Trước tình hình này, để bảo vệ, nâng cao sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã được Thủ tướn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM PHƯƠNG LINH
THỰC TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG HỘ GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG GIA VIÊN VÀ LẠC VIÊN - QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NĂM 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 – 2015
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM PHƯƠNG LINH
THỰC TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG HỘ GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG GIA VIÊN VÀ LẠC VIÊN - QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NĂM 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 – 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN QUỲNH ANH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, cán bộ trường Đại học Y Hà Nội
và các thầy cô trong Viện đào tạo Y tế công cộng và Y học dự phòng những người luôn nhiệt tình, tận tâm truyền đạt cho sinh viên kiến thức, kinh nghiệm học tập và làm việc
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Sức khỏe Môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ em rất nhiều trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp tại bộ môn Em xin cảm ơn cô Lê Thị Tài – Bộ môn Giáo dục sức khỏe Đại học Y Hà Nội đã cho phép
em sử dụng số liệu trong đề tài do cô làm chủ nhiệm và hỗ trợ, giải đáp những thắc mắc trong quá trình thực hiện khóa luận của em
Em đặc biệt gửi lời cảm ơn đến cô giáo hướng dẫn khoa học trong khóa luận tốt nghiệp của em là cô Trần Quỳnh Anh Cô luôn theo sát trong quá trình, đưa ra những chỉ dẫn, giải đáp những thắc mắc trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của em
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Em là Phạm Phương Linh, sinh viên tổ 33 lớp Y4I khóa 2011 – 2015, chuyên ngành Y tế công cộng, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
Em xin cam đoan số liệu trong nghiên cứu được chủ nhiệm đề tài cho phép sử dụng Kết quả phân tích số liệu là trung thực và chưa được công bố trong công trình khác
Sinh viên
Phạm Phương Linh
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Những nguy cơ cho sức khỏe do tình trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình không đảm bảo 3
1.2 Tình hình vệ sinh môi trường hộ gia đình trên thế giới 6
1.2.1 Tình hình sử dụng nước sạch 6
1.2.2 Tình hình sử dụng nhà tiêu 8
1.3 Tình hình vệ sinh môi trường hộ gia đình tại Việt Nam 9
1.4 Một số tiêu chuẩn và cách xử lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại 1.4.1 Các hình thức cung cấp, xử lý nước và các tiêu chuẩn đánh giá nước tại Việt Nam: 14
1.4.2 Tiêu chuẩn và cách xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường tại Việt Nam: 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 17
2.2 Địa điểm nghiên cứu: 17
2.3 Thời gian nghiên cứu: 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 18
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: 18
2.4.2 Mẫu nghiên cứu: 18
2.4.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin: 19
2.4.4 Sai số: 19
2.4.5 Biến số nghiên cứu: 20
Trang 62.4.6 Xử lý và phân tích số liệu: 21
2.4.7 Đạo đức nghiên cứu: 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: 22
3.2 Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình: 25
3.2.1 Thực trạng sử dụng nước: 25
3.2.2 Thực trạng nhà tiêu hộ gia đình: 26
3.2.3 Thực trạng môi trường nhà ở: 29
3.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố và thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình 32
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 36
4.1 Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình 36
4.1.1 Thực trạng sử dụng nước: 36
4.1.2 Thực trạng nhà tiêu hộ gia đình 37
4.1.3 Thực trạng vệ sinh nhà ở 39
4.2 Mối liên quan giữa một số yếu tố và thực trạng vệ sinh môi trường 40 4.3 Hạn chế của nghiên cứu: 44
KẾT LUẬN 45
KIẾN NGHỊ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 22
Bảng 3.2:Tỷ lệ sử dụng các loại nguồn nước cho các hoạt động tại HGĐ 25
Bảng 3.3: Chất lượng nguồn nước do HGĐ tự đánh giá 25
Bảng 3.4: Các loại nhà tiêu sử dụng tại hộ gia đình 26
Bảng 3.5: Các nguy cơ thường gặp tại nhà tiêu HGĐ 27
Bảng 3.6: Các nguy cơ thường gặp tại nhà tiêu hộ gia đình 28
Bảng 3.7: Cách thức xử lý phân trẻ nhỏ 28
Bảng 3.8: Loại nhà ở của HGĐ 29
Bảng 3.9: Thực trạng sử dụng nhà tắm và thu gom chất thải tại HGĐ 29
Bảng 3.10: Đánh giá chung môi trường xung quanh nhà ở 30
Bảng 3.11: Các yếu tố nguy cơ của môi trường xung quanh nhà ở 31
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa tình trạng vệ sinh nhà tiêu và một số yếu tố 32
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tình trạng môi trường xung quanh nhà ở và một số yếu tố 34
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Phương tiện thu nhận thông tin tại hộ gia đình 24
Biểu đồ 3.2: Đặc điểm bể chứa nước tại hộ gia đình 26
Biểu đồ 3.3: Đánh giá chung tình trạng vệ sinh nhà tiêu 27
Biểu đồ 3.4: Các hình thức xử lý rác tại hộ gia đình 30
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Đường lây truyền phân – miệng 5 Hình 1.2: Xu hướng sử dụng loại nước ăn theo vùng giai đoạn 1990-2012 7 Hình 1.3: Tỷ lệ phần dân số theo nguồn nước uống tại Việt Nam năm 2011 10 Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu – phường Gia Viên, Lạc Viên 17
Trang 10Một số nghiên cứu cho thấy có xấp xỉ 24% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và 23% trường hợp chết non được cho là do các yếu tố nguy cơ của môi trường gây ra [1] Trong đó, nhóm bệnh có liên quan tới nguồn nước và vệ sinh môi trường chiếm một tỷ lệ không nhỏ [1], [2], [3] Nhóm các bệnh này thường gặp tại những nơi mà điều kiện vệ sinh, quản lý và xử lý chất thải không tốt cũng như nguồn nước và khả năng cung cấp nước sạch còn hạn chế [4], [5]
Tại Việt Nam, trong những năm 90, tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường có xu hướng tăng ví dụ như bệnh tiêu chảy đã tăng từ
300 ca/100.000 dân năm 1990 lên 1.200 ca/100.000 dân năm 1996 và 1265 ca/100.000 năm 1997; Các bệnh giun, đường ruột cũng là một vấn đề lớn, ở một số vùng có tới 90% dân số nông thôn bị giun (vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ) [6] Trước tình hình này, để bảo vệ, nâng cao sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số: 237/1998/QĐ-TTg Chương trình này được chia thành nhiều giai đoạn với mục tiêu đến năm 2015 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 65% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh [7] Đánh giá của Chương trình năm 2007 cho biết 75% hộ gia đình nông thôn Việt Nam có nhà tiêu nhưng chỉ
có 18% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh Nguồn nước uống và sinh hoạt được các hộ gia đình tại nông thôn sử dụng phổ biến là giếng khoan (33,1%) và giếng đào
Trang 11(31,2%), chỉ có 41,7% hộ gia đình nông thôn có xử lý nước trước khi uống bằng các biện pháp [8]
Đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình là một hoạt động cần thiết nhằm cải thiện và duy trì điều kiện cơ bản của cuộc sống, nâng cao sức khỏe cho người dân Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu đánh giá về thực trạng vệ sinh môi trường đã được thực hiện tại vùng nông thôn nhưng ít có nghiên cứu thực
hiện tại khu vực thành thị do đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình tại phường Gia Viên và Lạc Viên – quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng năm 2013” Nghiên cứu này là một phần của đề tài cấp Nhà
nước “Nghiên cứu thực trạng, xây dựng mô hình dự báo, kiểm soát một số nhóm
bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình tại phường Gia Viên và Lạc Viên, quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng năm 2013
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến vệ sinh môi trường hộ gia đình tại phường Gia Viên và Lạc Viên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng năm 2013
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Những nguy cơ cho sức khỏe do tình trạng vệ sinh môi trường hộ gia đình không đảm bảo
Một trong các chức năng của môi trường là nơi chứa đựng, phân hủy các chất thải do con người tạo ra Các chất thải này có thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ và thường kèm theo các vi sinh vật gây bệnh Bình thường các chất thải này dưới tác động của môi trường được phân giải, biến đổi thành các chất đơn giản và trở lại chu trình sinh địa hóa của môi tường Tuy nhiên, sự bùng nổ dân số dẫn đến lượng chất thải bỏ cũng tăng theo nhanh chóng và vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, dẫn tới môi trường xuống cấp, ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe của con người [9]
Theo TCYTTG, các nguy cơ từ môi trường giải thích cho gần 10% số tử vong và gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu Với trẻ em dưới 5 tuổi, khoảng 25% số tử vong và gánh nặng bệnh tật có nguyên nhân từ các yếu tố bất lợi của môi trường Trong đó, nguy cơ từ nguồn nước và điều kiện vệ sinh là nguyên nhân gây ra 3,2%
số tử vong và 4,2% số năm sống khỏe mạnh bị mất đi do bệnh hay tàn tật [10] Mặc
dù các công trình vệ sinh cơ bản và hệ thống cung cấp nước đã được cải thiện, nhưng tình trạng thiếu công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn và tiếp cận với nước sạch vẫn tiếp tục làm tăng số ca mắc các bệnh liên quan đến điều kiện vệ sinh và nguồn nước không đảm bảo như tiêu chảy Tiêu chảy gây ra cái chết cho 1,4 triệu người mỗi năm (2010) chủ yếu diễn ra ở các quốc gia đang phát triển, trong đó trẻ em chịu ảnh hưởng lớn nhất [11], [12]
Tiêu chảy, nhiễm giun tròn đường ruột, nhiễm giun chỉ, sán, mắt hột… là những bệnh liên quan đến điều kiện vệ sinh kém, nguồn nước không đảm bảo làm gia tăng gánh nặng bệnh tật toàn cầu Ngoài ra, nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém còn góp phần làm tăng gánh nặng bệnh tật do suy dinh dưỡng, sốt rét, HIV/AIDS, viêm gan, tai nạn thương tích do đuối nước [13]
Trang 13Năm 2010, trong 12,9 triệu ca tử vong do các nguyên nhân truyền nhiễm, sơ sinh, rối loạn dinh dưỡng có 1,4 triệu ca tử vong do tiêu chảy [11] 88% các ca tiêu chảy có nguyên nhân là do thiếu nước sạch và vệ sinh kém [10] Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi Có nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng…, trong đó ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi, nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy là rotavirus [11] Theo bệnh viện bệnh nhiệt đới trung ương, tại Việt Nam ước tính chi phí trực tiếp cho điều trị nhiễm rotavirus là 3,1 triệu USD và chi phí gián tiếp là 1,5 triệu USD mỗi năm
Năm 2010, trên toàn thế giới có 11700 ca tử vong do nhiễm sán, 2700 ca chết do nhiễm các loại giun tròn đường ruột do ăn phải các loại thức ăn, nước uống, tiếp xúc với nước và đất chứa các tác nhân sinh học gây bệnh [11] Khoảng 5 triệu người có nguy cơ suy giảm thị lực do bệnh đau mắt hột gây ra [13] Bệnh đau mắt hột là một bệnh lây nhiễm có thể dẫn đến mù lòa do điều kiện vệ sinh kém, thiếu các công trình vệ sinh cơ bản, khả năng tiếp cận với nước sạch còn hạn chế
Suy dinh dưỡng và tình trạng vệ sinh, nước sạch có tác động qua lại với nhau 860000 ca tử vong trẻ dưới 5 tuổi có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ tình trạng thiếu nước sạch, điều kiện vệ sinh Khoảng 50% tình trạng nhẹ cân, suy dinh dưỡng là có liên quan đến tình trạng tiêu chảy kéo dài hay tình trạng nhiễm giun tròn đường ruột, hậu quả của thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh không đảm bảo Suy dinh dưỡng làm cho trẻ em trở nên dễ dàng mắc các bệnh nhiễm khuẩn hơn [13]
Điều kiện vệ sinh và nguồn nước không đảm bảo làm tăng khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội của người mắc HIV/AIDS và mắc các hội chứng suy giảm miễn dịch khác Hồ nước, vũng nước đọng, nước đọng trong chai lọ, hộp, dụng cụ phế thải là điều kiện cần thiết để vectors truyền bệnh như muỗi sinh sản, phát triển Một số nghiên cứu cho thấy có thể kiểm soát 42% một số bệnh do muỗi là vector truyền như sốt rét thông qua kiểm soát các yếu tố bất lợi của môi trường [13]
Trang 14Nguồn: Estimating the Burden of Disease from Water, Sanitation, and Hygiene at a Global Level.
Các bệnh liên quan đến điều kiện vệ sinh và nguồn nước không đảm bảo thường là các bệnh nhiễm khuẩn lây qua đường phân miệng Tác nhân sinh học trong chất thải là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường và làm lan truyền bệnh tật, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người Một lượng lớn các tác nhân sinh học như vi khuẩn, virus, kí sinh trùng được con người cũng như gia súc thải ra môi trường qua phân, có thể tồn tại một thời gian trong phân và đất Theo T Westrell, 1 gam phân có thể chứa 104-8 vi khuẩn Samonella, 104-6 virus viêm gan A, 107-11 rotavirus, 105-8 trùng roi ký sinh đường tiêu hóa Giardia, 104 trứng giun đũa [14]
Tại Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Văn Đề, nhiễm ký sinh trùng là tình trạng phổ biến,ở mọi lứa tuổi tại miền Bắc, tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc là 80 – 90%, nhiễm giun móc, mỏ là 70 – 85% Bệnh sán lá gan lớn lưu hành tại 52 tỉnh với khoảng 20.000 người mắc với tỷ lệ nhiễm là 11,1% tại một số khu vực Có khoảng
Hình 1.1: Đường lây truyền phân – miệng
Trang 1543,4 triệu người sống trong vùng sốt rét, trong đó có 15 triệu người sống trong vùng lưu hành sốt rét nặng Các yếu tố nguy cơ giúp mầm bệnh là trứng giun và ấu trùng được phát tán ra ngoại cảnh là tập quán canh tác (bón phân tươi, không có hố xí, thải phân trực tiếp ra môi trường), tập quán ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, tình trạng thiếu nước sạch, dân trí thấp, kinh tế kém phát triển hay điều kiện
tự nhiên nóng ẩm quanh năm [15]
Tóm lại, chất thải của con người, đặc biệt là phân, một khi không được xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn sẽ là nguồn lây truyền các tác nhân gây bệnh vào nguồn nước bề mặt, nước ngầm, đất, thực phẩm gây ra bệnh truyền nhiễm cho con người Như vậy, cần thiết phải có hệ thống vệ sinh và cung cấp nước sạch đảm bảo
Mục tiêu thiên niên kỷ về nước sạch và vệ sinh môi trường hướng tới là: đảm bảo ít nhất 88% dân số tiếp cận với nguồn nước ăn được cải thiện và an toàn tức là nguồn nước máy, trạm cấp nước công cộng, giếng khoan hoặc nước đầu nguồn được bảo vệ hay nước mưa Nguồn nước an toàn là nguồn nước không nhiễm các tác nhân sinh học gây bệnh, trong đó E coli được coi là một trong các chỉ số đánh giá về tình trạng nhiễm khuẩn của nước, ngoài ra thành phần arsenic và fluoride của nước phải đảm bảo bình thường Nước phải thường xuyên được kiểm tra bằng hệ thống các test tiêu chuẩn và được báo cáo định kỳ [17]
Trang 16Với nỗ lực của các quốc gia và các tổ chức trong đầu tư nguồn lực, xây dựng chính sách nhằm đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về nước sạch, từ năm
1990 trên 2 tỷ người đã được giúp đỡ tiếp cận với với nguồn nước ăn phù hợp, nâng
tỷ lệ dân số toàn cầu được sử dụng nước sạch với chất lượng cao (ống cấp nước sạch tới tận nhà) lên trên 50% - gần 4 tỷ người; 116 quốc gia đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về nước sạch
Đến năm 2012, 89% dân số toàn cầu đã được tiếp cận với nguồn nước ăn đảm bảo, tăng 13% so với tỷ lệ này năm 1990 Tuy nhiên tại một số vùng như trung tâm của châu Á, Trung Đông, châu Phi tỷ lệ này còn thấp, đặc biệt là tại 3 quốc gia Cộng hòa Congo, Mozambique, Papua New Guinea tỷ lệ người dân tiếp cận với nguồn nước an toàn còn thấp, dưới 50%
Nguồn: Progress on drinking water and sanitation 2014 update
Hình 1.2: Xu hướng sử dụng loại nước ăn theo vùng giai đoạn 1990-2012
Giai đoạn 1990-2012, tỷ lệ người dân sử dụng nguồn nước đảm bảo, chất lượng cao trên toàn thế giới có xu hướng tăng Tuy nhiên, tốc độ tăng này là không đồng đều giữa các khu vực: khu vực Đông Á, cực nam của châu Phi, Tây Á, Đông
Trang 17Nam Á, châu Mỹ latin & Ca-ri-bê có tốc độ tăng nhanh nhất Một số khu vực như Thái Bình Dương, trung tâm châu Á- Trung Đông tỷ lệ người dân sử dụng nước từ
hệ thông cấp nước chất lượng cao có xu hướng giảm nhẹ [17]
1.2.2 Tình hình sử dụng nhà tiêu
Mục tiêu quan trọng khác của chương trình thiên niên kỷ về nước sạch và vệ sinh môi trường là phấn đấu ít nhất 75% dân số trên thế giới có điều kiện vệ sinh được cải thiện đảm bảo, nghĩa là: cắt đứt được con đường lây truyền phân – miệng (con người); đảm bảo không có quá 5 hộ gia đình hoặc 30 người chia sẻ một công trình vệ sinh; chất mùn từ phân phải được quản lý tốt, tái sử dụng hoặc thải ra môi trường phải đảm bảo an toàn không có khả năng gây ô nhiễm ở các mức hộ gia đình, cộng đồng; đảm bảo người dân được hưởng các dịch vụ vệ sinh an toàn [17]
Các quốc gia và các tổ chức nỗ lực trong đầu tư nguồn lực, xây dựng chính sách nhằm đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về vệ sinh môi trường, từ năm 1990 cho đến nay tình trạng vệ sinh môi trường đã được cải thiện; 77 quốc gia đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về vệ sinh môi trường [17] Đến năm 2012, trên thế giới đã
có 56 quốc gia đạt mục tiêu thiên niên kỷ về cả vệ sinh và nước sạch [17]
Tốc độ tăng tỷ lệ dân số được sử dụng công trình vệ sinh cơ bản còn chậm Đến năm 2012, trên toàn cầu vẫn còn 2,5 tỷ người chưa tiếp cận được với công trình
vệ sinh cơ bản Tỷ lệ dân số sử dụng các công trình vệ sinh được cải thiện là không đồng đều giữa các vùng Khu vực trung tâm châu Á, Trung Đông, Tây Á, châu Mỹ latin & Ca-ri-bê, khu vực các quốc gia phát triển tỷ lệ người dân sử dụng công trình
vệ sinh được cải thiệ là khá cao, trên 80% Đông Á và Đông Nam Á là hai khu vực
có tốc độ cao trong tăng tỷ lệ dân tiếp cận với các công trình vệ sinh được cải thiện Khu vực sa mạc Saharan- châu Phi, Thái Bình Dương, Nam Á là các khu vực mà dưới 50% người dân tiếp cận với các công trinh vệ sinh được cải thiện [17]
Trang 181.3 Tình hình vệ sinh môi trường hộ gia đình tại Việt Nam
Cấp nước và vệ sinh môi trường là nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày,
có vai trò quan trọng trong nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật cho con người Ngay từ năm 1994, Chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm mục tiêu nâng tỷ
lệ người dân nông thôn tiếp cận được với nước sạch và vệ sinh môi trường đạt mục tiêu thiên niên kỷ Sau khoảng thời gian triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia
về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã góp phần làm tăng tỷ lệ người dân
sử dụng nước sạch và các công trình vệ sinh hợp lý
Theo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2011 do Tổng cục Thống kê với sự hỗ trợ của UNICEF và UNPFA, tại Việt Nam 92% dân số sử dụng nguồn nước uống hợp vệ sinh, tỷ lệ này là khá cao tuy nhiên lại không đồng đều giữa các khu vực Tại khu vực thành thị, tỷ lệ người dân sử dụng nguồn nước đảm bảo là 98,4%, cao hơn khu vực nông thôn (89,4%) Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là khu vực mà tỷ lệ người dân sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh thấp hơn
cả, chỉ đạt 80,7% Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh lần lượt
là 31,6% và 19,2% ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Theo khảo sát, tỷ lệ người dân sử dụng nước uống hợp vệ sinh có sự khác biệt lớn giữa các hộ dân tộc Kinh/ Hoa với các dân tộc khác với mức chênh lệch là khoảng 27% [18]
Trang 19Nguồn: Tổng cục Thống kê - Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2011
Hình 1.3: Tỷ lệ phần dân số theo nguồn nước uống tại Việt Nam năm 2011
Theo hình trên, nước máy là nguồn nước được người dân sử dụng nhiều nhất, tiếp theo là nguồn nước lấy từ giếng đào và suối có bảo vệ, tiếp sau đó là nước
từ giếng khoan, nước mưa và nước chai Chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân cư sử dụng nguồn nước không đảm bảo an toàn là nguồn nước giếng đào, suối không được bảo vệ và các nguồn nước không hợp vệ sinh khác
Theo Bộ Xây dựng, năm 2010 tại Việt Nam có 68 công ty cấp nước, thực hiện cung cấp nước sạch cho các khu vực đô thị Nguồn nước mặt chiếm 70% tổng nguồn nước cấp và 30% còn lại là nước ngầm Phần trăm số dân sử dụng nước sạch
ở các đô thị được thống kê như sau: 70% dân số ở đô thị đặc biệt và đô thị loại I,
Trang 2045-55% dân số ở đô thị loại II và II, 30-35% dân số ở đô thị loại IV và 10-15% dân
Cuộc điều tra này cũng chỉ ra có sự khác nhau giữa tỷ lệ sử dụng các loại nhà tiêu hợp vệ sinh ở các vùng Có 81,1% các hộ sống ở khu vực thành thị dùng loại nhà tiêu dội nước có bể phốt so với 38,6% dân số ở nông thôn sử dụng nhà tiêu này
Tỷ lệ dân cư sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh còn khá cao, trong đó có tới 8,6% vẫn còn sử dụng nhà tiêu lộ thiên phổ biến ở nhóm có chủ hộ là người dân tộc thiểu
số (27,7%) và không có bằng cấp (26,9%), cũng như trong những hộ gia đình nghèo nhất (22,9%) [18]
Mặc dù cuộc điều tra trên có công bố những kết quả khả quan, nhưng theo một cuộc điều tra khác của Bộ Y tế năm 2007, tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình vùng nông thôn Việt Nam đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT còn rất thấp Cuộc điều tra này chỉ ra 75% số gia đình ở các vùng nông thôn có nhà tiêu, nhưng chỉ có 33% số hộ nông thôn Việt Nam có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh mà chưa đánh giá chất lượng xây dựng và sử dụng, có 22,5% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, có 22,2% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về sử dụng bảo quản và chỉ
có 18% số hộ nông thôn có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và sử dụng bảo quản [19]
Trang 21Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Quỳnh Anh, Hoàng Thị Thu Hà và Đặng Ngọc Lan thực hiện tại hai xã Ngọc Chúc huyện Rồng Giềng tỉnh Kiên Giang
và xã Tam Phước huyện Long Điền – Bà Rịa Vũng Tàu thuộc Nam bộ năm 2011 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là khá cao: 87,7% ở Tam Phước và 81% ở Ngọc Chúc Tuy nhiên, tại xã Ngọc Chúc, có tới 72,1% hộ gia đình sử dụng cầu tiêu
ao cá – là loại nhà tiêu không hợp vệ sinh Tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh tại Tam Phước
và Ngọc Chúc lần lượt là 98% và 28% Tại Ngọc Chúc, có tới 34% hộ gia đình sử dụng phân tươi để nuôi cá [21]
Tác giả Phạm Thị Thoa nghiên cứu thực trạng nhà tiêu hộ gia đình tại xã An
Mỹ huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam năm 2012 cho biết tỷ lệ các loại nhà tiêu hộ gia đình lần lượt là 76% nhà tiêu tự hoại, 1,3% nhà tiêu hai ngăn, nhà tiêu biogas là 1,7%, nhà tiêu thấm dội nước chiếm 1,3% và còn 2,3% hộ gia đình chưa có nhà tiêu Kết quả của nghiên cứu này cho thấy có 58,7% số nhà tiêu đạt chuẩn về xây dựng, 39,2% số nhà tiêu đạt chuẩn về sử dụng và bảo quản và có 35,1% số nhà tiêu hợp vệ sinh đạt chuẩn của Bộ y tế Nghiên cứu này còn chỉ ra các loại nguy cơ thường gặp đối với nhà tiêu là bẩn rêu, thiếu giấy vệ sinh tự tiêu, mùi hôi, dính phân… và đánh giá thấy có 3,3% số nhà tiêu cần được cải tạo hoặc xây mới [22]
Một nghiên cứu năm 2012 tại ba xã Cẩm Phúc, Thanh Tùng, Phương Hưng tỉnh Hải Dương của tác giả Ngô Thị Nhu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu rất cao chiếm 99,2% số hộ gia đình, tỷ lệ nhà tiêu đạt chuẩn sử dụng là 70,1% Nguồn nước được các hộ gia đình sử dụng là nước máy, nước mưa, nước giếng khơi, nước giếng khoan và nước sông/hồ/ao lần lượt chiếm tỷ lệ 47%, 13%, 3,2%, 33%, 3,8% Đánh giá bằng cảm quan chất lượng nguồn nước tại các xã cho thấy số hộ gia đình
có nguồn nước hợp vệ sinh tại xã Thanh Tùng là 57,4%, Cẩm Phúc là 56,1% và ở Phương Hưng là 49,8% [23] Các biện pháp của các hộ gia đình thực hành để phòng
ô nhiễm nguồn nước tại ba xã là khơi thông cống (32%), thau rửa bể (32%), vệ sinh môi trường xung quanh (24,2%), sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh (13,1%) Các hình thức thu gom rác của các hộ gia đình là: tự đổ nơi quy định (27,9%), bỏ vào túi
Trang 22nilon (22,4%), bỏ vào thùng không có nắp đậy có người đến thu gom (29%), bỏ vào thùng có nắp đậy có người tới thu gom (20%), xả rác tự do ra môi trường (1,6%)
Tỷ lệ hộ gia đình có tiến hành phân loại rác trước thu gom chỉ chiếm 6,2% [24]
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Hà Tư, Nguyễn Đình Sơn và cộng sự tại bốn phường Thúy Biểu, Hương Long, Kim Long, Xuân Phú thành phố Huế năm 2011 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có vòi nước máy là 98,10%, số hộ còn dùng nước giếng là 6,89%, số hộ có bể chứa nước mưa là 9,73%, số hộ còn dùng nước sông là 5%, có
dự trữ nước bằng chum vại là 11,89% Về điều kiên vệ sinh, tỷ lệ hộ gia đình thu gom xử lý rác thải: 91,00%, tỷ lệ hộ gia đình còn tồn đọng các vật phế thải: 15,10%
Số hộ có nhà tiêu tự hoại là 85,56%, thấm dội nước là 11,21% Số hộ có nhà tiêu khô (đào, hai ngăn ) không hợp vệ sinh là 3,23% [25]
Kết quả nghiên cứu của Bộ môn Sức Khỏe Môi trường – Đại học Y Hà Nội
về thực trạng nhà tiêu hợp vệ sinh và sự tham gia của cộng đồng ở nông thôn Việt Nam thực hiện tại 6 tỉnh Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Trị, Đăk lăk, Vũng Tàu, Kiên Giang từ năm 2010 đến năm 2012 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu và nhà tiêu hợp vệ sinh là 79,3% và 51,8%, trong đó cao nhất là Hà Nam và thấp nhất là Đăk lăk Tỷ lệ các loại nhà tiêu theo nghiên cứu là 22,3% dùng nhà tiêu tự hoại, 12,1% dung nhà tiêu hai ngăn, 0,4% dùng nhà tiêu chìm có ống thông hơi,16% dùng nhà tiêu thấm dội nước, 1,1% sử dụng nhà tiêu biogas và 27,4% sử dụng các loại nhà tiêu khác Tuy nhiên sự phân bố của các loại nhà tiêu này còn phụ thuộc vào vùng, miền [26]
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy tình hình vệ sinh môi trường tại Việt Nam hiện nay ở mức tốt, tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch và các nhà tiêu hợp vệ sinh chung trên cả nước là khá cao: 92% dân số sử dụng nước sạch và 78% dân số sống trong hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh [18] Tuy nhiên, các tỷ lệ này
là không đồng đều giữa các vùng ví dụ như tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh ở xã Ngọc Chúc huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang là 28% [21] thấp hơn rất nhiều so với tỷ
lệ chung của cả nước, các nhà tiêu đảm bảo được cả tiêu chuẩn xây dựng và tiêu
Trang 23chuẩn sử dụng, bảo quản chưa cao Phần lớn các nghiên cứu về vệ sinh môi trường được thực hiện tại vùng nông thôn ở mà còn thiếu những nghiên cứu thực hiện tại khu vực thành phố còn ít, cần có những nghiên cứu về vệ sinh môi trường tại khu vực thành phố để có được những đánh gia toàn diện hơn về tình hình vệ sinh môi trường nước ta
1.4 Một số tiêu chuẩn và cách xử lý nước sạch và vệ sinh môi trường tại Việt Nam:
1.4.1 Các hình thức cung cấp, xử lý nước và các tiêu chuẩn đánh giá nước tại Việt
Nam:
Tại Việt Nam, hình thức cung cấp nước cho cộng đồng có thể được phân chia thành hai loại: công trình cấp nước phân tán và công trình cấp nước tập trung [9]
Công trình cấp nước phân tán, phục vụ cho hộ gia đình hoặc nhóm hộ gia đình bao gồm các hình thức:
Công trình thu nước mưa (bể chứa nước mưa) thích hợp sử dụng cho vùng: Miền núi cao không có mạch nước ngầm, nước mặt; Vùng ven biển, hải đảo không có nguồn nước ngọt; Vùng đồng bằng nơi có nguồn nước ngầm nông chất lượng kém
Công trình thu nước ngầm:
Giếng thu nước ngầm nông (giếng khơi, giếng đào): áp dụng cho vùng có nguồn nước ngầm nông có chất lượng tốt
Giếng đào nông: thích hợp cho vùng ven biển, hải đảo là nơi mà giếng và sông ngòi dễ bị nhiễm mặn, chua, phèn
Giếng hào lọc: áp dụng cho các khu vực có nguồn nước ngầm nông có chất lượng kém, đào sâu cũng không thấy mạch nước, ven biển gặp mạch nước mặn phải đào giếng hào lọc để lấy nước lọc từ hồ, ao, mương máng dẫn nước
Giếng khoan nước ngầm có độ sâu khác nhau
Trang 24 Công trình cấp nước tập trung: đảm bảo chất lượng nước tốt, thích hợp cho những vùng dân cư tập trung, mật độ dân số cao Một số hệ thống cấp nước tập trung đang được sử dụng hiện nay là: Trạm khai thác nước ngầm sâu, trạm khai thác nước bề mặt, trạm khai thác nước ngầm nông, hệ thống nước tự chảy [9]
1.4.2 Tiêu chuẩn và cách xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường tại Việt Nam:
Phân người và động vật chứa nhiều tác nhân sinh học gây bệnh, gây mùi khó chịu và gây ô nhiễm môi trường Do vậy, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh là biện pháp hữu hiệu để bảo đảm cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng, tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh
Tại Việt Nam, tiêu chuẩn QCVN 01 : 2011/BYT do Cục Quản lý môi trường
y tế biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 27/2011/TT – BYT, là văn bản quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh [27] Ngoài ra, Cục quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế năm 2010 còn xuất bản tài liệu hướng dẫn xây dựng, sử dụng, bảo quản nhà tiêu hộ gia đình Theo các tài liệu trên các loại nhà tiêu được sử dụng chủ yếu tại Việt Nam có thể chia thành hai loại chính là nhà tiêu khô và nhà tiêu dội nước [27]:
Nhà tiêu khô:
Nhà tiêu chìm có ống thông hơi: là loại hình nhà tiêu đào, có lắp ống thông hơi
với lưới chắn ruồi ở trên để giảm bớt ruồi nhặng và mùi hôi
Nhà tiêu hai ngăn: là nhà tiêu có một ngăn để sử dụng, một ngăn để ủ phân, thay đổi nhau khi đầy, có máng dẫn nước tiểu ra ngoài để cách ly với phân, có nắp đậy lỗ tiêu để tránh ruồi muỗi và các loại côn trùng chui vào ngăn chứa phân, có ống thông hơi Hoạt động trên cơ sở kỵ khí của các vi sinh vật hoại sinh
Nhà tiêu dội nước:
Nhà tiêu thấm dội nước: phân từ nhà tiêu loại này được phân hủy nhờ các vi khuẩn có trong đất
Trang 25 Nhà tiêu tự hoại: là loại nhà tiêu tập trung và xử lý phân trong môi trường nước, phân hủy sinh học kỵ khí cặn lắng
Các tiêu chí đánh giá về sử dụng và bảo quản:
Đối với nhà tiêu khô:
Cuối hướng gió chính, thoáng mát, sạch sẽ không có mùi hôi, không có ruồi, nhặng
Sàn tiêu sạch, không có giấy rác
Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ có nắp đậy và được đốt bỏ mỗi ngày
Không có mùi hôi thối
Không có ruồi, nhặng hoặc côn trùng trong nhà tiêu
Không sử dụng đồng thời các ngăn
Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu ngay sau mỗi lần đi tiêu
Không có bọ gậy trong dụng cụ đựng nước (nếu có), dụng cụ chứa nước tiểu
Nếu có tái sử dụng phân, không lấy phân trong ngăn ủ ra trước sáu tháng
Lỗ tiêu ngăn đang sử dụng phải được đậy kín, ngăn ủ phải được trát kín
Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa
Đối với các loại nhà tiêu có dùng nước dội:
Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước không có bọ gậy
Không có mùi hôi thối
Nước từ ngăn lắng 2 được dẫn chảy vào hố thấm (trong mùa khô), không
chảy tự do ra xung quanh
Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy rác
Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc cho vào dụng cụ có nắp
đậy và được đốt bỏ mỗi ngày
Không có ruồi, nhặng hoặc côn trùng trong nhà tiêu
Bệ tiêu sạch, không dính đọng phân
Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chủ hộ gia đình hoặc người quyết định chính trong chăm sóc sức khỏe hộ gia đình
Quan sát hộ gia đình
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu – phường Gia Viên, Lạc Viên
Phường Gia Viên và Lạc Viên quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
2.3 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian thu thập số liệu: tháng 9/2013
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ 1/2015 – 5/2015
Trang 272.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Mẫu nghiên cứu:
d: Sai số tuyệt đối của nghiên cứu, sử dụng trong nghiên cứu 0,05
p: Tỷ lệ sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh 22% (điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2011
Dựa vào công thức trên, cỡ mẫu nghiên cứu là 264 hộ Số hộ gia đình điều tra cộng thêm 10% (do từ chối, vắng mặt), cỡ mẫu khi đó là 264 + 264*0,1 = 291 hộ Sau khi là tròn, số hộ cần điều tra là 300 hộ gia đình
Trên thực tế, tại thành phố Hải Phòng, số hộ gia đình điều tra được là 400 hộ gia đình
Trang 28Dựa trên danh sách quận/ huyện của thành phố Hải Phòng, quận Ngô Quyền được chọn tham gia vào nghiên cứu
Giai đoạn 2: Chọn phường vào nghiên cứu
Dựa trên danh sách các phường của quận Ngô Quyền 2phường sẽ được chọn vào nghiên cứu Hai phường được lựa chọn là phường Gia Viên và Lạc Viên
Giai đoạn 3: Chọn hộ gia đình
Dựa trên danh sách hộ gia đình do hai phường Gia Viên và Lạc Viên cung cấp, hộ gia đình đầu tiên được chọn vào nghiên cứu là ngẫu nhiên Các hộ gia đình tiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ số hộ theo tính toán
Giai đoạn 4: Chọn người phỏng vấn
Tại hộ gia đình được lựa chọn, người được phỏng vấn là chủ hộ gia đình hoặc người quyết định chính trong chăm sóc sức khỏe hộ gia đình
2.4.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin:
Phỏng vấn người tham gia nghiên cứu bằng bộ câu hỏi
Quan sát môi trường hộ gia đình bằng bảng kiểm
2.4.4 Sai số:
Sai số có thể gặp và cách khống chế sai số trong nghiên cứu là:
Sai số do đối tượng phỏng vấn không hợp tác trả lời
Cách khống chế: Lựa chọn đối tượng phỏng vấn hợp tác trong trả lời
Sai số do đối tượng phỏng vấn không hiểu rõ về các loại nhà tiêu dẫn đến trả lời sai loại nhà tiêu đang sử dụng
Cách khống chế: Điều tra viên giải thích rõ về các loại nhà tiêu cho đối tượng được phỏng vấn
Sai số do đánh giá, cảm nhận của các điều tra viên là không đồng đều Cách khống chế: Tập huấn kỹ điều tra viên, đặt ra tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tình trạng vệ sinh
Trang 292.4.5 Biến số nghiên cứu:
Mục tiêu Nhóm biến số Biến số Phương pháp thu thập
thông tin, công cụ
Thông tin chung
Trình độ văn hóa Thu nhập trung bình HGĐ
Quy mô hộ gia đình Xếp loại kinh tế HGĐ Phương tiện thu nhận thông tin
Phỏng vấn
Bộ câu hỏi
Mục tiêu 1
Thực trạng sử dụng nước
Sử dụng loại nguồn nước trong ăn uống, sinh hoạt
Chất lượng nguồn nước Đặc điểm trữ nước
Phỏng vấn
Bộ câu hỏi Quan sát Bảng kiểm
Thực trạng nhà tiêu
Loại nhà tiêu Quan sát nhà tiêu Cách xử lý phân trẻ nhỏ
Phỏng vấn
Bộ câu hỏi Quan sát Bảng kiểm
Thực trạng nhà ở
Loại nhà ở Quan sát môi trường xung quanh nhà ở Các hình thức xử lý rác thải
Phỏng vấn
Bộ câu hỏi Quan sát Bảng kiểm
Mục tiêu 2
Mối liên quan giữa một số yếu
tố và tình trạng vệ sinh môi trường
Mối liên quan giữa một
số yếu tố chung và tình trạng vệ sinh nhà tiêu
Tỷ suất chênh OR
Mối liên quan giữa một
số yếu tố chung và tình trạng vệ sinh xung quanh nhà ở
Tỷ suất chênh OR
Trang 302.4.6 Xử lý và phân tích số liệu:
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
Phân tích số liệu bằng phần mềm STATA 11
Các số liệu được trình bày dưới dạng tỷ lệ %
Sử dụng tỷ suất chênh OR để đo lường mối liên quan giữa thực trạng vệ sinh môi trường và một số yếu tố Mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
2.4.7 Đạo đức nghiên cứu:
Đề cương được thông qua bởi hội đồng đạo đức của bộ môn
Đối tượng được phỏng vấn tự nguyện tham gia nghiên cứu, họ có quyền từ chối không tham gia, từ chối trả lời bất kì câu hỏi nào hoặc dừng không tiếp tục tham gia
Mọi thông tin của cá nhân và gia đình sẽ được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành với tính trung thực
Trang 31CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:
Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Trung cấp chuyên nghiệp
Cao đẳng dại học trở lên
100,0
Nghề nghiệp
Cán bộ/ công chức, công nhân, hưu trí
Làm ruộng, chăn nuôi
Xếp loại kinh tế do phường đánh giá
Xếp loại kinh tế do HGĐ tự đánh giá
Trang 32Kết quả bảng 3.1 cho thấy:
Về trình độ học vấn: 79,5% người trả lời có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên Trong đó trình độ học vấn cấp III có tỷ lệ cao nhất chiếm 34,8 %, không có người mù chữ
Về nghề nghiệp: 59,4% người trả lời là cán bộ công chức, công nhân và người nghỉ hưu Số người làm ruộng và chăn nuôi chiếm chưa tới 1%
Về số người trong hộ gia đình: Kích thước của các HGĐ chủ yếu là dưới 4 người chiếm 50%, còn tỷ lệ HGĐ có 7 người trở lên chỉ chiếm 1,7%
Về thu nhập hàng tháng của HGĐ: Thu nhập trung bình hành tháng của các HGĐ từ 5 đến dưới 10 triệu đồng chiếm 50,5 %, từ 10 triệu đồng trở lên
chiếm 25,5 %, dưới 5 triệu là 24%
Về xếp loại kinh tế: Xếp loại kinh tế do xã đánh giá, xếp loại kinh tế trung bình có tỷ lệ cao nhất 79,3%, tiếp đến là mức kinh tế khá giả chiếm 11,0 %, xếp loại kinh tế nghèo và cận nghèo chiếm 2,3%
Xếp loại kinh tế trung bình có tỷ lệ cao nhất chiếm 81,7%, HGĐ xếp loại kinh tế khá/ giàu là 9,6%, HGĐ có xếp loại kinh tế nghèo và rất nghèo chiếm
8,6%