ quá trình chăn nuôi - sản xuất nông nghiệp Song hành cùng với các đô thị thì nông thôn Việt Nam cũng đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường Chưa bao giờ lượng rác thải sinh hoạt lại nhiều như hiê ̣n nay , trong khi đó, dịch vụ
vệ sinh môi trường ở nông thôn hiện chưa phát triển đúng mức, đa phần người dân không tự xử lý phân loại rác nên việc chôn lấp, thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn
Từ năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (NS & VSMTNT) với mục tiêu đến năm 2020: tất cả cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng nhà tiêu hợp
vệ sinh và thực hiện vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã Trong đó, chương trình mục tiêu quốc gia về NS & VSMTNT là công cụ để thực hiện Chiến lược Quốc gia Chương trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, triển khai qua các giai đoạn (2001 – 2005); (2006 – 2010) và (2011 – 2015) [15] Theo báo cáo chung Tổng quan n gành Y tế Việt Nam năm 2014
Trang 2ở Việt Nam còn một tỷ lệ lớn HGĐ ở nông thôn vẫn sử dụng nhà tiêu chưa
hơ ̣p vê ̣ sinh
Xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình được Trung ương lựa chọn là một trong năm tỉnh làm điểm về mô hình xây dựng nông thôn mới Trong Nghị quyết về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm
2020 ở tiêu chí thứ 17 về môi trường , tỉnh Thái Bình đã nhấn mạnh đến việc bảo vệ môi trường sinh thái [42]
Hưng Hà là một huyện đồng bằng, nằm ở rìa phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, với diện tích tự nhiên là 200,42 km², Huyện có ba mặt tiếp giáp với sông Hồng, ngoài ra huyện có một mạng lưới các con sông nhỏ, kênh rạch nhỏ, nối thông với các sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý Con người cũng
có những tác động xấu đến môi trường xung quanh do ý thức , thói quen về xả rác thải , nước thải ra kênh nước thải , đường giao thông của thôn xóm , ảnh hưởng rất nhiều tới vê ̣ sinh môi trường Để phần nào có những đánh giá khách quan về tình hình môi trường nông thôn tại đi ̣a bàn huyện nhà, chúng tôi thực
hiện đề tài: “Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình và điều kiện nhà ở
tại hai xã của huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình năm 2016” với hai mục tiêu
như sau:
1 Mô tả thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình và điều kiện nhà
ở tại hai xã của huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình năm 2016
2 Mô tả kiến thức, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân ở
địa bàn nghiên cứu năm 2016
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [31]
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn
chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
- Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt hoặc hoạt động khác…
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
- Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá
học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật… [31]
- Nhà ở là một công trình xây dựng bao gồm ba bộ phận: tường, mái, sàn
và được dùng để ở (ăn, ngủ, sinh hoạt)
- Mái được xếp loại bền chắc nếu được làm bằng một trong hai loại vật
liệu chính sau: “bê tông cốt thép”, “ngói (xi măng, đất nung)”
- Tường/bao che được xếp loại bền chắc nếu được làm bằng một trong
ba loại vật liệu chính sau: “bê tông cốt thép”, “gạch/đá”, “gỗ/kim loại” [1]
Trang 41.2 Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình và điều kiện nhà ở
Thực trạng vệ sinh môi trường đang diễn ra ngày càng cấp bách và nan giải, chính vì vậy chúng ta cần có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ở nước ta Vấn đề vê ̣ sinh môi trường (VSMT) không chỉ là vấn đề sinh hoa ̣t trong pha ̣m vi mỗi hô ̣ gia đình mà còn ở khu vực xung quanh như đường làng , ngõ xóm, hê ̣ thống kênh thoát nước , bãi rác của thôn , xóm,…VSMT nói chúng là một lĩnh vực tương đối rộng, nhưng trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến bốn nội dung: thực trạng nguồn nước, nhà tiêu hộ gia đình, rác thải sinh hoạt và điều kiện nhà ở Theo một nghiên cứu của Trần Thị Phương và Vũ Phong Túc về “Thực trạng
vê ̣ sinh môi trườn g của các hô ̣ gia đình vùng đồng bào dân tô ̣c Mông huyê ̣n Bắc Yên, tỉnh Sơn La năm 2014” cho thấy : Nguồn nước của tất cả các hộ gia đình sử dụng cho sinh hoạt đều là hệ thống dẫn nước chung máng lần Tỷ lệ các hộ gia đình có nhà tiêu ở các xã là từ 3% - 37% Loại nhà tiêu được sử dụng nhiều nhất là nhà tiêu chìm khô có ống thông hơi Tiêu chí nhà tiêu đảm bảo về xây dựng được thực hiện tốt nhất là “không xây dựng ở nơi thường xuyên bị ngập úng” (71,6%); chỉ số tiêu chuẩn đạt thấp nhất là “có nắp đậy lỗ tiêu” (20,3%) và “ống thông hơi có lưới chống ruồi” (20,3%) Tỷ lệ nhà tiêu đảm bảo về bảo quản và sử dụng đều rất thấp theo từng tiêu chí: hầu hết các tiêu chí đều chỉ đạt ở mức dưới 20% Hầu hết các hộ gia đình không có hố rác
(95,4%) [29]
Kết quả từ nghiên cứu của Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn và Đàm Văn Dũng tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ hộ có nhà tạm khá cao (38,1%), nhà kiên cố (20,0%) Tỷ lệ hộ gia đình có nước sạch 55,6 % [44] Trong nghiên cứu về Thực trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hà Tĩnh tác giả Đào Văn Quang cho rằng hiện trạng ô nhiễm môi trường còn xảy
ra trong và khu vực xung quanh như ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước,
Trang 5việc phát sinh chất thải rắn và chất thải nguy hại Chính sự ô nhiễm này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của người lao động cũng như người dân xung quanh Ngoài ra nó còn ảnh hưởng tới hệ sinh thái xung quanh vùng đặc biệt là hệ thủy sinh [30]
Hoạt động chăn nuôi đã và đang tạo nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ nông dân ta ̣i Thái Bình Theo ước tính, có khoảng 40 - 50% lượng CTR chăn nuôi được xử lý, số còn lại thải trực tiếp thẳng ra ao, hồ, kênh, rạch [12]
1.2.1 Thực trạng nguồn nước
1.2.1.1 Thực trạng sử dụng nước trên thế giới
Cách đây 24 năm, Liên hợp quốc chọn ngày 22-3-1993 làm Ngày Nước thế giới đầu tiên và từ đó đến nay , ngày này vẫn được duy trì là ngày vì nguồn nước sạch toàn cầu Ngày Nước thế giới hàng năm là dịp để thế giới tập trung
sự chú ý về tầm quan trọng của nước ngọt cũng như kêu gọi việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên này Mỗi năm, Ngày Nước thế giới nhấn mạnh một khía cạnh cụ thể Năm 2016, Liên hợp quốc lấy chủ đề “Nước và việc làm” nhằm đề cập tới vai trò của nước đối với các công việc cũng như sinh kế của người dân [8]
Một báo cáo về: “Các điều kiện môi trường của hộ gia đình có liên quan đến bệnh lý ruột và sự tăng trưởng không ổn định ở nông thôn Bangladesh” cho kết quả như sau: Khi so sánh các dấu hiệu về bệnh lý ruột già môi trường, gánh nặng ký sinh trùng, và tăng trưởng ở 119 trẻ Bangladesh (≤ 48 tháng tuổi) ở vùng nông thôn Bangladesh ở các mức độ sạch sẽ khác nhau của hộ gia đình được xác định bằng các chỉ tiêu khách quan về chất lượng nước và vệ sinh và rửa tay [51]
Một nghiên cứu can thiệp nhằm cải thiện vệ sinh, vệ sinh và cấp nước cho 20 triệu người ở Bangladesh đánh giá hiệu quả củ a việc thay đổi hành vi
và giảm thiểu bệnh tiêu chảy và hô hấp ở trẻ em dưới 5 tuổi Cụ thể những
Trang 6người tham gia rửa tay với xà bông <3% thời gian xung quanh các sự kiện liên quan đến thực phẩm trong cả hai sự can thiệp và kiểm soát các hộ gia đình ở thời điểm đầu và sau 18 tháng Chương trình vệ sinh, vệ sinh và cải thiện quy mô lớn đã dẫn đến cải tiến một vài hành vi nhắm mục tiêu, nhưng hành vi còn rất khiêm tốn Những thay đổi vẫn chưa làm giảm đáng kể về tiêu chảy ở trẻ em và bệnh hô hấp [49]
Các kim loại nặng có thể xâm nhập vào các nguồn nước từ nhiều nguồn,
ví dụ như thời tiết của đá và đất Một nguồn kim loại nặng khác là hoạt động của con người do nuôi trồng, khai thác mỏ, và các hoạt động sản xuất công nghiệp khác Các báo cáo đã chỉ ra rằng tình trạng ô nhiễm đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây ở các nước đang phát triển do phát triển công nghiệp nhanh và tỷ lệ tăng dân số cao dẫn tới sự xuống cấp dần về chất lượng nước, đặc biệt là ở một số nguồn nước tự nhiên [57]
Số liệu từ báo cáo của tác giả Clasen TF và cộng sự khảo sát 46 nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled clinical trial - RCT), bao gồm hơn 84.000 người tham gia, đã đạt được các tiêu chí đưa vào Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở các quốc gia có thu nhập thấp hoặc trung bình (50 nghiên cứu) với nguồn nước không được cải tiến (30 nghiên cứu) và vệ sinh không được cải thiện hoặc không rõ ràng (34 nghiên cứu)…Các cải tiến về chất lượng nguồn nước ở thời điểm hiện tại chưa có đủ bằng chứng để biết liệu các cải tiến dựa trên nguồn như các giếng khoan đã được bảo vệ , trạm cống chung hay nguồn nước ở cộng đồng có sử dùng clo làm sạch nước làm giảm bệnh tiêu chảy một cách liên tục [47]
Một nghiên cứu chất lượng nước giếng từ các hộ nông thôn và thành thị
ở Karnataka Ấn Độ năm 2012 đã tiến hành điều tra chất lượng nước sinh hoạt
từ 80 mẫu lấy tại nguồn ở các cộng đồng nông thôn và đô thị Kết quả thu được như sau: Tỷ lệ ô nhiễm phân, như được biểu hiện bởi sự tăng trưởng
Trang 7của E coli hoặc Enterococcus spp, là 27,5% (22 mẫu: 12 đô thị và 10 nông
thôn) Tổng số coliform được tìm thấy trong 74 nguồn nước hộ gia đình (92,5%) (đô thị là 39 mẫu - 97,5%, nông thôn 35 mẫu- 87,5%) [52]
1.2.1.2 Thực trạng sử dụng nước tại Việt Nam
Nước sạch và vệ sinh là những nhu cầu cơ bản đảm bảo sức khỏe tốt và phát triển giai đoạn đầu đời của mỗi con người Nước uống không đảm bảo vệ sinh có thể dẫn đến việc bị nhiễm các bệnh nguy hiểm như tả và thương hàn Theo số liệu từ Báo cáo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014 cho thấy 92% hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh – 98,2% sống ở khu vực thành thị và 89,1% sống ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, bất bình đẳng vẫn còn tồn tại giữa các hộ gia đình người dân tộc thiểu
số và người Kinh Chỉ có 75% các hộ gia đình dân tộc thiểu số được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh so với 95% các hộ gia đình người Kinh [37] Kết quả nghiên cứu năm 2012 tại 03 xã vùng nông thôn tỉnh Hải Dương cho kết quả: Đánh giá bằng cảm quan chất lượng nguồn nước tại các xã cho thấy hộ gia đình có nguồn nước hợp vệ sinh xã Thanh Tùng là 57,4%, xã Cẩm Phúc là 56,1% và ở xã Phương Hưng là 49,8% Nguồn nước được HGĐ sử dụng là nước máy 47%, nước mưa 13%, nước giếng khơi 3,2%, nước giếng khoan 33% và nước sông/hồ/ao 3,8% [27] Theo kết quả từ báo cáo năm 2011 của Cục quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế cho biết 15,1% số gia đình hiện vẫn đang sử dụng nước sông suối/ao hồ làm nguồn nước chính cho ăn uống
và sinh hoạt; 30,4% hộ gia đình có nguồn nước chính không hợp vệ sinh; 4,6% và 15,3% nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm cao và rất cao An Giang là tỉnh có tỷ lệ nguồn nước hộ gia đình có nguy cơ ô nhiễm rất cao lên đến 54,1% và thấp nhất là Hà Tĩnh với 3,6% [10]
Kết quả nghiên cứu năm 2013 tại 02 xã của tỉnh Hà Nam cho biết: Các nguồn nước chủ yếu người dân 2 xã Tiên Phong và Châu Sơn sử dụng lần
Trang 8lượt là nước mưa đều là 91%; giếng khoan 63% và 90% 100% gia đình có sử dụng cả nước đào [32]
Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Kiên Trung tại 2 xã Ngọc Hồi , Vạn Phúc, huyện Thanh Trì , Hà Nội năm 2014 cho kết quả : xã Ngọc Hồi có tỷ lệ
hộ sử dụng các nguồn nước khai thác tại hộ gia đình cao hơn như sử dụng nước mưa cho ăn uống cao hơn 27,1%, sử dụng nước giếng khoan cho tắm rửa vệ sinh cao hơn 10,5% [39] Kết quả điều tra nước và nhà ở giữa kỳ thời điểm giữa kỳ 01/4/2014 cho biết có 17,6% nước máy, 54,2% nước giếng khoan, 13,9% nước mưa, nước khe, nước giếng đào không được bảo vệ và các nguồn nước khác chiếm tỷ lệ 14,3% [1]
1.2.1.3 Thực trạng sử dụng nước ở Thái Bình:
Nguồn nước mặt: mật độ sông là 5,72 km/km2 các dòng sông đều uốn khúc, độ dốc nhỏ từ 0,02-0,05 m/km Toàn tỉnh có 4 sông lớn là sông Hoá, sông Luộc, sông Trà Lý và sông Hồng, cùng hệ thống các sông trục nội đồng
và các ao, hồ có sức chứa hàng triệu mét khối nước ngọt Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý, cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và phần lớn các nhà máy nước sinh hoạt của thành phố Thái Bình, thị trấn Vũ Thư, Tiền Hải, Diêm Điền lấy nước từ nguồn này Song điều đáng lo ngại là các nguồn nước này hiện nay đang bị ô nhiễm với nguy cơ ngày càng tăng, do nước thải từ thượng nguồn bị ô nhiễm vì các hoạt động nông nghiệp, nước thải công nghiệp gây ra
Theo bản đồ phân đới thuỷ địa hoá thẳng đứng và theo phương nằm ngang thì phía Bắc sông Trà Lý bao gồm các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ và một phần huyện Thái Thuỵ nước ngầm ở đây không bị nhiễm mặn nên có thể sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất [33]
Dựa theo kết quả từ nghiên cứu của Ngô Thị Nhu về thực trạng chất lượng giếng và bệnh liên quan ở vùng nông thôn Thái Bình năm 2008 cho
Trang 9chúng ta thấy: Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung là 12% và ở đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy là 5,2%, ở độ tuổi ≥ 5 tuổi tỷ lệ này là 12,5% Bệnh về mắt
và da liên quan đến việc sử dụng nước lần lượt là 3,1 và 5,9% [25]
1.2.2 Nhà tiêu hộ gia đình
1.2.2.1 Tình hình trên thế giới:
Một chương trình xây dựng nhà vệ sinh do chính Bộ Y tế Mozambique khởi xướng năm 1976 đã đưa ra những bài học quan trọng cho các nước Châu Phi khác Mặc dù hàng chục nhà vệ sinh được xây dựng ở các cộng đồng đô thị có thu nhập thấp trong một khoảng thời gian ngắn nhưng chiến dịch đã thất bại nặng nề vì thiếu hướng dẫn kỹ thuật về thiết kế và xây dựng nhà vệ sinh và tình trạng thiếu các vật liệu xây dựng phù hợp Đáp lại điều đó , một
dự án nghiên cứu đã được đưa ra vào năm 1979 để xác định và phát triển một công nghệ phù hợp và phương pháp để thực hiện cải thiện vệ sinh ở các khu vực ven đô Điều này dẫn đến đến việc thành lập vào năm 1985 của Chương trình Quốc gia về Vệ sinh Chi phí thấp do các nhà tài trợ, chính quyền Trung ương và cộng đồng người sử dụng tài trợ…Mặc dù có những vấn đề về kinh tế
và chính trị bất ổn, 170.496 nhà vệ sinh đã được lắp đặt từ năm 1979-1996 [56] Kết quả nghiên cứu tại huyện Eryuan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc cho biết trong tổng số 90 nhà tiêu được khảo sát Tỉ lệ phổ biến của nhà tiêu hợp vệ sinh tại các thôn Yongle, Qiandian và Xinzhuang tương ứng là 83,19%, 83,12% và 81,63% [59] Tại Ethiopia, đến 60% gánh nặng bệnh tật hiện tại là do vệ sinh kém Nhà vệ sinh bảo hiểm cơ sở đang gia tăng kể từ khi Chương trình khuyến Sức khỏe bắt đầu, trong khi ít chú ý đến chất lượng và sử dụng nhà vệ sinh cơ sở ở nông thôn Ethiopia Trong nghiên cứu này có tổng số 801 hộ gia đình có nhà vệ sinh được đánh giá về tình trạng sử dụng nhà tiêu của họ Trong đó có 490 hộ gia đình (chiếm tỷ lệ 61,2%) đạt yêu cầu về sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh [63]
Trang 10Các yếu tố văn hóa xã hội và hành vi hạn chế việc áp dụng nhà vệ sinh ở vùng nông thôn ven biển bang Odisha ở Ấn Độ Thói quen, xã hội hóa, các nghi thức vệ sinh và các thói quen hàng ngày khác nhau với giai cấp, giới tính, tình trạng hôn nhân, tuổi tác và lối sống cũng cản trở việc nhận tài trợ từ chính phủ xây nhà vệ sinh [55]
1.2.2.2 Tại Việt Nam:
Bộ Y tế được Chính phủ giao nhiệm vụ chỉ đạo triển khai Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ năm 2001-2020 qua
4 giai đoạn Mục tiêu chính của chiến lược này là phấn đấu đến năm 2015 có 100% số hộ gia đình, 100% trường học và Trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh trong cộng đồng dân cư được thực hiện trên cỡ mẫu 1.240 hộ gia đình tại 5 tỉnh Điện Biên, Kon Tum, Ninh Thuận, An Giang, Đồng Tháp năm 2015 cho thấy chỉ có 28,5% số hộ gia đình tham gia nghiên cứu được tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh; 40,8% có nhà tiêu nhưng không hợp vệ sinh và 30,7% không có nhà tiêu [19]
Từ kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Kiên Trung tại 2 xã Ngọc Hồi , Vạn Phúc, huyện Thanh Trì , Hà Nội năm 2014 cho kết quả : 2 xã có tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu tự hoại lần lươ ̣t là 97,0% và 98% Tỷ lệ nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh không cao (cao nhất là 60,6%) chủ yếu không đạt về tiêu chí bảo quản, sử dụng Có sự chênh lệch giữa tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh giữa điều tra thực tế và số liệu sẵn có ta ̣i đi ̣a phương [39] Một nghiên cứu tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên năm 2010 cho thấy : Tỷ lệ trả lời nhà tiêu hai ngăn là loại nhà tiêu hợp vệ sinh đa ̣t tỷ lê ̣ thấp (37,6%); các tiêu chí khác xa nhà, xa nguồn nước trên 10m chỉ có 19,8% trả lời đúng, tỷ lệ không biết hoặc không trả lời là 23,6% Tỷ lệ hộ nhà tiêu hợp vệ sinh là 21,1%, tỷ lệ hộ không có nhà tiêu là 36,7%, tỷ lệ đối tượng có thái độ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh có thể
Trang 11phòng được bệnh đường tiêu hoá thấp (17,8%) [44] Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt tỷ lệ 30,9%, trong đó Kon Tum và Điện Biên có tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh thấp nhất lần lượt là và 10,2% và 4,3% [10]
Tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh của dân số dân tộc thiểu số vẫn là một thách thức lớn, góp phần gây nên tình trạng sức khỏe kém và suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em Hơn 47% dân số dân tộc thiểu số không được tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh Bên cạnh đó, tỷ lệ phóng uế bừa bãi ở nhóm dân số dân tộc thiểu số ở mức cao: 26% so với chỉ 2% ở nhóm dân tộc Kinh [37] Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Xuân Bái, Trần Thị Phương và Hoàng Thị Hòa về thực trạng nhiễm giun đường ruột của người dân xã Mỹ Tân tỉnh Nam Định năm 2013 cho thấy: Tỷ lệ nhiễm giun chung của đối tượng nghiên cứu
là 44,5% trong đó tỷ lệ người dân nhiễm 1 loại giun là 38,0%; tỷ lệ nhiễm 2 loại giun là 6,5% [5]
Nghiên cứu năm 2012 của Ngô Thị Nhu và cộng sự tại ba xã Cẩm Phúc, Thanh Tùng, Phương Hưng tỉnh Hải Dương của cho thấy tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu rất cao chiếm 99,2% số HGĐ, tỷ lệ nhà tiêu đạt chuẩn sử dụng là 70,1% [27] Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn thì thực trạng vệ sinh môi trường tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên năm 2009 còn nhiều vấn đề cần lưu tâm đó là: Tỷ lệ số hộ dân có nhà tiêu tuy đạt tỷ lệ lên tới 97,6%, nhưng tỷ
lệ số hộ dân có nhà tiêu không hợp vệ sinh còn cao (25,6%); tỷ lệ số hộ gia đình đi ngoài bừa bãi, tỷ lệ chưa có nhà tiêu 2,4% [34]
Một nghiên cứu trước đó tại 03 xã của huyện Vũ Thư năm 2009 của Ngô Thị Nhu về thực trạng nhà tiêu hộ gia đình và kiến thức thực hành nhà tiêu thấm dội nước chiếm 21,7%; nhà tiêu tự hoại là 15,8%; nhà tiêu không hợp vệ sinh chiếm tỷ lệ 50,2% Trong các loại nhà tiêu hợp vệ sinh, nhà tiêu thấm dội nước chiếm tỷ lệ 48,5%; nhà tiêu tự hoại là 35,5% [26] Kết quả từ Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.800 hộ gia đình tại 6 tỉnh đại diện cho 6
Trang 12vùng sinh thái tại Việt Nam năm 2011-2012 cho thấy: 15,9% số người được phỏng vấn không kể được tên một tiêu chuẩn nào của nhà tiêu hợp vệ sinh (HVS) Tiêu chuẩn được nhiều người biết đến là không làm ô nhiễm môi trường 43,7%, tiếp đến là diệt tác nhân gây bệnh (9,7%) và thấp nhất là cô lập phân người (7,2%) 14,3% số người được phỏng vấn không kể được tên một loại nhà tiêu HVS nào hoặc kể không đúng một loại nhà tiêu HVS nào trong 5 loại nhà tiêu thuộc loại HVS Loại nhà tiêu HVS được nhiều người biết đến là
tự hoại (74,8%), tiếp đến là thấm dội nước (21,4%), hai ngăn (12,8%) 12,1%
số người được phỏng vấn không kể được tên một bệnh nào do ô nhiễm phân người gây nên [35]
1.2.3 Rác thải sinh hoạt
1.2.3.1 Trên thế giới
Sigapore là một nước được đô thị hóa 100% và cũng được coi là một trong những đô thị sạch nhất trên thế giới Ở Sigapore có hai thành phần tham gia chính vào đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải là: tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường chủ yếu thu gom rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư
và các công ty và hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp
và thương mại Ngoài ra, các hộ dân và các công ty ở Sigapore được khuyến khích tự thu gom và xử lý rác thải để có thể giảm được chi phí [23]
Nhật Bản có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm trong quản lý chất thải: chất thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của nhà nước Tại Bỉ, công tác thu gom và xử lý rác thải được các công ty tư nhân đầu tư, hình thành ngành công nghiệp thu gom và xử lý rác thải [43]
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt càng trở nên phổ biến , không chỉ với các khu đô thị, thành phố mà nông thôn cũng vậy Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh
Trang 13những bãi rác công cộng ngay bên lề đường không được đổ đúng nơi quy
định đang phân hủy bốc mùi hôi thối mà không có các giải pháp thu gom hay
xử lý Trên các tuyến đường thành, thị, huyện, xã nhiều đoạn hai bên đường
có vô số những đống rác thải do một số người dân sinh sống gần đường mang rác thải đến đổ thành đống Hoặc dọc những kênh mương nhiều nơi rác thải trôi lềnh bềnh trên mặt nước với mật độ ngày càng dày đặc Đây là bãi rác tự phát do người dân ở gần đổ ra do ý thức của người dân còn hạn chế, có nhiều vùng còn chưa có bãi rác tập trung và không có đội thu gom rác thải
Chất thải rắn (CTR) sinh hoạt nông thôn có tỷ lệ khá ca o chất hữu cơ và phần lớn là chất hữu cơ dễ phân hủy (chiếm khoảng 65%) Theo ước tính, với lượng chất thải phát sinh khoảng 0,3kg/người/ngày thì lượng rác thải sinh hoạt phát sinh năm 2013 khoảng 18.200 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Các loại CTR sinh hoạt phát sinh có sự phân hóa tương ứng với số dân nông thôn của từng vùng, theo đó Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất [12] Hiện nay biện pháp phổ biến nhất cho việc xử lý rác là chôn lấp , tuy nhiên ngoài ưu điểm của phương pháp chôn lấp chất thải rắn là xử lý được khối lươ ̣ng lớn chất thải , chi phí đầu tư và chi phí xử lý nhỏ thì công nghệ chôn lấp và xử lý rác thải không hợp vệ sinh tại các địa phương đang thực hiện lâu nay đã phát sinh nhiều bất cập và nghiêm trọng nhất đó là nó chiếm nhiều diê ̣n tích đất , thời gian phân hủy châ ̣m , gây ô nhiễm khu vực xử lý Ví
dụ như quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ gây mùi , các côn trùng gây
bê ̣nh (ruồi, muỗi,…), gây ra các vụ cháy nổ , ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng tới giao thông do rơi vãi rác thải khi vâ ̣n chuyển , đă ̣c biê ̣t là lượng nước rò rỉ từ rác thải, lượng nước này khi xâm nhâ ̣p vào môi trường nó sẽ gây tác đô ̣ng xấu đến môi t rường xung quanh (đất, nước)
Theo khảo sát của Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Bình): Trung bình mỗi ngày có khoảng 758 tấn rác thải sinh hoạt
Trang 14phát sinh tại khu vực nông thôn của tỉnh Thái Bình Để bảo vệ môi trường và cảnh quan nông thôn, tỉnh đã áp dụng một số giải pháp như chôn lấp, ủ phân
vi sinh và mới đây nhất là công nghệ lò đốt rác Tuy nhiên đến nay, những giải pháp trên đang dần bộc lộ những hạn chế Bình quân mỗi xã lượng rác thải khoảng từ 5 - 10 tấn mỗi ngày, trong đó 60% lượng rác này được thu gom bằng biện pháp thủ công (xe cải tiến, xe thồ, xe đẩy tay) và không được xử lý bằng công nghệ hợp tiêu chuẩn vệ sinh môi trường [16]
Kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Nhu về thực hành của người dân về thu gom rác có 62,7% hộ gia đình bỏ rác vào túi nilon; 78,9% hộ gia đình không phân loại rác trước khi đổ Thực hành về phòng chống ô nhiễm nguồn nước đúng chỉ có 13,1% đến 32% với các hoạt động Chỉ có 41,4% số hộ gia đình
có ủ phân trước khi sử dụng và 58,6% ủ đúng thời gian quy định [27]
Hiện nay, khu vực nông thôn ở Thái Bình có 267 xã, trong đó thành phố Thái Bình 09 xã; huyện Đông Hưng 43 xã; huyện Hưng Hà 33 xã; huyện Kiến Xương 36 xã, huyện Quỳnh Phụ 36 xã; huyện Thái Thụy 47 xã; huyện Tiền hải 34 xã; huyện Vũ Thư 29 xã Theo điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2013, toàn tỉnh có khoảng 380 bãi rác tự phát không đảm bảo về
vệ sinh môi trường, trong đó: Quỳnh Phụ có 70 bãi rác, Hưng Hà có 53 bãi rác, Thái Thụy có 55 bãi rác, Đông Hưng có 99 bãi rác, Tiền Hải có 20 bãi rác, Kiến Xương có 49 bãi rác, Vũ Thư có 34 bãi rác [33] Kết quả từ nghiên cứu của Đặng Thị Vân Quý và cộng sự năm 2013 tại 02 xã của tỉnh Hà Nam cho biết 52% và 55% là tỷ lệ hộ gia đình có hố rác [32]
Để giải bài toán xử lý CTR nông thôn, tháng 10/2013 tỉnh Thái Bình đã triển khai thí điểm lò đốt CTR sinh hoạt với tổng mức đầu tư của dự án là 4,2 tỷ đồng Tháng 2/2014, công trình được đưa vào hoạt động với diện tích 3.000m2, cách xa khu dân cư trên 1km, hoạt động theo mô hình lò đốt kết hợp chôn lấp [12]
Trang 15Theo bà Trần Thị Hải, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hưng Hà cho biết: Hiện nay, 35/35 xã, thị trấn ở Hưng Hà có quy hoạch bãi chứa rác thải sinh hoạt theo tiêu chí NTM, trong đó 16 xã, thị trấn được UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng lò đốt rác Đến nay, 4 xã đã xây dựng và đưa vào hoạt động ổn định gồm Minh Khai, Minh Hòa, Đoan Hùng, Điệp Nông; hai xã đã lắp đặt và chuẩn bị đưa vào sử dụng, các xã còn lại tiếp tục đầu tư xây dựng các hạng mục công trình như đường, tường bao xung quanh… để hoàn thiện công trình Tỷ lệ thu gom rác thải trong toàn huyện đạt
từ 80 - 85%, chủ yếu tập trung ở những xã đã về đích nông thôn mới (NTM) [18]
1.2.4 Điều kiện vệ sinh nhà ở
Trong chiến lược phát triển của quốc gia điều kiện ở của hộ dân cư là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển Cuộc điều tra
về Dân số và nhà ở năm 2014 với sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thu thập thông tin về điều kiện ở cơ bản của các hộ dân cư Điều kiện nhà ở của các hộ gia đình ở nông thôn được mô tả tóm tắt như sau: Tỷ lệ bình quân số người/ 1 hộ gia đình là 3,5 người/hộ ở Đồng bằng sông Hồng trong đó: 10,1% hộ có một người, 66,9% hộ có từ 2-4 người, 20,5% hộ có từ 5-6 người và trên 7 người/hộ là 2,5% [1]
Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 đã chỉ ra rằng, tổng số dân của nước ta tại thời điểm 1/4/2009 có 85.846.997 người Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới Số người sống ở khu vực thành thị là 25.436.896 người, chiếm 29,6% và ở khu vực nông thôn
là 60.410.101 người, chiếm 70,4% tổng dân số Dân số nam là 42.413.143 người, chiếm 49,4% và nữ là 43.433.854 người, chiếm 50,6% tổng dân số Số liệu Tổng điều tra cũng chỉ ra sự khác biệt giữa các vùng, miền về các chỉ tiêu nhân khẩu học, chỉ tiêu kinh tế - xã hội và mức độ khác nhau trong việc đạt được các mục tiêu Thiên niên kỷ [21]
Trang 16Tình trạng nhà ở là một trong những nội dung cơ bản nhất khi đánh giá chất lượng sống của hộ dân cư Đây được xem là thông tin quan trọng phục
vụ công tác lập kế hoạch phát triển đất nước Tình trạng nhà ở của hộ dân cư được phân ra thành 2 loại: “có nhà ở” và “không có nhà ở” Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014 về thực trạng phân bố nhà và loại nhà ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như sau: Tại Thái Bình tính đến năm 2009 tổng số nhà là 496.714 căn nhà trong đó vùng nông thôn số nhà chiếm tới 90,11% là 447.627 nhà với 96,78% nhà kiên cố, 2,86% nhà bán kiên cố, 0,36% nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ và không xác định Điều này cho thấy tại Thái Bình dân
cư chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn…tỷ lệ hộ có nhà ở năm 2014 ở Thái Bình chiếm tỷ lệ cao nhất về nhà ở kiên cố với 98,4%, ở Hải Phòng chiếm tỷ
lệ thấp nhất là 80,1% [6]
Ở các vùng nông thôn, mật độ giao thông ít hơn, có thể xa các khu công nghiệp nên chất lượng không khí ngoài trời và trong nhà thường ít ô nhiễm hơn Tuy nhiên ô nhiễm nhà ở cũng cần được quan tâm, đặc biệt ở những nước đang phát triển, là nơi nhà ở chưa được cải thiện, tiện nghi sinh hoạt thấp kém, bếp ở ngay trong nhà, sử dụng các nhiên liệu làm chất đốt và không
có ống khói để thoát hơi khí độc, đặc biệt các hơi khí độc do phân huỷ chất hữu cơ từ rác thải, nước thải, phân người, phân gia súc không được thu gom
xử lý đúng [7] Theo kết quả điều tra trên quy mô 600 hộ gia đình về tình trạng vệ sinh nhà ở tại tỉnh Thái Bình của tác giả Phạm Văn Trọng cho thấy : nhà bê tông là 63,2%, nhà xây lợp ngói là 33,2%, nhà lợp lá là 0,8% [38]
1.2.5 Không khi ́:
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây
ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn,…)
Trang 17Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, rất mạnh và diễn
ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (Gas) Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân
1.3 Kiến thức và thực hành của người dân về vệ sinh môi trường
1.3.1 Trên thế giới
Esrey S A và cộng sự đã phân tích dữ liệu về 119 trẻ sơ sinh sống tại 20 làng ở Lesotho- Canada từ giai đoạn 6 tháng 1984-1985 để đánh giá hiệu quả của nhà vệ sinh và tăng cường sử dụng nước đối với tăng trưởng 62% trẻ sơ sinh sống trong các gia đình không có nhà vệ sinh và không tăng sử dụng nước giữa 2 mùa Chỉ có 3% tăng sử dụng nước và có nhà vệ sinh, 19%
có nhà vệ sinh, nhưng không tăng sử dụng nước Tăng 16% việc sử dụng nước, nhưng không có nhà vệ sinh [48]
Một nghiên cứu trên quy mô 75 ngôi làng ở vùng nông thôn của Ấn Độ bao gồm 16.403 cá thể từ ba cấp độ liên lạc xã hội (bạn bè trực tiếp, cộng đồng mạng xã hội và làng xã) dự đoán đáng kể quyền sở hữu nhà vệ sinh cá nhân, nhưng hiệu quả mạnh nhất đã được tìm thấy ở cấp cộng đồng mạng xã hội Ở các cộng đồng có sự gắn kết mạng cao, khả năng giảm được bất cứ cá nhân nào sẽ có nhà vệ sinh Hiệu quả này chỉ có ý nghĩa ở các cấp thấp hơn về quyền sở hữu nhà vệ sinh, cho thấy vai trò của sự gắn kết mạng lưới trong việc tạo điều kiện cho tiêu chuẩn không thuộc sở hữu nhà nước [58]
Trang 18Nghiên cứu tại Periurban, Maputo, Mozambique, chọn mẫu ngẫu nhiên, được phân tầng theo mật độ tập trung, chủ yếu là các hộ gia đình do nữ làm chủ ở KaTembe, huyện của thành phố lớn nhất Maputo, Mozambique Cuộc khảo sát bao gồm các câu hỏi về tính đầy đủ, khả năng tiếp cận và khả năng chi trả của nước, vệ sinh cơ sở vật chất , và quản lý chất thải cũng như nhận thức về bệnh tật và thói quen vệ sinh an toàn… Mặc dù là một phần của thủ
đô, người dân KaTembe phải đối mặt với một loạt các thách thức về vệ sinh, như đã được khám phá thông qua phân tích đầy đủ, khả năng tiếp cận, chi phí hợp lý và các vấn đề nhận thức [46]
Một cuộc khảo sát ở trong 292 hộ gia đình tại 25 làng ở Odisha nông thôn, Ấn Độ với thiết bị điều tra là màn hình khảo sát hành vi sử dụng nhà tiêu (PLUMs) được đặt tại đây cho người dân tự trả lời bằng cách tương tác với màn hình đó Màn hình tương tác đã được lắp đặt trong 2 tuần và các hộ gia đình đã trả lời các khảo sát về hành vi sử dụng nhà vệ sinh của họ Các số liệu trung bình báo cáo các sự kiện hàng ngày "bình thường" cho mỗi hộ gia đình Có sự đồng ý giữa việc sử dụng nhà tiêu thường lệ và các sự kiện ghi lại trung bình hàng ngày của PLUMs Có sự đồng ý trung bình khi so sánh báo cáo hàng ngày được sử dụng trong 48 giờ trước đó với số lượng trung bình hàng ngày [61]
Nghiên cứu đánh giá nhận thức, thực tiễn và kiến thức của các cộng đồng về các khu nhà vệ sinh ở vùng nông thôn phía đông Zambia năm 2015 Kết quả cho thấy nhà vệ sinh không được xây dựng trong mỗi hộ gia đình Các nhà vệ sinh hiện có trong khu phố Các nhà vệ sinh được cho là đóng góp vào việc vệ sinh tốt chủ yếu do họ ngăn không cho lợn ăn phân người Nam giới bày tỏ sự miễn cưỡng từ bỏ việc đi vệ sinh nơi công cộng chủ yếu do các điều cấm kỵ liên quan đến nhà vệ sinh với luật pháp [62]
Trang 191.3.2 Tại Việt Nam
Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trường có tính chất nghiêm trọng ở khu vực nông thôn nước ta Môi trường không đảm bảo làm ảnh hưởng tới rất nhiều khía cạnh của kinh tế, văn hóa và xã hội mà ở góc
độ của nghiên cứu này chúng tôi đặc biệt lưu ý đến vấn đề sức khỏe con người Con người bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các vấn đề như: Ô nhiễm môi trường nước, nhà ở đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về vệ sinh – an toàn, nhà tiêu chưa hợp vệ sinh, rác thải sinh hoạt tràn lan chưa được xử lý,
Kết quả nghiên cứu: “Tình hình sử dụng nước sạch của các hộ gia đình tại xã Tân Thới, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2014” của Lê Thị Trúc Phương, Phan Thị Trung Ngọc cho biết tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước sạch để uống là 96,2%, trong đó có 2,5% hộ gia đình uống trực tiếp không xử lý (nước mưa) và các hộ gia đình còn lại đều uống nước sau khi
đã đun sôi; 86,3% hộ gia đình dùng nước sạch để chế biến thức ăn; 84% hộ gia đình rửa - làm sạch thực phẩm bằng dùng nước sạch và 79,3% hộ gia đình
có nước sạch để tắm giặt [28]
Theo kết quả nghiên cứu ở đối tượng ho ̣c sinh trung ho ̣c cơ sở ta ̣i huyê ̣n
Ba Vì, Hà Nội năm 2013 cho thấy 74,8% học sinh cho rằng nước máy là nước sạch Có 18,5% học sinh liệt kê được đủ 3 tính chất của nước sạch Tỷ lệ học sinh cho rằng dùng nước không sạch gây bệnh đường tiêu hóa; gây bệnh da niêm mạc lần lượt là 72% và 81,1% Có 67,8% học sinh mong muốn được dùng nước máy là nước sinh hoạt tại trường Đa số học sinh muốn được uống các loại nước hợp vệ sinh do nhà trường chuẩn bị (70,9%) Nguồn nước chủ yếu các em được sử dụng sinh hoạt tại trường là nước máy (49%) và nước giếng khoan (31,1%) [17]
Trang 20Kết quả thu được từ nghiên cứu của Hạc Văn Vinh và cộng sự tại Thái Nguyên năm 2010 cho thấy: Thái độ, kiến thức và thực hành về sử dụng nguồn nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh của đối tượng nghiên cứu chưa cao Với đặc điểm khu vực miền núi, có các dân tộc khác nhau sinh sống, những tập quán văn hóa của người dân còn nhiêu điểm lạc hậu, hơn nữa với điều kiện kinh tế còn khó khăn, tỷ lê hộ nghèo còn cao cũng ảnh hưởng đến việc xây dựng các công trình vệ sinh đạt yêu cầu như giếng đào có thành, tìm kiếm
và sử dụng nguồn nước sạch, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh: Nhà tiêu hai ngắn, ủ phân tại chỗ [44]
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà, Dương Chí Nam về Thực trạng xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu hộ gia đình ở 6 tỉnh Việt Nam năm 2014 cho biết tại địa bàn nghiên cứu: hơn 90% HGĐ có nhà tiêu, trong đó 72,4% nhà tiêu hợp vệ sinh, chủ yếu là tự hoại (51%) và thấm dội nước (14,7%) So với năm 2006, tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu tự hoại đã tăng 359,5% (từ 11,1 - 51%, tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản đã tăng 257,8% (64,4% so với 18%) [14]
Kết quả nghiên cứu tại 02 xã của huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014 cho biết: Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng một phần về nhà tiê u hợp vệ sinh vệ sinh tại xã Vạn Phúc cao hơn Ngọc Hồi Tuy nhiên , mức độ quan tâm đến kiến thức xây dựng , bảo quản, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh không cao tương ứng với tỷ lệ nhà tiêu tự hoại chưa hợp vệ sinh [39]
Theo tác giả Vũ Phong Túc năm 2013 trong nghiên cứu Xử lý rác thải sinh hoạt của người dân tại 03 xã của huyện Tiền Hải cho biết: Thành phần của rác thải tại hộ gia đình phần lớn là thức ăn thừa chiếm tỷ lệ cao là 75,4%; 21,4 – 27,4 % là tỷ lệ rác thải khác Ba xã Phương Công, Tây Ninh và Vũ Lăng tại địa bàn nghiên cứu chủ yếu có hình thức thu gom là cho rác vào túi nilon và đạt tỷ lệ là 88,8% [41]
Trang 21Kết quả từ nghiên cứu về Thực trạng vệ sinh môi trường tại 2 xã Tiên Phong - Châu Sơn - huyện Duy Tiên - tỉnh Hà Nam năm 2012 của Đặng Thị Vân Quý và Đặng Thị Bích Hợp cho rằng: có tỷ lệ lần lượt là HGĐ sử dụng nhà tiêu, nhà tắm là 95% và 73% HGĐ sử dụng nhà tiêu tự hoại là chủ yếu chiếm tỷ lệ 51% và 55%, còn nhà tiêu hai ngăn là 34% và 25% Tỷ lệ HGĐ sử dụng phân của 2 xã lần tượt là 63% và 20% [32]
Tỷ lệ người dân ở 3 xã của tỉnh Hải Dương 2012 có kiến thức đúng về nhà ở đảm bảo vệ sinh chiếm từ 17,3% đến 54,8%; 55,2% người dân cho rằng bệnh mắc phải do nhà ở không hợp vệ sinh là bệnh hô hấp; còn các bệnh khác chiếm tỷ lệ thấp Đa số người dân cho rằng nguồn nước sạch chỉ là nguồn nước mưa và nước máy chiếm tỷ lệ 81,2% đến 91,5% Kiến thức của người dân về các bệnh do nước truyền chiếm tỷ lệ từ 13,9% đến 29,4% Quan điểm của người dân về nhà tiêu tự hoại là hợp vệ sinh là 80,2%; nhà tiêu thấm dội nước và nhà tiêu hai ngăn chiếm hơ ̣p vê ̣ sinh lần lươ ̣t là 17,8% đến 28,3% Việc thực hành của người dân về phòng chống ô nhiễm nước còn thấp, trên 30% thực hành khơi thông cống rãnh và thau rửa bể lọc; 24,2% vệ sinh môi trường xung quanh và 13,1% sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh [27]
Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Nhu và cộng sự tại 03 xã của huyện Vũ Thư năm 2009 cho thấy 94,7% người dân được hỏi biết nhà tiêu tự hoại là hợp vệ sinh, 50% cho rằng nhà tiêu hai ngăn hợp vệ sinh 68,7% người dân biết ô nhiễm môi trường do phân gây bệnh tiêu chảy, 65,5% cho rằng mắc bệnh giun, 38% biết gây ảnh hưởng đến môi trường Đa số người dân được hỏi cho rằng tiêu chuẩn nhà tiêu thấm dội nước là sạch và không có mùi hôi (71,5%) Tiêu chuẩn khoảng cách xây dựng chỉ chiếm 13,4% Thực hành của người dân về nhà tiêu hai ngăn: chỉ sử dụng một ngăn chiếm 21,2%; ủ đúng thời gian chiếm 17,6% Nhà tiêu dội nước: dùng đủ nước dội là 72,2%; có dụng
cụ đựng giấy vệ sinh chỉ chiếm 45,1% [26]
Trang 22Một đánh giá trên kết quả nghiên cứu 415 HGĐ tại Thái Nguyên năm 2009 cho thấy: Tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành tốt về vệ sinh môi trường còn thấp: Kiến thức tốt: 3,4%; thái độ tốt: 34,4%, thực hành tốt: 12,5% Mặc dù hầu hết đều kể tên được nguồn nước sạch, tuy nhiên tỷ lệ người dân nêu được các bệnh do nguồn nước không sạch gây ra thấp chỉ đạt 33,2% [34]
Từ kết quả của cuộc điều tra được tiến hành tại 09 xã đại diện cho vùng ngập lụt của 2 huyện Tân Châu, An Phú tỉnh An Giang dựa trên 2 cuộc điều tra cắt ngang trước và sau can thiệp để xác định thực trạng sử dụng nhà tiêu
và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về VSMT ở vùng ngập lụt tỉnh
An Giang cũng như sự chấp nhận của cộng đồng với các nhà tiêu thử nghiệm Kết quả cho thấy một số kiến thức, hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường của người dân trước và sau can thiệp có thay đổi, tuy nhiên nhiều hành
vi chưa được cải thiện nhiều Vẫn còn 31,7% đối tượng trong nghiên cứu sau can thiệp sử dụng nước sông hồ cho ăn uống và sinh hoạt Sau can thiệp, hiểu biết về các biện pháp phòng bệnh đường ruột và giun sán được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ hộ gia đình không có nhà tiêu trong nhóm nghiên cứu đã giảm đáng
kể từ 76,4% xuống còn 64,4% trước và sau can thiệp [4]
Theo tác giả Đặng Ngọc Chánh và Lê Ngọc Diệp trong một nghiên cứu can thiệp tại tỉnh Đồng Tháp năm 2010 cho biết: Tại các HGĐ ở 02 xã Phú Đức và Mỹ Hòa thì hình thức thu gom rác và đốt sau hè là phổ biến nhất với tỷ lệ 46,6% Trong khi đó, 27,6% gia đình sống tại khu vực tập trung đông dân cư thì thực hiện việc thu gom rác tại gia đình Những hộ này trả tiền hàng tháng cho tổ thu gom rác đi thu gom hàng ngày và mang đến chôn lấp tại bãi rác tập trung của xã Có những hộ gia đình tự mang rác ra tận thùng rác chung của chợ để đổ [13]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được triển khai tại 02 xã củ a huyện Hưng
Hà - tỉnh Thái Bình là thị trấn Hưng Hà và xã Bắc Sơn (bản đồ ở phụ lục 1) Hưng Hà một vùng quê được bồi đắp bởi 3 con sông lớn : sông Hồng , sông Luộc, sông Trà, vì thế đã tạo lên những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ , hệ thống giao thông nông thôn khá hoàn thiện , 3 trục đường lớn đang được xây dựng và nâng cấp , đường 39A và đường 223 Huyện có mạng lưới cơ sở
hạ tầng khá đồng bộ và phát triển Về tổ chức gồm: phòng Y tế, Trung tâm Y
tế huyện, 2 bệnh viện đa khoa, 35 trạm Y tế xă, thị trấn Hệ thống cán bộ Y tế
cơ sở được củng cố hoàn thiện, hiện nay có 262 cộng tác viên ở các thôn, làng
đã và đang được đào tạo chuyên môn có trình độ sơ cấp trở lên
2.1.1.1 Thị trấn Hưng Hà:
Thị trấn Hưng Hà là xã trung tâm của huyện có các điều kiện thuận lợi
về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội Thị trấn Hưng Hà có diện tích 5,50 km², dân số năm 2015 là 10.000 người, mật độ dân số đạt 1.818 người/km²
2.1.1.2 Xã Bắc Sơn:
Xã Bắc Sơn là một xã xa trung tâm, có các khó khăn về đường giao thông, dịch vụ và kinh tế còn chưa phát triển Cho đến thời điểm hiện tại Bắc Sơn là xã duy nhất trong 35 xã, thị trấn của huyện Hưng Hà chưa đạt chuẩn nông thôn mới Xã Bắc Sơn có diện tích 4,64 km², dân số năm 2016 là 6.352 người, mật độ dân số đạt 1175 người/km²
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Tại các hộ chúng tôi tiến hành phỏng vấn và quan sát:
- Chủ hộ gia đình hoặc người từ 18 tuổi trở lên
Trang 24- Nguồn nước ăn uống và sinh hoạt
- Nhà tiêu
- Rác thải sinh hoạt
- Nhà ở
* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng phỏng vấn:
- Đối tượng là chủ hộ hoặc người thân trong gia đình có độ tuổi từ 18 trở lên trong thời gian nghiên cứu
- Mỗi hộ gia đình chỉ phỏng vấn một người
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Đối tượng bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, có thái độ không hợp tác
2.1.3 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 06/2016 đến tháng
06/2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
* Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang, đơn
vị mẫu là hộ gia đình và đơn vị quan sát là nguồn nước, nhà tiêu, rác thải và nhà ở nhằm mô tả thực trạng điều kiện vệ sinh môi trường và nhà ở hộ gia đình cụ thể như sau:
- Nguồn nước ăn uống và sinh hoạt
Trang 252.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
* Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu để điều tra hộ gia đình được tính theo công thức sau:
2
2 2 / 1
) 1 (
d
p p
Trong đó:
- n: là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu (đơn vị mẫu là hộ gia đình)
- Z(1-α/2): là trị số mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
- p: Tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước hợp vệ sinh (ước tính từ mô ̣t nghiên cứu trước đó p= 0,5 (theo ước tính từ nghiên cứu của tác giả Ngô Thi ̣ Nhu) [25]
- d: là sai lệch mong muốn, ở nghiên cứu này chúng tôi chọn d= 0,05
Áp dụng công thức trên, chúng tôi tính được n=768, thực tế cỡ mẫu điều tra là 800 hộ gia đình tại 02 xã
- Chọn hộ gia đình: Tại từng thôn được chọn, chúng tôi tới trung tâm
thôn chọn hướng bằng phương pháp quay cổ chai chọn ngẫu nhiễn HGĐ đầu tiên bên tay phải, sau đó sử dụng phương pháp cổng liền cổng vận dụng quy tắc tay phải tại ngã tư hay đường cụt cho tới khi đủ cỡ mẫu cần thiết
- Chọn đối tượng phỏng vấn: Phỏng vấn các chủ hộ gia đình hoặc người từ
18 tuổi trở lên (nếu chủ hộ đi vắng) tại các hộ gia đình được chọn vào nghiên cứu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại mẫu cho đủ cỡ mẫu
2.2.3 Biến số, chỉ số sử dụng trong nghiên cứu
* Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu :
- Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới, trình độ, nghề nghiệp
Trang 26* Các biến số về thực trạng vệ s inh môi trườ ng hô ̣ gia đình và điều kiê ̣n
hô ̣ gia đình:
- Phân bố nguồn nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt
- Mức độ nguy cơ của nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống
- Các loại nhà tiêu tại địa bàn nghiên cứu
- Tình trạng vệ sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu
- Tình trạng thu gom rác thải tại địa bàn nghiên cứu
- Tình trạng thu gom rác thải đúng nơi quy định
- Các loại nhà ở tại địa bàn nghiên cứu
- Các loại vật liệu chính để xây dựng nhà ở
- Tổng diện tích trung bình của hộ gia đình, diện tích sử dụng để ở trung
bình/1 người tại địa bàn nghiên cứu
- Diện tích xây nhà trung bình , trung bình dù ng để ở , trung bình trồng cây xanh và các mục đích khác của hô ̣ gia đình tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá những yêu cầu về xây dựng và vệ sinh nhà
* Các biến về kiến thức, thực hành về vê ̣ sinh môi trường của người dân:
- Kiến thứ c về nguồn nước hợp vệ sinh nhất sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt
- Kiến thứ c về nguyên nhân gây ô nhiễm ngu ồn nước
- Kiến thứ c về bệnh có thể mắc do ô nhiễm nguồn nước
- Kiến thứ c của người dân về phòng tránh ô nhiễm nguồn nước
- Kiến thứ c về loại nhà tiêu hợp vệ sinh
- Kiến thứ c về thời gian đổ rác thải sinh hoạt
- Kiến thứ c về phân loại rá c trước khi thu gom
- Kiến thứ c về những hình thức phân loại rác
- Kiến thứ c về những bệnh do nhà ở không đảm bảo gây ra
- Thực hành về phân loại rác trước khi thu gom
- Thực hành sử dụng các phương tiện thu gom , chứa đựng rác thải
Trang 27- Thực hành xử lý rác thải của người dân tại địa bàn nghiên cứu
- Nguồn cung cấp thông tin về việc xây dựng nhà ở hợp vệ sinh và đủ tiêu chuẩn
2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Tại cộng đồng: Xin phép chính quyền địa phương cho phép tiến hành nghiên cứu tại 02 xã của huyện Hưng Hà Gặp gỡ và trao đổi với trưởng trạm
y tế xã tiến hành thu thập thông tin
- Tập huấn cho 4 giám sát viên (trong đó có 02 học viên cao học khóa 13 – trường Đại học Y Dược Thái Bình và 2 cán bộ chuyên ngành Y tế dự phòng, Y tế công cộng) về phương pháp thu thập thông tin từng nội dung trong phiếu phỏng vấn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người
- Tại thực địa, chúng tôi đã mời các cán bộ y tế thôn của 02 xã nghiên cứu tham gia vào nghiên cứu này Trong suốt thời gian tiến hành nghiên cứu tại thực địa chúng tôi đã đào tạo, tập huấn, trao đổi, nâng cao các kỹ năng phỏng vấn, giải đáp các thắc mắc của bộ phiếu phỏng vấn cho các điều tra viên để kết quả nghiên cứu được chính xác nhất Kết quả đầu ra của quá trình tập huấn có tổng số 22 điều tra viên, 04 giám sát viên đáp ứng được các yêu cầu để tham gia vào cuộc điều tra thực địa
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu đã được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia, việc tham gia điều tra là hoàn toàn tự nguyện Cuô ̣c điều tra sẽ tiến hành các biện pháp nhằm đảm bảo sự tôn trọng và tự do của từng
cá nhân tham gia Hoạt động tập huấn cho điều tra viên đặc biệt được chú trọng
- Trong quá trình phỏng vấn, tư vấn và giám sát viên phối hợp chặt chẽ với điều tra viên sẵn sàng giải đáp các vấn đề thắc mắc của đối tượng phỏng vấn trong quá trình thu thập thông tin
Trang 28- Tổ chức khảo sát thực địa, điều tra thử, hỏi ý kiến chuyên gia để giải quyết các vấn đề khó khăn (nếu có) tại thực địa
- Chuẩn bị đầy phiếu điều tra, văn phòng phẩm đi kèm Tổ chức điều tra
hộ gia đình đủ tiêu chuẩn nghiên cứu cho tới khi đủ cỡ mẫu cần thiết
2.2.5 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
- Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình hoặc người từ 18 tuổi trở lên để xác định kiến thức và thực hành của người dân về vệ sinh môi trường hộ gia đình và điều kiện nhà ở
- Quan sát trực tiếp và sử dụng bảng kiểm để xác định các yếu tố nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, tình trạng vệ sinh nhà tiêu, thu gom và xử lý rác, nhà ở (diện tích xây dựng, cây xanh, …)
Công cụ thu thập số liệu
- Bảng kiểm nhà tiêu HGĐ (phụ lục 2)
- Bảng kiểm đánh giá điều kiện nguồn cung cấp nước, các yếu tố nguy
cơ dựa theo tiêu chí của WHO và tài liệu về chất lượng nước sinh hoạt ở nông thôn nông thôn Việt Nam do Bộ Y tế ban hành (phụ lục 2)
- Phiếu thu thập thông tin (phụ lục 3): được thiết kế sẵn và kết cấu làm 3 phần: + Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
+ Kiến thức, thực hành của người dân về vệ sinh môi trường hộ gia đình + Kiến thức, thực hành của người dân về điều kiện nhà ở
2.2.6 Một số tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu:
- Hộ gia đình có nguồn nước hợp vệ sinh là hộ gia đình có nguồn nước máy, nước mưa, giếng khơi, giếng khoan, nước suối đầu nguồn; đạt tiêu chuẩn về cảm quan (trong, không màu, không mùi, không vị lạ gây khó chịu cho người sử dụng); và có nguy cơ bị ô nhiễm thấp
- Nguồn nước được đánh giá nguy cơ ô nhiễm theo thang điểm đánh giá nguy cơ ô nhiễm nguồn nước của WHO ở bảng kiểm 1,2,3 ở Phụ lục 2
Trang 29Đó là: + Dưới 3 yếu tố là ô nhiễm thấp
+ 3-5 yếu tố là ô nhiễm trung bình + 6-7 yếu tố là ô nhiễm cao
+ 8-9 yếu tố là ô nhiễm rất cao
- Hộ gia đình có nhà tiêu hợp vê ̣ sinh : Là nhà tiêu đạt tiêu chuẩn quy định tại Quyết định 08/2005/QĐ-BYT [22]
- Đánh giá độ bao phủ và hiện trạng nhà tiêu HVS tại vùng nông thôn theo 5 chỉ số chính, cụ thể như sau:
+ Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu: Tỷ lệ này được tính bằng tổng
số hộ có nhà tiêu (cả loại HVS và không HVS) chia cho tổng số hộ điều tra, nhân với 100 Tỷ lệ này có ý nghĩa đánh giá độ bao phủ nhà tiêu tại các hộ gia đình mà không phân biệt loại hình nhà tiêu nào, đồng thời gián tiếp phản ánh
ý thức thu gom phân người của cộng đồng
+ Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh: Tỷ lệ
này được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu thuộc loại HVS (tự hoại, thấm dội nước, hai ngăn và chìm có ống thông hơi, Biogas nhưng không phân biệt có đạt tiêu chuẩn vệ sinh hay không) chia cho tổng số hộ điều tra, nhân với 100 Đây là tỷ lệ đánh giá độ bao phủ nhà tiêu thuộc loại HVS tại các hộ gia đình
mà chưa đánh giá chất lượng xây dựng và sử dụng của các nhà tiêu đó có đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT hay không Tỷ lệ này cho biết còn bao nhiêu phần trăm hộ gia đình nông thôn cần xây mới hoàn toàn loại nhà tiêu hợp vệ sinh, bao gồm tỷ lệ hộ gia đình không có nhà tiêu và tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu nhưng không thuộc loại hợp vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT Tỷ lệ này cũng sẽ được sử dụng để so sánh với các cuộc điều tra trước đây về độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh, vì hầu hết các cuộc điều tra trước chỉ đưa ra tỷ lệ loại hình nhà tiêu hợp vệ sinh mà không đánh giá chi tiết từng tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và sử dụng, bảo quản
Trang 30+ Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây
dựng: Tỷ lệ này được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh
và đạt tất cả các tiêu chuẩn về xây dựng theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT chia cho tổng số hộ điều tra, nhân với 100 Đây là tỷ lệ đánh giá độ bao phủ nhà tiêu đạt tiêu chuẩn về xây dựng tại các hộ gia đình Tỷ lệ này cho biết có bao nhiêu phần trăm nhà tiêu trong cộng đồng không cần xây mới, sửa chữa
Có thể dựa vào tỷ lệ này và tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh để ước tính số lượng nhà tiêu cần phải cấp, sửa chữa thành loại nhà tiêu HVS đạt tiêu chuẩn về xây dựng (Bảng kiểm 4,5,6 phụ lục 2)
+ Tỷ lệ phần trăm nhà tiêu thuộc loại HVS đạt các tiêu chuẩn vệ sinh về
sử dụng, bảo quản: Tỷ lệ này được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu thuộc loại
hợp vệ sinh và đạt tất cả các tiêu chuẩn về sử dụng và bảo quản theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT chia cho tổng số hộ điều tra, nhân với 100 Đây là tỷ
lệ đánh giá mức độ sử dụng và bảo quản nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh trong cộng đồng Con số này gián tiếp đánh giá nhu cầu được truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về sử dụng, bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh của cộng đồng
+ Tỷ lệ nhà tiêu thuộc loại HVS đạt cả tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng
cũng như sử dụng bảo quản: Tỷ lệ này được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu
thuộc loại hợp vệ sinh và đạt tất cả các tiêu chuẩn về xây dựng, sử dụng và bảo quản theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT chia cho tổng số hộ điều tra, nhân với 100 Đây là tỷ lệ đánh giá mức độ bao phủ nhà tiêu thực sự hợp vệ sinh Tỷ lệ này cho biết có bao nhiêu phần trăm hộ gia đình nông thôn hiện đang thực hành thu gom và xử lý phân người theo đúng quy định của Bộ Y tế (Bảng kiểm 4,5,6 phụ lục 2)
Tỷ lệ phần trăm nhà tiêu thuộc loại HVS đạt các tiêu chuẩn vệ sinh về
sử dụng, bảo quản được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh đạt tất cả các tiêu chuẩn về sử dụng và bảo quản theo Quyết định
Trang 3108/2005/QĐ-BYT chia cho tổng số hộ điều tra có nhà tiêu thuộc loại HVS, nhân với 100
Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng được tính bằng tổng số hộ có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh đạt tất cả các tiêu chuẩn về xây dựng theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT chia cho tổng
số hộ điều tra có nhà tiêu thuộc loại HVS, nhân với 100
- Điều kiện vệ sinh nhà ở dựa vào tiêu chuẩn thiết kế xây dựng và yêu cầu vệ sinh theo qui định hiện hành [2] [11]
+ Nhà ở có diện tích ở tối thiểu là 9m2/ngườ i
+ Nhà ở có diện tích cây xanh tối thiểu là 16m2
Khi đáp ứng đủ 2 tiêu chí trên thì nhà ở được coi là nhà ở đủ tiêu chuẩn
vê ̣ sinh
2.2.7 Xử lý và phân tích số liệu
Điều tra viên thực hiện và được tập huấn theo bộ câu hỏi và câu hỏi nghiên cứu, sau đó được thống nhất một phương pháp chung thu thập thông tin bằng phiếu phỏng vấn định lượng
Số liệu được nhóm nghiên cứu và đặc biệt là chủ đề tài làm sạch, nhập liệu, quản lý, trích xuất và chuyển đổi sử dụng các công cụ về cơ sở dữ liệu bằng phần mềm Epidata Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu Phân tích thống kê mô tả được sử dụng để miêu tả các đặc điểm nhân khẩu học, thực trạng vệ sinh môi trường và các điều kiện của nhà ở vệ sinh của đối tượng nghiên cứu Sử dụng các test thống kê: kiểm định sự khác biệt giữa hai tỉ lệ dùng test Chi2, kiểm định chính xác Fisher; kiểm định giá trị trung bình ttest cho biến diện tích trung bình, kiểm định phi tham số Mann-Whitney đối với biến có phân bố không chuẩn trong nghiên cứu
Số liệu nghiên cứu được biểu diễn dưới hình thức bảng tần số, tỷ lệ phần trăm và biểu đồ thích hợp
Trang 322.2.8 Sai số và cách khắc phục
2.2.8.1 Sai số:
+ Sai số trong quá trinh thu thập số liệu và quan sát, đánh giá bảng kiểm + Sai số do điều tra viên
+ Sai số trong quá trình nhập liệu
+ Sai số do đối tượng phỏng vấn không nhớ chính xác, thiếu thông tin
2.2.8.2 Cách khắc phục
+ Điều tra viên, nhập liệu viên: Tập huấn kỹ cho điều tra viên thống nhất cách thu thập thông tin, cũng như giám sát hỗ trợ kịp thời để bổ sung những thông tin thu thập còn thiếu Tổ chức điều tra thử để đánh giá bộ câu hỏi và lượng giá tiến độ phỏng vấn
+ Hỏi kỹ đối tượng, phần nào chưa hiểu có thể giải thích cho họ hiểu câu hỏi được chính xác nhất
+ Giám sát chặt chẽ quá trình thu thập số liệu tại cộng đồng
+ Kiếm tra ngẫu nhiên thông tin của 10% phiếu đã thu thập nếu phát hiện ra sai sót từ 10% trở lên của phỏng vấn viên nào thì sẽ yêu cầu phỏng vấn viên đó làm lại toàn bộ phiếu của họ
+ Trong quá trình nhập liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếu nhằm kiểm tra thông tin nhập một cách kỹ lưỡng nhất, hạn chế sai số
2.2.9 Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu đã được Hội đồng khoa học và Y đức của trường Đại học Y Dược Thái Bình phê duyệt và được sự chấp thuận của cộng đồng, sự ủng hộ của chính quyền địa phương và lãnh đạo các cơ quan y tế trên địa bàn nghiên cứu Mọi quy trình nghiên cứu được tiến hành một cách riêng tư và thông tin chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Thị trấn Hưng Hà (n=400)
Bắc Sơn (n=400)
Chung (n=800)
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%)
Trang 34Bảng 3.2: Thông tin về trình độ học vấn và nghề nghiệp
của đối tượng nghiên cứu
Thị trấn Hưng Hà (n=400 )
Bắc Sơn (n=400)
Chung (n=800)
SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%)
Trang 353.1 Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình và điều kiện nhà ở
Bảng 3.3: Nguồn nước chính sử dụng cho ăn uống của đối tượng nghiên cứu
Các nguồn nước
Thị trấn Hưng Hà (n=400)
Bắc Sơn (n=400)
kê giữa hai đi ̣a bàn nghiên cứu với p <0,05
Bảng 3.4: Nguồn nước chính sử dụng cho sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu
Các nguồn
nước
Thị trấn Hưng Hà (n=400)
Bắc Sơn (n=400)
Chung (n=800)
Trang 36Kết quả nghiên cứu cho thấy tại thị trấn Hưng Hà có tới 92,3% hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu sử dụng nước máy làm nguồn nước chính cho sinh hoạt; chỉ có 0,2% sử dụng nước mưa và 7,5% sử dụng nước giếng khoan cho sinh hoạt Không có đối tượng nào sử dụng nước giếng khơi, nước ao, hồ, song để sử dụng cho sinh hoạt, tắm giặt hàng ngày
Tại địa bàn xã Bắc Sơn đa số hộ gia đình thuộc đối tượng nghiên cứu sử dụng nguồn nước chính là giếng khoan cho sinh hoạt chiếm 98,8% và có 0,8% sử dụng nước mưa cho sinh hoạt hàng ngày, 0,2% là tỷ lệ người dân sử dụng nước giếng khơi là chính cho sinh hoạt Không có đối tượng nào sử dụng nước ao, hồ, sông là nguồn nước chính cho tắm giặt và sinh hoạt hàng ngày
Bảng 3.5: Đánh giá tình trạng nguồn nước chính sử dụng cho ăn uống
của hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu
Tình trạng nguồn nước
TT Hưng Hà (n=400)
Nguy cơ trung bình 22 5,5 111 27,8 <0,05 Nguy cơ thấp 6 1,5 244 61,0 <0,05 Khi tiến hành điều tra phỏng vấn bộ câu hỏi định lượng, kết hợp quan sát bảng kiểm cho thấy tại thị trấn Hưng Hà tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sử dụng cho ăn uống được đánh giá có nguy cơ trung bình chiếm 5,5%, có 1,5% nguồn nước có nguy cơ thấp Tại xã Bắc Sơn, tỷ lệ nguồn nước được đánh giá
có nguy cơ rất cao chiếm 0,3%, nguy cơ cao chiếm 11,0%; nguy cơ trung bình chiếm 27,8% và có 61,0% nguồn nước có nguy cơ thấp Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa hai đi ̣a bàn nghiên cứu với p <0,05
Trang 37Bảng 3.6: Tỷ lệ sử dụng các loại nhà tiêu tại địa bàn nghiên cứu
Các loại nhà tiêu
Thị trấn Hưng Hà (n=400)
Kết quả bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại tại thị trấn Hưng Hà và xã Bắc Sơn lần lượt là 96,7% và 91,2% Sự khác biệt
là có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tỉ lệ hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh thấm dội nước tại thị trấn Hưng Hà và xã Bắc Sơn lần lượt là 0,8% và 2,0%
Tại thị trấn Hưng Hà chỉ có 2,5% hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu
sử dụng nhà tiêu hai ngăn ủ phân ta ̣i chỗ , tỷ lệ này ở xã Bắc Sơn là 6,8%, sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 3.7: Tình trạng vệ sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu
của hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu
Tình trạng nhà tiêu
Hưng Hà (n=400)
Bắc Sơn (n=400)
Không đạt tiêu chuẩn về xây
dựng, sử dụng và bảo quản 5 1,3 36 9,0 <0,05
Trang 38Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhà tiêu đạt tiêu chuẩn về xây dựng chiếm 3,3% tại thị trấn Hưng Hà và 15,0% tại xã Bắc Sơn Có 95,5% nhà tiêu tại thị trấn Hưng Hà đạt tiêu chuẩn về sử dụng và bảo quản, tỷ lệ này ở xã Bắc Sơn là 76,0% Tỷ lệ nhà tiêu không đạt tiêu chuẩn về sử dụng và bảo quản chiếm 1,3% tại thị trấn Hưng Hà và 9,0% tại xã Bắc Sơn Có sự khác biệt giữa hai địa bàn nghiên cứu với p<0,05
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ hộ gia đình thu gom rác thải tại địa bàn nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 99,0% hộ gia đình tại thị trấn Hưng Hà rác thải được thu gom, tỷ lệ này tại xã Bắc Sơn là 99,5% Sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê với p>0,05
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các hộ gia đình thu gom rác thải đúng nơi quy định
p > 0,05
p > 0,05 Tỷ lệ %
Trang 39Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy có 99,7% hộ gia đình tại thị trấn Hưng Hà rác thải được thu gom đúng nơi quy định, tỷ lệ này tại xã Bắc Sơn là 100%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05
Bảng 3.8: Phân bố các loại nhà ở tại địa bàn nghiên cứu
Các loại nhà ở
Thị trấn Hưng Hà (n=400)
Trang 402,1% Vật liệu chính làm nền nhà chiếm tỷ lệ cao nhất là nền đá hoa, gạch
men với 96,8%, chiếm tỷ lệ thấp nhất là loại nền đất với 0,1% 100% hộ gia đình nghiên cứu xây tường bằng vâ ̣t liê ̣u ga ̣ch và xi măng cát
Bảng 3.10: Tổng diện tích trung bình của hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu (bao gồm diện tích xây dựng, diện tích cây xanh và các mục đích khác)
Địa bàn Số điều
Bảng 3.11: Diện tích xây nhà trung bình của hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu
Địa bàn Số điều
và lớn nhất là 360m2; trong đó tại thị trấn Hưng Hà tổng diện tích nhà trung bình là 115,9 ± 48,6 m2, và tại xã Bắc Sơn diện tích này là 95,1 ± 57,1m2 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05