1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng vệ sinh môi trường và kiến thức, thực hành của bà mẹ, cô giáo về chăm sóc trẻ em tại một số trường mầm non thành phố nam định năm 2013

95 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có những đề xuất nhằm góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, khắc phục các yếu tố tác hại bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non, chúng tôi tiến hành thực

Trang 1

ĐINH THỊ THU HẰNG

TRUỜNG ĐẠI HỌC ĐIẼÙ DƯỠNC

NẦM ĐỊNHTHỮVỊỀN /

SỐ:LƯ 3LfpẠ

THỰC TRẠNG VỆ SINH MCI T R I í t a

VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ M Ẹ, cô Gỉấo

VÊ CHĂM SÚC TRẺ EM TẠI MỘT sô TRIÊNG MẦM NON

Trang 2

LỜ I CẢM ƠN

Trước hết, tôi xỉn bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Đảng ủy, Ban giám

hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, khoa Y tế công cộng Trường Đ ại

học Y Thái Bình đã tạo điều kiện tốt nhất để học tập và hoàn thành luận

văn cao học của mình.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất PGS TS Ngô Thị Nhu Phó trưởng khoa Y tế công cộng, Trường Đ ại học Y Thái Bình đã trực

-tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành

luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo thành p h ổ Nam

Định, Ban giám hiệu các trường mầm non: Xã Nam Phong, xã Nam Vân, xã

M ỹ Xá, Lộc Vượng, Vị Xuyên, Ngô Quyền đã tạo mọi điều để tôi

khai đề tài.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong

gia đình và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quả trình học tập.

Xỉn trân trọng cảm ơn!

Học viên

Đỉnh Thị Thu Hằng

Trang 3

Số lượngTrung học, Cao đẳng, Đại học Trung học cơ sở

Trung học phổ thông Trang thiết bị cơ sở vật chấtUnited Nations Childrens Fun (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

WHO

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẬT VẤN ĐÈ 1

Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm và yêu cầu vệ sinh trường mầm n o n 3

1.1.1 Một số khái niệm về trường mầm n o n 3

1.1.2 Vai ừò của trường mầm non 3

1.1.3 Yêu cầu về vệ sinh trường mầm non 4

1.1.4 Yêu càu về vệ sinh phòng nuôi dạy t r ẻ 4

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc tr ẻ 5

1.1.6 Yêu cầu đối với các phòng khác 6

1.1.7 Yêu cầu các công trình vệ sinh trong trư ờ n g 7

1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu g iáo 7

1.3 Một số nghiên cứu về điều kiện vệ sinh, kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và cô g iá o 11

Chương 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 21

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 21

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.2 Đối tượng nghiên cứ u 23

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 24

2.2 Phương pháp nghiên cứ u 24

2.2.1 Thiết kế nghiên c ứ u 24

2.2.2 Chọn mẫu và cỡ m ẫu ! 24

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dụng trong nghiên c ứ u 26

2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên c ứ u 29

2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá 30

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

Trang 5

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 32

3.1 Thực trạng vệ sinh các trường mầm non được điều tra 32

3.2 Kiến thức, thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo 38

3.3. Kiến thức, thực hành của cô giáo về chăm sóc tr ẻ 48

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 55

4.1 Thực trạng vệ sinh tại các trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu 55

4.2 Kiến thức, thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ em 63

4.3 Kiến thức, thực hành của cô giáo về chăm sóc tr ẻ 70

KẾT LUẬN 74

KIẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thực trạng về địa điểm xây dựng các trường 32

Bảng 3.2 Diện tích xây dựng và trồng cây xanh trong nhà trường 32

Bảng 3.3 Cung cấp nước tại các trường 33

Bảng 3.4 Các công trình vệ sinh nhà trường 33

Bảng 3.5 Các dụng cụ vệ sinh phục vụ công tác chăm sóc t r ẻ 34

Bảng 3.6 Thực trạng các phòng phục vụ chăm sóc t r ẻ 34

Bảng 3.7 Thực trạng vệ sinh phòng giữ trẻ 35

Bảng 3.8 Bảo mẫu và cô nuôi dạy trẻ 35

Bảng 3.9 Kết quả xét nghiệm nước sinh hoạt trong các trường 36

Bảng 3.10 Kết quả xét nghiệm nước ăn uống trong các trường 36

Bảng 3.11 Kết quả xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không k h í 37

Bảng 3.12 Kết quả xét nghiệm vi khuẩn trên đồ chơi của trẻ e m 37

Bảng 3.13 Nghề nghiệp của bà m ẹ 38

Bảng 3.14 Trình độ học vấn của bà m ẹ 38

Bảng 3.15 Lứa tuổi của trẻ tại các trường 39

Bảng 3.16 Thời gian trẻ học tại trường mầm n o n 39

Bảng 3.17 Sự hài lòng của các bà mẹ về chăm sóc trẻ ở trư ờ n g 40

Bảng 3.18 Lý do hài lòng của các bà mẹ về chăm sóc trẻ ở trư ờ n g 41

Bảng 3.19 Nhu cầu của các bà mẹ về chăm sóc trẻ tại trường 41

Bảng 3.20 Kiến thức của bà mẹ về chế độ ăn uống cho tr ẻ 42

Bảng 3.21 Kiến thức của bà mẹ về phiếu cần thiết khi cho trẻ vào trường 43 Bảng 3.22 Kiến thức của bà mẹ về các bệnh dễ mắc ở trẻ 44

Bảng 3.23 Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh cho trẻ 45

Bảng 3.24 Thực hành của bà mẹ khi chăm sóc con bị tiêu chảy, hô hấp 46

Bảng 3.25 Thực hành của bà mẹ khi chăm sóc con bị sốt cao 46

Bảng 3.26 Theo dõi cân nặng trẻ của các bà m ẹ 47

Trang 7

Bảng 3.29 Nơi đào tạo nghề của các cô g iá o 49

Bảng 3.30 Thâm niên công tác của cô giáo 50

Bảng 3.31 Ý kiến của cô giáo về chăm sóc trẻ tại trường 50

Bảng 3.32 Kiến thức cuả cô giáo về yêu cầu khi nhận trẻ vào trư ờ n g 51

Bảng 3.33 Kiến thức của cô giáo về các nội dung chăm sóc trẻ ờ trường 51

Bảng 3.34 Thực hành của cô giáo về theo dõi sức khỏe của tr ẻ 52

Bảng 3.35 Thực hành của cô giáo khi trẻ bị sốt, tiêu chảy ở lóp h ọ c 52

Bảng 3.36 Tình cảm của cô giáo với trẻ 53 Bảng 3.37 Những đề nghị của cô giáo với nhà trường về cơ sở vật chất,

Trang 8

DANH MỤC BIẺU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Sự hài lòng của bà mẹ về chăm sóc trẻ ờ trường mầm n on 40

Biểu đồ 3.2 Sự quan tâm của các bà mẹ về chế độ ăn uống cho t r ẻ 43

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các bà mẹ có con bị bệnh tiêu chảy, hô h ấ p 45

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn thêm ở nhà 47

Biểu đồ 3.5 Trình độ học vấn của cô giáo 49

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ cô giáo được khám sức khỏe định k ỳ 53

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐÊ

Trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm ở mọi quốc gia Ke hoạch hành động chương trình "Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000" được chấp nhận tại Hội nghị cấp cao về trẻ em ngày 30 tháng 9 năm 1990 khẳng định: "Vì trẻ em hôm nay là những công dân của thế giới ngày mai,

sự tồn tại được bảo vệ và phát triển của các em là điều kiện tiên quyết cho

sự phát triển của nhân loại"

Ở Việt Nam, quan tâm đến trẻ em không chì là bản chất của chế độ mà còn là nhiệm vụ hết sức quan trọng tạo ra một thế hệ với đầy đủ sức khỏe, tri thức khoa học là nguồn vốn quý nhất cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người”

Theo Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015” trong đó mục tiêu về nâng chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non (GDMN), phấn đấu đến năm 2010

có 80% trẻ em đạt chuẩn phát triển và đạt 95% vào năm 2015, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (SDD) ở các cơ sở GDMN xuống dưới 12% năm 2010 và dưới 10% năm 2015, nâng tỷ lệ lên 70% năm 2010 và 90% năm 2015 số lượng cha, mẹ trẻ em được phổ biến, cung cấp kiến thức cơ bản về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ

Trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo (tiền học đường) có cấu tạo cơ thể và chức năng của các cơ quan chưa hoàn chinh và ổn định, vì vậy rất dễ bị các yếu tố bất lợi của môi trường tác động tới quá trình phát triển thể chất và tình trạng sức khoẻ của trẻ [27]

Trang 10

Nhu cầu gửi trẻ tới các trường mầm non ngày càng gia tăng Đáp ứng

nhu cầu phát triển giáo dục mầm non, các cấp các ngành đã quan tâm đầu tư

xây dựng trường học, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho các trường mầm

non v ề mặt Y tế, việc tập trung các cháu vào những nhóm trẻ do các bảo

mẫu chăm sóc là điều kiện rất thuận lợi để thực hiện những phương pháp nuôi

dạy trẻ hợp vệ sinh Nhưng đồng thời do việc tập trung đó nên vẩn đề vệ sinh

và phương pháp nuôi dạy trẻ yêu cầu rất cao Nhiều ngôi trường mới đã được

xây dựng, cải tạo, nâng cấp và trang bị nhiều đồ dùng đúng tiêu chuẩn Tuy

nhiên ở một số cơ sở mầm non đang còn thiểu thốn, không hợp vệ sinh và

xuống cấp, cần có sự quan tâm đặc biệt của các cấp chính quyền, các bậc phụ

huynh, thầy cô giáo và xã hội

Từ trước đến nay đã có nhiều các nghiên cửu về sức khỏe trường

học, những nghiên cứu trong lĩnh vực trường mầm non chưa có nhiều và

đặc biệt trong những năm qua chưa có nghiên cứu nào tại thành phố Nam

Định về vấn đề này

Để có những đề xuất nhằm góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất,

khắc phục các yếu tố tác hại bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các

trường mầm non, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Thực trạng vệ sinh môi

trường và kiến thức, thực hành của bà mẹ, cô giáo về chăm sóc trẻ em tại

một số trường mầm non thành phố Nam Định năm 2013" với mục tiêu:

1

non tại thành p h ổ Nam Định năm 2013

2

Đảnh giá kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

của cô giáo và bà mẹ

Trang 11

Chưong 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm và yêu cầu vệ sinh trường mầm non

1.1.1 Một số khái niệm về trường mầm non

Định nghĩa "mầm non" rất khác nhau tùy từng Quốc gia và khu vực trên

thế giới, có thể coi tất cả trẻ từ khi sinh ra, trải qua suốt giai đoạn mẫu giáo và

chuyển tiếp lên tiểu học đều thuộc nhóm này [37],

Hiện nay một danh từ để chỉ chung cho một cơ sở nuôi dạy trẻ được gọi

là trường mầm non Trong trường mầm non bao gồm các nhóm trẻ của nhà trẻ

và các lóp mẫu giáo như sau:

Từ 3 đến 36 tháng tuổi là tuổi nhà trẻ

Từ 37 đến 72 tháng tuổi là tuổi mẫu giáo

Mỗi lứa tuổi có những yêu cầu vệ sinh về chế độ ăn uống, sinh hoạt và

dụng cụ phục vụ cho trẻ khác nhau [4], [35]

1.1.2 Vai trò của trường mầm non

Trường mầm non là cơ sở rất quan trọng đối với mỗi gia đình trẻ cũng

như toàn xã hội Trường là nơi hàng ngày cha mẹ gửi con em đến sinh hoạt và

học tập Trong suốt thời gian này trẻ được các cô giáo chăm sóc về sức khỏe

và tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, rèn luyện về nề nếp một cách nhịp

nhàng, phù hợp, đảm bảo đúng theo chương trình GDMN của Bộ giáo dục và

đào tạo (GD&ĐT) đã quy định Trẻ đến trường mầm non được lĩnh hội các kỹ

năng sống, phát triển tình cảm, những kinh nghiệm xã hội, nuôi dưỡng sự

phát triển trí tuệ và lĩnh hội các kiến thức Nhìn vào chế độ sinh hoạt của trẻ

hàng ngày với những công việc tường như đơn giản nhưng thực tế để làm tốt

được những công việc đó các cô giáo mầm non phải có đủ cả 4 vai trò đó là

Trang 12

ở trường mầm non là chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục để trẻ phát triển một cách toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ và lao động Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường mầm non phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng Chất lượng nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường có đảm bảo, ừẻ em có khoẻ mạnh và phát triển tốt thì vai trò của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu ờ các cơ

sở GDMN Bởi vì nếu không giáo dục và chăm sóc tốt trẻ rất dễ bị ảnh hưởng đến phát triển thể chất và tinh thần

1.1.3 Yêu cầu về vệ sinh trường m ầm non

'

Theo Điều lệ trường mầm non, nhà trường, nhà trẻ được đặt tại khu dân

cư phù hợp quy hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ; Đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường Độ dài đường đi của trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ: đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu tái định cư, khu vực ngoại thành, nông thôn không quá lkm ; đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không quá 2km

Diện tích khu đất xây dựng nhà trường, nhà frẻ gồm: diện tích xây dựng; diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi Diện tích sử dụng đất bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ đối với khu vực nông thôn và miền núi; 8m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã

Khuôn viên của nhà trường, nhà ừẻ có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, tre, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào cổ n g chính của nhà trường, nhà trẻ có biển tên nhà trường, nhà trẻ [3], [4], [35]

1.1.4 Yêu cầu về vệ sinh phòng nuôi dạy trẻ

Các công trình phải đảm bảo đúng quy cách về tiêu chuẩn thiết kế và các quy định về vệ sinh trường mầm non hiện hành

I

Trang 13

Bố trí công trình cần đảm bảo độc lập giữa khối nhóm trẻ, lófp mẫu giáo với khối phục vụ; Đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục với từng độ tuổi; Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy chữa cháy; Đảm bảo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận sử dụng.

Phòng sinh hoạt chung: Đảm bảo trung bình 1,5 - 1,8 m2 cho một trẻ; đủ ánh sáng tự nhiên và thoáng, nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ

Có thể được dùng làm noi ăn, ngủ cho ữẻ mẫu giáo; nơi để đồ dùng phục vụ trẻ ngủ liền kề phòng sinh hoạt chung Phòng sinh hoạt chung được trang bị đủ bàn ghế cho giáo viên và trẻ, đủ đồ dùng, đồ choi sắp xếp theo chủ đề giáo dục,

có ừanh ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp Tất cả đồ dùng, thiết bị phải đảm bảo theo đúng quy cách do Bộ GD&ĐT quy định [3], [4], [35]

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc trẻ

1.1.5.1 Quy định về kích thước bàn- ghế của lóp mẫu giáo

Bàn ghế lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo phải phù hợp tuổi trẻ Sau đây là qui định kích thước bàn ghế cho trẻ theo chiều cao và lứa tuổi trẻ [35]:

Cao Trước sau Dài/1 chỗ ngồi

Cao Chiều sâu Chiều

rộng

Tay tựa cao

Tựa lưng cao

Trang 14

1.1.5.2 Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lóp mầm non

- Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): 1 bàn và 2ghế/2trẻ; lbàn, lghế và lbảng cho giáo viên Nếu lớp bán trú, có ván hoặc giường nằm, chăn đệm cho trẻ đảm bảo đủ ấm hoặc giữ thoáng mát

- Có một bộ thiết bị tối thiểu bao gồm: thùng đựng nước uống, nước sinh hoạt; đồ chơi, tài liệu, đồ dùng cho hoạt động học có chủ đích

- Có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương; có kệ

Căn cứ vào số lượng trẻ ở mỗi lứa tuổi (mẫu giáo, nhà trẻ) trong lớp để

có trang bị phù họp cho lóp mầm non [3], [4], [35],

1.1.6 Yêu cầu đối với các phòng khác

- Phòng ngủ: Đảm bảo trung bình 1,2 -l,5m 2 cho một trẻ, yên tĩnh,

thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông với đầy đủ các đồ dùng phục vụ trẻ ngủ

- Hiên chơi (vừa có thể là nơi trẻ ăn trưa) đảm bảo trung bình 0,5- 0,7m2 cho mỗi trẻ, chiều rộng không dưới 2,lm ; có lan can bao quanh cao 0,8-lm; khoảng cách giữa các thanh gióng đứng không lớn hơn 0,lm; thuận tiện cho các sinh hoạt của trẻ khi mưa, nắng

- Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật: có diện tích tối thiểu là 60m2, có gương áp tường và gióng múa, có trang bị các thiết bị điện tử và nhạc cụ, có

tủ đồ dùng, đồ chơi âm nhạc, quần áo, trang phục, đạo cụ múa [4], [35]

Trang 15

Bố trí công trình cần đảm bảo độc lập giữa khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo với khối phục vụ; Đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục với từng độ tuổi; Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy chữa cháy; Đảm bảo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận sử dụng.

Phòng sinh hoạt chung: Đảm bảo trung bình 1,5 - 1,8 m2 cho một trẻ; đủ ánh sáng tự nhiên và thoáng, nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ

Có thể được dùng làm ncri ăn, ngủ cho ừẻ mẫu giáo; nơi để đồ dùng phục vụ trẻ ngủ liền kề phòng sinh hoạt chung Phòng sinh hoạt chung được trang bị đủ bàn ghế cho giáo viên và trẻ, đủ đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề giáo dục,

có tranh ảnh, hoa, cây cảnh ừang trí đẹp, phù hợp Tất cả đồ dùng, thiết bị phải đảm bảo theo đúng quy cách do Bộ GD&ĐT quy định [3], [4], [35]

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc trẻ

1.1.5.1 Quy định về kích thước bàn- ghế của lớp mẫu giáo

Bàn ghế lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo phải phù hợp tuổi trẻ Sau đây là qui định kích thước bàn ghế cho trẻ theo chiều cao và lứa tuổi trẻ [35]:

Cao Trước sau Dài/1 chỗ ngồi

Cao Chiều sâu Chiều

rộng

Tay tựa cao

Tựa lưng cao

Trang 16

1.1.5.2 Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lớp mầm non

- Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): 1 bàn và 2ghế/2trẻ; lbàn, lghế và lbảng cho giáo viên Nếu lóp bán trú, có ván hoặc giường nằm, chăn đệm cho trẻ đảm bảo đủ ấm hoặc giữ thoáng mát

- Có một bộ thiết bị tối thiểu bao gồm: thùng đựng nước uống, nước sinh hoạt; đồ chơi, tài liệu, đồ dùng cho hoạt động học có chủ đích

- Có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương; có kệ

Căn cứ vào số lượng trẻ ở mỗi lứa tuổi (mẫu giáo, nhà trẻ) trong lớp để

có trang bị phù hợp cho lớp mầm non [3], [4], [35]

1.1.6 Yêu cầu đổi với các phòng khác

- Phòng ngủ: Đảm bảo trung bình 1,2 -l,5 m 2 cho một trẻ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông với đầy đủ các đồ dùng phục vụ trẻ ngủ

- Hiên chơi (vừa có thể là nơi trẻ ăn trưa) đảm bảo trung bình 0,5- 0,7m2 cho mỗi ừẻ, chiều rộng không dưới 2,lm ; có lan can bao quanh cao 0,8-lm; khoảng cách giữa các thanh gióng đứng không lớn hơn 0,lm; thuận tiện cho các sinh hoạt của trẻ khi mưa, nắng

- Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật: có diện tích tối thiểu là 60m2, có gương áp tường và gióng múa, có trang bị các thiết bị điện tử và nhạc cụ, có

tủ đồ dùng, đồ chơi âm nhạc, quần áo, trang phục, đạo cụ múa [4], [35]

Trang 17

1.1.7 Yêu cầu các công trình vệ sinh trong trường

Phòng vệ sinh: Đảm bảo 0,4 - 0,6m2 cho một trẻ; đối với trẻ mẫu giáo có chỗ riêng cho trẻ em trai, trẻ em gái Phòng vệ sinh có các thiết bị sau:

+ Có thể có bể hoặc bồn chứa nước

- Đối với mẫu giáo:

+ Vòi nước rửa tay;

+ Chỗ đi tiểu và bồn cầu vệ sinh cho trẻ em trai và trẻ em gái;

+ Vòi tắm;

+ Bể hoặc bồn chứa nước [6], [35]

1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu giáo

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đúng mức tới GDMN chính vì vậy mà mức độ đầu tư cho GDMN cũng tăng hơn so với giai đoạn trước Tuy nhiên, so với yêu cầu của một nền giáo dục hiện đại và những yêu cầu thực tế của GDMN thì mức đầu tư như vậy được coi là chưa thỏa đáng

Tại Hội nghị trực tuyến tổng kết năm học 2012-2013 và triển khai nhiệm vụ GDMN năm học 2013-2014 do Bộ GD&ĐT phối hợp cùng Công ty Friesland Campiña tổ chức vào sáng 22/8/2013, theo ông Nguyễn Bá Minh,

Vụ trưởng Vụ GDMN Bộ GD&ĐT cho biết sau hơn ba năm triển khai Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, đến nay vẫn còn nhiều địa phương có tỷ lệ xã/phường đạt chuẩn phổ cập dưới 10% như Kiên Giang (4,8%), Sóc Trăng (6,4%), An Giang (9% ), Cả nước còn 35% tỉnh/ thành phố chưa có huyện

Trang 18

đạt chuẩn phổ cập Ngoài ra, cả nước hiện vẫn còn 365/11.124 xã/phường/thị trấn chưa có trường mầm non, 26.710 lớp ghép và 26,11% trẻ chưa được ăn bán trú tại trường khiến công tác quản lý và đảm bảo chất lượng gặp nhiều khó khăn Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm đề ra cho năm học mới là cố gắng phấn đấu có thêm 18 tỉnh, thành phố trên cả nước đạt chuẩn Phổ cập GDMN, đồng thời nâng cao tỷ lệ trẻ học 2 buổi/ngày Bộ GD&ĐT đặt yêu cầu: “Việc thực hiện đề án phổ cập phải gắn liền với xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất và quy hoạch đào tạo giáo viên Các dịa phương không thể chạy đua tiến độ mà thiếu sự chuẩn bị lâu dài”

Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, số liệu thống

kê từ Bộ GD&ĐT cho thấy, năm học 2013 - 2014, cả nước thiếu 20.523 giáo viên, trong đó số giáo viên đang công tác chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo đến 9.670 người Mặc dù theo quy định của Bộ GD&ĐT, các trường phải đảm bảo

tỷ lệ 2 giáo viên/lớp nhưng thực tế ở các địa phương cho thấy mục tiêu thực hiện chưa đáp ứng Chất lượng của giáo viên mầm non hầu như chưa đạt yêu cầu, chỉ có gần 25% giáo viên được đào tạo chuẩn trung cấp, 10% giáo viên

có trình độ cao đẳng và đại học, còn lại là giáo viên chưa được đào tạo qua bất cứ 1 trường lớp nào Điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng GDMN

Đời sống của giáo viên mầm non hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn

do chưa có sự quan tâm sâu sát của các cấp chính quyền và ngành giáo dục

Cả nước còn tới gàn 75% giáo viên mầm non chưa được vào biên chế chính thức dẫn đến đời sống giáo viên mầm non gặp nhiều khó khăn làm giảm lòng yêu nghề đối với đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay Cả nước còn gần 10.000 giáo viên mầm non có nhiều năm gắn bó với nghề mà không được hưởng chế độ bảo hiểm hay chế độ ưu đãi nào Thực ừạng tồn tại là họ đến tuổi nghỉ hưu mà vẫn không được xét vào biên chế N hà nước

Trang 19

Sự quản lý của Nhà nước với giáo dục mầm non còn lỏng lẻo thiếu sự phối hợp của các cấp các ngành Việc nhà nước giao ừách nhiệm quản lý GDMN cho cấp xã, phường điều đó cho thấy vai trò của GDMN chưa được nhìn nhận đúng đắn Hệ thống các trường mầm non bán công các trường mầm non tư thục phát triển tràn lan tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh nhưng không đảm bảo được chất lượng dạy và học cũng như các

cơ sở vật chất khác dẫn đến tình trạng nhiều bậc phụ huynh không có sự tin tưởng khi đưa con mình đến lớp Ở những vùng nông thôn và miền núi khó khăn nhiều xã còn nghèo không có đủ kinh phí để chi trả cho giáo viên mầm non, dẫn đến lòng yêu nghề yêu trẻ của giáo viên bị giảm bởi chỉ dựa vào số lương ít ỏi mà họ nhận được thì họ không thể đảm bảo được cộng sống

Các phương thức chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở mầm non chưa được đa dạng hóa đồng bộ đảm bảo tính khoa học cho phù họp với lứa tuổi của các em để các em có thể phát triển một cách toàn diện các khả năng của các em, tỷ lệ trẻ em SDD của Việt nam vẫn còn ờ mức cao so với khu vực và trên thế giới [37]

Có một khoảng cách khá xa giữa GDMN thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi Đó là do những nguyên nhân khách quan về điều kiện phát triển kinh tế xã hội cũng như trình độ nhận thức và mức sống ở các vùng miền là khác nhau Theo thống kê trẻ em thành thị có khả năng thích ứng nhanh hơn gấp 2 lần so với trẻ em nông thôn và gấp 5 lần so với trẻ em ở những vùng sâu vùng xa [37]

Qui mô của GDMN chưa được mở rộng hẹp lý, các loại hình GDMN chưa phát triển hợp lý cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hiện đại, do vậy phần gốc của cây giáo dục vẫn còn khá yếu và chưa đạt mức chuẩn so với thế giới Không chú trọng đến việc nâng cao chất lượng GDMN có nghĩa là không chú trọng đến việc tạo ra một cái gốc chắc chắn cho nền giáo dục

Trang 20

Để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, mỗi nhà trường mầm non cần chú ý đến việc đảm bảo môi trường, cảnh quan sư phạm Các phòng học, phòng ăn, phòng ngủ, khu vệ sinh phải thoáng mát, sạch sẽ Khuôn viên của trường phải đủ rộng để tạo dựng được một khu vườn tự nhiên sinh động và khu vui chơi rộng rãi, an toàn Trong việc nuôi dưỡng, nhà trường phải thực hiện nghiêm túc các chế độ sinh hoạt của trẻ theo qui định của Bộ GD&ĐT, phải nuôi dưỡng trẻ theo khoa học như: cung cấp cho trẻ đủ năng lượng phù hợp với từng độ tuổi; cân đối các chất protit, lipit, gluxit, các vitamin và khoáng chất, cân đối năng lượng cần cung cấp cho trẻ trong các bữa ăn trong ngày; phấn đấu giảm tỉ lệ trẻ SDD và tỉ lệ trẻ béo phì [10], [24], Trong việc dạy dỗ, nhà trường mầm non phải thực hiện đúng nội dung, chương trình các môn học để cung cấp cho trẻ những tri thức ban đầu về thế giới xung quanh, giúp trẻ phát triển được các phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội Trên cơ sở đó, chuẩn bị cho trẻ những tiền đề cần thiết

để bước vào học lớp một và các lớp tiếp theo một cách thuận lợi

Trong quá trình nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ, đội ngũ giáo viên là nhân tố đóng vai trò quyết định Nhà trường mầm non cần có kế hoạch và biện pháp để giúp đội ngũ giáo viên không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trau dồi các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của bản thân Nhà trường là nơi trẻ tham gia, hoạt động nhiều và cũng là nơi có nhiều tác động đến cơ thể trẻ Do vậy, việc xây dựng trường học và các thiết

bị cho nhà trường, chế độ làm việc của giáo viên, vệ sinh phòng bệnh trong nhà trường phải được tiến hành ngay từ đầu

Cơ sở vật chất của các trường mầm non thiếu Hiện nay, ước tính trên toàn quốc mới chỉ có 25% lớp học đạt yêu cầu về nhà cửa và các ừang thiết

bị, đồ dùng học tập cho các cháu Một báo cáo trên trang báo Vietnamnet cho biết tại xã Nghi Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An theo điều tra năm 2011

Trang 21

có thiết bị đồ chơi ngoài trời, nhà vệ sinh, phòng ă n .Tất cả các lóp không tổ chức ăn cho trẻ được vì vậy các bậc phụ huynh phải đưa đón con ngày hai buổi rất vất vả Ảnh hưởng lớn nhất mà thiếu trường mang lại là chất lượng trẻ phát triển không đồng đều do không được học đúng bài bản Tất cả các điểm lẻ của trường đều phải gộp lớp do vậy chương trình dạy cho trẻ phải bịcắt bớt và không hoàn toàn phù hợp với lứa tuổi trẻ.

Khi phân tích tình hình phát triển giáo dục trẻ em tỉnh Điện Biên cho thấy trong năm học 2008-2009, tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo là 94,2%;

tỷ lệ trẻ em đi nhà trẻ chỉ chiếm 10,3% [38]

1.3 Một số nghiên cứu về điều kiện vệ sinh, kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ và cô giáo

Việc triển khai các nghiên cứu về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết

bị, nguồn nhân lực phục vụ công tác chăm sóc ừẻ tại trường và kiến thức trình

độ của cô giáo và các bà mẹ về chăm sóc trẻ có vai ừò rất quan ừọng đối với sự phát triển của trẻ về thể chất cũng như tinh thần trẻ Đối với ngành học mầm non, phối họp giữa gia đình và nhà trường là một nhiệm vụ thiết thực tạo sự liên kết thống nhất giữa nhà trường và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc trẻ ở lớp cũng như ở gia đình [16]

Khi nghiên cứu về điều kiện học tập của học sinh 6 trường tiểu học tại thành phố Thái Bình, tác giả Đặng Thị Vân Quý cho biết 4/6 trường có hố tiểu, 3/6 trường có đủ nước máy [28] Chưa có nhiều nghiên cứu về thực trạng điều kiện vệ sinh trong các trường mầm non, các nghiên cứu mới chỉ có đánh giá chung trong khảo sát các trường học Một số nhà khoa học khi tìm hiểu về

Trang 22

dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở mầm non, Huỳnh Thị Thu Diệu và nhóm nghiên cứu năm 2012 cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì đang gia tăng nhanh ở trẻ mầm non 4-5 tuổi thuộc vùng nội thành thành phố

Hồ Chí Minh và đã ừ ở nên vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng cần quan tâm hiện nay [12]

Theo tác giả Nguyễn Quang Dũng và nhóm nghiên cứu năm 2011 cho thấy hoạt động thể lực của trẻ em 5 tuổi ở trường mầm non A Hà Nội ít hơn

so với trẻ cùng lứa tuổi ở Nhật Bản và Bỉ Có một vài lý do giúp giải thích sự khác biệt này Đặc điểm giao thông tại Hà nội khác so với các nước khác: Không có hệ thống tàu điện ngầm, xe buýt chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại chủ yếu của người dân, phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Hà Nội là xe gắn máy Các lớp học chỉ rộng khoảng 35-40 m2 , có lớp chỉ rộng khoảng 25 m2, sân trường cũng chỉ có khoảng 40 m2 để đặt một số dụng cụ như cầu trượt,

đu quay, nhà bóng Các động tác tập thể dục buổi sáng của trẻ chủ yếu là vận động thân mình như nghiêng mình, vặn hay quay thân mình, lắc, ngửa, cúi đầu, giang tay, chân Động tác di chuyển người bằng chân như chạy bộ không được thực hiện nhiều, do đó số bước chân của trẻ bị hạn chế [14] Theo Huỳnh Văn Dũng và nhóm nghiên cứu năm 2012 cho thấy truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho các bậc cha mẹ; Một số kinh nghiệm đầu tư cơ sở vật chất trong trường mầm non Trẻ khoẻ mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường - nơi một nửa thời gian hàng ngày của các em ở đó Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ trẻ là nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cho thế hệ tương lai của đất nước Song trên thực tế, hoạt động y tế dự phòng tại các trường mầm non hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nhiều bệnh đang có xu hướng gia tăng [13]

I

Trang 23

v ẫ n còn một số lượng lớn trẻ em Việt Nam tử vong hàng năm Với tỉ

lệ dân số trong độ tuổi sinh đẻ cao, một nước đông dân nên mặc dù tỉ lệ tử vong trẻ em nước ta tuy đã giảm m ột cách đáng kể nhưng số tử vong hàng năm vẫn rất cao Theo đánh giá của UNICEF, hàng năm có tới 28.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong trong đó có khoảng 16.000 là trẻ sơ sinh Ti lệ trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 6,5%, ước tính khoảng 6.000.000 trẻ và số trẻ sơ sinh ra đời hàng năm từ 1.200.000 - 1.500.000 là nhóm đối tượng luôn cần được quan tâm một cách đáng kể [37]

Trẻ có quyền được vui chơi, được chăm sóc và phải có luật bảo vệ trẻ

em đối với những kẻ vi phạm quyền trẻ em Đối với các tổ chức xã hội, đặc biệt là ngành giáo dục là nơi dạy dỗ phải có phương pháp phù hợp với tìmg lứa tuổi, là sân chơi bổ ích tạo sự phát triển về tinh thần Sự phát triển về tinh thần, thể chất phụ thuộc rất nhiều vào môi trường Một môi trường trong sạch về mọi mặt có tác động lớn tới sự phát triển của trẻ [7], [9],

Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là hết sức quan trọng Theo báo tạp chí cộng sản ra ngày 01/07/2013 cho thấy:

Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về Quyền ừẻ em của Liên hợp quốc (năm 1990) và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1991) tới nay, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với lĩnh vực này

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, bên cạnh rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì những hạn chế, yếu kém của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng bộc lộ Những yếu kém này đã góp phần làm cho một số mục tiêu, đặc biệt là mục tiêu bảo vệ trẻ em của các chương trình có nguy cơ không đạt được so với mục tiêu kế hoạch đề ra Nhiều nguyên nhân đã được các chuyên gia và các nhà quản lý nêu ra: nhận thức của từng gia đình và toàn

Trang 24

cộng đồng chưa đầy đủ; năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu kém; dịch vụ bảo vệ trẻ em còn nghèo nàn, chưa có mạng lưới; thiếu hệ thống pháp lý thân thiện với trẻ em; vai trò của quản lý nhà nước còn mờ nhạt, chưa hiệu quả Trong nhiều năm qua, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân nói chung và của từng gia đình nói riêng được nâng lên Những yếu tố cơ bản này đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em Có thể nói, mặc dù điều kiện, mức độ đầu tư chăm sóc con cái của các gia đình còn chênh lệch nhau, song hầu hết các gia đình đều ưu tiên đến mức cao nhất cho việc chăm lo cho trẻ em được ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh

Nhận thức của cha mẹ về chăm sóc, nuôi dạy và bảo vệ trẻ em đã từng bước được nâng lên Tuy vậy, qua sự phản ánh của báo chí và qua các kết quả khảo sát, điều tra thì có thể nói hiện nay tình trạng trẻ em thiếu sự quan tâm,

bị xúc phạm, xâm hại, trừng phạt, bạo lực, bóc lộ t hiện vẫn đang ở mức cao

và càng ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Điều đáng lo lắng là những hiện tượng này diễn ra không chỉ trong môi trường xã hội mà còn ờ ngay trong chính gia đình của các em Nói cách khác, trẻ em chưa được bảo

vệ, chưa được an toàn ngay trong nhà mình, quyền của trẻ em chưa được chính các bậc cha mẹ thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Tất nhiên, khi trẻ em bị mất an toàn (cả về thể xác, cả về tinh thần) ngay trong nhà mình thì lỗi trước tiên phải thuộc về cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình Có thể kể ra đây một số nguyên nhân chính dẫn đến sự hạn chế trong ý thức của gia đình đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục ừẻ em Một số nghiên cứu đã cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn nhiều tồn tại mà nguyên nhân do các yếu tố từ bà mẹ như trình độ văn hóa, tuổi mẹ khi sinh, chăm sóc trong thời kỳ thai nghén [19], [26], [37], [40], [47],

Nhận thức của những người có liên quan đến chăm sóc cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Thống kê mô tả và suy luận đã cho thấy

Trang 25

khoảng một nửa (46,8%) số người được hỏi có giáo dục trung học chỉ có 6,0% có kiến thức về quản lý dinh dưỡng của bệnh tiêu chảy trong khi 54,8 %

có kiến thức về liệu pháp bù nước đường uống 71% số người được hỏi báo cáo thực phẩm [51] Một nghiên cứu ở Uganda và một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thấy bệnh tiêu chảy trẻ em có liên quan đến người chăm sóc trẻ và tình trạng vệ sinh nước uống cho trẻ [2], [53], [54], [55],

Một vấn đề liên quan đến sự phát triển của trẻ là do trì nil dộ học vấn của nhiều bậc cha mẹ còn thấp nên chưa có hiểu biết đầy đủ trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục ừẻ em Trong nhiều gia đình, trẻ em không bị thiếu ăn nhưng vẫn SDD; khi đau ốm vẫn được cha mẹ đưa đi chữa trị nhưng lại không phải tại các cơ sở y tế; nhà cửa tương đối khang trang nhưng lại có rất nhiều nguy cơ gây tai nạn cho trẻ; kinh té không quá thiếu thốn nhưng lại rất nghèo

về thông tin Chính vì sự thiếu hiểu biết của cha mẹ mà rất nhiều trẻ em, tuy được sống ừong những gia đình tạm đầy đủ về điều kiện vật chất, nhưng vẫn chưa được bảo vệ và chăm sóc một cách phù hợp; rất nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc, mất an toàn, trong khi gia đình, mặc dù rất khó khăn, nhưng vẫn chưa đến mức lâm vào tình cảnh buộc các em phải làm những công việc quá sức hay nguy hiểm đó Có không ít ừẻ em đã trở thành tàn phế do sự thiếu hiểu biết của cha mẹ Nói cách khác là chính gia đình đã vô tình biến các em thành ừẻ có hoàn cảnh đặc biệt [37] Theo Phou Sophal (2010) tại Bắc Kạn cho thấy 1/3 số bố mẹ của ừẻ có trình độ văn hóa thấp dưới lớp 6; 2/3 số bố mẹ có văn hóa từ 6-12; tỷ lệ bố mẹ học xong lóp 12 trở lên rất thấp (5-6%) [26] Nghiên cứu tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, tác giả cho biết có mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của con với chế độ nuôi dưỡng chưa đúng [22] Một nghiên cứu khác tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên tác giả Trần Thị Nga và cộng sự cho biết kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc ữẻ tốt nhưng thực hành về chăm sóc trẻ đặc biệt là trẻ ốm chưa tốt: 36,2% các bà mẹ có con

ốm tự điều trị tại nhà hoặc không điều ừị [25] Nghiên cứu của tác giả Trương

I

Trang 26

y[ạnh Sức tại thành phố Phủ Lý cũng cho kết quả tương tự về sự phát triển về 'hể chất của trẻ với kiến thức và thực hành của các bà mẹ trong chăm sóc trẻ ngay từ khi thai kỳ [30].

Để góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, thể chất và trí tuệ của trẻ, ngoài trách nhiệm của nhà trường thì trách nhiệm của gia đình đóng vai trò rất quan trọng Gia đình là một tế bào của xã hội và trẻ được giáo dục nền tảng chính ở trong gia đình Giáo dục không chỉ đon thuần là nuôi con đầy đủ về vật chất,

mà chủ yếu giúp con trở nên hữu ích, là người con hiếu thảo trong gia đình, công dân tốt cho xã hội và đất nước Một nhà giáo dục Mỹ đã nói: Nhà trường đầu tiên là gia đình và người thầy đầu tiên là mẹ nên người mẹ rất quan trọng đối với trẻ Họ thực hiện thiên chức làm mẹ, làm thầy một trọng trách khó khăn nhưng cao cả Sáng kiến kinh nghiệm của Bùi Thị Hải thuộc trường Mầm non

B Hà Nội [16] về kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền giữa nhà trường và các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mẫu giáo mầm non

B cho thấy: Đối với ngành học mầm non, phối hợp giữa gia đình và nhà trường

là một nhiệm vụ thiết thực, tạo sự liên kết và thống nhất giữa trường mầm non

và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở gia đình Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ sự phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mà nhiệm

vụ năm học đã đề ra Một nghiên cứu khác tại Thanh Liêm tỉnh Hà Nam về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cho biết kiến thức của bà mẹ và kinh tế gia đình ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ [31]

Việc chăm sóc sức khỏe ữẻ em lứa tuổi nhà ừẻ mẫu giáo không chi có gia đình nhà trường mà còn cần sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng Trẻ bị các

Trang 27

Mạnh Sức tại thành phố Phủ Lý cũng cho kết quả tương tự về sự phát triển về thể chất của trẻ với kiến thức và thực hành của các bà mẹ trong chăm sóc trẻ ngay từ khi thai kỳ [30].

Đổ góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, thể chất và trí tuệ của trẻ, ngoài trách nhiệm của nhà trường thì trách nhiệm của gia đình đóng vai trò rất quan trọng Gia đình là một tế bào của xã hội và trẻ được giáo dục nền tảng chính ở trong gia đình Giáo dục không chỉ đơn thuần là nuôi con đầy đủ về vật chất,

mà chủ yếu giúp con trở nên hữu ích, là người con hiếu thảo trong gia đình, công dân tốt cho xã hội và đất nước Một nhà giáo dục Mỹ đã nói: Nhà trường đầu tiên là gia đình và người thầy đầu tiên là mẹ nên người mẹ rất quan trọng đối với trẻ Họ thực hiện thiên chức làm mẹ, làm thầy một trọng trách khó khăn nhưng cao cả Sáng kiến kinh nghiệm của Bùi Thị Hải thuộc trường Mầm non

B Hà Nội [16] về kinh nghiệm ữong công tác tuyên truyền giữa nhà trường và các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục ữẻ ở trường mẫu giáo mầm non

B cho thấy: Đối với ngành học mầm non, phối hợp giữa gia đình và nhà trường

là một nhiệm vụ thiết thực, tạo sự liên kết và thống nhất giữa trường mầm non

và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở gia đình Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ sự phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thẩm mỹ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mà nhiệm

vụ năm học đã đề ra Một nghiên cứu khác tại Thanh Liêm tỉnh Hà Nam về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cho biết kiến thức của bà mẹ và kinh tế gia đình ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ [31]

Việc chăm sóc sức khỏe ừẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo không chỉ có gia đình nhà trường mà còn cần sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng Trẻ bị các

Trang 28

T1UỜNC ĐẠJ H Ọ C ĐIỂU DƯỠNG

NÁM ĐỊNHTHƯVỊÊN

bệnh như viêm phổi, phế quản hoặc các bệnh cấp tính khác về tiêu hóa, nhiễm giun đường ruột, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ [34], [41], [46], [49] Nghiên cứu của tác giả Trần Mạnh Tiến tại huyện Điện Biên năm 2009 cho biết tỷ lệ mắc viêm phổi ừẻ em là 11,6%; nhóm tuổi mắc cao nhất là 25- 36 tháng tuổi, tỷ lệ bà mẹ cho ưẻ đi khám ở trạm y tế khi trẻ

bị ho sốt khó thở là 93,7% ở vùng thấp và 48,1% ở vùng cao Nghiên cứu cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của cán bộ y tế với chăm sóc trẻ em khi bị ốm là kiến thức đúng của cán bộ y tế về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 66,3%; cán bộ y tế biết thực hành đúng về phân loại bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 44,8% [32] Một nghiên cứu ở tỉnh Thái Bình về thực hạng dinh dưõng cho các bếp ăn tại các cơ sở nuôi dạy trẻ cho thấy số bếp đạt yêu cầu về dụng cụ chiếm 72,7% [11] Theo Niên giám thống kê Y tế (2009) cho thấy tại Nam Định số trẻ trong diện điều tra là 1522 thì có 18,6% trẻ trong diện SDD [8]

Vệ sinh cá nhân cho trẻ ở nhà và ở trường rất quan trọng, giúp trẻ sạch

sẽ và phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường hô hấp và tiêu hóa Đặc biệt

là bệnh giun sán Nghiên cứu của các tác giả tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết xét nghiệm trên 1677 cháu học tại 4 trường mầm non huyện Củ Chi cho thấy tỷ lệ nhiễm giun kim là 30,7% Nhóm trẻ có các phụ huynh lao động trí

óc thì tỷ lệ nhiễm giun kim ít hơn các nhóm khác [18] Một nghiên cứu của tác giả Phan Thị Hương Liên về sức khỏe trẻ em mầm non thành phố Hà Nội cho biết tỷ lệ nhiễm giun chung ở trẻ em mầm non là 5,54% và nhiễm giun đũa là 3,69%; giun tóc là 2,11% [21] Một nghiên cứu khác của Richard và cộng sự tại vùng nông thôn Nicaragua và một số nghiên cứu khác khi tìm hiểu mối liên hệ giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột với sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo cho biết bệnh ký sinh trùng phổ biến hơn ở trẻ em dưới 24 :háng tuổi với chiều cao thấp trong khi đó nhóm tuổi lớn hơn với cân nặng :hấp có liên quan chặt chẽ với nhiễm ký sinh trùng [29], [43]

Trang 29

Nghiên cứu của Trần Thị Nga và Đỗ Thị Phương (2006) tại Phú Lương, Thái Nguyên và một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng còn ờ mức cao và chênh lệch nhiều giữa các địa phương Còn nhiều bà mẹ/người chăm sóc chính trẻ còn thiếu hiểu biết và không thực hiện các hành vi vệ sinh

cá nhân và vệ sinh trong chăm sóc trẻ [25], [27], [33], Một nghiên cứu tại Srilanka và một số nghiên cứu khác chỉ ra vệ sinh môi trường và chế độ ăn ảnh hưởng đến dinh dưỡng trẻ [22], [44],

1.5 Thực trạng các trường mầm non tại thành phố Nam Định

Trẻ em có được khoẻ mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện học tập ở nhà trường, nơi một nửa thời gian hàng ngày của các em ờ đó Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ trẻ em là nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cho thế

hệ tương lai của đất nước

M ột ngôi trường khang trang sạch đẹp, đảm bảo vệ sinh, một đội ngũ

cô giáo đầy nhiệt huyết như người mẹ thứ hai, điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của trẻ một cách đáng kể Sự hiếu động vốn là một nhân tố tích cực để hoàn thiện nhân cách nếu được thể hiện trong một môi trường giáo dục thân thiện V iệt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới nhưng chỉ số phát triển và các chỉ tiêu về chất lượng dân số chỉ xếp thứ 108/177

Thành phố Nam Định là một thành phố thuộc tỉnh lỵ của tỉnh Nam Định và cũng nằm trong bối cảnh chung của đất nước về sự phát triển giáo dục và Y tế

Thành phố Nam Định hiện có 27 trường mầm non, trong đó có 2 trường mầm non tư thục, phân bố ở hầu hết các xã, phường song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của bậc học mầm non

Trang 30

Điều lệ trường học mầm non quy định, trẻ từ 18 đến 36 tháng tuổi được nhận vào nhà trẻ và từ 37 đến 72 tháng tuổi được nhận vào lớp mầm non [4] Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các trường mầm non trên địa bàn thành phố đều không nhận trẻ ừên dưới 2 tuổi Vì vậy, hầu hết trẻ trong lửa tuổi này phải đến trường tư thục hoặc được gửi ở các cơ sờ trông trẻ tại gia đình Không chỉ chi phí gửi trẻ cao hơn nhiều so với các trường mầm non công lập

mà chất lượng nuôi dưỡng của các gia đình nhận chăm sóc trẻ cũng là một vấn đề khiến các bậc phụ huynh không yên tâm Tuy nhiên, nếu các trường mầm non công lập thực hiện đúng quy định Điều lệ trường mầm non, nhận trẻ từ 18 đến 36 tháng tuổi thì tình trạng quá tải trong các nhà trường còn trầm trọng hơn nhiều Thực trạng tại các trường mầm non ngoại thành thành phố Nam Định, các trường ngoại thành do xã quản lý vì vậy kinh phí đầu tư cho trường phụ thuộc vào tài chính của xã cấp số giáo viên trong diện biên chế thì có mức lương theo ngạch bậc còn lại đa số là giáo viên thuộc diện hợp đồng Kinh phí chi trả lương cho giáo viên hợp đồng phụ thuộc vào tiền thu học phí của phụ huynh trẻ theo tháng vì thế không có sự ổn định mức

Trang 31

lương Số lượng trẻ nghỉ nhiều do thời tiết giá rét hoặc nóng bức cũng đồng nghĩa với việc tiền lương của giáo viên hợp đồng bị hụt đi do nguồn thu giảm Điều đó ảnh hưởng tới đời sống của một bộ phận không nhỏ giáo viên tại các trường mầm non ngoại thành.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên chưa được thực sự quan tâm, hầu như các giáo viên phải tự khắc phục để

đi học Tất cả những vấn đề trên là một thách thức lớn đối với việc đảm bảo chất lượng cho các trường mầm non trong địa bàn thành phố Nam Định

Trang 32

Chương 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1 Địa điểm, đối tượng và thòi gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 6 trường mầm non thuộc địa bàn thành phố Nam Định

Thành phố Nam Định có dân số là 352.108 người, tỉ lệ thành thị là 85,71 %; nông thôn là 14,29% Mật độ 7589 người/km2 Thành phổ Nam Định là một thành phố nằm ở phía bắc của Việt Nam, trực thuộc tỉnh và là tỉnh

lỵ của tỉnh Nam Định Nằm ở khu vực đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây

đã sớm trở thành một trung tâm văn hoá và tôn giáo ngay từ những thời kỳ đầu thế kỷ XIII trong lịch sử Việt Nam Thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ

ký quyết định công nhận là đô thị loại I ngày 28/11/2011 Trước đó, ngày 22/11/2011 thành phố Nam Định cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm kinh tể, văn hóa, khoa học và xã hội của tỉnh Nam Định và của vùng Nam đồng bằng sông Hồng; đây cũng là một thành phố của vùng duyên hải Bắc Bộ Thành phố hiện có diện tích tự nhiên nhỏ nhất do vùng nông thôn ngoại thành rất hẹp Với dân số đông tập trung trên diện tích hẹp nên có mật độ cao nhất trong các thành phố cả nước, hiện đã hơn 7000 người/km2) v ề quy

mô dân số nội thành so với các thành phố ở miền Bắc chỉ đứng sau Hà Nội và Hải Phòng (đã hơn 30 vạn dân đạt 17.221 người/ 1 km2 vào năm 2011) Thành phố Nam Định có 20 phường: Bà Triệu, Cửa Bắc, Cửa Nam, Hạ Long, Lộc Hạ, Lộc Vượng, Năng Tỉnh, Ngô Quyền, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần

Trang 33

Te Xương, Trường Thi, Văn Miếu, Vị Hoàng, Vị Xuyên 5 xã ngoại thành: Lộc

An, Lộc Hòa, Mỹ Xá, Nam Phong, Nam Vân

Thành phố hiện có 29 trường mầm non, trong đó có 27 trường mầm non công lập, 2 trường mầm non tư thục Những năm qua, ngành học mầm non thành phố luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư, chăm lo Quy mô trường lóp, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ luôn ổn định, phát triển Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, yêu nghề, nhiệt tình trong công tác Bên cạnh những thuận lợi, công tác phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi trên địa bàn thành phố còn gặp khó khăn như: dân số của các phường, xã trên địa bàn thành phố luôn biến động, ảnh hưởng đến công tác điều tra phổ cập Sự phân bố các trường mầm non ở các phường không đều, nhiều phường

có 2 trường mầm non như: Trần Hưng Đạo, Vỵ Xuyên, Văn Miếu, Trường Thi nhưng có phường lại chưa có trường mầm non như phường Trần Quang Khải Ngoài ra, trẻ mầm non chưa có quy định học đúng tuyến nên các trường gặp khó khăn trong công tác theo dõi phổ cập Đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay còn thiếu, thời gian đứng lớp cả ngày nên thời gian điều tra phổ cập chủ yếu là ngoài giờ làm việc Kinh phí cho công tác phổ cập GDMN cho trẻ

5 tuổi còn hạn hẹp; mức thu nhập của giáo viên ngoài biên chế thấp, ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục

Trong 6 trường mầm non thành phố Nam Định được lựa chọn vào nghiên cứu bao gồm 3 trường mầm non thuộc vùng nội thành và 3 trường mầm non thuộc vùng ngoại thành

Các trường nội thành đó là: Trường mầm non Lộc Vượng, trường mầm non Vị Xuyên, trường mầm non Ngô Quyền

Trường mầm non Lộc Vượng có 11 cô, số cháu là 200 Địa điểm xây dựng trường được đặt trên một diện tích rộng, thoáng Giao thông thuận lợi

Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ Thiết bị ngoài trời có được trang bị nhưng

Trang 34

Trường mầm non Ngô Quyền có 19 cô, số cháu là 330 Địa điểm xây dựng trường chật hẹp, giao thông đi lại khó khăn vào mùa mưa, đường phố ngập lụt, thoát nước chậm Diện tích trồng cây xanh không có, khuôn viên không thoáng Các hoạt động ngoài tròi của trẻ bị hạn chế số trẻ đông, trung bình mỗi cô phụ trách khoảng 17 cháu.

Các trường ngoại thành đó là: Trường mầm non xã Mỹ Xá, trường mầm non xã Nam Phong, trường mầm non xã Nam Vân

Trường mầm non xã Mỹ Xá có 40 cô, số cháu là 600 được chia ra làm 4 khu phân đều cho các khu dân cư thuộc địa bàn xã Diện tích xây dựng và diện tích trồng cây xanh của trường đạt được theo quy định Giao thông thuận lợi cho trẻ đến trường

Trường Nam Phong có 14 cô, số cháu là 390 Trường mới được xây dựng trên diện tích rộng trong xã Nam Phong

Trường Nam Vân có 16 cô, số cháu là 300 Trường có khuôn viên chật hẹp được đặt ừong xã Nam Vân số lượng trẻ đông, mỗi cô phải phụ trách 19 cháu

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

+ Điều kiện cơ sở vật chất và vệ sinh

+ Bà mẹ có con học tại 6 trường mầm non

+ Cô giáo chăm sóc trẻ tại 6 trường mầm non

Trang 35

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2013

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên

cuộc điều tra cắt ngang

Nghiên cứu ngang qua các bảng kiểm và hỏi để xác định thực trạng

điều kiện vệ sinh và cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc trẻ cùa các

trường mầm non thành phố Nam Định

Nghiên cứu ngang mô tả thông qua phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ và cô

giáo về kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu aiáo

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

* Cỡ mẫu nghiên cứu

- Cỡ mẫu cho kiểm tra cơ sờ vật chất và điều kiện vệ sinh: Toàn bộ các

trường được chọn vào nghiên cứu gồm 6 trường mầm non công lập

- Cỡ mẫu cho phỏng vấn bà mẹ theo công thức tính như sau [35]:

p (l-p )

) -d2

Trong đó:

n: Là cỡ mẫu cho nghiên cứu

Z2(I.a/2): Hệ số tin cậy phụ thuộc vào ngưỡng xác suất a (Với a = 0,05

thì z= 1,96)

p: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo, ước tính p=0,5

Trang 36

d: Độ sai lệch mong muốn, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn d = 0,05 Vói các dữ liệu trên chúng tôi tính được n = 384, thực tế chúng tôi đã điều tra được 399 bà mẹ có con học ờ các trường trên

Trường nội thành: Ngô Quyền, Lộc Vượng và Vị Xuyên

Trường ngoại thành: Nam Phong, Mỹ Xá và Nam Vân

+ Đối tượng là cô giáo: Lập danh sách các cô giáo đang làm việc tại 6

trường nói trên, sau đó chọn toàn bộ các cô giáo để phỏng vấn điều tra

Trang 37

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

- Sử dụng phiếu điều tra để kiểm tra cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh tại

các trường điều fra về địa điểm xây dựng, diện tích xây dựng, diện tích cây xanh,

các công trình vệ sinh, các đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dạy

trẻ: bô, đồ chơi , y tế học đường

- Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn các bà mẹ về kiến thức, thực hành

chăm sóc trẻ Khi các bà mẹ đến đón con hoặc cho con đến lớp, đoàn điều tra

tiến hành giải thích mục đích cuộc điều tra và tiến hành phỏng vấn theo bộ càu

hỏi theo cỡ mẫu nghiên cứu, trường họp bà mẹ có nhiều con thì chi phỏng vấn

một lần

- Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn cô giáo về kiến thức, thực hành chăm

sóc trẻ Tiến hành phỏng vấn tất cả các cô giáo đang chăm sóc trẻ tại 6 trường

điều tra

- Xét nghiệm mẫu nước để đánh giá chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

tại trường với các chỉ số vệ sinh:

Chất hữu cơ ,N H3

,n o2

Vi khuẩn coliform

.Vi khuẩn hiếu khí

- Xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không khí để đánh giá tình trạng vệ sinh

không khí phòng học và hoạt động vui chơi của trẻ

- Xét nghiệm tìm vi khuẩn coliform và coliform ở một số đồ chơi và

bàn chơi của trẻ để đánh giá tình trạng vệ sinh chung

Trang 38

5 phút, rồi lấy nước vào chai Thực hiện các xét nghiệm theo kỹ thuật thường qui như sau:

+ Xét nghiệm chất hữu cơ: Dựa trên nguyên tắc dùng Kali permanganat (K M n04) thừa để oxy hóa các chất hữu cơ trong nước Lượng oxy tiêu thụ tương đương với lượng Kali permanganat phản ứng Xác định lượng Kali permanganat thừa bằng axít Oxalic (H2C2O4)

+ Xét nghiệm NH3: Dựa trên nguyên tắc trong môi trường kiềm, Amoniac trong nước sẽ tác dụng với thuốc thử Nessler (K2HgI4) cho một phức chất màu vàng Đọc kết quả bằng so màu với thang mầu mẫu

+ Xét nghiệm N 0 2: Dựa trên nguyên tắc trong môi trường axit, nitrit trong nước sẽ chuyển thành axit nitrơ (HN 02), axit này kết với thuốc thử Griess cho phức chất màu hồng.Đọc kết quả bằng so màu với thang mầu mẫu

+ Xét nghiệm Coliform và F Coliform bằng phương pháp đa ống (The Most Probable Number): Coliform là vi khuẩn thường tìm thấy ở phân

người, phân động vật và có thể thấy ở cả môi trường như đất, nước, rau quả Đây là loại vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí tùy tiện, không có nha bào, chúng được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng đối với các nguồn nước đã xử lý Sự

có mặt của coliform chứng tỏ rằng phương pháp tiệt khuẩn chưa đạt hiệu quả Xét nghiệm dựa vào tính chất sinh vật hóa học coliform và Coliform

lên men đường lactose, sinh axit, sinh hơi và sử dụng muối mật Sau nuôi cấy tra bảng tính kết quả

Trang 39

+ Xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không khí theo phương pháp Kochnhư sau:

Trong không khí thường có nhiều loại vỉ khuẩn hiếu khí, bao gồm loại

vi khuẩn gây bệnh và loại vi khuẩn không gây bệnh Xác định vi khuẩn hiếu khí là tìm hiểu mức độ nhiễm vi khuẩn nói chung, qua đó có thể sơ bộ đánh giá chất lượng ô nhiễm vi sinh vật không khí

Nguyên lý: Vi khuẩn hiếu khí phát triển thuận lợi trong môi trường thạch thường Sử dụng phương pháp lắng bụi của Koch, dựa vào sự lắng đọng của các hạt aerosol có mang theo các vi sinh vật rơi trên bề mặt môi trường thạch thường để nuôi cấy

Mỗi địa điểm tiến hành lấy mẫu ở 5 vị trí trong đó 4 mẫu ờ xung quanh

1 mẫu ở giữa, mỗi vị trí đặt 1 đĩa thạch (theo thường qui) trong thời gian

10 phút Sau đó mẫu được vận chuyển về phòng xét nghiệm và để trong tủ ấm với nhiệt độ 37°C/24 giờ

- Công thức tính kết quả:

Sxk

SLVK: số lượng vi khuẩn trong lm3 không khí

A: Số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch

S: Diện tích bề mặt môi trường

k: Hệ số thòi gian đĩa thạch (k=l với thời gian 5 phút, k=2 với thời gian 10 phút)

100: Hệ số để tính kết quả trong lm3

Lấy kết quả trung bình của 5 vị trí lấy mẫu là kết quả đại diện chomột mẫu

+ Xét nghiệm vi khuẩn Cỉ.welchiỉ là loại vi khuẩn kỵ khí có trong

phân người và phân gia súc, ngoài ra còn thây vi khuân trong đất, bùn, nước

Trang 40

và không khí bị nhiễm phân Nước bị nhiễm phân lâu ngày thường thấy c/

ĨVelchii vì nó là vi khuẩn có nha bào nên sống lâu và có sức chịu đựng với

nhiệt độ cao Nguyên tắc xét nghiệm dựa vào tính chất ĨVelchii chịu được

nhiệt độ cao và sinh nhiều Hydrosuníiia nên người ta tìm khuẩn lạc màu đen trong môi trường Winson Blair Sau khi nuôi cấy thì tính kết quả bằng đếm các khuẩn lạc màu đen ừòn trong môi trường, 1 khuẩn lạc màu đen trong môi trường là 1 con Cỉ Welchỉi.

2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

* Biến số về cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh:

Địa điểm xây dựng

Diện tích xây dựng

Cây xanh

Cung cấp nước sạch

Công trình vệ sinh

Các phòng phục vụ công tác nuôi dạy trẻ

Điều kiện vệ sinh phòng nuôi dạy trẻ

Vi khuẩn hiếu khí không khí

- Biến số về kiến thức và thực hành của các bà mẹ về chăm sóc ừẻ

rp Á •

Tuôi

.G iới

Trình độ học vấn

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Y te, Viện Dinh dưỡng (2012), Chiến Quốc gia dinh dưỡng g ia i đoạn 2011-2020 và tâm nhìn đến năm 2030, ban hành kèm theoQuyết định số 226/QĐ-TTg ngày 22/02/2012, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến Quốc gia dinh dưỡng g ia i đoạn 2011-2020 và tâm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Y te, Viện Dinh dưỡng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
11. Vũ Thị Quỳnh Chỉ (2012), Nghiên cứu dựng hệ thống H ACCP áp dụng cho quy trình chế biến thức ăn từ lợn bếp ăn trường mầm non thành p h ổ Thái Bình, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dựng hệ thống H ACCP áp dụng cho quy trình chế biến thức ăn từ lợn bếp ăn trường mầm non thành phố Thái Bình
Tác giả: Vũ Thị Quỳnh Chỉ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2012
12. Huỳnh Thị Thu Diệu, Michael J Dibley và cộng sự (2012), “Thừa cân béo phì ở trẻ mầm non: xu hướng gia tăng và các yếu tố ảnh hưởng”, Tạp ch í D inh dưỡng và thực phẩm 8(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa cân béo phì ở trẻ mầm non: xu hướng gia tăng và các yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Diệu, Michael J Dibley
Nhà XB: Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm
Năm: 2012
13. Huỳnh Văn Dũng và cộng sự (2012), “Thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại các trường mầm non và kiến thức thực hành nuôi con của bà mẹ xã Tân Quang, Văn Lâm, Hưng Yên”, Tạp chí Dinh dưỡng thực phẩm 8 (2), p. 62-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại các trường mầm non và kiến thức thực hành nuôi con của bà mẹ xã Tân Quang, Văn Lâm, Hưng Yên
Tác giả: Huỳnh Văn Dũng, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Dinh dưỡng thực phẩm
Năm: 2012
14. Nguyễn Quang Dũng, Lê Danh Tuyên (2011), “Hoạt động thể lực của trẻ em tuổi trường mẫu giáo mầm non A Hà Nội năm 2011”, Tạp chí D inh dưỡng và thực phẩm 8(4), tr.40-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thể lực của trẻ em tuổi trường mẫu giáo mầm non A Hà Nội năm 2011
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng, Lê Danh Tuyên
Nhà XB: Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm
Năm: 2011
15. Đặng Thị Hà, Đoàn Thị Vân (2010), “Kiến thức, thái độ và hành vi của bà mẹ có trẻ bị sốt cao đến khám tại bệnh viện Phúc Yên”, Tạp Y học thành p h ổ H ồ Chí Minh, phụ bản của 14, 4, 173-178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và hành vi của bà mẹ có trẻ bị sốt cao đến khám tại bệnh viện Phúc Yên
Tác giả: Đặng Thị Hà, Đoàn Thị Vân
Nhà XB: Tạp Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Bùi Thị Hải (2011), “ Kinh nghiệm về công tác tuyên truyền giữa nhà trường và các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mâu giáo mầm non B Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm về công tác tuyên truyền giữa nhà trường và các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mâu giáo mầm non B Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Hải
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Như Hoa (2011), Tinh trạng dinh dưỡng và m ột sổ y ế u tổ liên quan của trẻ em dưới 5 tuồi huyện Yên Thủy tỉnh H òa B ình năm 2011, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình năm 2011
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hoa
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
18. N hữ Thị Hoa và cộng sự (2011), “Tỷ lệ nhiễm giun kim trên trẻ mẫu giáo huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh từ 9/2008 đên 5/2009 , TạpchíYhọc Thành p h ố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm giun kim trên trẻ mẫu giáo huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh từ 9/2008 đên 5/2009
Tác giả: N hữ Thị Hoa, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
20. Trân Chí Liêm (2008), “Một số nguyên nhân và yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số địa điểm thuộc Bắc Cạn”, Tạp Y học thành p h ổ Hồ Chí Minh 12(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên nhân và yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số địa điểm thuộc Bắc Cạn
Tác giả: Trân Chí Liêm
Nhà XB: Tạp Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
21. Phan Thị Hương Liên và cộng sự (2011), “Theo dõi tình hình nhiễm giun đường ruột ở trẻ em trường mầm non Việt- Bun Hà Nội”, Tạp Yhọc Thành p h ố Hồ Chí Minh 5(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi tình hình nhiễm giun đường ruột ở trẻ em trường mầm non Việt- Bun Hà Nội
Tác giả: Phan Thị Hương Liên, cộng sự
Nhà XB: Tạp Yhọc Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
22. Nguyễn Thị Muôn (2002), Tình hình dinh dưỡng và m ột sổ yếu tổ liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một xã tỉnh Hà Nam năm 2002, Luận vãn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dinh dưỡng và một sổ yếu tổ liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một xã tỉnh Hà Nam năm 2002
Tác giả: Nguyễn Thị Muôn
Nhà XB: Luận vãn Thạc sĩ Y tế công cộng
Năm: 2002
23. Nguyễn Thanh Nga (2011), Thực hành và m ột số yếu tố quan đến kiến thức, thực hành về an toàn vệ sinh thực phẩm của người chăm sóctrẻ từ 2 đến 5 tuổi tại hộ gia đình xã Hữu Hòa, Thanh H à N ội năm 2011,Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành và một số yếu tố quan đến kiến thức, thực hành về an toàn vệ sinh thực phẩm của người chăm sóc trẻ từ 2 đến 5 tuổi tại hộ gia đình xã Hữu Hòa, Thanh H à N ội năm 2011
Tác giả: Nguyễn Thanh Nga
Nhà XB: Trường Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2011
24. Trần Thị Liên Nhi (2011), Kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe bà m ẹ-trẻ em, k ế hoạch hóa gia đình của phụ nữ có con dưới 5 tuôi tại hai nhà m áy tỉnh Thanh Hóa, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe bà mẹ-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ có con dưới 5 tuổi tại hai nhà máy tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Trần Thị Liên Nhi
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
25. Trần Thị Nga, Đỗ Thị Phương (2006), “Kiến thức, thực hành về cách chăm sóc trẻ của phụ nữ có con dưới 5 tuôi ở huyện Phú Lương, Thái N guyên”, Tạp chỉ nghiên cứu Y học (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành về cách chăm sóc trẻ của phụ nữ có con dưới 5 tuôi ở huyện Phú Lương, Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thị Nga, Đỗ Thị Phương
Nhà XB: Tạp chỉ nghiên cứu Y học
Năm: 2006
26. Phou Sophal (2010), Tinh trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới và thử nghiệp m ột số giải pháp can thiệp tại cộng đông tinh B ac K ạn, Luạn án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phou Sophal (2010), "Tinh trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới vàthử nghiệp m ột số giải pháp can thiệp tại cộng đông tinh B ac K ạn
Tác giả: Phou Sophal
Năm: 2010
27. Tran Đăc Phu và c s (2010), Nghiên cứu mối quan giữ am ôi trường và hành vỉ vệ sinh chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinhdưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam, Báo cáo đề tài Khoa học công nghệ cấp Bộ, Hà Nội năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan giữ am ôi trường và hành vỉ vệ sinh chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinhdưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Tran Đăc Phu, c s
Nhà XB: Báo cáo đề tài Khoa học công nghệ cấp Bộ
Năm: 2010
28. Đặng Thị Vân Quý (2010), Đánh giá điều kiện vệ sinh và m ột sổ bệnh tật ở học sinh tại các trường trung học cơ sở tỉnh Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện vệ sinh và một sổ bệnh tật ở học sinh tại các trường trung học cơ sở tỉnh Thái Bình
Tác giả: Đặng Thị Vân Quý
Nhà XB: Trường Đại học Y Thái Bình
Năm: 2010
29. Richard A. Oberhelman và cộng sự (2005), “Mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột, sự phát triển thể lực và trí lực ờ trẻ lứa tuổi mẫu giáo và học sinh tại vùng nông thôn Nicaragua”, Tạp phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, số tr. 81-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột, sự phát triển thể lực và trí lực ờ trẻ lứa tuổi mẫu giáo và học sinh tại vùng nông thôn Nicaragua
Tác giả: Richard A. Oberhelman, cộng sự
Nhà XB: Tạp phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
Năm: 2005
30. Trưong Mạnh Sức (2011), Tinh hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai và thực trạng chăm sóc quản lý thai nghén của cộng đồng tại thànhp h ổ Phủ L ý tỉnh Hà Nam năm 2 0 Luận án Bác sĩ Chuyên khoa IIchuyên ngành Y tế công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ có thai và thực trạng chăm sóc quản lý thai nghén của cộng đồng tại thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 20
Tác giả: Trưong Mạnh Sức
Nhà XB: Trường Đại học Y Thái Bình
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w