Thông qua đề tài này, sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ THÀNH TRUNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT CỦA
SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
SÓC TRĂNG - 2018
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ THÀNH TRUNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT CỦA
SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý xã hội
Mã số: 8 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thu Quyên
SÓC TRĂNG - 2018
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày…… tháng… năm 20…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
Lê Thành Trung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ
CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT CỦA SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 11
1.1 Một số vấn đề cơ bản về công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 11 1.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội 24 1.3 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và
Xã hội 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT CỦA SỞ LAO ĐỘNG –THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 46
2.1 Các yếu tố tác động đến quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay 46 2.2 Kết quả và hạn chế trong quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay 54
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT CỦA SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG THỜI GIAN TỚI 74
3.1 Phương hướng tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng thời gian tới 74 3.2 Giải pháp tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng thời gian tới 81
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với nhận thức, trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần được ưu tiên bảo vệ và chăm sóc hàng đầu; thấm nhuần sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm
phải trồng người”; Đảng và Nhà nước ta khẳng định: Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng cho việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai của đất nước, của dân tộc
Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, kiên trì và nhất quán chủ trương:
“Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”, Việt Nam đã thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng trong
phát triển kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân
cư được nâng cao Nhờ đó, trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
có điều kiện bảo vệ và chăm sóc ngày càng tốt hơn Hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ và chăm sóc trẻ em từng bước được hoàn thiện Công tác quản lý về bảo vệ và chăm sóc trẻ em được tăng cường Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang cơ nhỡ bước đầu được giúp đỡ
Tuy nhiên, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng vẫn còn một số hạn chế, yếu kém Hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa hoàn chỉnh đồng bộ Đạo đức xã hội, lối sống xuống cấp, lệch chuẩn của một bộ phận trẻ em đang trở thành nỗi lo của gia đình và xã hội Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, bị lạm dụng sức lao động
Trang 7có xu hướng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng Tình trạng trẻ em phạm tội, trẻ em lang thang, bị tai nạn, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn là những vấn đề xã hội bức xúc Huy động cộng đồng vào bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được như mong muốn
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, đi cùng với những ưu việt của kinh tế thị trường là những mặt trái của
nó về mặt xã hội Với mục tiêu tối thượng là lợi nhuận, một bộ phận trẻ em không được gia đình dành thời gian và sự quan tâm bảo vệ và chăm sóc đúng mức Điều này làm cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến sự phát triển của trẻ em nói riêng và của xã hội nói chung Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Thực tiễn vấn đề bảo vệ chăm sóc trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không phải là vấn đề mới Trong những năm qua, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng đã thực hiện các quy định của pháp luật phân công cho ngành, đồng thời thực hiện nhiều chương trình, dự
án nhằm quản lý có hiệu quả công tác này ở địa phương thuộc chức năng của ngành Tuy nhiên, vì những lý do chủ quan, khách quan và điều kiện cụ thể qua từng thời kỳ mà công tác quản lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn những bất cập, hạn chế Chính vì vậy đã tác động không nhỏ tới nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở địa phương Để nghiên cứu và tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường quản lý vấn đề này ở địa phương,
học viên đã chọn đề tài “Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn
Trang 8cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý xã hội Thông qua đề tài này, sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quản lý công tác bảo vệ
và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý công tác này của địa phương trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về các khía cạnh xung quanh vấn đề trẻ em, như: “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam” (1996) của GS,TS Nguyễn Đình Lộc; “Bảo vệ Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam” (2005) của UNICEF; “Quyền trẻ em đối với tài sản và thừa kế tài sản: một vấn đề lý luận và thực tiễn” (1998) của PGS,TS Hà Thị Mai Hiên; “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam” của ThS Chu Mạnh Hùng (2005)… Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn Tuy nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu quan tâm riêng đến khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý dành cho đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm làm rõ một số quy định của pháp luật cũng đã được tham khảo
Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng đã được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau: Luật học, Quản lý nhà nước, Xã hội học, Tâm lý học… Các công trình nghiên cứu này
đã được các tác giả công bố dưới dạng sách chuyên khảo, đề tài khoa học, chuyên đề, luận án, luận văn, các bài viết đăng trong các tạp chí, báo… như:
Trang 9*Sách:
Cuốn “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” năm 2009 do Vụ Pháp chế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
phối hợp cùng các ngành có liên quan Sẽ là tài liệu bổ ích, giúp các nhà quản
lý, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm việc với trẻ em, để tham khảo, vận dụng vào các công việc, góp phần thực hiện tốt sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
*Đề tài:
-“Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990” Việt Nam là một trong những quốc gia phê chuẩn Công ước từ rất
sớm Đây là văn kiện quan trọng nhất về quyền con người của trẻ em trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người, bao gồm các điều luật như: Trẻ
em có quyền được lắng nghe, được tự do bày tỏ quan điểm về tất cả các vấn
đề có tác động đến trẻ, được tự do phát biểu, suy nghĩ, hội họp và tiếp cận thông tin, thúc đẩy lợi ích tốt nhất của trẻ và tăng cường sự phát triển cá nhân;
Có quyền tham gia bình đẳng với nhau không phân biệt; Có quyền được bảo
vệ tránh khỏi bị lôi kéo, bạo lực, lạm dụng và bóc lột Trong quá trình từng bước làm hài hoà Công ước với hệ thống luật pháp quốc gia, các quyền cơ bản của trẻ em được xem xét trong việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các luật và bộ luật
- Kỷ yếu hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và tăng cường hành lang pháp lý về mô hình gia đình nhận nuôi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”
năm 2014 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Tổ chức Care for Children và Tổ chức Unicef tại Việt Nam Trong kỷ yếu này các tác giả trong và ngoài nước đã đặc biệt nhấn mạnh đến các mô hình tổ chức – gia
Trang 10đình trong việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; đồng thời cũng chia sẻ các kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng hành lang pháp lý cho việc thực hiện
mô hình gia đình nhận nuôi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
* Giáo trình, luận án, luận văn, bài viết đăng tạp chí
- Bài viết “Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cấp xã – Nền tảng triết lý và những bài học rút ra” của tác giả
Nguyễn Thu Trang, Bộ môn Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn Hà Nội tại Hội thảo về Đổi mới công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, năm 2013 đã chỉ ra rằng, mô hình Nhà xã hội dựa vào
cộng đồng là một mô hình mới và qua thời gian thử nghiệm, nó thể hiện những điểm ưu việt hơn hẳn so với mô hình chăm sóc tập trung trong các trung tâm bảo trợ xã hội truyền thống Đồng thời, qua quá trình ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy những bài học quan trọng
để điều chỉnh và mở rộng mô hình theo hướng tích cực hơn
- Bài viết “Cần bổ sung thêm chính sách đối với một số nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” Tạp chí Lao động xã hội năm 2013 Nội dung bài viết
chỉ rõ, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Vì vậy cần bổ sung thêm các chính sách về trẻ em nhóm đó là đa dạng hóa các hình thức chăm sóc và nhóm trẻ em thuộc đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em” Tạp chí Lao động xã hội năm 2013, của tác
giả Hải Hà Bài viết đã nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ngày càng quan tâm đến công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bước đầu tạo cho trẻ có điều kiện được thực hiện đầy đủ các quyền của mình cũng như tạo môi trường sống an toàn, phát triển hài hòa của trẻ Tuy nhiên trên thực tế, quyền tham
Trang 11gia của trẻ em chưa được nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ, nguyên nhân chủ yếu là do đội ngũ làm công tác tuyên truyền còn thiếu và yếu; cách thức tuyên truyền chưa đồng bộ, tính hệ thống chưa cao, nội dung còn nghèo nàn, chưa phong phú, biện pháp truyền thông đơn điệu Bài viết đưa ra một số giải pháp cần chú trọng để tăng cường công tác truyền thông nhằm vận động
xã hội cùng hưởng ứng việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em đó là cần nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi và tăng cường vận động xã hội; Tăng cường chất lượng thông tin trên các phương tiện truyền thông; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ truyền thông; Định hình và phát triển của các biện pháp và dịch vụ tư vấn và Vận động xã hội
Những công trình nghiên cứu trên đã trình bày khái quát được những vấn đề cơ bản về công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung, công tác bảo
vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng ở các cấp độ khác nhau Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ nguyên nhân của những bất cập hạn chế trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt Có một vài công trình đã bước đầu làm rõ thực tiễn
về quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở những địa phương cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu trực diện công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên phương diện quản lý; đồng thời cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Vì vậy, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn sẽ là tài liệu tham khảo để tác giả kế thừa, chọn lọc và tiếp tục bổ sung trong luận văn của mình nhằm giải quyết thỏa đáng mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng; luận văn chỉ ra phương hướng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội;
- Đánh giá thực trạng quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay;
- Chỉ ra phương hướng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mà không nghiên cứu quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung
- Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc
Trang 13Trăng, mà không nghiên cứu đối với các chủ thể khác như: ngành Giáo dục và đào tạo, lực lượng công an, tổ chức, đoàn thể xã hội, gia đình
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2013 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
về bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và quản lý công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết
hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng ở các chương của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái quát hóa, đánh giá thực trạng, chỉ ra phương hướng, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh được sử dụng nhằm kế thừa
có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã có, từ
đó vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý công tác này ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
- Phương pháp lịch sử, thống kê và so sánh để xem xét một cách cụ thể
về quá trình quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng hiện nay
- Phương pháp dự báo được sử dụng để phán đoán tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của địa phương thời gian tới, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường quản lý công tác này ở tỉnh Sóc Trăng
Trang 146 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ thạc sĩ nghiên cứu vấn đề quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng
Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công tác bảo vệ và
chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trong đó tập trung vào quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; xây dựng khái niệm quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, phân tích nội hàm khái niệm này
Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, qua đó thấy được những ưu điểm và hạn chế trong quá trình quản
lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng đối với công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiện nay
Luận văn đã chỉ ra phương hướng và giải pháp mang tính toàn diện, khả thi nhằm tăng cường quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học và làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những thông tin có giá trị giúp cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung, Sở Lao động –
Trang 15Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng nói riêng, các cơ quan, tổ chức khác làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có cách nhìn sâu sắc, toàn diện hơn
về quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trên cơ
sở đó rút kinh nghiệm trong quá trình quản lý theo chức năng về lĩnh vực này
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và những người quan tâm đến lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, cũng như quản lý công tác bảo vệ
và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở nước ta hiện nay Đây là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho các địa phương trong việc xây dựng chính sách và thực hiện quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, 07 tiết
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
CỦA SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
1.1 Một số vấn đề cơ bản về công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.1 Khái niệm trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
* Trẻ em
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về trẻ em tùy theo từng góc
độ nghiên cứu và cách hiểu trên từng phương diện, lĩnh vực tiếp cận
Theo Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là người dưới 16 tuổi Quy định này không giới hạn trẻ em là công dân như quy định của Luật Bảo
vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Như vậy, đối tượng áp dụng của Luật trẻ em năm 2016 đã được mở rộng, không chỉ trẻ em là công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài, người không quốc tịch
cư trú tại Việt Nam
Trẻ em ở những độ tuổi khác nhau thì có những đặc điểm rất khác nhau Hoặc cùng một độ tuổi nhưng sống ở xã hội khác nhau thì những đặc điểm tâm lý, xu hướng phát triển cũng không giống nhau Do vậy người lớn phải nhìn nhận trẻ em bằng con mắt thực tế Không nên lấy thời quá khứ còn trẻ của mình làm chẩn mực để áp đặt hay làm thước đo để đáng giá con cháu trong thời đại hiện nay
Vậy khái niệm trẻ em trong đề tài này được hiểu là: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi từ trường hợp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn
* Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 17Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, trên cơ sở những quy định của công ước về Quyền trẻ em về một nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt Nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt gồm: trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em tàn tật, trẻ em làm con nuôi, trẻ em nghiệm ma túy, trẻ em bị nhiễm
HIV/ AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bắt cóc và bị buôn bán…
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Từ định nghĩa này, Điều 40 đã quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật” Theo đó:
Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang
Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt để nương tựa Trẻ em mồ côi còn được hiểu bao gồm cả trẻ em dưới 16 tuổi chỉ
mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa
Trẻ em khuyết tật là trẻ em bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy
Trang 18giảm khả năng hoạt động, khiến cho sinh hoạt, học tập và lao động gặp nhiều khó khăn
Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học: Là trẻ em bị dị dạng, dị tật do hậu quả chất độc hóa học
Trẻ em nhiễm HIV/AIDS: Là trẻ em đã được cơ quan y tế có thẩm quyền kết luận bị nhiễm HIV/AIDS
Để làm rõ hơn điều này, trong Luật trẻ em năm 2016 tại Điều 10 đã liệt
kê 14 nhóm đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là: Điều 10 Luật Trẻ em 2016 có hiệu lực từ ngày 1/6 quy định, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm 14 nhóm sau đây, tăng 5 nhóm so với Luật Bảo vệ, giáo dục, chăm sóc trẻ em 2004, gồm: Trẻ em bị mồ côi cả cha và mẹ; Trẻ em bị bỏ rơi; Trẻ
em không nơi nương tựa; Trẻ em khuyết tật; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; Trẻ
em vi phạm pháp luật; Trẻ em nghiện ma túy; Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; Trẻ em bị bóc lột; Trẻ em bị xâm hại tình dục; Trẻ em bị mua bán; Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo; Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc
Đây chính là những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh không bình thường
về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, với cộng đồng Khi so sánh với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em về khái niệm trẻ em nói chung, khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng và quy định về độ tuổi của trẻ em, những quy định của pháp luật Việt Nam khá tương đồng, tuy nhiên, về đối tượng và độ tuổi trong quan niệm của Liên hợp quốc rộng hơn
Từ những quan niệm trên, có thể thấy, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ,
Trang 19quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng Theo quan niệm này, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các đối tượng sau:
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa: Việc xác định dựa trên tình
trạng mồ côi và khả năng nương tựa của các em vào những người thân thích,
gồm: mồ côi thực tế và mồ côi xã hội
Mồ côi thực tế: có cha hoặc mẹ chết, hoặc cả cha - mẹ đều chết, và không còn người thân thích ruột thịt để nương tựa Nhấn mạnh về mặt vật chất và tinh thần Một đứa trẻ để có thể phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách, ngoài việc trẻ được nuôi dưỡng về dinh dưỡng, chăm sóc về thân thể không ai khác cha mẹ là người chăm sóc cho trẻ Những đứa trẻ này trên thực
tế bị mất hoàn toàn sự chăm sóc này
Mồ côi xã hội: đứa trẻ bị chia ly vĩnh viễn hoặc tạm thời trong một thời gian dài với cha hoặc mẹ, hoặc cả cha mẹ trong khi họ vẫn sống Tuy cha mẹ còn sống nhưng họ không có năng lực hành vi, năng lực pháp luật, hoặc khả năng vật chất hoặc không muốn tiếp tục nuôi con Đó là: a) Trẻ tuy có cha mẹ còn sống nhưng cả cha lẫn mẹ, hoặc cha hoặc mẹ bỏ đi mất tích, bỏ đi kiếm
ăn xa không còn quan hệ gì với con cái - không đủ khả năng; b) Trẻ sinh ra trong hoàn cảnh do cha hoặc mẹ chưa đủ tuổi thành niên hoặc một lý do nào
đó không đủ điều kiện nên bỏ con ngay tại bệnh viện hoặc nơi công cộng - trẻ
bị bỏ rơi; c) Trẻ sinh ra trong gia đình bình thường nhưng do bản thân bị tàn tật những gia đình không có khả năng nuôi đã đem bỏ rơi; d) Trẻ sinh ra do kết quả của sự lạm dụng tình dục của người cha với người mẹ bị bệnh tâm thần, hoặc cả cha và mẹ đều bị bệnh tâm thần; e) Cha mẹ bị tàn tật nặng; f) Cha mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam… Và những
Trang 20em này cũng không còn nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa
Trong trường hợp trẻ mồ côi có hoàn cảnh như đã nêu, tuy còn người thân nhưng người thân không đủ khả năng nuôi dưỡng (người thân dưới 16 tuổi), hoặc trên 60 tuổi hoặc bị tàn tật nặng, gia đình thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo của Chính phủ công bố cũng được xem xét
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật: theo quy định tại Điều 1 Luật Người khuyết
tật quy định: Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn
Từ khái niệm về người tàn tật nói chung, có thể hiểu trẻ em tàn tật là những người dưới 16 tuổi không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn
Theo Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, trẻ em khuyết tật
là trẻ em bị một hay nhiều tổn thương về thân thể hoặc trí não làm ảnh hưởng đến một hay nhiều chức năng của cơ thể làm ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của trẻ
Năm 1980, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra tiêu chí của các mức độ tàn tật: Khiếm khuyết: là mất mát hay bất bình thường một bộ phận cơ thể hay chức năng tâm lý do bệnh tật, tai nạn, di truyền hoặc do môi trường gây ra
Giảm khả năng: là sự suy giảm, hạn chế hay thiếu khả năng thực hiện các hoạt động như người bình thường
Tàn tật: là sự thiệt thòi do một tác nhân gây hạn chế hoặc ngăn không cho người đó thực hiện vai trò bình thường (phụ thuộc và độ tuổi, giới tính,
Trang 21các yếu tố xã hội – văn hóa) Tàn tật bao gồm 6 nhóm: tàn tật thị giáo, tàn tật vận động, tàn tật thính giác/mất khả năng nói hoặc giao tiếp, mất khả năng học tập/bị bệnh tâm thần, động kinh, hành vi xa lạ (do loạn tinh thần hoặc bệnh trầm cảm gây ra)
Những trẻ em này cần được sự giúp đỡ đặc biệt về giáo dục, phục hồi chức năng, về phương tiện trợ giúp để tham gia vào các hoạt động của cộng đồng
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS: Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS là trẻ em đã được cơ quan y tế có thẩm quyền kết luận bị nhiễm HIV/AIDS
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học: là trẻ em bị dị dạng, dị tật
do hậu quả chất độc hóa học
- Trẻ em làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại: Trẻ em làm việc
nặng nhọc được hiểu là trẻ em tham gia hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập cho gia đình hoặc bản thân Đó là những công việc nặng nhọc, độc hại quá sức hoặc làm việc nhiều giờ trong ngày không đúng quy định của pháp luật lao động, có ảnh hưởng tới sự phát triển về thể lực, trí lực và nhân cách của trẻ Theo cách hiểu này, pháp luật cấm mọi hành vị ép buộc trẻ em lao động cho gia đình hay làm thuê như một lao động thực sự, mà công việc đó
đã chiếm hết thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ; đồng thời buộc trẻ phải làm việc nặng nhọc, độc hại không phù hợp với sức lực và lứa tuổi, hoặc trong những ngành nghề mà pháp luật đã cấm Đến nay, nước ta chưa
có cuộc điều tra chính thức nào về lao động trẻ em, song có thể nhận thấy lao động trẻ em là một vấn đề biến động và là loại hình lao động chuyển đổi rất nhanh và rất đa dạng gồm các công việc như đánh giày, bán báo, giúp việc trong các gia đình, nhà hàng, thậm chí làm việc trong các mỏ đá,
khai thác quặng…
Trang 22- Trẻ em lang thang: Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự
kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia
đình đi lang thang
- Trẻ em bị xâm hại tình dục: Trẻ em bị xâm hại tình dục là trẻ em bị
người lớn hơn có hành vi lợi dụng trẻ em (dù trẻ em có đồng ý hay không) để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình hoặc của người khác Những em này là đối tượng cần đến sự bảo vệ đặc biệt của xã hội, nhất là về tinh thần bởi hành
vi xâm hại tình dục có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của các em, làm cho các
em dễ nảy sinh cái nhìn tiêu cực về cuộc sống
- Trẻ em nghiện ma túy: Trẻ em nghiện ma túy là những người dưới 16
tuổi thường xuyên sử dụng các chất gây nghiện dẫn đến lệ thuộc và phải sử dụng các chất này với bất kỳ giá nào Hành vi sử dụng chất gây nghiện bao gồm: hút, tiêm, chích, hít, uống Nghiện ma túy không chỉ dẫn đến gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm… mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng của người sử dụng, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em vì các em chưa phát triển đấy đủ về thể chất Do đó cộng đồng cần có trách nhiệm ngăn chặn, chăm sóc đối tượng trẻ nghiện ma túy, và đưa các em trở lại với cuộc sống
bình thường
- Trẻ em vi phạm pháp luật: Pháp luật quy định đến một độ tuổi nhất
định, trẻ em sẽ phải chịu trách nhiệm pháp luật đối với những hành vi vi phạm của mình Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi ấy Trẻ em vi phạm pháp luật là trẻ em đến một độ tuổi do luật định, đã cố ý hoặc vô ý thực hiện những hành vi trái pháp luật mà tùy theo mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi vi phạm đó, có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự
Pháp luật hình sự quy định: “người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý” Đối tượng này cũng cần được giáo dục, chăm sóc và bảo vệ để tránh bị lợi dụng
Trang 23thực hiện hoặc tái thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, cũng như bảo đảm những điều kiện cần thiết khi các em bị xử lý bởi các chủ thể có thẩm quyền
do hành vi trái pháp luật của mình
Các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Luật Trẻ em đã quy định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là chủ thể của mình Căn cứ vào đặc điểm của từng nhóm, có thể khái quát đối tượng này thành 2 nhóm:
- Nhóm 1 (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt): bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em lang thang, trẻ em khuyết tật, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em gái bị lợi dụng, trẻ em lao động bị bóc lột, trẻ em hồi hương…
- Nhóm 2 (trẻ em có hoàn cảnh khó khăn): bao gồm trẻ em chưa học hết tiểu học, trẻ em bỏ học giữa chừng, trẻ em phải theo cha mẹ du canh du cư
để kiếm sống, trẻ em phải theo cha mẹ sống trên sông trên biển để làm nghề
cá, trẻ em lao động sớm…
Tóm lại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và hòa nhập với gia đình, cộng đồng
1.1.2 Vai trò của công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiểu theo nghĩa thông thường, là những hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần để đảm bảo sự phát triển hài hòa của các nhóm đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (nhu cầu về ăn mặc, về học hành, về vui chơi giải trí, nhu cầu được gia đình yêu thương, chăm sóc, nhu cầu được tôn trọng )
Bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là thực hiện những hành động, những biện pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả do những hành vi vi phạm gây ra làm cản trở sự phát triển bình thường của nhóm đối tượng này
Dưới góc độ pháp luật dân sự, chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những hoạt động, hình thức pháp lý mà các cơ quan, tổ chức
Trang 24và cá nhân áp dụng nhằm đảm bảo cho tất cả trẻ em ở các nhóm đối tượng đặc biệt được thụ hưởng và thực hiện các quyền cơ bản về nhân thân và tài sản của mình
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một bộ phận, một chế định pháp luật hỗn hợp, với ý nghĩa đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại mà là nguồn nhân lực của tương lai “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, bảo vệ, chăm sóc trẻ em hôm nay chính là tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng các cấp, các ngành nào, mà chính là nhiệm vụ của toàn xã hội Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt luôn được Đảng, Nhà nước và các địa phương xem là chính sách ưu tiên hàng đầu trong việc bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước trong hiện tại và tương lai
Hiện nay, cả nước có hơn 26 triệu trẻ em, trong đó có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gần 2,5 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặt biệt Các chỉ số cơ bản về bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt liên quan đến vấn đề sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, văn hóa, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bảo vệ các nhóm đối tượng trẻ em này được quan tâm thực hiện Việc hoàn thành và thực hiện tốt các chỉ số cơ bản này là
cơ sở để đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng; đồng thời thông qua đó đánh giá mức
độ của an sinh xã hội
Trang 25Trên thực tế việc thực hiện quyền trẻ em nói chung chưa được tốt; tình trạng trẻ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, sống trong điều kiện khó khăn, có nguy cơ
bị lạm dụng sức lao động, bị bóc lột, bị xâm hại tình dục, bị buôn bán… đang
có những diễn biến phức tạp Trong khi đó, nhận thức và năng lực hoạt động về vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của cán bộ và người dân còn nhiều hạn chế; hệ thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được xây dựng và kiện toàn mang tính chuyên nghiệp, hệ thống; công tác giám sát và thanh tra về bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn nhiều bất cập Trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt và trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt đang có chiều hướng gia tăng Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thời kỳ mới sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức
Thực tế cho thấy, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cơ sở lâu nay vẫn được coi là một hoạt động xã hội, mang tính phong trào, chưa được coi là một công việc chuyên môn Công tác với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở hiện thường bao gồm những việc như: Thăm hỏi
và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhân các ngày lễ tết, trợ giúp trẻ
em nghèo, trợ cấp và vận động quyên góp; huy động cộng đồng hỗ trợ nguồn lực quan tâm, chăm sóc trẻ mồ côi; trẻ khuyết tật; trẻ bị lạm dụng; trẻ em vi phạm pháp luật, nghiện ma tuý mà vẫn chưa coi trọng nhiều hoạt động nghiệp vụ khác
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, trong chừng mực nhất định không được, hoặc không có cơ hội hưởng thụ các điều kiện xã hội tốt nhất cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần Một điều dễ nhận thấy đó là các em có hoàn cảnh đặc biệt thường rất nhạy cảm với những tác động của xã hội đối với cuộc sống thường nhật của mình Chình vì những điều này, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn
Trang 26cảnh đặc biệt khó khăn cũng có những điểm khác biệt với chăm sóc trẻ em nói chung Điều này đã được quy định trong Luật trẻ em năm 2016: “…coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe….”
Xét trên khía cạnh pháp luật, các em chưa có đủ năng lực hành vi nói chung và năng lực hành vi dân sự nói riêng Năng lực pháp luật dân sự được quan niệm là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Như thế, năng lực pháp luật dân sự của trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt xuất hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật dân
sự Các quy định này có được thực hiện hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân hay năng lực hành vi của họ Năng lực hành vi dân sự của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ do ngành luật dân sự điều chỉnh, tự hoàn thành mọi nhiệm
vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của mình Nói cách khác, năng lực hành vi dân sự của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chính là khả năng tham gia các quan hệ pháp luật dân sự của trẻ em Pháp luật xác định khả năng này dựa trên các 2 yếu tố tuổi và sức khỏe (bao gồm sức khỏe thể lực và sức khỏe trí lực) Điều kiện sức khỏe về thể lực công dân cần phải có là tình trạng sức khoẻ bình thường để có thể thực hiện được các công việc trong sinh hoạt và lao động sản xuất nhất định theo yêu cầu chung của xã hội Điều kiện sức khỏe về trí lực là khả năng nhận thức của công dân đối với hành vi mà họ thực hiện Để có sức khoẻ và trình độ nhận thức như trên, công dân phải đạt đến một độ tuổi nhất định và phát triển bình thường, khi đó công dân mới có năng lực hành vi dân sự như quy định tại Điều 19 Bộ luật Dân sự “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ…”
Trang 27Trong quan hệ dân sự, năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự xuất hiện không đồng thời Năng lực pháp luật dân sự có từ khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi người đó chết, và năng lực này không bị hạn chế, trừ những trường hợp do pháp luật quy định; trong khi đó, năng lực hành vi dân sự được xác định có từ khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp cá nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự - Bộ luật dân sự 2015 Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận sự khác nhau về năng lực hành vi của cá nhân, mặc dù Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi; tuy nhiên, tùy thuộc vào việc cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật nào thì
sẽ do ngành luật đó điều chỉnh, ví dụ theo Luật Dân sự thì người thành niên
và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là đủ 18 tuổi, dưới 18 tuổi sẽ phải có người đại diện theo pháp luật; hoặc Bộ luật Lao động quy định: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” (Điều 6) Như vậy, trẻ em chưa đủ 15 tuổi được người sử dụng lao động nhận vào làm việc ở một số nghề và công việc thuộc danh mục
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định, có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu thì cũng được coi là người lao động, và người
sử dụng lao động không vi phạm quy định cấm sử dụng lao động trẻ em Trong quan hệ pháp luật lao động này, những chủ thể nói trên được coi là người có năng lực hành vi lao động không đầy đủ, năng lực hành vi lao động một phần Hoặc theo quy định của Luật Hình sự, trẻ em từ đủ 14 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm nguy hiểm và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Vì đối tượng là trẻ em, chưa phát triển đầy đủ và chưa có đủ năng lực hành vi nên pháp luật đã quy định chế định về người giám hộ/người đại diện theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em
Xét trên khía cạnh kinh tế - xã hội: trẻ em luôn được coi là sống phụ thuộc vào gia đình từ nhỏ, và không phải là thành phần lao động chính trong
Trang 28gia đình cũng như xã hội Mặc dù trên thực tế, trẻ em vẫn tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập ở gia đình, đặc biệt ở nông thôn Với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì nhiều em là lao động chính nuôi sống bản thân và gia đình mình nhưng những công việc các em đang làm lại không được điều chỉnh bởi pháp luật như: nhặt rác, bán báo… và chịu sự thua thiệt khi tham gia các “giao dịch” với người lớn Bên cạnh đó, quan niệm truyền thống con phải theo cha: “con phải làm việc để gia đình thêm giàu có…” vẫn còn phổ biến trong xã hội, nhiều gia đình thay vì khuyến khích con đến trường lại bắt con phải ở nhà lao động giúp cha mẹ - nghĩa là đứa trẻ phải thực hiện nghĩa
vụ lao động trước khi được hưởng quyền học tập Những em mồ côi hoặc bị
bỏ rơi tuy không được yêu thương chăm sóc nhưng vẫn có thể tự mình làm một số công việc để kiếm sống, còn những em bị khuyết tật bị coi là “đồ vô tích sự, bỏ đi, ăn bám” gặp nhiều khó khăn hơn nữa Khả năng tự vệ của trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn rất yếu khi phải trực tiếp tham gia và các mối quan hệ xã hội Với tuổi đời còn nhỏ, trí tuệ và thể lực chưa phát triển đầy đủ, thêm vào đó trình độ nhận thức kém, nên dễ bị lạm dụng, bị cưỡng bức, xâm hại của người lớn
Từ những vấn đề trên cho thấy, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có vai trò quan trọng nhằm hướng đến những đảm bảo cho tất cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng thụ những giá trị, cơ hội tốt đẹp nhất, từ đó chữa trị, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát huy năng lực cá nhân của các nhóm đối tượng này Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt đòi hỏi huy động nguồn lực của các cấp, các ngành trong cộng đồng để tạo dựng, duy trì “một thế giới phù hợp với trẻ em” (Xã phường phù hợp trẻ em - Việt Nam), “tạo điều kiện cho trẻ em có haofn cảnh đặc biệt được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức”
Trang 291.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội
1.2.1 Khái niệm quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
* Quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng được sử dụng ở nhiều góc độ khác nhau,
ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ đời sống lao động xã hội, từ khi xã hội xuất hiện sự phân công lao động xã hội, đặc biệt là từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu quản lý càng trở lên cấp thiết Mác cho rằng, bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý lao động
và nghiên cứu các thao tác, các quá trình lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng công cụ, phương tiện lao động có hiệu quả nhất với năng suất và chất luợng lao động cao nhất Trong nghiên cứu của mình, Ông quan niệm, quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Harold Koontz thì cho rằng, quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất
Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể
để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên
Trang 30Như vậy, có thể nhận thấy quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức, tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản
lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội, trật tự xã hội
- Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Quản lý bao giờ cũng là một quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, có mục tiêu xác định cụ thể Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động, thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lý Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lý thực hiện
và những mục tiêu mà chủ thể quản lý xác định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể
về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình Quản lý đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức và bằng những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý cũng như trong việc khai thác, tổ chức
và thực hiện các nguồn lực của tổ chức
- Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Ở Việt Nam, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung, trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng thời gian qua được giao cho ngành Lao
Trang 31động – Thương binh và Xã hội Điều 82, Luật Trẻ em quy định: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: (1) Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trẻ em; Điều phối việc thực hiện quyền trẻ em; bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được Chính phủ giao hoặc ủy quyền; (2) Tham gia ý kiến bằng văn bản về những vấn đề liên quan đến trẻ em gửi ban soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật khác;
đề xuất việc lồng ghép các Mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành, địa phương; (3) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương và tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em để giúp Chính phủ chuẩn bị báo cáo Quốc hội hằng năm hoặc đột xuất về kết quả thực hiện quyền trẻ em và việc thực hiện nhiệm vụ của bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương liên quan đến trẻ em; (4) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương chuẩn bị báo cáo quốc gia việc thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em; (5) Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em và sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em; (6) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em và việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Phù hợp với sự phân cấp trong quản lý, thực hiện quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đảm nhiệm trong phạm vi địa phương mình Với tư cách là
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chịu sự chỉ đạo, quản lý và
Trang 32điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Như vậy có thể quan niệm, quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là sự tác động có chủ đích, thông qua chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương đến các hoạt động, quan hệ và vấn đề có liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm tạo điều kiện để các em được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển
Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội ở cấp tỉnh chính là dùng chủ trương, pháp luật, cơ chế và những biện pháp cụ thể tác động vào các hoạt động, quan hệ, vấn đề liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thông qua các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình để làm cho các đối tượng này được chăm sóc và bảo vệ ở mức độ cao nhất có thể
Trong đời sống xã hội, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
mà số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng gia tăng Chính sách
an sinh xã hội của nhà nước có thể không đáp ứng được một số vấn đề cơ bản trong cuộc sống của các em; thậm chí ở địa phương, do buông lỏng, do hạn chế về nhận thức mà công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được thực hiện hiệu quả làm cho quyền của trẻ em nói chung, quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không được bảo đảm, ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và phát triển của các em Mục đích của quản lý công tác này ở địa phương nhằm đảm bảo mọi trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn đều được bảo vệ và chăm sóc hiệu quả nhất
Đối tượng của quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chính là các hoạt động, quan hệ, vấn đề có liên quan đến trẻ em
Trang 33có hoàn cảnh đặc biệt Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, việc xác định nhu cầu của các em để từ đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định nhu cầu cần hỗ trợ, can thiệp là vô cùng quan trọng
Điều 27 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em xác định nhu cầu cần hỗ trợ, can thiệp như sau: Sau khi đánh giá ban đầu về nguy cơ
và mức độ tổn hại của trẻ em, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã thực hiện hoặc yêu cầu Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em và các
cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em hỗ trợ thực hiện việc thu thập thông tin, đánh giá nguy cơ cụ thể theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này bao gồm: (1) Tình trạng thể chất, tâm lý, tình cảm của trẻ
em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; (2) Hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ của trẻ em và năng lực bảo vệ trẻ em của cha, mẹ, các thành viên trong gia đình; (3) Các yếu tố làm trẻ em có thể bị xâm hại hoặc tiếp tục bị xâm hại hoặc các yếu tố dẫn đến trẻ em tiếp tục rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; (4) Điều kiện, khả năng học tập và khả năng tự bảo vệ của trẻ em; (5) Mức độ an toàn và khả năng hỗ trợ của cộng đồng dân cư nơi trẻ em sinh sống; (6) Nhu cầu chăm sóc y tế, chữa trị các tổn hại về thể chất và tinh thần của trẻ em; nhu cầu trợ giúp xã hội, hỗ trợ giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ
tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác; (7) Ý kiến, nguyện vọng của trẻ em được hỗ trợ, can thiệp; (8) Ý kiến, nguyện vọng của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em trừ trường hợp cha, mẹ, người chăm sóc là người gây tổn hại cho trẻ em
Thông qua quy định nêu trên có thể thấy, quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có đối tượng rộng và phức tạp, không chỉ bao đồm các vấn đề cụ thể, trực tiếp về các em mà còn liên quan đến các vấn đề xã hội, tâm lý
Trang 341.2.2 Đặc điểm quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
* Đặc điểm về chủ thể quản lý:
Chủ thể quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tuy nhiên nghiên cứu ở góc độ cụ thể - chủ thể tạo ra các tác động quản lý thì ở cấp tỉnh, chủ thể quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có thể nêu cụ thể như sau:
- Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh: Trong quản lý đối với vấn đề này thực hiện xây dựng các quyết định, chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc có liên quan đến trẻ em; trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nếu nhận được ý kiến, nguyện vọng của trẻ em về những vấn đề có tác động, ảnh hưởng đến trẻ em thì phải tiếp nhận, xem xét và trả lời trực tiếp cho trẻ em hoặc cơ quan, tổ chức gửi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em; Chỉ đạo các cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các hoạt động có sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em trên địa bàn; đình chỉ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động có sự tham gia của trẻ em nếu vi phạm pháp luật hoặc không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; xử lý hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi ngăn cản trẻ em được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng và tham gia hoạt động xã hội phù hợp; Ủy ban nhân dân có trách nhiệm quản lý, tạo điều kiện để trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ
em theo phạm vi và hình thức quy định tại Điều 74 và yêu cầu tại khoản 1 Điều 78 Luật trẻ em
Trang 35- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: Trong quản lý công tác bảo vệ
và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, mô hình, dự án
về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; (2) Tổ chức, theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện các quyền trẻ em theo quy định của pháp luật; các chế độ, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; xây dựng xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em; (3) Quản lý và sử dụng Quỹ Bảo trợ trẻ em cấp tỉnh
- Bên cạnh đó còn có các chủ thể khác ở địa phương tiến hành những hoạt động phối hợp theo chức năng như: Sở Giáo dục và đào tạo, Công an cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em…
* Đặc điểm về đối tượng quản lý: Như đã phân tích ở trên, quản lý công
tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có đối tượng rộng và phức tạp Bản thân trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt cũng đa dạng, phức tạp và là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, có điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt Vấn đề của các em gặp phải bao gồm cả vấn đề kinh tế, xã hội, tâm lý, thể chất… Đồng thời giải quyết vấn đề của các em đòi hỏi nhiều chủ thể trong xã hội cùng tiến hành Ví dụ trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS cần có sự chữa trị, tham vấn bởi ngành y; Trẻ
em vi phạm pháp luật thì cần có sự tham vấn của Công an…
1.2.3 Yêu cầu quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Để quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiệu quả cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xuất phát từ công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng, quản lý công tác này phải coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc
Trang 36biệt phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức; phát hiện, ngăn chặn,
xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt
- Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thực hiện theo nguyên tắc chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc gia đình thay thế Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cơ sở trợ giúp trẻ
em chỉ áp dụng cho những trẻ em không được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc gia đình thay thế
- Mục đích cuối cùng của quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt là tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc, học tập và hoà nhập đời song xã hội từ đó phát huy khả năng của bản thân tham gia vào các hoạt động trong môi trường xã hội phù hợp và an toàn
1.3 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý công tác bảo vệ
và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
1.3.1 Nguyên tắc quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trách nhiệm của cả
hệ thống chính trị, của toàn xã hội, trước hết là của các cơ quan nhà nước có chức năng và của mỗi cá nhân, mỗi gia đình Để quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đạt hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc nhất định Nguyên tắc quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là các phương châm chỉ đạo và các chuẩn mực hoạt động cơ bản được pháp luật quy định là căn cứ, định hướng cho các chủ thể tiến hành trong suốt quá trình quản lý nhằm tạo ra điều kiện, nguồn lực và cơ hội cho mọi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng sự chăm sóc và được bảo vệ để phát triển trong môi trường
an toàn
Trang 37Để quản lý hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cần tuân thủ nguyên tắc:
Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo pháp luật
Quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là một nội dung cụ thể của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, mà thực chất là quá trình tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung Đây là nguyên tắc bắt buộc trong quản lý nói chung và quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng Quản lý theo pháp luật chứ không chỉ quản lý bằng đạo lý Pháp luật thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của Nhân dân về thế hệ tương lai của đất nước – trẻ em
Để bộ máy Nhà nước nói chung, mỗi cơ quan nhà nước nói riêng hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền và quy định quyền hạn của mỗi cơ quan đó; đồng thời mỗi cơ quan phải xác lập một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ trong quá trình thực hiện chức năng, phải có nhiều phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước, tất cả điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc
của nhà nước và quy định của pháp luật
Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trong hoạt động quản lý Chủ thể này sẽ không thể thực hiện được và thực hiện kém hiệu quả nếu như không dựa vào pháp luật, chỉ có pháp luật mới mang tính đặc thù của
nó và là cơ sở đảm bảo cho ngành Lao động – Thương binh và Xã hội hoàn
thành được chức năng của mình trong lĩnh vực trẻ em
Việc đảm bảo nguyên tắc quản lý theo pháp luật trong công tác bảo vệ
Trang 38và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt luôn có ý nghĩa quan trọng, không những đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức thực hiện các nội dung, yêu cầu, mục tiêu mọi trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng sự chăm sóc và bảo vệ mà còn là điều kiện cần thiết để các em được sống trong môi trường an toàn và phù hợp với sự phát triển của trẻ thơ Nguyên tắc quản
lý theo pháp luật trong quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt yêu cầu:
- Các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng được ban hành trên cơ sở các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước về trình tự, thủ tục ban hành, về nội dung phạm vi điều chỉnh, phù hợp với thực tiễn vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nước ta và tương thích với các điều ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam tham gia,
- Nghiêm cấm các hành vi tùy tiện, trái với các quy định của pháp luật
về bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phát hiện những nguyên nhân và điều kiện làm gia tăng số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cũng như những nguyên nhân làm cho việc quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt không hiệu quả
Thứ hai, nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc cơ bản trong
quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của ngành
Trang 39Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cơ quan quản lý nhà nước, của cộng đồng dân cư, của gia đình các em Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các quy định, tổ chức bộ máy, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ các đối tượng, tuyên truyền vận động xã hội chung tay bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt Các hoạt động cụ thể của bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở địa phương do ngành Lao động – Thương binh
và xã hội, các cơ quan, tổ chức, cộng đồng người dân, gia đình và các em cùng tiến hành tổ chức thực hiện Việc thực hiện công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở địa phương trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở địa phương, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các vấn đề cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích các cộng đồng, doanh nghiệp… tham gia, đóng góp vào công tác bảo vệ, chăm sóc trê
em có hoàn cảnh đặc biệt
Thứ ba, nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp
Trong quản lý nói chung, việc sử dụng toàn diện các phương pháp quản
lý thể hiện sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc vận dụng các quy luật tổ chức – hành chính, quy luật tâm lý và quy luật kinh tế Đối với quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đối tượng quản lý của công tác này suy cho cùng là con người (là trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt – đối tượng yếu thế, bị tổn thương bởi các vấn đề tâm
lý, xã hội, thể chất…), chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ, có nhiều mục tiêu, có những nhu cầu khác nhau và luôn luôn thay đổi theo không gian và thời gian Vì vậy, tùy theo đối tượng và vấn đề của trẻ em với những hoàn
Trang 40cảnh cụ thể để sử dụng cách thức này hay biện pháp tác động kia để đạt được mục tiêu của quản lý Chủ thể quản lý sử dụng cách thức, biện pháp nào, mức
độ tác động mạnh mẽ hay ôn hòa cần được xem xét trong điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng và vấn đề cụ thể về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Ví dụ, trong việc bảo vệ trẻ em không bị nghiện ma túy, để thực hiện hiệu quả nội dung này luôn luôn là một thách thức đối với các cộng đồng, các cấp chính quyền
và các cơ quan chức năng Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không phải là trách nhiệm của riêng ai, riêng cơ quan nào, nó cần trở thành một phong trào quần chúng, phải có tính xã hội cao Nhà nhà, người người hợp sức cùng chung tay bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, kết hợp với biện pháp hành chính Nếu chỉ dùng biện pháp hành chính thì khó có thể bảo vệ và chăm sóc có hiệu quả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Vì thế, không thể chỉ sử dụng phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế hay phương pháp tuyên truyền vận động mà cần sử dụng toàn diện cả 3 phương pháp này để tác động đồng bộ, mạnh mẽ, có hiệu quả nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Thứ tư, nguyên tắc phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào quá trình quản lý
Đây là nguyên tắc xuất phát từ đặc trưng của công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là quá trình huy động sức lực, tiềm năng của nhiều chủ thể trong xã hội, ở địa phương vào việc thay đổi theo hướng tích cực, giúp cho các em có điều kiện được chăm sóc, có cơ hội được hưởng thụ các dich vụ xã hội tốt nhất để phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, do đó mỗi cơ quan, tổ chức, cộng đồng, gia đình vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình này
Nguyên tắc sự tham gia của quần chúng nhân dân vào quản lý công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thể hiện sự thống nhất của