1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HỆ THỐNG KIẾN THỨC CÔNG AN

75 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 102,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Câu 1 Khái niệm giả thuyết điều tra? Vai trò, phân loại giả thuyết điều tra? 3 Câu 2 Các loại giả thuyết điều tra phổ biến trong điều tra vụ án hình sự? Cơ sở xây dựng giả thuyết điều tra? 5 C.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Câu 1 Khái niệm giả thuyết điều tra? Vai trò, phân loại giả thuyết điều tra?

a Khái niệm giả thuyết điều tra

Giả thuyết điều tra là những nhận định, phán đoán về bản chất của một vụ việc đang được điều tra, nội dung của các tình tiết chưa rõ và mối liên hệ giữa chúng, dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được, kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động điều tra và những tri thức của các ngành khoa học khác, nhằm xác định phương hướng cho hoạt động điều tra làm rõ sự thật khách quan của vụ việc.

b Vai trò của giả thuyết điều tra

Thứ nhất: Giả thuyết điều tra giữ vai trò là một hình thức phát triển nhận thức của Điều tra viên về vụ án, là phương hướng xác định chân lý của vụ án đang được điều tra.

- Giả thuyết điều tra là một hình thức tư duy đồng thời là phươngpháp nhận thức của Điều tra viên về vụ án đang được điều tra

- Khi tiến hành điều tra số lượng các giả thuyết điều tra luôn tỷ lệnghịch với số lượng các thông tin đã có về vụ án

- Giả thuyết điều tra kết hợp trong nó những dạng suy lý khác nhau

- Dấu hiệu đầu tiên của giả thuyết điều tra là những tri thức trong đómang đặc tính xác suất, ước đoán, dấu hiệu này biểu thị rằng giả thuyếtđiều tra cần phải được xác minh

Thứ hai: Giả thuyết điều tra giúp Cơ quan điều tra và Điều tra viên xác định phương hướng điều tra sát hợp, từ đó tiến hành các biện pháp

và sử dụng các lực lượng, phương tiện điều tra sát hợp để làm rõ vụ án.

- Khi một vụ án xảy ra căn cứ vào các thông tin tài liệu đã thu thậpđược, kết hợp với tri thức của Điều tra viên, thực tiễn của hoạt động điềutra để đưa ra các giả thuyết điều tra, từ đó tiến hành xây dựng kế hoạchđiều tra trên cơ sở các giả thuyết đó

- Nội dung của các giả thuyết điều tra đề cập đến những vấn đề cầnphải chứng minh của vụ án

Thứ ba: Đối với những vụ án chưa rõ thủ phạm thì giả thuyết điều tra chủ yếu nhằm phác họa chân dung của thủ phạm để từ đó xác định phương hướng tuy tìm và truy bắt Đối với những vụ án đã rõ thủ phạm, giả thuyết điều tra giúp làm rõ toàn bộ các tình tiết khác của vụ án, nhất

là những vấn đề cần chứng minh.

Trang 3

- Trong quá trình điều tra vụ án cần thiết phải đưa ra giả thuyết vềđối tượng gây án để xác định phương hướng truy tìm truy bắt đối tượng

- Cùng với việc xây dựng giả thuyết điều tra về đối tượng gây án thìcần thiết phải xây dựng các giả thuyết điều tra về đối tượng bị xâm hại,giả thuyết điều tra về tài sản bị chiếm đoạt, giả thuyết điều tra về nạnnhân

- Trong quá trình điều tra vụ án, khi thủ phạm đã rõ không phải hoạtđộng điều tra đã kết thúc mà vấn đề làm rõ toàn bộ sự thật của vụ án đểchứng minh tội phạm là nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra trongtình huống này

Thứ tư: Giả thuyết điều tra giúp Cơ quan điều tra và Điều tra viên

dự báo được diễn biến của tội phạm từ đó đề ra biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm một cách hữu hiệu

- Giả thuyết điều tra giúp Cơ quan điều tra và Điều tra viên nhậnđịnh, phán đoán được diễn biến hành vi phạm tội, khả năng tiếp tụcphạm tội trở lại của thủ phạm từ đó có kế hoạch ngăn chặn tội phạm cóhiệu quả

- Có thể thông qua các thông tin, tài liệu phản ánh về thủ đoạn thựchiện tội phạm để dự đoán, nhận định trong xây dựng giả thuyết điều tra.Thủ đoạn phạm tội có tính lặp lại tính bền vững tương đối, chínhđiều đó tạo cơ sở đưa ra các giả thuyết điều tra để dự báo diễn biến củatội phạm, đề ra biện pháp ngăn chặn phòng ngừa tội phạm có kết quả

c Phân loại giả thuyết điều tra

Giả thuyết điều tra được phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau, nó

có ý nghĩa về mặt lý luận nhận thức cũng như thực tiễn vận dụng trongquá trình điều tra Có thể có nhiều cách phân loại giả thuyết điều trakhác nhau, dựa trên các cơ sở khác nhau, nhằm mục đích tạo điều kiệnthuận lợi trong nghiên cứu và vận dụng nó trong thực tiễn Khi nhậndiện chính xác đó là loại giả thuyết gì trong cách phân loại để từ đó khitiến hành xây dựng cần chú ý khai thác và vận dụng trong thực tiễn, dựkiến các phương tiện, biện pháp phù hợp để xây dựng và kiểm tra cácgiả thuyết điều tra Như vậy, có thể phân loại giả thuyết điều tra dựa trênnhững căn cứ sau đây:

- Căn cứ vào nội dung dự đoán của giả thuyết điều tra, có thể phân

loại thành giả thuyết điều tra chung và giả thuyết điều tra riêng.

+ Giả thuyết điều tra chung là giả thuyết điều tra nhằm giải thích

Trang 4

vấn đề chung nhất của vụ việc mà ta đang tiến hành điều tra.

+ Giả thuyết điều tra riêng là giả thuyết điều tra nhằm giải thích các

tình tiết cụ thể của vụ án, nội dung, nguồn gốc, nguyên nhân, điều kiệncủa mỗi vấn đề có liên quan đến vụ án, mối liên hệ giữa các tình tiết vàcác vấn đề đó

- Căn cứ vào mức độ điển hình của giả thuyết, có thể phân loại thành giả thuyết phổ biến và giả thuyết cụ thể.

+ Giả thuyết điều tra phổ biến là giả thuyết được xây dựng trong

những tình huống điều tra phổ biến, hình thành trong quá trình tiến hànhcác hoạt động điều tra

+ Giả thuyết điều tra cụ thể là giả thuyết điều tra được xây dựng

trong quá trình điều tra từng vụ án cụ thể, dựa trên cơ sở tổng hợp đánhgiá những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được về vụ án và những giảthuyết điều tra phổ biến

- Căn cứ vào chủ thể xây dựng giả thuyết điều tra mà phân loại thành giả thuyết của Điều tra viên, giả thuyết của cán bộ Trinh sát và giả thuyết của người giám định

+ Giả thuyết của Điều tra viên là những giả thuyết do các Điều traviên xây dựng trong quá trình trực tiếp điều tra các vụ án hình sự

+ Giả thuyết của cán bộ Trinh sát là những giả thuyết điều tra do cáccán bộ Trinh sát xây dựng khi tham gia điều tra vụ án hoặc được uỷquyền tiến hành điều tra vụ án, làm phương hướng cho hoạt động nghiệp

vụ của mình

+ Giả thuyết của người giám định là những giả thuyết được xâydựng do những cán bộ giám định đưa ra trong quá trình được Cơ quanđiều tra trưng cầu giám định những vấn đề có liên quan đến vụ án, làmphương hướng cho việc giám định của mình

Câu 2 Các loại giả thuyết điều tra phổ biến trong điều tra vụ án hình sự? Cơ sở xây dựng giả thuyết điều tra?

- Thứ nhất: Giả thuyết về bản chất của vụ việc xảy ra:

Giả thuyết về bản chất của vụ việc xảy ra là giả thuyết điều trachung được xây dựng nhằm nhận định, phán đoán bản chất của vụ việc

đã xảy ra, mối liên hệ giữa những tình tiết cơ bản với những tài liệu,chứng cứ đã thu thập được về vụ việc đó

Trang 5

- Thứ hai: Giả thuyết về tính chất của vụ án:

Giả thuyết về tính chất của vụ án là giả thuyết nhằm nhận định,phán đoán về động cơ, mục đích phạm tội là phương hướng cho xâydựng các giả thuyết điều tra khác, phục vụ cho hoạt động điều tra làm rõ

vụ án

- Thứ ba: Giả thuyết về đối tượng gây án:

Giả thuyết về đối tượng gây án là giả thuyết điều tra chung đượchợp thành bởi nhiều giả thuyết cụ thể giải thích từng tình tiết, từng nộidung trong đặc điểm về đối tượng gây án Giả thuyết về đối tượng gây

án là một trong những giả thuyết điều tra quan trọng trong điều tra các

vụ án hình sự, đặc biệt là đối với những vụ án chưa rõ thủ phạm, nó giúpcho Điều tra viên phác hoạ chân dung của thủ phạm, từ đó xác địnhphương hướng, biện pháp truy tìm thủ phạm

Các thông tin phản ánh về số lượng thủ phạm; đặc điểm nhân dạngcủa thủ phạm; nghề nghiệp của thủ phạm; hướng đến và rút khỏi hiệntrường của thủ phạm; mối quan hệ giữa thủ phạm và hiện trường; mốiquan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân; thủ phạm hoạt động có mang tínhchuyên nghiệp hay không Để có hướng thu thập các thông tin trên,trong quá trình điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải đưa ra các giả thuyếtđiều tra tương ứng từ đó mà xây dựng chân dung của thủ phạm và ápdụng các biện pháp truy tìm

- Thứ tư: Giả thuyết về thủ đoạn gây án

Giả thuyết về thủ đoạn gây án là giả thuyết nhằm phán đoán về tínhchất hoạt động của thủ phạm là chuyên nghiệp hay cơ hội nhất thờiphạm tội; thủ phạm có sự chuẩn bị đối phó với công tác điều tra haykhông; đặc điểm tâm lý, thói quen, sở trường của thủ phạm; thủ phạm cóthông thuộc địa bàn hay từ nơi khác đến; thủ phạm có sự cấu kết thànhtội phạm có tổ chức hay không

Thủ đoạn gây án là hệ thống những hành vi của người phạm tội ởcác giai đoạn chuẩn bị gây án, gây án và sau khi gây án, được thể hiệntoàn bộ hay từng phần, bị chi phối bởi yếu tố chủ quan và khách quan,kết hợp với việc sử dụng những vũ khí, phương tiện thích hợp nhằm đạtđược mục đích mà người phạm tội mong muốn

- Thứ năm: Giả thuyết về công cụ, phương tiện, vũ khí đã đuợc thủphạm sử dụng để gây án :

Là giả thuyết điều tra nhằm xác định loại công cụ, phương tiện mà

Trang 6

thủ phạm đã sử dụng để thực hiện tội phạm từ đó xác định phươnghướng, biện pháp truy tìm vật chứng và truy tìm thủ phạm gây án.

Giả thuyết điều tra về công cụ, phương tiện phạm tội giúp ta nhậnđịnh về thủ phạm, thủ đoạn thực hiện tội phạm của thủ phạm, từ đó giúpcho Điều tra viên có hướng truy tìm vật chứng-một nguồn chứng cứquan trọng để chứng minh hành vi phạm tội của thủ phạm Đối vớinhững vụ án hình sự chưa rõ thủ phạm thì giả thuyết điều tra về công cụ,phương tiện phạm tội giúp cho Điều tra viên trong việc xác định nơi cấtgiấu, tẩu tán công cụ phương tiện phạm tội, từ đó có cơ sở để làm rõđối tượng gây án

- Thứ sáu: Giả thuyết về thời gian xảy ra vụ án:

Giả thuyết về thời gian xảy ra vụ án là giả thuyết về mối liên hệgiữa thủ phạm và hiện trường, là một trong những căn cứ quan trọng đểxác lập và xác minh hiềm nghi về việc sử dụng thời gian của đối tượngnghi vấn, thủ đoạn hoạt động của tội phạm Giả thuyết về thời gian xảy

ra vụ án giúp cho Điều tra viên đưa ra những nhận định, phán đoán sáthợp về thời gian xảy ra vụ án, thủ phạm ở lại trên hiện trường lâu haychóng

- Thứ bảy: Giả thuyết về địa điểm gây án:

Giả thuyết về địa điểm gây án là giả thuyết điều tra nhằm nhận địnhnơi thực hiện tội phạm Địa điểm gây án là toạ độ về mặt địa lý mà tại

đó hành vi phạm tội xảy ra, địa điểm gây án là nơi xuất phát và nhiều khi

là duy nhất để tiến hành các hoạt động điều tra

Việc xây dựng giả thuyết điều tra về địa điểm gây án có một ý nghĩaquan trọng trong công tác điều tra bởi vì nơi đây là nơi tập trung nhiềudấu vết, tài liệu phản ánh quá trình thực hiện hàmh vi phạm tội của thủphạm Hơn nữa địa điểm gây án đối với bọn tội phạm gắn liền với thủđoạn gây án, do đó nó rất có ý nghĩa đối với bọn tội phạm để quyết địnhcông cụ, phương tiện phạm tội, lựa chọn thời gian gây án cho phù hợp

- Thứ tám: Giả thuyết về người bị hại

Giả thuyết về người bị hại là giả thuyết điều tra nhằm xác định cụthể về người bị hại tạo điều kiện để xác định thủ phạm gây án, động cơmục đích phạm tội có ý nghĩa trong việc tiến hành các hoạt động điềutra đúng phương hướng và sát hợp

Giả thuyết điều tra về người bị hại gồm nhiều giả thuyết cụ thể vềđặc điểm nhân thân của người bị hại như giới tính, độ tuổi, nơi ở, trình

Trang 7

độ văn hoá nghề nghiệp về tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây

ra, đặc điểm thể lực, tâm lý, lịch sử bản thân, mối quan hệ của người

bị hại; hành vi của người bị hại trước, trong và sau khi vụ án xảy ra, tạođiều kiện giải thích nhiều tình tiết của vụ án như động cơ, mục đíchphạm tội, đặc điểm, sở trường riêng của thủ phạm, những tình tiết thúcđẩy hay tạo điều kiện thuận lợi cho thủ phạm thực hiện hành vi phạm tộicủa mình

Ngoài ra giả thuyết về người bị hại còn tạo điều kiện cho chúng tatruy tìm ra họ trong những trường hợp chưa phát hiện ra người bị hại,đồng thời là cơ sở để xây dựng, lựa chọn những chiến thuật lấy lời khaicủa họ một cách sát hợp, hiệu quả

- Thứ chín: Giả thuyết về các dấu vết phổ biến và nơi để lại các dấuvết đó:

Giả thuyết về các dấu vết phổ biến và nơi để lại các dấu vết là giảthuyết về những phản ánh của vụ án trong môi trường hiện thực kháchquan và nơi để lại các phản ánh đó để có phương hướng biện pháp pháthiện và thu giữ

- Thứ mười: Giả thuyết về tài sản bị chiếm đoạt và nơi cất giấu tiêuthụ

Giả thuyết về tài sản bị chiếm đoạt và nơi cất giấu tiêu thụ là giảthuyết đưa ra nhằm nhận định loại tài sản bị chiếm đoạt, số lượng, đặcđiểm … của các tài sản do tội phạm chiếm đoạt, từ đó nhận định về nớicất giấu, tiêu thụ để có biện pháp phát hiện và thu giữ

Câu 3: Cơ sở xây dựng giả thuyết điều tra:

Cơ sở thứ nhất: Kết quả tổng hợp, phân tích, đánh giá những tài liệu, chứng cứ liên quan trực tiếp đến vụ án.

Các thông tin này có thể thu thập được từ nhiều nguồn và bằng nhiềubiện pháp khác nhau, cụ thể bao gồm:

Một là: Những tin tức tài liệu, ban đầu về vụ án đã thu thập được, cũng như những tin tức tài liệu khác có liên quan đến vụ án

Hai là: Thông qua kết quả của công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi

Ba là: Thông qua vật chứng của vụ án đã thu thập được từ kết quả của công tác khám nghiệm hiện trường, khám xét

Bốn là: Những tin tức tài liệu thu thập được về vụ án bằng các biện

Trang 8

pháp khác.

Cơ sở thứ hai: Những tài liệu không liên quan trực tiếp đến vụ án, nhưng qua phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận có thể sử dụng làm

cơ sở để xây dựng giả thuyết điều tra

Cơ sở này tập hợp tất cả những tin tức, tài liệu phản ánh những vấn

đề không liên quan trực tiếp đến vụ án nhưng qua phân tích, tổng hợp,suy luận, so sánh ta có thể sử dụng để xây dựng giả thuyết điều tra.Những tài liệu đó bao gồm:

Những tài liệu được đúc rút từ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn của công tác đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là hoạt động điều tra của Điều tra viên.

Những tài liệu được rút ra từ nghiên cứu đặc điểm hình sự của tội

phạm trong khoa học điều tra hình sự:

Câu 4 Lập kế hoạch điều tra vụ án hình sự?

Cấu trúc bản kế hoạch điều tra bao gồm những nội dung chính sau:

- Tóm tắt những thông tin, tài liệu về vụ án đã thu thập được là cơ

sở để lập kế hoạch điều tra

- Các giả thuyết đã được xây dựng

- Nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của hoạt động điều tra cần giảiquyết

- Các biện pháp điều tra, các biện pháp trinh sát và các biện phápkhác cần tiến hành

- Thời gian, địa điểm tiến hành

- Người thực hiện, trình tự tiến hành các biện pháp trên

- Các phương tiện nghiệp vụ và các điều kiện khác đảm bảo cho cáchoạt động trên được tiến hành thuận lợi

- Qui định về thông tin, báo cáo, chỉ đạo, hoạt động điều tra vụ án

Vận dụng lập kế hoạc điều tra vụ án hình sự cụ thể:

- Mục đích, yêu cầu:

- Nội dung:

+ Nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của hoạt động điều tra cần giải

quyết

Trang 9

+ Các biện pháp ngăn chặn có thể sử dụng:

+ Các biện pháp điều tra cần áp dụng:

+ Các biện pháp trinh sát cần sử dụng

- Tổ chức thực hiện:

+ Thời gian, địa điểm tiến hành

+ Lực lượng, phương tiện tham gia

+ Chế độ thông tin báo cáo

Câu 5 Chiến thuật bắt người phạm tội?

KẾ HOẠCH BẮT NGƯỜI PHẠM TỘI

- Xác định đối tượng, mục đích yêu cầu của cuộc bắt

Nêu rõ các thông tin về đối tượng: tên tuổi, nghề nghệp, chỗ ở,tiền án tiền sự, đặc điểm nhân dạng: quần áo, đầu tóc, hình xăm, khảnăng sử dụng vũ khí để chống đối…

Xác định rõ mục đích, yêu cầu bắt của cuộc bắt như: bắt để ngănchặn tội phạm hay phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, hayphục vụ cho hoạt động phòng ngừa tội phạm Đảm bảo các yêu cầu

về chính trị, pháp luật, bắt được đối tượng, đảm bảo an toàn cho lựclượng bắt, người dân xung quanh và chính đối tượng bắt…

- Lựa chọn thời gian và địa điểm bắt: Căn cứ vào nội dung của

vụ án để xác định thời gian, địa điểm bắt sao cho quá trình vây bắtđược thuận lợi

- Lựa chọn thành phần tiến hành và tham gia bắt;

- Dự kiến những vũ khí và phương tiện… cần thiết cho cuộc bắt

Phương tiện giao thông: ô tô, xe máy, các loại vũ khí, công cụ hỗtrợ: súng ngắn, áo giáp, khóa số 8; các loại giấy bút, biểu mẫu, máy

Trang 10

ảnh, camera….

- Xây dựng phương án bắt:

Mỗi phương án bắt đưa ra cần chú ý xác định các nội dung:

Một là: Cách đột nhập, tiếp cận khóa trói đối tượng

Hai là: Xác định vị trí và nhiệm vụ cho các thành viên cuộc bắt;

Ba là: Hình thức, mức độ cưỡng chế khi bắt;

Bốn là: Biện pháp để bảo đảm an toàn cuộc bắt;

Năm là: Biện pháp xử lý tình huống đột xuất xảy ra trong khi bắt:

Khi đến địa điểm bắt, đối tượng không có ở nhà, hoặc đối tượng tử thủ,chống trả lại lực lượng bắt, khống chế con tin ra điều kiện…

XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN BẮT

1. Xác định thời điểm bắt: Ví dụ bắt lúc đang giao dịch, hay bắt

trên đường đi, tại địa điểm nào….

2. Lựa chọn thành phần tham gia tiến hành bắt

3. Chuẩn bị công cụ, phương tiện phục vụ cuộc bắt

4. Phương án bắt: Chia lực lượng bắt thành 4 tổ nhằm thực hiện các nhiệm

vụ sau đây:

- Tổ 1: Làm nhiệm vụ trinh sát thu thập các thông tin tài liệu cần thiết phục

vụ cuộc bắt như thủ đoạn của đối tượng, đường đi, phương tiện sử dụng,

số lượng đối tượng…

- Tổ 2: Thực hiện nhiệm vụ mật phục, vây bắt các đối tượng

- Tổ 3: Tiến hành các thủ tục tố tụng của cuộc bắt như lập biên bản, thu giữniêm phong vật chứng…

- Tổ 4: Đảm bảo an toàn cho cuộc bắt…

Phân tích các căn cứ bắt người theo qui định của TTHS?

Căn cứ bắt được phản ánh qua các tài liệu mà cơ quan có thẩmquyền thu thập được trong quá trình tiến hành tố tụng, được kiểm tra xácminh là cơ sở chứng minh hành vi của đối tượng bắt thuộc vào mộttrong các trường hợp bắt quy định trong bộ luật TTHS

Để xác định đối tượng áp dụng biện pháp bắt, ta phải dựa vào 2 căncứ:

- Thứ nhất: Căn cứ pháp luật (các quy định tại điều 109, Điều

Trang 11

110, Điều 111, Điều 112, Điều 113, Điều 119 Bộ luật TTHS)

Điều 109 Bộ luật TTHS quy định 4 căn cứ chung để áp dụng biệnpháp bắt, đó là:

+ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: tức là hành vi phạm tội đang ởgiai đoạn chuẩn bị, hoặc đang diễn ra nhưng chưa kết thúc, cần phảingăn chặn kịp thời, không để xảy ra hậu quả

+ Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn choviệc điều tra, truy tố, xét xử Ví dụ: đối tượng bỏ trốn, đối tượng sẽ cấtgiấu, tẩu tán tiêu hủy vật chứng, thông cung, mua chuộc, đe dọa, khốngchế, trả thù người làm chứng, người bị hại…

+ Khi có căn cứ cho rằng đối tượng sẽ tiếp tục phạm tội: Đối tượngthuộc loaij chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, nhiều tiền án tiền sự, không

có nơi ở cố định, đối tượng có hành vi đe dọa, trả thù người bị hại, ngườilàm chứng…

+ Để đảm bảo thi hành án

- Đối với trường hợp Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn

cấp, chúng ta có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 110 BLTTHS:

a) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tộiphạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặttại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người

đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đótrốn;

c) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làmviệc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xétthấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ

- Đối với trường hợp Bắt bị can, bị cáo để tạm giam,

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sựhoặc người đã bị Tào án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằmngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuậnlợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Căn cứ bắt bịcan, bị cáo để tạm giam:

+ Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêmtrọng;

Trang 12

+ Bị can phạm tội ít nghiêm trọng nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏtrốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

+ Bị can phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng quy định hìnhphạt tù từ 02 năm trở lên, nếu thuộc trường hợp sau:

* Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khỏi nơi cưtrú, bảo lĩnh…nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cácnghĩa vụ mà người phạm tội phải thực hiện

* Không có nơi cư trú rõ ràng, đây là các đối tượng lang thang,không có nơi ở cố định, thường lấy việc phạm tội làm phương tiện sống.Hoặc không xác minh được lý lịch bị can là trường hợp bị can khai báokhông chính xác về nhân thân hoặc bị can đã bỏ đi khỏi nơi cư trú nhiềunăm, phạm tội ở nhiều nơi…

* Có dấu hiệu bỏ trốn;

* Có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

* Có hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử như hành vi muachuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tàiliệu sai dự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làmchứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của nhữngngười này

- Đối với trường hợp bắt người phạm tội quả tang, người đang bịtruy nã căn cứ vào điều 111, 112

Bắt người phạm tội quả tang:

+ Đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện và bắt giữ + Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện và bắt giữ

+ Đang thực hiện hoặc ngay sau khi thực hiện bị phát hiện, bỏ chạy sau đó bị bắt ( Quá trình đuổi bắt phải liên tục về mặt không gian, thời gian)

- Thứ hai: Căn cứ vào thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp bắt.

Để xác định sự cần thiết phải bắt ta cần xem xét: Tội danh mà

Trang 13

người đó phạm, Tính chất mức độ hành vi phạm tội của đối tượng (ítnghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng);Nhân thân lai lịch của đối tượng (phạm tội lần đầu, chuyên nghiệm, côn

đồ hung hãn, tiền án tiền sự…Nếu xét thấy không cần bắt thì có thể ápdụng các biện pháp ngăn chặn khác mang tính cưỡng chế thấp hơn như:Cho bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểđảm bảo Cần chú ý tuyệt đối không được lạm dụng biện pháp bắt đểthay thế cho các biện pháp khác ngăn chặn

Câu hỏi: Căn cứ xây dựng chiến thuật bắt người phạm tội:

Để xây dựng được chiến thuật bắt một cách chính xác, hiệu quả cầnphải dựa trên các cơ sở sau:

+ Căn cứ vào những quy định của pháp luật về các trường hợp bắt:

bắt bị can bị cáo để tạm giam, hay bắt đối tượng bị truy nã Với mỗitrường hợp này, có thể sẽ phải lựa chọn những chiến thuật bắt khácnhau

+ Căn cứ vào mục đích, yêu cầu cần đạt được của cuộc bắt

Căn cứ vào mục đích cụ thể của cuộc bắt như là bắt để ngăn chặn tộiphạm, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xửhay bắt để đảm bảo việc thi hành án sẽ phải đề ra những yêu cầu cụ thể

để đảm bảo hiệu quả của cuộc bắt, và như vậy sẽ có những yêu cầu cụthể đối với chiến thuật bắt trong tình huống đó

+ Đặc điểm của đối tượng bắt.

Thông qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu về đối tượng bắt có thể xácđịnh được số lượng đối tượng, đặc điểm nhân thân các đối tượng, tìnhtrạng sức khoẻ, mối quan hệ, vũ khí, công cụ, phương tiện, quy luật đilại, thái độ chống đối của đối tượng như thế nào Từ đó có thể lựa chọnđược chiến thuật bắt phù hợp

+ Đặc điểm của địa điểm bắt

Địa hình xung quanh nơi bắt là nhà liền kề, hay là vườn cây, haysân trống? Đường vào, đường ra, đường tắt như thế nào? Cửa thông,lối ngầm ở đâu? Có cửa sổ không? Có những vật nào có thể lợi dụng

để vận động tiếp cận hoặc ẩn nấp, mai phục? Đây cũng là những yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả cuộc bắt cần tìm hiểu trước khitiến hành bắt

+ Khả năng thực tế của lực lượng tiến hành bắt

Có bao nhiêu người tiến hành bắt? Những người tiến hành bắt có

Trang 14

khả năng võ thuật như thế nào? Có công cụ, phương tiện và vũ khí hỗtrợ cho bắt ra sao? Sự đáp ứng các nhu cầu về tài chính cho cuộc bắt

* Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chiến thuật bắt

Khi xây dựng chiến thuật bắt, Điều tra viên cần đặc biệt chú ý đến 3yếu tố đảm bảo kết quả của cuộc bắt, đó là:

Đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ là yếu tố đầu tiên đảm bảo sự thànhcông của cuộc bắt, ngược lại, việc không đảm bảo được yếu tố bí mật,bất ngờ sẽ làm mất đi hiệu quả của biện pháp bắt, gây nhiều khó khăncho công tác bắt đối tượng phạm tội như: Đối tượng bắt bỏ trốn, chuẩn

bị công cụ, phương tiện, lực lượng để chống trả lại lực lượng bắt Thực

tế cho thấy nhiều cuộc bắt không đảm bảo được được yếu tố bí mật nên

đã thất bại, thậm chí gây thương vong cho lực lượng bắt mà vẫn khôngbắt được đối tượng

+ Yếu tố hơn hẳn về quân số, lực lượng tiến hành bắt so với đối tượng bắt.

Khi tiến hành bắt, đối tượng bị bắt thường có sự manh động, chốngtrả lực lượng bắt một cách rất quyết liệt để để chạy trốn, tiêu huỷ tài liệuchứng cứ…, thậm chí các đối tượng này có thể sử dụng vũ khí gâythương vong cho lực lượng bắt Do đó lực lượng bắt phải đảm bảo hơnhẳn về sức mạnh, về quân số, về vũ khí, về công cụ, phương tiện so vớiđối tượng bị bắt để có thể trấn áp được đối tượng, đảm bảo cho cuộc bắt

an toàn, hiệu quả Trong thực tế có nhiều trường hợp, khi tiến hành bắtđối tượng phạm tội, do không nghiên cứu kỹ về đối tượng bắt, vũ khí,công cụ, phương tiện của đối tượng nên lực lượng bắt không đảm bảođược yếu tố hơn hẳn về lực lượng, phương tiện, vì vậy cuộc bắt đã thấtbại, đối tượng trốn thoát, thậm chí còn gây thương vong cho lực lượngbắt

+ Chiến thuật bắt phù hợp với từng tình huống cụ thể

Trong mỗi cuộc bắt khác nhau thì thời gian, địa điểm tiến hành bắt,đặc điểm khu vực bắt, đặc điểm của đối tượng bắt, những yếu tố khách

Trang 15

quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bắt cũng rất khácnhau Chính vì thế, nếu chiến thuật bắt không phù hợp với tình huốngbắt thì sẽ không thể bắt được đối tượng một cách chắc chắn và an toàn

Câu 6,7,8 Hỏi cung bị can: Các tình huống trong hỏi cung bị can, thủ thuật sử dụng, các dạng câu hỏi:

Thứ 1: Tình huống bị can từ chối khai báo

Thực tế công tác hỏi cung bị can cho thấy bị can khai hay không là

do những nguyên nhân vướng mắc trong tư tưởng của bị can gồm:

- Do lạc hậu mê tín dị đoan

Sau khi tìm hiểu được nguyên nhân khai báo gian dối của bị can, để

bị can khai báo và khai báo thành khẩn Điều tra viên có thể áp dụng cácthủ thuật hỏi cung sau đây:

* Giáo dục thuyết phục bị can

Giáo dục, thuyết phục bị can là lấy chân lý, chính nghĩa, lẽ phải đểgiáo dục, thuyết phục cảm hoá bị can làm cho bị can dần chuyển biến vềmặt nhận thức trên cơ sở đó từ lập trường ngoan cố chuyển sang khaibáo thành khẩn

- Nội dung giáo dục thuyết phục:

+ Phải xác định bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội sau

đó mới đặt vấn đề cảm hoá giáo dục

+ Phải nắm vững php luật và đường lối chính sách, đồng thời có sựchuẩn bị kỹ về lý luận cho các trường hợp cụ thể Làm sao mới mở đựcnhững khúc mắc trong tư tưởng bị can

+ Phải làm cho bị can thấy rõ những vi phạm pháp luật của mình rồimới giải thích chính sách khoan hồng tức là buộc chặt rồi mới khéo mở

Trang 16

Buộc chặt không có nghĩa là không có tội, nói là có, có ít buộc cho

có nhiều mà phải làm cho bị can thấy rõ được hành vi, vi phạm pháp luậtcủa mình, mức độ của nó Sau đó ta phải khéo léo chỉ cho bị can thấy lốithoát có lợi nhất, hợp tình hợp lý, đúng pháp luật đúng chính sách Chỉkhi nào mà ý chí chống đỡ của bị can lung lay thật sự, cảm thấy cần phải

mở thì ta mới khéo mở, mở đúng mức độ không để cho bị can coi nhẹtội lỗi hoặc chệch sang khía cạnh khác

+ Giáo dục thuyết phục phải đúng hướng, hợp tình hợp lý và phùhợp với trình độ nhận thức của bị can: Phải dựa vào nguyên nhân, điềukiện, hoàn cảnh mà tội phạm xảy ra để giáo dục thuyết phục bị can khaibáo

+ Cảm hoá chính trị giáo dục thuyết phục bị can phải có nội dung,

kế hoạch từng bước, chủ động và liên tục

+ Có thể lợi dụng khí chất của bị can, thông qua gia đình, bạn bècủa bị can, thông qua cách đối xử hàng ngaỳ của cán bộ đối với bị can,thông qua đặc tình của trại giam tác động theo kế hoạch cảm hoá, giáodục, thuyết phục bị can

- Những thủ thuật tác động xúc cảm bị can:

+ Lợi dụng những tình trạng tam lý bị can trong quá trình hỏi cung,nhất là sau khi bị bắt như hoang mang lo sợ, tinh thần suy sụp để tácđộng đến bị can, buộc bị can phải khai báo thành khẩn

+ Chủ động, tác động làm bị can thay đổi tâm trạng và tình cảm của

bị can đang là động lực kìm hãm thái độ khai báo của bị can như biquan, thất vọng, sợ mất uy tín, sợ bị trừng phạt nặng

+ Khơi dậy những tình cảm, phẩm chất tốt của bị can đang là độnglực thúc đẩy bị can khai báo thành khẩn như tình cảm gia đình, bạn bè,quê hương, thành tích cống hiến của bị can, của gia đình bị can

* Sử dụng chứng cứ để đấu tranh

Là Điều tra viên chủ động đưa ra những sự kiện thực tiễn chứngminh hành vi phạm tội của bị can, buộc bị can phải trả lời vào đó vớimục đích đánh mạnh vào tư tưởng ngoan cố, vạch trần tội lỗi của bị can

Trang 17

không phải tất cả được sử dụng vào việc đấu tranh với bị can được màphải nghiên cứu chứng cứ nào đưa ra đấu tranh với bị can thì đạt kếtquả.

Những chứng cứ sử dụng để đấu tranh với bị can phải là nhữngchứng cứ trực tiếp, có thể đưa ra công khai mà không lộ biện phápnghiệp vụ

Những chứng cứ đó có thể là: lời khai; vật chứng; những bí mật vềhành động phạm tội; đời tư

Những chứng cứ đưa để đấu tranh có đủ chất lượng làm thay đổithái độ khai báo của bị can

+ Phải khéo chọn đúng lúc để đưa ra đảm bảo yếu tố bất ngờ nhất Kinh nghiệm cho thấy đưa chứng cứ ra lúc tư tưởng của bị cantrong tình trạng lo lắng, suy nghĩ hoang mang dao động, khi bị can thấykhông thể liều lĩnh được nữa cần phải khai báo

Để chọn đúng lúc ĐTV cần phải nghiên cứu nắm vững diễn biến

tư tưởng của bị can để chọn lúc đưa ra phù hợp, đạt kết qủa

Khi đưa chứng cứ để đấu tranh phải đưa dần từ nhỏ đến lớn, từ íttới nhiều, từ ít quan trọng đến quan trọng đủ để đánh gục tư tưởng ngoan

cố của bị can

+ Khi sử dụng chứng cứ Điều tra viên cần chú ý quan sát nhữngbiểu hiện về thái độ, tâm lý từ đó phát hiện và đánh giá chính xác hiệuquả của sử dụng chứng cứ từ đó lựa chọn chiến thuật hỏi cung tiếp theocho phù hợp

+ Sử dụng chứng cứ phải được kết hợp chặt chẽ với việc áp dụngcác thủ thuật hỏi cung khác

* Sử dụng mâu thuẫn để thuyết phục bị can khai báo

Là việc Điều tra viên chủ động vạch ra những mâu thuẫn trong lờikhai của bị can để đấu tranh nhằm đánh gục thái độ quanh co giấu giếmcủa bị can, buộc bị can phải khai báo đúng sự thật

- Các loại mâu thuẫn có thể có:

+ Mâu thuẫn lời cung bị can với diễn biến sự việc xảy ra

+ Mâu thuẫn lời khai bị can với lời khai người làm chứng

+ Mâu thuẫn lời khai bị can với thực tế khách quan

+ Mâu thuẫn lời khai trước với lời khai sau của bị can

Trang 18

+ Mâu thuẫn lời khai bị can với khả năng hành động của bị can+ Mâu thuẫn lời khai bị can với những tài liệu, chứng cứ khác.

- Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn

+ Cố ý khai sai dẫn đến mâu thuẫn

Do bản năng tự vệ

Do bản chất thù địch chống đối không khuất phục

+ Vô ý khai sai sự thật dẫn tới mâu thuẫn

Khả năng trình độ, trạng thái tâm lý, điều kiện sức khoẻ, nhận thứcdiễn đạt

* Sử dụng thủ thuật hỏi cung gián tiếp

Hỏi vòng quanh là đặt nhiều câu hỏi phụ không liên quan trực tiếpđến câu hỏi chính cho bị can khai nhận sau đó mới hỏi đến câu hỏichính

- Cách sử dụng:

+ Phải xác định rõ điểm chính và chuẩn bị kỹ câu hỏi vòng quanh,câu hỏi vòng quanh có thể sử dụng “câu hỏi ngốc” Khi bị can trả lời câuhỏi phụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hỏi vào điểm chính Hoặc trả lờicâu hỏi phụ chính là đã trả lời vào điểm chính

+ Không để lộ ý định cuối cùng của ĐTV cho bị can biết Đây làđiều tất yếu nếu bị can biết được ý định cuối cùng của ĐTV, bị can sẽđối phó và ĐTV sẽ đạt được ý định đặt ra

+ Phải củng cố chặt chẽ lời cung trước khi đi vào điểm chính Trướckhi vào hỏi điểm chính dòi hỏi hỏi phải củng cố chặt chẽ lời cung trongcâu hỏi phụ từ đó hỏi vào điểm chính không để cho bị can quanh co chốicãi hay lật lọng phản cung

* Hỏi bất ngờ vào điểm yếu:

Là hỏi vào điểm sâu kín nhất, bí mật nhất của vụ án hoặc đời tư bịcan mà chỉ bị can biết hoặc là điểm mà bị can có nhiều sơ hở nhất đểđánh gục tư tưởng ngoan cố chủ quan của bị can, từ đó hỏi rộng ranhững vấn đề khác

- Cách sử dụng:

+ Chọn đúng điểm yếu:

Điểm yếu là những vấn đề mà đối tượng cho là bí mật nhất về

Trang 19

hành động phạm tội hoặc đời tư, sinh hoạt đạo đức

Điểm đột phá có khi là điểm mấu chốt của vụ án chứng minh hành

vi phạm tội của bị can có khi nó chỉ là những chi tiết vụn vặt nhưng nó

có ý nghĩa tác động lớn đến tâm lý, tư tưởng của bị can

Phải xác định chính xác điểm yếu của bị can để ra đòn bất ngờ,lung lay ý chí của bị can, buộc bị can phải khai nhận

Nguồn tài liệu để nghiên cứu xác định điểm yếu thường là nhữngthông tin qua tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, qua kiểm tra xác minh cáctài liệu, qua tố giác của quần chúng, qua đặc tình trại giam

Muốn vậy phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục thuyết phục cảm hoá

bị can để bị can khai báo mà hỏi rộng ra điểm khác

Thứ hai: Tình huống bị can khai báo gian dối.

Trước hết cần tìm hiểu nguyên nhân khai báo gian dối của bị can.Thực tế cho thấy nguyên nhân bị can khai báo gian dối của bị canthường là:

- Do bản năng tự vệ, trốn tránh trách nhiệm hình sự hoặc làm giảmnhẹ trách nhiệm hình sự cho bản thân bị can

- Mong muốn bao che hay làm nhẹ tội cho đồng bọn do mối quan

hệ bạn bè, gia đình hay vì mục đích tư lợi

- Vu khống đồng bọn, hoặc nhằm che giấu tội phạm khác

- Do lạc hậu, mê tín

Trong trường hợp này Điều tra viên có thể sử dụng những thủ thuật,chiến thuật sau đây:

Trang 20

* Sử dụng mâu thuẫn trong lời khai để đấu tranh với bị can.

Sử dụng mâu thuẫn là việc Điều tra viên chủ động vạch ra nhữngmâu thuẫn trong lời khai của bị can để đấu tranh nhằm đánh gục thái độquanh co dấu diếm của bị can, buộc bị can phải khai báo đúng sự thật

- Các loại mâu thuẫn có thể có:

+ Do cố ý khai sai sự thật dẫn đến mâu thuẫn

- Cách sử dụng mâu thuẫn để đấu tranh:

+ Biết phát hiện mâu thuẫn nhanh và đúng, vì vậy đòi hỏi có sựnghiên cứu, chuẩn bị kỹ toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã có, phânloại trên cơ sở đó phát hiện chính xác mâu thuẫn

+ Phân loại mâu thuẫn tìm nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn đểnghiên cứu sử dụng, chỉ sử dụng những mâu thuẫn lỗi do cố ý gây ra đểđấu tranh với bị can

+ Mục đích của sử dụng mâu thuẫn là đánh mạnh vào tư tưởngngoan cố của bị can do vậy phải kết hợp với giáo dục thuyết phục cảmhoá bị can và các chiến thuật khác để đạt kết quả tốt

* Sử dụng chiến thuật hỏi đứt quãng:

Hỏi đứt quãng là hỏi không theo một trình tự diễn biến của sự việc

mà cũng không theo trình tự thời gian

- Cách hỏi:

+ Sự việc cần hỏi được cắt xén thành nhiều đoạn, lúc hỏi đoạn này,lúc hỏi đoạn khác, không hệ thống, không mạch lạc Giữa các đoạn cócác câu hỏi đệm không có liên quan đến nội dung cần hỏi

+ Việc cần hỏi chia làm nhiều chi tiết để khi có điều kiện thích hợp,thuận lợi ta sẽ đưa ra để hỏi xen vào ác nội dung khác

- Chú ý:

Trang 21

+ Phải nắm vững yêu cầu toàn bộ, yêu cầu từng phần của vấn đềcâu hỏi.

+ Phải thiết lập được mối quan hệ hình thức giữa câu hỏi chính vàcâu hỏi đệm

+ Khi hỏi cung phải có thái độ phù hợp và kế hoạch chu đáo để tậphợp lời cung

* Sử dụng chiến thuật hỏi củng cố từng bước:

Hỏi củng cố từng bước là làm cho lời khai của bị can từng bước đầy

đủ, chi tiết, chính xác, ghi chép đúng thủ tục pháp luật

+ Cũng không nên xoáy sâu vào vấn đề quan trọng hoặc lặp đi lặplại nhiều lần một vấn đề

+ Hỏi đến đâu củng cố chặt chẽ trong biên bản đến đó đồng thờitiến hành thẩm tra xác minh để làm cơ sở tiếp tục đấu tranh với bị can

Thứ ba: Tình huống bị can thành khẩn khai báo

Trong tình huống này ĐTV có thể sử dụng một số thủ thuật sau đây:

* Cho bị can tự khai về hành vi phạm tội của mình dưới một trong hai hình thức gồm:

- Bị can tự khai bằng miệng:

+ Điều tra viên hướng dẫn cho bị can tự trình bày về hành vi phạmtội của mình và đồng bọn, sau đó có những tình tiết, sự việc nào chưa rõchưa đầy đủ ta có thể nhắc cho bị can khai ra

+ Lập biên bản hỏi cung

+ Chủ động cắt bỏ những vấn đề mà bị can khai lung tung, lan mankhông có chủ đề, không rõ ràng đầy đủ

- Bị can khai bằng cách viết bản tự khai:

+ ĐTV nêu yêu cầu cho bị can rõ

+ Đưa giấy bút cho bị can viết bản tự khai

Trang 22

+ Cần giám sát (bí mật hoặc công khai) bị can khi viết bản tự khai.+ Kết thúc phải thu lại tất cả giấy đã phát ra đề phòng đối tượng đấutranh tư tưởng khai rồi lại xé khai lại để che dấu bớt hành vi phạm tội.+ Làm các thủ tục theo quy định.

- Sự cần thiết cho bị can tự khai:

+ Điều tra viên không phải bao giờ cũng dự đoán hết được bị can,nắm hết được các thông tin tài liệu có ý nghĩa với hoạt động điều tra.Khi tự khai bị can có thể nói những thông tin mà Điều tra viên khôngđưa phạm vi những vấn đề cần làm rõ, cần hỏi trong qúa trình hỏi cung.+ Bị can tự khai hành vi phạm tội của mình theo trình tự lựa chọn,tạo điều kiện cho bị can nhớ lại, tái tạo lại những tình tiết của vụ án mà

bị can biết

+ Bị can tự khai sẽ giúp cho Điều tra viên nắm được một cách đầy

đủ và chính xác toàn bộ các mối quan hệ của bị can đối với các đốitượng khác của vụ án, lập trường khai báo của bị can về các tình tiết của

vụ án

* Hỏi tuần tự: là hỏi theo trình tự sự việc xảy ra hoặc hỏi theo trình

tự thời gian xảy ra sự việc

- Tác dụng:

+ Kiểm tra có hệ thống diễn biến của sự việc từ đầu đến cuối không

bỏ qua một sự việc, chi tiết, giai đoạn nào

+ Giúp cho bị can nhớ lại và khai báo sự việc một cách có hệ thống,chi tiết

- Cách hỏi:

+ Hỏi theo trình tự sự việc xảy ra: Tức là căn cứ vào trình tự sự việcdiễn ra để hỏi, không lệ thuộc vào thời gian xảy ra dài hay ngắn mà dựavào diễn biến của sự việc đã xảy ra để lần lượt hỏi, hết chi tiết này đếnchi tiết khác

Lưu ý: Trong khi hỏi ĐTV không nên cắt ngang lời khai của bị can;nếu cần phải cắt để hỏi thì sau đó phải nối lại cho mạch lạc để bị can dễkhai báo

+ Hỏi theo thứ tự thời gian: Tức là căn cứ vào các mốc thời gian đểhỏi không lệ thuộc vào sự việc xảy ra ít hay nhiều, phức tạp hay khôngphức tạp

Trang 23

Khi hỏi lời khai của bị can phải liên tục theo thời gian xảy ra của sựviệc, không để ngắt quãng.

đó Từ đó phát hiện ra mâu thuẫn để đấu tranh tìm ra sự thật (Hết phần

bị can thành khẩn khai báo)

Thủ thuật: Hỏi thẳng là nêu sự việc cụ thể, nhưng nội dung câu

hỏi không nên quá tỉ mỉ chi tiết, mặc dầu những chi tiết đó đều có thật

Hỏi thẳng là Điều tra viên nêu rõ những vấn đề cần hỏi cho bị can biết, buộc bị can phải trả lời thẳng vào đó

Hỏi thẳng để Tạo yếu tố bất ngờ đối với bị can, đưa bị can vào tìnhthế bị động, lúng túng, từ đó buộc phải khai báo đúng sự thật

Tạo điều kiện thuận lợi cho Điều tra viên làm rõ những tình tiết của

=> Hỏi thẳng phải biết bảo đảm bí mật nghiệp vụ của Ngành Nếu sự

việc do cơ sở mật báo mà đồng bọn của bị can cũng biết thì phải khéohỏi để bị can lầm tưởng do đồng bọn khai

=> Nếu sự việc cơ sở mật báo mà trong quần chúng nhân dân cónhiều người biết, thì khéo hỏi để làm cho bị can lầm tưởng là nhờ nhândân tố giác

=> Những sự việc chỉ một mình bị can và đặc tính của ta biết thì không

đưa ra hỏi, nếu chưa được chuyển hoá thành công khai hợp pháp, đề

Trang 24

phòng bị can rà soát lại để tìm nguyên nhân bị lộ và rất dễ phán đoán rathủ đoạn nghiệp vụ của CA.

Câu 9 Điều tra vụ án giết người?

1. Điều tra tại hiện trường vụ án giết người

Điều tra tại hiện trường gồm các nội dung sau đây:

1.1 Khám nghiệm hiện trường

Công tác khám nghiệm hiện trường là việc tổ chức nghiên cứu,phát hiện, ghi nhận bảo quản, đánh giá các dấu vết vật chứng và nhữngtin tức tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường

Biên bản khám nghiệm hiện trường là một nguồn chứng cứ quantrọng để chứng minh tội phạm

- Một trong những đặc điểm của hiện trường các vụ án giết người

là thường bị xáo trộn, mất mát dấu vết do nhiều nguyên nhân:

+ Do thủ đoạn xoá dấu vết, giả tạo hiện trường;

+ Do thiên nhiên mưa nắng;

+ Do côn trùng, súc vật, vi sinh vật hoạt động phân huỷ xác chết; + Do thân nhân nạn nhân, hoặc do quần chúng nhân dân vào cấpcứu nạn nhân.v.v

=> Do đó, công tác khám nghiệm hiện trường vừa phải khẩntrương vừa thận trọng tỷ mỉ theo đúng quy trình khám nghiệm hiệntrường mà Bộ đã ban hành

- Trước khi tiến hành khám nghiệm: Tổ trưởng tổ khám nghiệmthực hiện những công việc sau:

+ Nghe báo cáo và kiểm tra lại toàn bộ công tác bảo vệ hiệntrường của lực lượng bảo vệ;

+ Gặp gỡ trao đổi với cơ quan chủ quản, với thân nhân nạn nhân,với chính quyền địa phương, với người phát hiện sự việc đầu tiên đểnắm tình hình về diễn biến vụ việc, về an ninh trật tự ở địa phương.v.v

và cũng qua đó yêu cầu cơ quan chính quyền địa phương và cơ quan chủquản giúp đỡ trong quá trình khám nghiệm và điều tra tại hiện trường;

+ Lựa chọn người đại diện chính quyền, cơ quan tham gia vàoquá trình khám nghiệm; lựa chọn người chứng kiến cuộc khám nghiệm;

+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ tham gia khámnghiệm (lấy dấu vết, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, lập biên bản )

Trang 25

- Tiến hành khám nghiệm:

+ Quan sát hiện trường là việc nắm, bao quát vị trí, trạng tháichung của hiện trường, cũng như các dấu vết vật chứng, tử thi ở hiệntrường

Quan sát hiện trường nhằm:

~ Nhận định đường vào, ra của thủ phạm;

~ Vị trí hiện trường có mối liên hệ với địa hình xung quanh nhưthế nào;

~ Phát hiện dấu vết và những nơi tập trung nhiều dấu vết;

~ Nghiên cứu sự thay đổi ở hiện trường và xác định nguyên nhân

có sự thay đổi đó;

~ Bước đầu nghiên cứu đánh giá thủ đoạn gây án của thủ phạm;

~ Vẽ phác họa sơ đồ hiện trường, chụp ảnh toàn cảnh và chụp ảnhtừng phần quan trọng của hiện trường

~ Thận trọng đi vào hiện trường, đánh dấu và đánh số những dấuvết nhìn thấy hoặc vị trí có khả năng sẽ tồn tại dấu vết ở hiện trường

+ Khám nghiệm chi tiết:

* Khám nghiệm tử thi: Tuỳ theo từng vụ án cụ thể mà có thểkhám nghiệm tử thi trước hoặc cùng với khám nghiệm các vùng xungquanh

Nhìn chung khám nghiệm tử thi được tiến hành đồng thời vớikhám nghiệm các vùng xung quanh để kịp thời thông báo bổ sungnhững thông tin cần thiết giữa hai khu vực khám nghiệm và phục vụ choviệc đánh giá tính chất, thủ đoạn gây án của tội phạm Khám nghiệm tửthi được tiến hành theo trình tự sau đây:

- Khám bên ngoài tử thi:

~ Chụp ảnh;

~ Quan sát tư thế, hình dáng tử thi, xác định nạn nhân (nam, nữ,

độ tuổi );

~ Mô tả hình dáng tử thi;

~ Đo vị trí nạn nhân so với các vật chuẩn trên hiện trường;

+ Khám xét quần áo giày dép của nạn nhân, mô tả kỹ những dấuvết trên quần áo như vết máu, các vết hung khí gây án Khám kỹ các túi

Trang 26

quần áo để xem xét và thu giữ các giấy tờ, tiền bạc, ảnh, vé tàuxe.v.v nếu có;

+ Khám ngoài da và các vết thương trên cơ thể:

~ Chụp ảnh có đặt thước tỷ lệ các vết thương;

~ Mô tả trạng thái kích thước, màu sắc, bờ mép các vết thương;hướng, vị trí, hình dáng hoặc không rõ hình của các vết thương Đo vịtrí các vết thương với các mốc xung quanh trên cơ thể; đánh dấu vị trí,hướng các vết thương vào bản vẽ in sẵn hình người;

+ Chú ý khám xét các lỗ tự nhiên như miệng, mũi, mắt, tai, hậumôn, âm hộ để phát hiện dấu vết;

+ Chú ý xem xét các móng tay, móng chân, bàn tay, bàn chân;+ Lấy vân tay nạn nhân

- Giải phẫu tử thi (khám bên trong tử thi):

Vấn đề này do bác sỹ pháp y tiến hành trực tiếp, điều tra viên cầnphải tham gia cùng bác sỹ pháp y, nhằm:

+ Xác định các thương tích gây tổn thương ở bộ phận nào? Tổnthương ở mức độ nào? Thương tích nào quyết định cái chết? Nhận địnhhung khí qua hình dáng thương tích (qua nghiên cứu hình dáng, bờ mép,thành, đáy các vết thương);

+ Nghiên cứu kỹ các chất chứa trong dạ dày, phổi, gan, đườngthực quản, khí quản, phế quản và phân tích các đặc điểm để lại mangtính đặc trưng cho từng kiểu chết;

+ Nếu nạn nhân là nữ, cần phải xác định có thai hay không? Bộphận sinh dục có bị tổn thương không? Có chất lạ trong đó không?

+ Xác định thời gian chết (tương đối) của nạn nhân;

+ Lấy phủ tạng, máu, lông, tóc về nghiên cứu giám định;

* Khám nghiệm nơi tử thi tiếp xúc và vùng xung quanh tử thi:+ Khám tình trạng thực vật, (cây cỏ) đất đá tại vị trí tiếp xúc với

tử thi, xác định mức độ ẩm ướt của đất đá, mức độ biến đổi màu sắc củacây cỏ so với vung xung quanh, để xác định tử thi nằm ở đó bao lâu, cóphù hợp với thời gian chết của nạn nhân không? Nạn nhân chết tại chỗhay chết tại nơi khác mang đến?

+ Phát hiện các dấu vết vật chứng tại vị trí nạn nhân nằm

* Khám nghiệm vùng xung quanh:

Trang 27

+ Nghiên cứu toàn bộ địa hình, địa vật trên hiện trường Khám kỹtừng khu vực, từng đồ vật để phát hiện dấu vết và khám tỉ mỉ từng dấuvết đã phát hiện được Đánh số, đo kích thước, hướng, khoảng cách, vịtrí tương quan giữa vật nọ với vật kia và với các vật xung quanh Thống

kê đầy đủ, chính xác và có thứ tự các dấu vết

+ Chụp ảnh có đặt thước tỷ lệ các dấu vết, thu lượm các dấu vếttheo đúng các phương pháp quy định

- Kết thúc khám nghiệm: Họp rút kinh nghiệm công tác khám

nghiệm; đánh giá sơ bộ dấu vết vật chứng; đóng gói niêm phong vậnchuyển các dấu vết về cơ quan nghiên cứu; làm thủ tục giao xác nạnnhân cho gia đình, cơ quan hoặc chính quyền địa phương để mai táng

1.2 Các hoạt động chiến thuật xuất phát từ hiện trường

- Truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng: Thông qua công tác

khám nghiệm hiện trường và qua công tác nắm tình hình, sơ vấn lấy lờikhai nhân chứng thấy những trường hợp sau đây cần nhanh chóng truybắt ngay thủ phạm:

+ Sau khi gây án, thủ phạm bỏ lại hung khí và nhiều dấu vết tangvật khác còn rất mới, hoặc có dấu vết nguồn hơi, dựa vào đó có thể truyđuổi ngay thủ phạm

+ Vụ án xảy ra được phát hiện ngay, nhân chứng biết rõ tên, tuổi,lai lịch của thủ phạm, có thể sơ bộ lấy lời khai, phát hiện nơi ở nơi làmviệc cũng như các mối quan hệ của thủ phạm

+ Thủ phạm vừa gây án xong, đang chạy trốn chưa xa, chưa kịpxoá dấu vết trên người, chưa kịp cất giấu tài sản chiếm đoạt được; nhiềungười nhớ rõ đặc điểm quần áo, số xe, hướng chạy của thủ phạm

Để thu thập thông tin làm cơ sở truy bắt thủ phạm theo dấu vếtnóng, điều tra viên cần khai thác triệt để dấu vết tại hiện trường, lấy lờikhai nhân chứng, thân nhân người bị hại

Căn cứ vào từng tình huống cụ thể, có thể sử dụng các biện phápsau đây để truy bắt thủ phạm:

+ Dùng chó nghiệp vụ truy theo nguồn hơi thủ phạm; huy độngcác lực lượng sử dụng các phương tiện giao thông đuổi theo hướng chạycủa thủ phạm, có thể yêu cầu nhân chứng đi cùng để nhận diện

+ Điện báo ngay cho các lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sáttrật tự, các trạm kiểm soát đón chặn kiểm tra tại các đầu mối giaothông như bến xe, bến tàu, nhà ga, sân bay, hải cảng, cửa khẩu

Trang 28

Khi thông báo cho các lực lượng đó cần chú ý các thông tin quantrọng nhất: đặc điểm nhận dạng, loại xe, số xe, vũ khí, tang vật, các dấuvết trên người.v.v của đối tượng để các lực lượng này dễ nhận biết.

+ Nếu đối tượng lẩn trốn trong một khu vực đã xác định, cần huyđộng các lực lượng cơ sở, các lực lượng vũ trang địa phương và quầnchúng tham gia, nhân chứng và chó nghiệp vụ cũng có thể sử dụng trongtrường hợp này

+ Phục kích đón lõng tại các địa điểm mà đối tượng sẽ tới hoặcphải đi qua : Trên cơ sở nắm được các quan hệ gia đình và xã hội của đốitượng, cần phối hợp với Công an phường, Công an xã rà soát, kiểm tra

và phục kích (bí mật) tại các quan hệ của đối tượng mà ta đã biết

- Xác định tung tích tử thi: Các vụ giết người nhìn chung nạn

nhân đều đã chết Đa số thủ phạm và nạn nhân có mối quan hệ với nhau.Nếu như ta không biết nạn nhân là ai, ở đâu.v.v thì rất khó khăn trongviệc xác định phương hướng điều tra

Để xác định được tung tích nạn nhân trong những trường hợpchưa rõ tung tích, ngay trong quá trình khám nghiệm hiện trường cầnlàm những việc sau đây:

+ Chụp ảnh nhận dạng: trước hết là chụp ảnh nguyên trạng tư thếnạn nhân, sau đó chải lại tóc, lau chùi mặt mũi, sửa lại quần áo nạn nhân

để chụp ảnh

+ Thu dấu vân tay nạn nhân

+ Mô tả các đặc điểm chung và riêng của nạn nhân: đo chiều cao,ước lượng trọng lượng, mô tả đặc điểm dạng người, chú ý các đặc điểmriêng như vết săm trổ, nốt ruồi, sẹo, vết chàm, răng, các dấu vết giảiphẫu trước đây trên người nạn nhân

+ Chụp ảnh và thu giữ, mô tả quần áo, giày dép, mũ nón, tưtrang của nạn nhân để sau này cho thân nhân nhận dạng

+ Nghiên cứu kỹ móng chân, móng tay, bàn chân, bàn tay nạnnhân qua đó có thể góp phần nhận định nghề nghiệp, nơi ở của người

bị giết

Các biện pháp truy tìm tung tích nạn nhân:

+ Thông báo truy tìm tung tích nạn nhân qua báo, đài phát thanh,

vô tuyến truyền hình

+ Ra thông báo truy tìm tung tích nạn nhân ở một số nơi, một số

Trang 29

địa điểm mà theo phán đoán có thể là quê quán, nơi làm việc, nơi nạnnhân tới hoặc đi qua để người nào đó có thể đã biết mà báo cho cơquan điều tra.

+ Tra cứu tàng thu căn cước chứng minh nhân dân, tàng thư hìnhsự

+ Đối chiếu với các đơn trình báo người mất tích trong thời gianphù hợp để so sánh xem có người nào phù hợp không

+ Thu thập tin tức rộng rãi trong quần chúng xung quanh hiệntrường và trên đường tới hiện trường để phát hiện tin tức về nạn nhân

+ Phối hợp Công an xã, phường tiến hành kiểm tra tạm trú tạmvắng, kiểm tra nhân khẩu hộ khẩu tại những địa bàn và khu vực mà tanhận định có thể là nơi nạn nhân cư trú hoặc tạm trú

Chú ý phát hiện và làm rõ những trường hợp vắng không rõ lý do

mà người vắng mặt có đặc điểm nhân dạng, quần áo tư trang, lứa tuổi,giới tính tương tự như nạn nhân

Khi có người đến nhận nạn nhân là người nhà hoặc quen biết, thì:

~ Yêu cầu người đó mô tả đặc điểm nhân dạng, lứa tuổi, quần áo,

tư trang, hành lý mang theo của nạn nhân

~ Cần hỏi kỹ tên tuổi, lai lịch của nạn nhân, gặp nạn nhân lầncuối cùng khi nào, đi khỏi nhà khi nào, mang theo tài sản gì, đi với ai, điđâu, lý do v.v

~ Nếu thấy tương đối phù hợp với tài liệu mà ta đã có về nạnnhân thì bố trí cho họ nhận dạng (qua ảnh hoặc trực tiếp)

~ Nếu xác chết đã thối rữa khó nhận biết ta cần chú ý cho họ nhậndạng đồ vật, quần áo của nạn nhân

Câu 9.1 Các biện pháp cấp bách khi tới hiện trường

Khi tới hiện trường, các lực lượng điều tra và lực lượng hỗ trợphải tiến hành các biện pháp cấp bách Cụ thể như sau:

- Cấp cứu người bị thương và hạn chế các thiệt hại đang xảy ra.Người bị thương ở đây có thể là nạn nhân, là thủ phạm hoặc nhữngngười khác Cần đưa người bị thương đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu

và cử người túc trực bên cạnh để lấy lời khai ngay khi có điều kiện Câuhỏi khi đó phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ trả lời và nên đi ngay vào nhữngvấn đề quan trọng nhất như: tên, tuổi, địa chỉ nạn nhân? Lý do sự việc?Thủ phạm là ai? (Nếu họ biết tên) Đặc điểm của thủ phạm? Tài sản bị

Trang 30

Khi đưa người bị thương đi cấp cứu cần chú ý đánh dấu vị trí của

họ trên hiện trường và hạn chế đến mức thấp nhất việc mất mát dấu vếthoặc tạo ra những dấu vết mới

Trong thời gian cấp cứu nạn nhân, nếu thấy cần thiết phải bố tríphương án bảo vệ cho họ, đề phòng thủ phạm có thể trở lại thủ tiêu nạnnhân để bịt đầu mối

- Ngăn chặn thiệt hại còn đang tiếp diễn (ví dụ chữa cháy) hoặchạn chế những thiệt hại hoặc ảnh hưởng xấu có thể xảy ra

- Bảo vệ hiện trường: việc này do các lực lượng cơ sở như côngphường, xã, bảo vệ cơ quan xí nghiệp v.v tiến hành

Việc bảo vệ hiện trường cần được tiến hành ngay sau khi nhậnđược tin báo Cán bộ trực ban hình sự phải thông báo kịp thời cho cáclực lượng cơ sở nơi xảy ra sự việc hoặc Công an phường gần nhất

Khi tới hiện trường cần xác định phạm vi hiện trường ở diện rộng

để khoanh vùng bảo vệ, cắt cử người canh gác, tuyệt đối không chongười không có trách nhiệm vào hiện trường

Những dấu vết ngoài trời xét thấy dễ bị thay đổi mất mát cần phảiđược che đậy hoặc chuyển vào vị trí an toàn Khi di chuyển cần phảiđánh dấu vị trí và không được làm biến dạng dấu vết

Công tác bảo vệ hiện trường phải được tiến hành một cách liêntục từ khi phát hiện cho tới khi kết thúc công tác khám nghiệm Trườnghợp cần thiết việc bảo vệ hiện trường cần phải được tiến hành bảo vệliên tục cho tới khi kết thúc công tác điều tra

Tổ bảo vệ hiện trường cần phải ghi nhận những biến đổi ở hiệntrường để báo cáo với tổ khám nghiệm trước khi tiến hành khámnghiệm

- Nếu thủ phạm chưa kịp chạy trốn, còn đang ở trong khu vựchiện trường cần huy động các lực lượng bao vây bắt giữ ngay Đây làmột trong những hoạt động cấp bách phải được ưu tiên đầu tiên

- Phối hợp với các lực lượng cơ sở (Công an phường, xã, Công anhuyện phụ trách địa bàn) đi sâu vào quần chúng để thăm dò phát hiện tintức dư luận quần chúng bàn tán về vụ án, về nạn nhân về thủ phạm

- Nếu phát hiện cần bố trí giám sát ngay những đối tượng nghivấn (giám sát bí mật) Những công việc trên đây được tiến hành trong

Trang 31

một thời gian ngắn và mang tính tổng hợp cao về các lực lượng vàphương tiện được huy động, do đó đòi hỏi điều tra viên phải có kiếnthức tổ chức cao, nhạy bén sáng tạo, biết xác định được đặc điểm củatình huống để lựa chọn biện pháp và chiến thuật phù hợp nhất cho từnghoạt động cấp bách.

Câu 9.2 Đặc điểm hiện trường và dấu vết trong vụ án giết người:

- Hiện trường trong án giết người xảy ra ở nhiều khu vực, địađiểm khác nhau: nơi tìm thấy xác chết, nơi xảy ra hành động gây án, nơicất giấu tang vật chứng

- Hiện trường các vụ giết người tồn tại rất nhiều các loại dấu vếtkhác nhau như:

+ Dấu vết sinh vật: Vết máu, lông, tóc, nước bọt, tinh khí và cácchất thải sinh vật khác;

+ Dấu vết thương tích bên ngoài và bên trong tử thi;

+ Dấu vết vân tay, vết chân, dày dép ;

+ Dấu vết công cụ cạy phá lục soát;

+ Dấu vết phương tiện giao thông;

+ Dấu vết súng đạn;

+ Các dấu vết hình sự khác;

- Hiện trường các vụ án giết người là thường bị xáo trộn, mất mátdấu vết do nhiều nguyên nhân:

+ Do thủ đoạn xoá dấu vết, giả tạo hiện trường;

+ Do thiên nhiên mưa nắng;

+ Do côn trùng, súc vật, vi sinh vật hoạt động phân huỷ xác chết; + Do thân nhân nạn nhân, hoặc do quần chúng nhân dân vào cấpcứu nạn nhân.v.v

Ý nghĩa từ hiện trường và dấu vết:

- Công tác khám nghiệm hiện trường vừa phải khẩn trương vừa thận trọng

tỷ mỉ theo đúng quy trình khám nghiệm hiện trường mà Bộ đã ban hành

- Đòi hỏi điều tra viên và những người tham gia khám nghiệm hiện trườngphải có tinh thần trách nhiệm cao

-Thu thập các thông tin về tung tích nạn nhân qua đó dựng nên được cácquan hệ của nạn nhân => xác định hướng đối tượng gây án

-Khi khám nghiêm phải xác định rõ từng khu vực khác nhau nhằm thu

Trang 32

lượm hết được vật chứng và giá trị thông tin của vật chứng.

-Điều tra viên cần tìm hiểu hiện trường vụ án trước khi tiến hành khámnghiệm có nguyên vẹn như khi xảy ra hay không

Câu 10 Lấy lời khai người bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích? Lấy lời khai trong vụ án về hối lộ?

Lấy lời khai người bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích là

người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ do người phạm tội gây racho họ Do đó họ có những nét tâm lý phổ biến sau đây

- Muốn pháp luật trừng trị thật nặng đối với người đã gây thươngtích cho họ, từ đặc điểm tâm lý này, trong quá trình khai báo thường cóbiểu hiện:

+ Khai tăng lên những tình tiết của vụ án

+ Quan trọng hoá vết thương tích mà người phạm tội gây ra cho

họ, thậm chí có người mua chuộc bác sỹ để lấy chứng thương nặng hơn

so với thực tế

- Đổ lỗi sai trái hoàn toàn về phía đối tượng gây án, không chịunhận những sai trái của mình, đặc biệt là trong vụ án cố ý gây thươngtích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do kích động

- Những vụ gây thương tích do mâu thuẫn ghen tuông tình ái v.v thường khai không đúng sự thật về nguyên nhân

- Khi được người phạm tội hoặc người trung gian chủ động hòagiải, đặt vấn đề bồi thường v.v thì dễ dàng thay đổi quan điểm, rút đơnhoặc đề nghị không truy tố người phạm tội

Từ những đặc điểm trên khi lấy lời khai người bị hại trong vụ ángây thương tích điều tra viên cần chú ý nắm vững đặc điểm tâm lý đóchủ động lấy lời khai đảm bảo khách quan

Khi tiến hành lấy lời khai điều tra viên cần căn cứ tình hình cụ thể

mà xác định, lựa chọn địa điểm lấy lời khai như: Triệu tập người bị hạiđến cơ quan điều tra, đến nhà họ lấy lời khai hoặc đến bệnh viện nơi họđiều trị để lấy lời khai

Khi lấy lời khai cần tiến hành nhanh chóng và khai thác hết mọi

sự hiểu biết của người bị hại về tình hình diễn biến của vụ án và nhữngvấn đề khác có liên quan Cần tiến hành nhanh chóng nhằm loại trừ khảnăng người bị hại bị mua chuộc, khống chế hoặc bị quên những tình tiếtquan trọng của vụ án Điều tra viên không được quên rằng: Muốn sửdụng chiến thuật lấy lời khai người bị hại có hiệu quả cần phải nghiên

Trang 33

cứu đầy đủ đặc điểm tâm lý và nhân thân của họ Khi lấy lời khai cầnchú ý làm rõ những nội dung sau đây:

+ Họ tên, tuổi, chỗ ở nghề nghiệp của người bị hại

+ Thời gian địa điểm xẩy ra vụ án

+ Diễn biến hành vi phạm tội của thủ phạm và hành vi của người

bị hại ở trên hiện trường

+ Nguyên nhân gây ra thương tích trên người hoặc trên quần áocủa người bị hại

+ Vũ khí, công cụ, phương tiện mà thủ phạm đã sử dụng, mangtheo khi chạy chốn hay vứt lại hiện trường

+ Thủ phạm của vụ án là ai (nếu đã rõ), mối quan hệ giữa thủphạm và người bị hại

+ Có dấu vết nào để lại trên người, trên quần áo thủ phạm không?+ Đặc điểm nhận dạng của thủ phạm nếu chưa rõ

Đối với vụ án chưa rõ thủ phạm thì cần phải hỏi làm rõ thêm:Người bị hại có quan hệ thù tức, tình ái với ai không? Đề nghị người bịhại đưa ra nhận định về đối tượng gây án, động cơ mục đích gây án,những người làm chứng của vụ án

Để làm rõ những vấn đề trên khi lấy lời khai người bị hại cần chú ý:

+ Phải đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời, nhất là trong trườnghợp người bị hại bị thương nặng, có thể bị tử vong Nếu không kịp thời,người bị hại tử vong sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra

+ Kịp thời giúp điều tra viên nhanh chóng xác định thủ phạm, kịpthời truy bắt khẩn cấp đề phòng đối tượng bỏ trốn, đồng thời lời khai là

cơ sở để điều tra viên tiến hành các biện pháp khác như khám nghiệmhiện trường, lấy lời khai người làm chứng, kịp thời truy tìm thu giữ vậtchứng v.v lấy lời khai kịp thời được đầy đủ, chính xác những chi tiếtcủa vụ án Nếu để lâu người bị hại có thể giảm trí nhớ và độ chính xáccủa lời khai cũng sẽ bị giảm theo

+ Trong trường hợp người bị hại bị thương nặng có thể tử vongsau khi cấp cứu được sự đồng ý của y bác sỹ điều trị thì điều tra viên tiếnhành lấy lời khai ngay với sự tham gia của cán bộ y tế Nếu người bị hạiquá mệt, không có khả năng hỏi chi tiết, thì có thể hỏi ngắn ngọn nhữngthông tin cơ bản nhất của vụ án như: Thời gian, địa điểm xẩy ra, thủphạm của vụ án, nếu chưa rõ thì hỏi đặc điểm nhận dạng, vũ khí phương

Trang 34

tiện gây án, hướng chạy trốn.

+ Nếu người bị hại không thể cung cấp được tín tức thì điều traviên có thể hỏi người phát hiện, cấp cứu đầu tiên để làm rõ người bị hạinói những vấn đề gì với họ

+ Lời khai của người bị hại và của người cấp cứu họ phải đượcthẩm tra xác minh đảm bảo khách quan, chính xác nhằm xác định tínhchất vụ án, xác định thủ phạm và kế hoạch điều tra được đúng đắn

Lấy lời khai trong vụ án về hối lộ:

- Lấy lời khai của người bị ép buộc đưa hối lộ.

Nhiệm vụ của việc tiến hành lấy lời khai của người bị ép buộc đưahối lộ nhằm làm rõ ai là người sách nhiễu, ép buộc, đòi hỏi họ để đượcđưa hối lộ, diễn biến thủ đoạn ép buộc đưa hối lộ của người nhận, người

bị ép buộc đưa hối lộ cần giải quyết việc gì, tài sản hối lộ và giá trị của

nó, thời gian, địa điểm bị ép buộc, sự thoả thuận giữa họ với người épbuộc đưa hối lộ về thời gian, địa điểm chuyển giao của hối lộ, lý do tốgiác tội phạm

Trong trường hợp người bị ép buộc đưa hối lộ tố giác trước thờiđiểm đưa tài sản hối lộ, nếu có thời gian, có điều kiện thì cần hỏi làm rõcác tình tiết về việc chuẩn bị đưa hối lộ, sự thoả thuận găp gỡ giữa ngườinhận, người đưa, số lần gặp, nội dung thảo luận ở đâu, thời gian nào,việc trao nhận tài sản hối lộ có mặt của người môi giới hay không cầnkiểm tra xác minh ngay lời khai của người tố giác để tạo cơ sở cho việctriển khai kế hoạch, bố trí lực lượng bắt quả tang khi đối tượng nhận tàisản hối lộ

Việc lấy lời khai của người bị ép buộc đưa hối lộ, trong trường hợptài sản hối lộ đã được trao thì điều tra viên cần hỏi kỹ người bị ép buộcđưa hối lộ về việc trao nhận tài sản hối lộ đã được thực hiện trong thờigian, địa điểm, hoàn cảnh, điều kiện nào tài sản hối lộ thuộc chủng loại

gì Việc trao nhận tài sản hối lộ có những ai biết (họ và tên, địa chỉ, mốiquan hệ của họ với hành vi đưa nhận hối lộ) Khi trao nhận tài sản hối lộ

họ có làm các thủ tục giấy tờ, bản cam đoan viết tay về việc trao nhận tàisản hay không, có thể yêu cầu người bị ép buộc đưa hối lộ giao các giấy

tờ, phim ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình có liên quan đến việc họ bị épbuộc đưa hối lộ hoặc việc trao nhận tài sản hối lộ

- Lấy lời khai của người đưa hối lộ đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác

Trang 35

Tiến hành lấy lời khai của người đưa hối lộ trong tình huống nàycần làm rõ:

+ Động cơ tố giác của người đưa hối lộ có thể:

Do sự căm phẫn đối với hành vi sách nhiễu đòi hối lộ một cáchtrắng trợn của người nhận hối lộ

Do sợ các cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc không đủ khả năng đưavật hối lộ theo như đòi hỏi của người nhận hối lộ

Việc giải quyết công việc của người nhận hối lộ không theo ýmuốn, mục đích của người đưa hối lộ

+ Làm rõ các tình tiết của hành vi đưa nhận hối lộ như:

Hành vi đưa, nhận hối lộ diễn ra ở đâu, thời điểm đưa số lần đưa

và điều kiện, hoàn cảnh xảy ra vụ án, đưa hối lộ nhằm giải quyết côngviệc gì

Chủng loại, đặc điểm, giá trị của tài sản hối lộ, ai nhận tài sản hối

lộ, cách đưa và nhận, số người có mặt khi trao nhận tài sản hối lộ, địađiểm trao nhận tài sản hối lộ

Hậu quả tác hại do hành vi đưa nhận hối lộ gây ra đối với xã hội.Các giấy tờ, tài liệu, tranh ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình ghi lạiviệc trao nhận của hối lộ

Việc tiến hành lấy lời khai của người đưa hối lộ trong trường hợpnày, điều tra viên nên để cho người đưa hối lộ viết báo cáo trình bày sựviệc hối lộ theo trình tự thời gian hay theo diễn biến của hành vi hối lộ

- Lấy lời khai của người tố giác mà họ không liên quan đến tội phạm hối lộ

Điều tra viên cần hỏi để họ trình bày rõ lý do họ biết được các tintức về tội phạm hối lộ, mối quan hệ của họ với hành vi hối lộ, với ngườinhận, người đưa, người môi giới hối lộ

Trường hợp người tố giác là người trực tiếp phát hiện hành vi đưa

và nhận hối lộ thì cần làm rõ: Thời gian, địa điểm, các tình tiết diễn biếncủa hành vi đưa, nhận của hối lộ, đặc điểm, chủng loại cùng nhữngthông tin khác về đặc điểm riêng biệt của hối lộ, đặc điểm nhận dạng củangười nhận, người đưa, người môi giới hối lộ, những phương tiện và đặcđiểm của những đồ vật, tài liệu giấy tờ dùng vào việc thực hiện hành vihối lộ hoặc có liên quan đến hành vi hối lộ

Trường hợp người tố giác chỉ nghe nói hay đọc các tài liệu phát

Trang 36

hiện có sự việc liên quan đến tội phạm hối lộ, thì điều tra viên khi hỏicần làm rõ: Nghe thấy ai nói, họ tên, địa chỉ của họ, nội dung sự việc hối

lộ, những tình tiết có liên quan đến sự việc hối lộ mà họ biết Nếu họ đọcphát hiện thấy sự việc hối lộ cần làm rõ nguồn gốc của các tài liệu đó ởđâu, do ai cung cấp cho họ, nội dung sự việc hối lộ, mối quan hệ củangười tố giác với người nói, với người có tài liệu phản ánh về sự việchối lộ

- Lấy lời khai của người tố giác sự việc hối lộ mà họ là người có chức vụ quyền hạn bị trực tiếp tấn công mua chuộc

Trong trường hợp người có chức vụ, quyền hạn bị người đưa hối lộtrực tiếp tấn công mua chuộc đến tố giác hành vi đưa hối lộ của mộtngười nào đó thì việc lấy lời khai của họ, điều tra viên cần làm rõ nhữngvấn đề:

+ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người tố giác sự việc đưahối lộ

+ Họ và tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp của người đưa hối lộ, ngườimôi giới và những người khác có liên quan đến việc hối lộ

+ Việc đưa hối lộ nhằm giải quyết vấn đề gì, có thuộc nhiệm vụ,quyền hạn của người tố giác hay không

+ Những hành vi cụ thể của người đưa hối lộ như thủ đoạn đưa củahối lộ, của hối lộ thuộc loại gì (tiền, vàng, đô la ) họ đã trao đổi hứa hẹn

sẽ đưa của hối lộ giá trị bao nhiêu, đưa bao nhiêu lần, khi trao tài sản họ

có yêu cầu người tố giác làm những thủ tục như viết bản biên nhận, viếtgiấy hẹn nợ, giấy uỷ quyền hay không

+ Hỏi về các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc kiểm tra xácminh làm rõ lời khai của người tố giác sự việc hối lộ

- Lấy lời khai của những người với tư cách là người làm chứng trong vụ án hối lộ

Việc lấy lời khai đối với những người này cần làm rõ:

+ Căn cước, lai lịch, địa chỉ của họ, mối quan hệ của họ với ngườinhận, người đưa, người làm môi giới hối lộ

+ Những hiểu biết của họ về diễn biến của hành vi hối lộ như thủđoạn nhận của hối lộ, số lượng của hối lộ, số lần đưa của hối lộ, đặcđiểm của tài sản hối lộ, thời gian, địa điểm xảy ra sự việc hối lộ, các tàiliệu giấy tờ có liên quan đến việc đưa nhận của hối lộ, số đối tượng cóliên quan đến việc đưa nhận hối lộ

Trang 37

+ Các tình tiết khác có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra vụ ánnhằm thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ làm rõ sự thật khách quan của

Do những mâu thuẫn của người làm môi giới hối lộ với ngườinhận hối lộ, người đưa hối lộ vì những người đó không thực hiện đúngnhững điều đã cam kết về lợi ích vật chất hoặc tinh thần hay một lợi íchkhác

Việc giải quyết công việc của người nhận hối lộ không đạt đượccác yêu cầu, lợi ích hoặc không theo mong muốn của người đưa hối lộ,người làm môi giới hối lộ

+ Làm rõ các tình tiết có liên quan đến hành vi làm môi giới hối lộ;hành vi đưa, nhận hối lộ như:

Lí do họ thực hiện hành vi môi giới hối lộ như vì mục đích kinh tế,

vì tình cảm, vì các mối quan hệ xã hội hoặc các lí do khác

Số đối tượng tham gia vào việc đưa, nhận, môi giới hối lộ; nhữngngười có hiểu biết về diễn biến của vụ án hối lộ và đặc điểm nhân thâncủa họ; mối quan hệ của các đối tượng với người làm môi giới hối lộ,giữa các đối tượng với nhau

Hành vi làm môi giới hối lộ (trung gian) cho người nhận là ai,người đưa là ai; nhằm giải quyết những công việc gì; vì sao phải có hành

vi đưa, nhận, môi giới hối lộ

Hành vi của người làm môi giới hối lộ chuyển những yêu cầu củangười nhận hối lộ đến người đưa hối lộ như giá trị của hối lộ, hình thức,thời gian, địa điểm, cách thức đưa nhận hối lộ hoặc ngược lại

Hành vi của người làm môi giới hối lộ tổ chức cho người đưa gặp

Ngày đăng: 15/08/2022, 18:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w