1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TIỂU LUẬN môn KINH tế vĩ mô UEH

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 511,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ TÁC GIẢ LỚP THẠC SỸ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP QUẢN LÝ CÔNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ VĨ M.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ DÀNH CHO KHU VỰC CÔNG LỚP THẠC SỸ ĐIỀU HÀNH CAO CẤP QUẢN LÝ CÔNG

HỌ TÊN: ……

ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: ……

LỚP: ………

THÁNG 4 NĂM 2022

Trang 2

TIỂU LUẬN HẾT MÔN KINH TẾ VĨ MÔ DÀNH CHO KHU VỰC CÔNG

-I VIẾT BÁO CÁO TÓM TẮT TÌNH HÌNH KINH TẾ THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH NĂM 2021.

Kinh tế TP.HCM năm 2021 bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid – 19, các ngành nghề thu hút nhiều ngân sách như du lịch, dịch vụ, ngân hàng… Đều sụt giảm doanh thu nghiêm trọng do bị cách ly, hàng hóa không vận chuyển được, nguyên vật liệu khan hiếm, không tiến hành sản xuất… Đã làm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là một bức tranh màu xám

Sau tháng 10 năm 2021, dịch bệnh Covid-19 cơ bản được kiểm soát, không thực hiện giãn cách, thành phố bước vào giai đoạn “bình thường mới”, nhiều ngành nghề kinh doanh được khôi phục, đặc biệt Chính phủ ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 Quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19" tạo điều kiện kinh tế Thành phố dần lấy lại đà hồi phục, nhưng bức tranh kinh tế - xã hội của thành phố đầu tàu kinh tế của cả nước có ít điểm sáng, các động lực tăng trưởng kinh tế bị kéo lùi nghiêm trọng

Theo Báo cáo số 14/BC-UBND ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Ủy ban Nhân dân Thành phố về tình hình kinh tế - xã hội Thành phố năm 2021, nhiệm

vụ, giải pháp trọng tâm năm 2022 (tại Mục III, trang 22: tình hình kinh tế - xã hội năm 2021), cho thấy:

1 Tổng sản phẩm nội địa GRDP

Do tác động của Đại dịch covid-19 thương mại toàn cầu có xu hướng phục hồi chậm do bị phong tỏa, kiểm soát dịch và hạn chế đi lại

Theo tổng cục Thống kê Thành phố: GRDP năm 2021 ước đạt 1.298.791

Tỷ đồng, giảm 6,78% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 1,39%) và không đạt chỉ tiêu

đề ra (chỉ tiêu năm 2021 là 6%), trong đó:

- Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ước đạt 8.086 tỷ đồng, giảm 13,68% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 2,06%)

- Khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 290.837 tỷ đồng, giảm 12,96% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 0.43%);

- Khu vực dịch vụ ước đạt 823.360 Tỷ đồng giảm 5,5% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 2,17%);

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 176.508 Tỷ, giảm 0,43% so với cùng kỳ (cùng kỳ giảm 0.51%);

Trang 3

- Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm rất mạnh (-54,93%) và ngành kinh doanh bất động sản giảm 17,32% so với cùng kỳ

Một số ngành khác có mức tăng trưởng dương, gồm: thông tin và truyền thông, tăng 6,08%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,16%; dịch vụ hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ tăng 3,8%; giáo dục và đào tạo tăng 3,12%; y tế và cứu trợ xã hội tăng 28,68%

Ở lĩnh vực dịch vụ, 9 ngành dịch vụ chủ yếu của thành phố chiếm 58,6% trong GRDP, chiếm 92,5% trong khu vực dịch vụ

Thống kê cũng cho thấy, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) giảm sâu 14,3% Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,7%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 3,8% Dịch Covid-19 vẫn còn tác động lớn khiến cho chỉ có ba ngành có chỉ số tăng so với năm 2020 đó là sản xuất kim loại tăng 6,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 2,7%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 0,7%; còn lại, hầu hết các ngành công nghiệp đều giảm

Đối với bốn ngành công nghiệp trọng điểm, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 giảm 10,6% so với năm truớc Trong đó, ngành sản xuất hàng điện tử giảm 17,8%; ngành lương thực thực phẩm và đồ uống giảm 14,2%, ngành cơ khí giảm 9,2%; ngành hóa dược giảm 4,3%

Đối với ngành công nghiệp truyền thống, chỉ số sản xuất công nghiệp năm

2021 giảm 23,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản xuất trang phục giảm 27,0%; ngành dệt giảm 23,7%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 19,6%

Chịu tác động nặng nề và kéo dài của làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 2 (đầu năm 2021) và đặc biệt lần thứ 4 (từ cuối tháng 4/2021), cộng đồng doanh nghiệp không ngừng gặp nhiều cản trở, khó khăn, thậm chí phải giải thể, phá sản hoặc hoạt động cầm chừng dẫn đến nguy cơ tiềm tàng mất thanh khoản, nợ xấu gia tăng

2 Cộng đồng doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn

Trang 4

Về số lượng doanh nghiệp, nhà đầu tư đăng ký thành lập doanh nghiệp mới trong năm 2021 trên địa bàn TP.HCM, ghi nhận sụt giảm so với năm 2020

Cụ thể, từ ngày 01/01/2021 đến 15/12/2021, thành phố đã cấp phép 30.829 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 517.694 tỷ đồng So với năm trước, số giấy phép giảm 23,5% và vốn giảm 53,5%

Nhìn lại bức tranh tổng thể của hoạt động thương mại dịch vụ năm 2021, doanh thu của cả ngành sụt giảm mạnh so với năm 2020, trước khi tình hình dịch Covid-19 tại thành phố diễn biến phức tạp Các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh thực hiện giãn cách, tạm ngưng kinh doanh để phòng chống dịch trong quý III; đặc biệt là các ngành như ăn uống, lưu trú chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, đơn vị kinh doanh lữ hành trong nhiều tháng không phát sinh doanh thu Thống kê ghi nhận, ước tính cả năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 822.592 tỷ đồng, giảm 21,9% so với năm trước (loại trừ yếu tố giá giảm 23,7%)

3 Xuất khẩu đạt tăng trưởng dương.

Đại dịch Covid-19 tiếp tục làm gián đoạn hoạt động thương mại quốc tế; tuy nhiên hoạt động xuất khẩu hàng hóa của TP.HCM vẫn đạt được mức tăng trưởng dương Đây là điểm sáng của kinh tế thành phố

Ước tính cả năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp TP.HCM tại các cửa khẩu trên cả nước đạt 43.896,9 triệu USD, giảm 1,0% so với năm 2020; riêng xuất khẩu không tính dầu thô đạt 41.975,4 triệu USD, giảm 1,6% so với năm 2020

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp TP.HCM xuất qua cảng thành phố bao gồm cả dầu thô, năm 2021 đạt 40.298,6 triệu USD, chiếm 91,8% tổng giá trị xuất khẩu của thành phố tại các cửa khẩu trên cả nước

và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước Cụ thể trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 2.423,8 triệu USD, tăng 6,4%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 11.580,2 triệu USD, tăng 7,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 26.294,6 triệu USD, giảm 3,2%

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các doanh nghiệp TP.HCM với kim ngạch xuất khẩu năm

2021 đạt 9.368,2 triệu USD, giảm 10,8% so với năm 2020 và chiếm 23,2% tỷ trọng xuất khẩu Kế đến lần lượt là: Hoa Kỳ đạt 6.671,0 triệu USD, tăng 0,2%

và chiếm 16,6% tỷ trọng xuất khẩu; Hong Kong đạt 3.992,6 triệu USD, tăng 21,9% so với năm 2020 và chiếm 9,9% tỷ trọng xuất khẩu; Nhật Bản đạt 2.469,4 triệu USD, giảm 11,9% và chiếm 6,1% tỷ trọng xuất khẩu; và EU đạt 5.083,9 triệu USD, giảm 0,5% và chiếm 12,6% tỷ trọng xuất khẩu

4 Tổng thu cân đối ngân sách tăng.

Theo đó, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố năm

2021 ước thực hiện 383.703 tỷ đồng, vượt 5,2% dự toán và tăng 3% so với năm

2020 Nếu không kể nguồn thu từ quỹ dự trữ tài chính thì tổng thu ngân sách

Trang 5

tăng 1% so năm 2020 và vượt 3,1% dự toán năm 2021 Cụ thể, thu nội địa năm

2021 ước thực hiện 253.281 tỷ đồng, vượt 2% dự toán, chiếm 66% tổng thu cân đối và giảm 0,9% so với năm 2020; thu dầu thô ước thực hiện 14.000 tỷ đồng, vượt 63,7% dự toán năm, chiếm 3,7% tổng thu cân đối và tăng 26% so với năm ngoái; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước thực hiện 116.400 tỷ đồng, vượt 7,8% dự toán, chiếm 30,3% tổng thu cân đối và tăng 9,8% so với năm 2020

Tóm lại, nền kinh tế TP.HCM trong năm 2021 diễn ra giữa lúc đà tăng trưởng kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu bị đe doạ do tác động của làn sóng dịch Covid-19 Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân thành phố Qua gần 2 tháng thực hiện Nghị quyết 128 của Chính phủ về quy định tạm thời về thích ứng

an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, tình hình dịch bệnh tại TP.HCM cơ bản được kiểm soát, tình hình kinh tế - xã hội bắt đầu khởi sắc trở lại với nhiều điểm sáng như đã nói ở trên.

II TỪ ĐẦU NĂM 2022 ĐẾN NAY, CHÍNH PHỦ QUYẾT TÂM ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN CƠ SỞ HẠ TẦNG TRỌNG ĐIỂM VIỆC ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN NÀY SẼ CÓ NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC NHƯ THẾ NÀO ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.

Từ đầu năm 2022 đến nay, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến

độ hoàn thành các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm như các dự án của tuyến đường cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành

Đồng nghĩa với tiến độ trên, hàng ngàn tỷ đồng được giải ngân, Chính phủ dùng ngân sách chi mua hàng hoá dịch vụ Đây là chính sách tài khóa với tổng cầu, cụ thể là chính sách tài khóa mở rộng của Chính phủ, đó là Chính phủ tăng chi tiêu ngân sách, với mục tiêu là tăng tổng cầu của nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng, giảm tỷ lệ thất nghiệp

1 Trong ngắn hạn việc đẩy nhanh tiến độ các dự án này sẽ có những tác động tích cực như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam.

- Do phải dành một lượng lớn ngân sách chi mua hàng hóa dịch vụ cho các dự án này (Chi ngân sách tăng, Cung tiền tăng cao)

=> Tổng cầu tăng (nhu cầu mua vật tư xây dựng: sắt thép, xi măng, nhiên liệu: xăng, dầu, … ) => dẫn đến sự khan hiếm các mặt hàng này, các nhà máy, doanh nghiệp phải tăng sản lượng để cung cấp cho các công trình, dự án này Sản xuất trong giai đoạn ban đầu phát triển

=> Do chi ngân sách tăng các công trình, đội ngũ công nhân, người lao động có việc làm, có nhiều tiền trong giai đoạn đầu (cung tiền cao) dẫn đến mua nhiều hàng hóa, khi đó lượng cầu hàng hóa hàng hóa tăng cao Việc đầu tư sẽ phát triển trong giai đoạn đầu, trong ngắn hạn

Trang 6

Khi ngân sách tăng đầu tư công, các công trình khời động, tạo công ăn, việc làm và đóng góp vào ngân sách, góp phần làm tăng trưởng kinh tế (tăng GDP)

GDP (tính theo phương pháp chi tiêu) = C + G + I + (X - M)

Trong đó: C là tổng tiêu dùng; G là chi tiêu chính phủ; I là đầu tư trong nước của tư nhân; và (X-M) là cán cân thương mại (xuất khẩu ròng)

Qua đó cho thấy: G tăng sẽ kích thích I cùng tăng Từ đó giúp GDP tăng.

2 Trong dài hạn: Việc đẩy nhanh tiến độ các dự án này sẽ có những tác động tích cực như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam.

- Do phải dành một lượng lớn ngân sách chi mua hàng hóa dịch vụ cho các dự án này (Chi ngân sách tăng, Cung tiền tăng cao) => Tổng cầu tăng (nhu cầu mua vật tư xây dựng: sắt thép, xi măng, nhiên liệu: xăng, dầu, … ) => dẫn đến sự khan hiếm các mặt hàng này, các nhà máy, doanh nghiệp phải tăng sản lượng để cung cấp cho các công trình, dự án này Những nhóm ngành hưởng lợi

từ đầu tư công có thể kể tới là bất động sản, vật liệu xây dựng, xây dựng, thi công công trình, logistics và cảng biển sau khi hạ tầng hoàn thiện Nhóm ngân hàng cũng hưởng lợi gián tiếp khi được tăng cường cấp tín dụng để giải ngân trong lĩnh vực này

=> Để cung ứng cho nhu cầu về vật tư này, các doanh nghiệp, công ty sản xuất buộc phải đầu tư, cần thêm nhiều tiền để tiếp tục tái đầu tư cho sản xuất (Cầu tiền cao), lúc này Doanh nghiệp có nhu cầu vay tiền ngân hàng để đầu tư (cầu tiền tăng), lập tức lãi xuất từ các ngân hàng sẽ tăng cao hơn bình thường

+ Khi lãi xuất ngân hàng tăng cao, việc đầu tư tư nhân bị lấn át Hàng xuất khẩu giảm

=> Do chi ngân sách tăng, người tiêu dùng có nhiều tiền trong giai đoạn đầu sẽ mua nhiều hàng hóa Tổng cầu tăng

Khi tổng cầu tăng thì mức giá các mặt hàng tăng theo Lúc này hàng xuất khẩu giảm, hàng nhập khẩu tăng lên

+ Giá cả leo thang đến mức nào đó tiêu dùng sẽ giảm, lâu dài sự đầu tư giảm theo

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TỔNG CẦU, CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN

CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA MỞ RỘNG

Thâm hụt ngân sách

Lãi xuất tăng

Đầu tư tư nhân

bị lấn át

Xuất khầu bị lấn át

Xuất khầu giảm Nhập khầu tăng

Sản lượng tăng TỔNG

CẦU tăng Chi ngân

sách tăng

Trang 7

III LIÊN QUAN ĐẾN CHIẾN TRANH NGA – UKRAINE.

III Liên quan đến chiến tranh Nga – Ukraine.

1 Vì sao cuộc chiến Nga - Ukraine đang gây ra áp lực lạm phát cho Việt Nam?

Chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine bắt đầu từ ngày 27/02/2022, và chưa thấy dấu hiệu hạ nhiệt Các biện pháp trừng phạt của Mỹ và phương Tây làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế thế giới, giá năng lượng tăng cao làm tổn hại người tiêu dùng, khủng hoảng năng lượng toàn diện có thể dẫn đến suy thoái toàn cầu

Tại Việt Nam: Trong những ngày vừa qua, giá xăng dầu đã tăng cao, giá

xăng đã lên xấp xỉ 30.000 đồng/lít Một số loại dầu khác cũng tăng khá mạnh Đây là những mặt hàng đầu vào quan trọng của sản xuất thương mại dịch vụ vận tải và tiêu dùng, gây áp lực tăng đối với ngành giao thông vận tải và gián tiếp tạo áp lực tăng lên giá của các mặt hàng khác thuộc các nhóm khác nhau trong

rổ tính CPI

Giá gas bán lẻ cũng tăng theo giá dầu thế giới và cũng sẽ gây áp lực tăng trực tiếp lên nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng ở mức cao 5%, đóng góp 0,8 ptđ vào CPI năm 2022 Bên cạnh đó, giá gas cũng có tác động gián tiếp đến lĩnh vực thực phẩm và dịch vụ ăn uống

Ngoài việc xăng dầu tăng giá, thì còn do tác động của tình hình địa chính trị thế giới và đặc biệt là cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina hiện nay Những biến động sau đại dịch Covid-19 làm cho giá các nguyên liệu đầu vào của sản xuất kinh doanh, dịch vụ đều tăng khá mạnh như phân bón, nguyên phụ liệu cho dệt may da giầy, hóa chất, nhựa các loại

Do các nguyên vật liệu bị khan hiếm do Nga đang bị cấm vận, không xuất khẩu được đồng thời giá nguyên liệu đầu vào tăng, dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao, lạm phát xảy ra

Khi chi phí đầu vào, nguyên vật liệu tăng lên theo giá xăng dầu trong năm

2022, sẽ tác động liên hoàn: (a) ảnh hưởng tới thâm hụt thương mại khi nhập siêu xăng dầu năm 2022; (b) khiến chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân cả năm

tăng lên; (c) GDP cả năm sẽ giảm (GDP = C + I + G + [X - M)]; trong đó [X-M] là giá trị xuất khẩu ròng, [X-[X-M] giảm làm GDP giảm).

Trang 8

Điều này đặt ra vấn đề thực hiện chỉ tiêu trong năm 2022 về phục hồi, tăng trưởng kinh tế từ 6-6,5% và kiểm soát lạm phát khoảng 4% trở nên thách thức, khó khăn rất nhiều

Theo báo cáo Quý I/2022 của Tổng cục thống kê:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2022 tăng 0,7% so với tháng trước CPI bình quân quý I/2022 so với cùng kỳ năm 2021 tăng 1,92%; CPI tháng 3/2022 tăng 1,91% so với tháng 12/2021 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2021.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2022 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm trước Trong quý I/2022, lạm phát cơ bản bình quân tăng 0,81% so với bình quân cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,92%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, xăng, dầu và gas tăng.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới Chỉ số giá vàng tháng 3/2022 tăng 4,51% so với tháng trước; tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2022, chỉ số giá vàng trong nước tăng 3,52% Chỉ

số giá đô la Mỹ tháng 3/2022 tăng 0,64% so với tháng trước; giảm 0,43% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2022, chỉ số giá đô la Mỹ trong nước giảm 0,67%.

- Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm

2022 tăng 1,89% so với quý trước và tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước; chỉ

số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,09% và tăng 4,39%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,79% và tăng 1,98%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,49% và tăng 5,7% Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý I năm 2022 tăng 2,47% so với quý trước và tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 2,7% và tăng 10,98% Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT)[8] quý I năm 2022 giảm 0,23% so với quý trước và giảm 3,13% so với cùng kỳ năm trước.

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03%

so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng 4,72% của quý I năm 2021 và 3,66% của quý I năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,85% của quý I năm 2019 Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,45%, đóng góp 5,76% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,38%, đóng góp 51,08%; khu vực dịch vụ tăng 4,58%, đóng góp 43,16%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất lúa mùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng khá (tăng 7,4 tạ/ha) so với vụ mùa năm trước; ngành chăn nuôi đang dần phục hồi, sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I năm

2022 đều tăng so với cùng kỳ năm trước; chế biến và xuất khẩu tiêu thụ gỗ có nhiều tín hiệu tích cực; nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, giá cá tra, tôm nuôi trồng đang ở mức cao do nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp quý I năm 2022 tăng 2,35% so với cùng kỳ năm trước, đóng

Trang 9

góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,86% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,54%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm[1].

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp quý I năm

2022 tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 6,44% của quý I năm 2021, đóng góp 2,42 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 7,79%, đóng góp 2,05 điểm phần trăm Ngành khai khoáng tăng trưởng dương 1,23% (khai thác than tăng 3,2% và quặng kim loại tăng 5%), làm tăng 0,04 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế Ngành xây dựng tăng 2,57%, thấp hơn tốc độ tăng 6,53% của quý I năm 2021, đóng góp 0,16 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ trong quý I năm 2022 tăng trưởng khởi sắc khi nhiều hoạt động dịch vụ sôi động trở lại Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của quý I năm nay như sau: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,75% so với cùng

kỳ năm trước, đóng góp 0,54 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,06%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 2,98%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 1,79%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,97%; khu vực dịch vụ chiếm 41,70%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,39% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2021 là 11,61%; 36,61%; 42,38%; 9,40%).

Về sử dụng GDP quý I năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5,08%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,20%.

Tóm lại, chiến tranh Nga- Ucraina đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế Việt Nam, khiến cho Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2022 tăng 0,7% so với tháng trước CPI bình quân quý I/2022 so với cùng

kỳ năm 2021 tăng 1,92%; CPI tháng 3/2022 tăng 1,91% so với tháng 12/2021 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2021 Lạm phát cơ bản tháng 3/2022 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm trước Trong quý I/2022, lạm phát cơ bản bình quân tăng 0,81% so với bình quân cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,92%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, xăng, dầu và gas tăng.

Trang 10

2 Chính phủ và Bộ Tài chính đang có chính sách gì để kiềm chế lạm phát?

Để kiềm chế lạm phát, ở cấp Vĩ mô, Chính phủ cần phải có chính sách kém giảm chỉ số CPI xuống mức thích hợp bằng nhiều cách, cụ thể:

- Kéo giảm giá xăng dầu: bằng cách cắt giảm thuế bảo vệ môi trường đối

với mặt hàng xăng dầu để kéo giá xuống Cụ thể: ngày 30-3, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) đã có công điện số về việc thực hiện áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn Theo Tổng cục Thuế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 quy định về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn Cụ thể, từ ngày 1-4 đến hết năm 2022, thuế bảo vệ môi trường với xăng sẽ giảm từ 4.000 đồng/lít xuống còn 2.000 đồng/lít; Dầu diesel, dầu mazut, dầu nhờn giảm từ 2.000 đồng/lít xuống còn 1.000 đồng/lít; Mỡ nhờn giảm từ 2.000 đồng/kg xuống 1.000 đồng/kg; Dầu hỏa giảm từ 1.000 đồng/lít xuống mức sàn 300 đồng/lít

- Kích thích tài khóa và tiền tệ: Chính phủ vừa phê duyệt gói kích thích

tài khóa và tiền tệ, tổng cộng ước tính hơn 337 nghìn tỷ đồng (gói tài khóa 291 nghìn tỷ đồng và gói tiền tệ 46 nghìn tỷ đồng), nhằm hỗ trợ chương trình khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau tác động của Đại dịch COVID-19 Gói kích cầu này cũng sẽ được phân bổ đều vào năm 2022 và một phần nhỏ vào năm

2023, và tốc độ tăng cung tiền do gói kích cầu này gây ra là tương đối nhỏ (+ ~ 3% tổng cung tiền) Vì vậy, áp lực lạm phát từ gói kích cầu này sẽ tương đối nhỏ

- Chi chuyển nhượng: Là các khoản trợ cấp của chính phủ cho các đối

tượng chính sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội Chi chuyển nhượng có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân Theo đó, khi chính phủ tăng chi chuyển nhượng sẽ làm tiêu dùng cá nhân tăng lên Và qua hiệu số nhân của tiêu dùng cá nhân sẽ làm gia tăng tổng cầu Cụ thể mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định về chính sách Hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động Theo đó có khoảng 3,4 triệu công nhân đang ở nhà thuê sẽ được hỗ trợ từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/người

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có các giải pháp hợp lý để bình

ổn giá phân bón, thức ăn chăn nuôi, khuyến khích việc tăng tái đàn gia súc, diện tích nuôi thủy sản và cây trồng để đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu tiêu dùng,

mở cửa du lịch trong nước cũng như xuất khẩu

- Các địa phương cần chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân, đặc biệt là các hàng hóa thiết yếu Đồng thời, cần phải kiểm soát giá, niêm yết giá và sử dụng hiệu quả mạng lưới phân phối của các siêu thị để bình ổn giá Ngoài ra, cần phải tăng cường kiểm tra, thanh tra thị trường, chống việc găm hàng, thổi giá, tránh tình trạng lợi dụng giá xăng dầu

để tăng giá hàng hóa bất hợp lý

Ngày đăng: 14/08/2022, 15:56

w