Đã có không ít Luận văn , Luận án nghiên cứu thành công với những đề tài có liên quan đến quyền văn hóa của người dân tộc thiều số như: Lê Xuân Trình “ Quyền của người dân tộc thiểu số t
Trang 1LỜT CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung đuợc nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Cáctrích dẫn, số liệu, ví dụ minh họa trong Luận văn đảm bảo tính trung thực, tin cậy,
độ chính xác về nghĩa vụ, tôi đã hoàn thành các môn học cùa chương trinh thạc sĩ Pháp luật về quyền con người và đã thanh toán các khoản học phí theo qui định củaKhoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo
vệ Luận văn
Tôi chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2021
Người cam đoan
Hoàng Thị Thu
Trang 211
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
DTTS Dân tôc• thiểu số
DTTSRIN Dân tộc thiểu số rất ít người
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
ICESCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và vàn hóa
OSCE Tổ chức An ninh và họp tác Châu Âu
PCIJ Cơ quan tài phán của Hội quốc liên
UDHR Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
UPR Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát
XHCN Xã hội chủ nghĩa
111
Trang 41.2.1 Pháp luật quốc tế bảo đảm Quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số 23 1.2.2 Pháp luật việt Nam bảo đảm Quyên sử dụng ngôn ngừ của các dân tộc thiểu số 26 1.3 Nội dung và đặc điểm cơ bàn bào đăm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam 30
1.3.1 Nội cơ bản bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữcủa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 30 1.3.2 Đặc điểm cơ bản bảo đàm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam 39 Kết luận chương 1: 42
IV
Trang 5Chương 2: THựC TRẠNG, QUAN ĐIÊM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ớ
VIỆT NAM - NGHIÊN cứu TRUỜNG HỢP CỦA DÂN TỘC TÀY 43
2.1 Thực trạng, quan điểm bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số nói chung và của dân tộc Tày 43
2.1.1 Khái quát chung về bão đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số nói chung và của dân tộc Tày 43
2.1.2 Nghiên cứu trường hợp bảo đảm quyền sừ dụng ngôn ngữ của dân tôc Tày 48
2.2 Quan điểm bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngừ của các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam 62
\ Ỹ r 2.3 Giải pháp bảo đảm quyên sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiêu sô ở Việt Nam
2.4 Đề xuất về bảo tồn, giữ gìn chữ viết của người Tày
2.4.1 Bảo tôn và phát huy trong môi trường sinh hoạt văn hóa của nhân dân 68
2.4.2 Bảo tồn và phát huy trong môi trường kỳ thuật hiện đại 68
2.4.3 Bảo tồn và phát huy, kết hợp với sưu tầm, lưu trữ 68
2.4.4 Bảo tồn và phát huy kết hợp với bồi dưỡng đào tạo 69
Kết luận chương 2 71
KẾT LUẬN 73
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐÉN LUẬN VĂN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
V
Trang 6PHÀN MỞ ĐÀU
l.
Tính câp thiêt của việc nghiên cứu đê tài
Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ bao gồm tiếng nói và chữ viết riêng Bảo vệ ngôn ngũ’ dân tộc vì vậy là bảo vệ sự đa dạng văn hóa.Tuy nhiên, trên thực tế, nếu không có những khích lệ, tạo môi trường hay chính sách thì việc gìn giữ ngôn ngữ
sẽ rất khó khăn Ngôn ngữ dân tộc sẽ dần bị mai một
Một trong những thành quả to lớn về văn hóa của dân tộc Việt Nam là sự hìnhthành và phát triển các hệ thống chữ viết Theo định nghĩa của Chú tịch Hồ ChíMinh về văn hóa, chữ viết chính là tài sản văn hóa, đánh dấu sự phát triển về xã hội,văn hóa của mỗi dân tộc: “F7 lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sổng, loài người tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa(Hồ Chí Minhtoàn tập, tập 39, trang 431).[6]
Có một thực tế là trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt nam hiện nay, trình độ phát triển, vai trò vị thế của các ngôn ngừ hoàn toàn không giống nhau Ở nước ta, Tiếng Việt là ngôn ngữ phát triển và có vai trò cao hơn cả so với các ngônngữ còn lại ở một trình độ phát triển cao của một ngôn ngữ văn học, từ lâu, TiếngViệt đã được cộng đồng các dân tộc ở nước ta tự nguyện sử dụng làm phương tiệngiao tiếp chung giữa các dân tộc với tên gọi quen thuộc là tiếng phồ thông TiếngViệt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, được sử dụng trong hành chính, pháp luật, giáo dục, đối ngoại Còn các ngôn ngữ dân tộc thiểu số chỉ được sử dụng trong nội
bộ dân tộc và một số dân tộc trong vùng đề giao tiếp với nhau, đây là “ngôn ngừphố thông vùng” Tiếng Thái, Tiếng H’Mông ở vùng Tây Bắc, Tiếng tày ở vùng Đông Bắc, Tiếng Ê Đê, Gia Rai ở Tây Nguyên, Tiếng Chăm ở khu vực Miền Trung,Tiếng Khmer ở Miền Nam v.v.[6]
Ngôn ngữ tiếng nói và chữ viết của các dân tộc được quan tâm và đề cao.Tháng 10/2004, tại Hà Nội, Hội nghị ASEM được tổ chức với sự tham gia cùa các
1
Trang 7vị đứng đâu Nhà nước và chính phủ của 13 nước châu A, 25 nước Châu Au và Chú tịch
ủy ban Châu Âu đã thảo luận chú đề “Đa dạng văn hóa và các nền vãn hóa quốc gia trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa” Tuyên bố của hội nghị khẳng định:
“Đa dạng văn hóa là di sản chung của nhân loại, là nguồn sáng tạo, cồ vũ và là một động lực quan trọng cũa phát triển kinh tế và tiến bộ cùa xã hội loài người Đa dạng văn hóa là
cơ hội to lớn để xây dựng một thế giới hòa bình và ổn định hơn bởi đa dạng văn hóakhông loại bỏ mà đem lại sự hòa hợp, khoan dung, đối thoại và hợp tác” [17]
Quyền của các dân tộc thiểu số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thươngđược ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng Đó không phải lànhững đặc quyền, mà nó được quy định để tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số cóthể bảo tồn những bản sắc, đặc trung và truyền thống cùa họ Các quyền đó chỉquan trọng trong việc bảo đảm sự đối xử bình đẳng
Trong sự nghiệp đổi mới, Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết tốt đẹp giữa văn hóa và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, giữa thống nhất và đa dạng.Trong quá trình hiện đại hóa đất nước, bên cạnh các việc làm tích cực, không tránh khỏi một số khó khăn, hạn chế Thực trạng hiện nay về việc bảo tồn và pháthuy sắc thái văn hóa dân tộc (bao gồm sắc thái các nhóm ngôn ngữ dân tộc, sắc thái văn hóa của từng dân tộc và sắc thái văn hóa riêng của mỗi nhóm địa phương trong một tộc người cụ thể), cũng như sắc thái vàn hóa vùng (bao gồm cảnh quan như đồng bàng, thung lũng, rẻo cao, rẻo giữa hay cao nguyên) và vùng lãnh thổ, là một điều cần được quan tâm Có nhiều nguyên nhân cả về nhận thức chủ quan và quy luật khách quan cùa sự phát triển xã hội Đó là nhận thức cùa chúng ta về văn hóa,nhất là vàn hóa truyền thống và văn hóa các dân tộc, chưa được đúng đắn Đó là quy luật công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa.Nguy cơ lớn hiện nay là nguy cơ cào bằng mọi sắc thái văn hóa ở mồi vùng dân tộc.Phải nhận thức được thực tế này để có ngay biện pháp bảo vệ, bảo tồn phát huy tính
đa dạng sắc thái văn hóa địa phương và tộc người.[2]
Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, dân tộc Tày có dân số đông thứ hai ở Việt Nam sau dân tộc Kinh, dân số hiện nay ước đạt 1.845.492 (số liệu 2019)[13],
2
Trang 8người Tày sinh sông chủ yêu ở vùng miên núi phía băc Việt Nam, khu vực tập trung nhiều người Tày là các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, BắcKạn, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, và một bộ phận người Tày di dân tới các tỉnh Tây Nguyên như: Lâm Đồng, Bình Phước, Đắk Nông và số
ít di dân tới các vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ như: Đồng Nai, Bình Dương,thành phố Hồ Chí Minh v.v
Người Tày có ngôn ngữ và chữ viết riêng, ngôn ngữ của người Tày rất giàu
và đẹp; Phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng cũng có nét đặc thù riêng có
* Nhìn từ góc độ bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số, lâu nay việc bảotồn di sản văn hóa các dân tộc thường chỉ được chủ ý tới các yếu tố cụ thể cùa văn hóa dân tộc, còn chủ thể là người sáng tạo ra các yếu tố văn hóa đó thì có khi bịlãng quên Trong khuôn khổ của luận văn, tôi đề cập đến tiếng nói và chữ viết của dân tộc Tày, vì nhiều dân tộc đã mất hoặc đang đang mất dần ngôn ngữ mẹ đẻ Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra đối với các dân tộc khác thì cộng đồng các dân tộcViệt Nam sẽ không còn là 54 dân tộc nữa, một số dân tộc sẽ mất trên bản đồ dân tộcViệt Nam Vì vậy, để bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số ở Việt Nam, thực chất
là bảo tồn các dân tộc thiểu số cần phải coi tiếng nói, chữ viết của mồi dân tộc là disàn văn hóa cần được bảo tồn.Từ đó, có chính sách mang tầm chiến lược quốc giavới giá trị khoa học và thực tiễn cao.Chính sách này đòi hỏi một nguồn lực lớn, nhất
là nguồn lực về trí tuệ và tài chính [131
* Nhìn từ góc độ dân tộc học, tiêu chí để xác định một dân tộc là vãn hóa,ngôn ngữ và tự giác dân tộc
- về văn hóa: Mỗi dân tộc tùy thuộc vào những hoàn cảnh cụ thể, thể hiện rấtkhác nhau, có những dân tộc mà nền văn hóa của họ còn bảo lưu khá rõ với sắc thái đặc trưng như: Văn hóa Tày, Thái, Mường, H.Mông, Dao, Chăm, Khme, Gia Rai,
Ba Na v.v Ngược lại không ít dân tộc đã bị đồng hóa, còn bảo lưu rất mờ nhạt sắc thái văn hóa riêng của minh như các dân tộc Thổ, ơ đu, Ngái, Sán Dìu, Sán Chay
- về ngôn ngữ: Ban đầu các dân tộc duy trì tinh trạng song ngữ, ra ngoài xã hội dùng ngôn ngữ dân tộc đa số hoặc đa số trong vùng làm ngôn ngừ giao tiếp Ngôn
3
Trang 9ngừ mẹ đẻ chỉ sử dụng trong sinh hoạt gia đình Sau quá trình giao lưu được đây mạnh thì ngay trong gia đình cũng không còn tiếng mẹ đẻ nữa Đến nay trong số 53 dân tộcthiểu số chỉ còn 36 dân tộc có tiếng nói và 14 dân tộc có chừ viết[ 18] Hiện nay, xuhướng hội nhập đang làm nảy sinh nguy cơ suy giảm ngôn ngữ “mẹ đẻ” của nhiều dân tộc thiểu số Việc bảo tồn và phát huy tiếng nói, chừ viết các dân tộc thiểu số là cấpthiết để giữ gìn bản sắc văn hóa, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
- về tự giác dân tộc: Trong quá trình giao lưu, hội nhập sâu và sự đồng hóa tựnhiên, tên tự gọi dần dần mất đi và chuyển sang tên gọi mới như tên phổ biến củadân tộc đa số[ 18]
Ở nước ta, trong khoảng hơn sáu thập kỷ trở lại đây, ngôn ngữ và văn hóangười Tày đã không được nghiên cứu như thời Pháp thuộc Việc sao nhãng này không chỉ thiệt thòi cho riêng người Tày, mà còn thiệt cho cả ngành khoa học xã hội nói chung Hiện nay việc giảng dạy tiếng Tày trong nhà trường chưa được thực hiện, mà chỉ giảng dạy các khóa ngắn hạn để cấp chứng chỉ, việc giảng dạy chủ yếu
là dành cho các cán bộ, công chức làm việc tại các tỉnh biên giới phía bắc để lấychứng chỉ với các khóa học ngắn hạn do Trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh phụ trách, ở nơi tập trung nhiều người dân tộc sinh sống như các tỉnh Thái Nguyên,Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Tuyên Quang v.v Nói đến văn hoá Tày thì có rất nhiều điều phải làm về văn hóa Tày nói chung, đặc biệt là ngôn ngữ Tày,càng ngày càng nhận được ít hơn sự quan tâm của Nhà nước và Chính phủ Đài tiêng nói Việt Nam và Đài truyên hình Việt Nam từ nhiêu năm nay đã có kênh riêngcho các tiêng E đê, Ba Na, Chăm, K’ho, Mông , Dao, Thái, Khmer , nhưng không
có phát thanh tiêng dân tộc Tày trên Đài truyên hình Việt Nam Mặc dù vậy, cũng
đã có một tín hiệu vui là ngày 18/3/2020, Đài Tiếng nói Việt Nam ra Quyết định số: 513/QĐ-TNVN “Quyêt định vê việc phát sóng thử nghiệm Chương trinh phát thanh tiếng Tày - Nùng”, giao cơ quan thường trú khu vực Đông Bắc sản xuất và phátsóng thử nghiệm Chương trình phát thanh tiêng Tày - Nùng tại trạm phát sóng MâuSơn (VOV1 + VOV4) trên tần số 95 MHz và trạm phát sóng Nguyên Bình (VOV2 + VOV4) trên tần số 103,5 MHz Với những đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn
4
Trang 10như đã nêu trên, việc nghiên cứu đê tài “Quyên sử dụng ngôn ngừ của các dân tộc thiêu số ớ Việt Nam - qua trường hợp của dân tộc Tày ” là cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu các đề tài có liên quan
Đã có không ít các công trình, báo cáo khảo sát và bài viết công bố báo chí,công bố trên mạng điện tử v.v, nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam.Tháng 10 năm 2017 một nhóm nghiên cứu mạnhgồm TS.Phùng Đức Tùng, TS.Nguyễn Việt Cường, TS Nguyễn Cao Thịnh, ThS.Nguyễn Thị Nhung, ThS Tạ Thị Khánh Vân đã công bố báo cáo “Tông quan thực trạng kinh tể -xã hội - Dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra thực trạng kinh tế-
xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015” ( Truy cập tháng 10 năm 2018) phản ánhkhá toàn diện đời sống của đòng bào các dân tộc thiều số ở Việt Nam
Gần 10 năm qua Ưỷ Ban dân tộc (ƯBDT) đã triển khai nghiên cứu hàngtrăm đề tài khoa học cấp Bộ, các dự án điều tra cơ bản, các đề án về bảo vệ môitrường và nhiều chuyên đề nghiên cứu Cấp cơ sở Nhiều ẩn phẩm từ kết quả nghiên cứu của cơ quan UBDT với sự cộng tác của các nhà khoa học, chuyên gia quản lý ở nhiều bộ, ngành Trung ương và địa phương đã được công bố, cung cấp nhiều thông tin khoa học bổ ích, thiết thực góp phần nâng cao năng lực quản lý và hoạch địnhchính sách dân tộc, đặc biệt là góp phần tham gia xây dựng dự thảo nội dung Nghịquyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng vềcông tác dân tộc, góp phần xây dựng các đề án quan trọng của Chính phủ về nângcao năng lực quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc, về phát triển kinhtế-xã hội và văn hóa, về củng cố an ninh quốc phòng và tăng cường khối đại đoànkết các dân tộc Tháng 10/2018 cổng thông tin điện tử Chính phủ đưa ra một bứctranh toàn cảnh về các dân tộc Việt Nam trong Công trình nghiên cứu “Khái quátvăn hóa Việt Nam” (Truy cập tháng 02/2019)
Ngày 14 tháng 10 năm 2020, tại ủy ban Dân tộc, Hà Nội, Hội đồng nghiệmthu cấp Quốc gia đã đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện Đề tài “Biến đôi văn hóa các dãn tộc thiêu số - những vấn đề đặt ra và giải pháp trong thời gian tới ”;
Mã số: CTDT.Ỉ ỉ.Ỉ7/Ỉ6-20; Đe tài Thuộc chương trình Khoa học và công nghệ
5
Trang 11trọng điêm câp Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 “Những văn đẻ cơ bản và cãp bách
về dân tộc thiểu số và chinh sách dãn tộc ở Việt Nam đến năm 2030 ”; do ủy ban Dân tộc là cơ quan chủ quản, Học viện Khoa học xã hội là cơ quan chủ trì Chủnhiệm Đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà Đe tài đã tập trung nghiên cứu biển đổi văn hóa các tộc người thiểu số trong giai đoạn hiện nay để thấy được các giá trịvăn hóa tích cực cần được bảo tồn và phát huy, những yếu tố văn hóa cản trở hoặc không phù hợp để hạn chế hoặc loại bỏ
Đã có không ít Luận văn , Luận án nghiên cứu thành công với những đề tài
có liên quan đến quyền văn hóa của người dân tộc thiều số như: Lê Xuân Trình “ Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của Luật pháp quốc tế và ViệtNam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015.Đinh Thị Phương Lan, “ Hoàn thiện chính sách đối với Học sinh phố thông dân tộcthiểu số trong bối cảnh hiện nay”, Luận án Tiến sỹ chuyên ngành giáo dục học, Trường đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018; Dương Thị Hương Thảo, “Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiếu số trong hoạtđộng xét xử: Từ thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng”, Luận vàn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiêu số ở Việt Nam - qua trường hợp của dân tộc Tày” lần đầu tiên được nghiên cứu, chủ yểu là nghiêu cứu về quyền của người dân tộc Tày được bảo tồn tiếng nói và chữ viết của minh, không trùng lắp với bất cứ
r
công trình nghiên cứu nào đã công bô
3 Mục • đích và nhiệm • vụ • nghiên Ư cứu
6
Trang 12Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Quây Sơn, nơi có thác Bản Giôc hùng
vĩ chảy qua thời gian, từ khi tôi biết nhận thức và yêu quê hương, là qua tiếng rucủa Mẹ, lời ru bằng tiếng Tày, qua bản làng nơi tôi sống, qua nhũng ngọn núi cao ngang trời Tiếng Tày ngấm vào tôi, thành ra một phần người con của dân tộc Tàytrong tôi Tự hào là một người con của dân tộc Tày, càng thôi thúc tôi tìm hiểu vềcội nguồn của dân tộc mình, tìm hiểu về ngôn ngữ của mình, mong mỏi góp một phần nhỏ bé để gìn giữ bản sắc dân tộc mình trong 54 dân tộc anh em của đất Việt,giữ gìn tiếng Tày, lan tỏa và giới thiệu văn hóa của người Tày tới cộng đồng
Tôi được sinh ra trong một gia đình có bố và mẹ đều là người dân tộc Tày, môi trường xung quanh tôi sống là bản làng và họ hàng người Tày Vì vậy, songsong với việc học tiếng phổ thông là tiếng Việt, tôi còn giao tiếp thành thạo tiếng Tày Mặc dù tôi giao tiếp được bằng ngôn ngữ Tày, nhưng tôi chưa bao giờ được học tiếng Tày (do thời kỳ những năm 1980-1990 nơi địa phương tôi sống không có chương trình giảng dạy tiếng Tày) Cho đến khi tôi đi học đại học và học cao học tạiKhoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, do đặc thù của ngành học, đặc biệt là đượctiếp thu kiến thức của các thầy cô bên ngành học Pháp luật về quyền con người và kiến thức của các chuyên gia nước ngoài giảng dạy về lĩnh vực ngành mà tôi theohọc, tôi mới suy nghĩ nhiều về vấn đề dân tộc và ngôn ngữ của dân tộc Tày Đó chính là động lực giúp tôi tìm hiểu về dân tộc và ngôn ngữ Tày, tôi có đi tìm một số tài liệu về văn hóa và ngôn ngũ’ Tày Tôi viết về chủ đề ngôn ngữ dân tộc Tày, với tên gọi là: “ộỉ/yồt sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiêu số ở Việt Nam - qua trường hợp của dân tộc Tày” Nhiệm vụ của Luận văn là :
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý bảo đảm quyền sử dụng và tiếp cận ngôn ngữ của các dân tộc thiếu số ở Việt Nam, trong đó thề hiện rõ các khái niệm
về quyền con người, quyền cùa các dân tộc thiểu số, quyền sử dụng ngôn ngừ củacác dân tộc thiểu số, những bảo đảm thực hiện quyền sử dụng ngôn ngữ của các dântộc thiểu số, các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảmquyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
7
Trang 13Thứ hai, phân tích thực trạng bảo đảm quyên sử dụng ngôn ngữ cùa các dân tộcthiểu số ở Việt Nam, nghiên cứu trường hợp cùa dân tộc Tày, từ đó đưa ra các quan điểm
và giải pháp bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngũ’ của các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam và
đề xuất cụ thể đối với việc bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngũ’ của dân tộc Tày
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Phân tích thực trạng, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộcthiểu số ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu khảo sát là dân tộc Tày ở Việt Nam, vấn đề cốt lõi đượclựa chọn của các quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết để nghiên cúu và đề xuất giảipháp là quyền được bảo tồn và phát triến ngôn ngữ, trong thời kỳ hội nhập quốc tếngay cang sau rọng men nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cún cụ thế: phân tích , tổng hợp, khảo sát thực tế; phương pháp chuyên gia Do đặc điểm của chuyên ngành nghiên cúu là Pháp luật về quyền con người; Luận văn quan tâm đến phương pháp nghiên cúu liên ngành trong đó lấy trụ cột là khoa học pháp lý Đồng thời do tác giả là người dân tộc Tày, sinh
ra và lớn lên gắn bó trực tiếp với dân tộc này nên Luận văn quan tâm đến phương phápphản ánh những đặc điềm và yêu cầu, tâm tư trực tiếp từ trong cộng đồng dân tộc Tày
đế xem xét dưới giác độ nghiên cứu của một Luận văn khoa học
6 Ý nghĩa và những đóng góp mói của luận văn
Thứ nhất, Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý bảo đảm quyền
sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, những bảo đảm thực hiệnquyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, các quy định của pháp luật quốc
tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiếu số
8
Trang 14Thứ hai, phân tích thực trạng bảo đảm quyên sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, nghiên cứu cụ thể trường hợp cùa dân tộc Tày.
Thứ ba, trên cơ sờ phân tích về lý luận, pháp lý và thực tiền, Luận văn xây dựng các quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộcthiểu số ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Những đề xuất của Luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích choviệc hoặch đinh chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiếu số, mong sao đề tài được các nhà ngôn ngữ, dân tộc học và nhà nước quan tâm, ghi nhận sự tồn tại và sự đóng góp của dân tộc Tày vào kho tàng ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam Đồng thời hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy
và cho nhũng người quan tâm đến bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, phụ lục, danh mục tài
r F y
liệu tham khảo, Luận văn có kêt câu gôm hai chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ củacác dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng, quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền sử dụng ngônngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam - nghiên cứu trường hợp của dân tộc Tày
9
Trang 15Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM QUYỀN sử DỤNG NGÔN NGỮ
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái nỉệm quyền sử dụng ngôn ngũ ’ của các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ và quyền sử dụng ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
Theo ngành ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt vàquan trọng bậc nhất cũa loài người, ngôn ngừ là công cụ giao tiếp xà hội, có chức năng biểu cảm, thẩm mĩ, phản ánh văn hóa của dân tộc, thông qua ngôn ngừ, mỗimột dân tộc thể hiện được bản ngã của minh, ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của loài người, nó đảm bảo sự đa dạng về vãn hóa và giúp các nền văn hóa có sự giao thoa, trao đồi với nhau Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệunhất để bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, ngôn ngừ do con người quy ước, nó không tự nảy sinh, phát triển như các hiện tượng tự nhiên, nó mang tính kếthừa và phát triến, ngôn ngũ’ phụ thuộc vào ý thức của con người Ngôn ngữ mang tính chất chung của xã hội và của dân tộc Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói - là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày mà con người có thể nhậnbiết chủ yếu bằng thính giác; Và ngôn ngữ viết - được thể hiện bàng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bàng thị giác và xúc giác (Chữ Braille, đa số người mù
10
Trang 16đặc điêm địa lý, vùng miên, ở các vùng miên núi, hiện tượng song ngữ hay đa ngữ
là phố biến Dân tộc học nghiên cứu ngôn ngữ tộc người như là một giá trị văn hóađặc biệt Ngôn ngữ là một công cụ cơ bản cho cộng đồng các cá nhân
7.7.7.2 Khái niệm quyền sử dụng ngôn ngữ
Theo Điều 27 ICCPR, ở các quốc gia có các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôngiáo và ngôn ngữ, nhừng thành viên của các nhóm thiểu số đó, cùng với các thànhviên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hóa riêng,quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữriêng của họ Như vậy Điều 27 ICCPR đà ấn định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ các quyền liên quan đến bảo tồn phong tục tập quán, bảo tồnngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết); Bảo tồn tôn giáo, tín ngưỡng của các nhóm thiểu số Tất cả các khía cạnh này, thực chất chỉ nhằm vào một vấn đề chung là bảo tồn bản sắc theo nghĩa rộng nhằm chống sự đồng hóa của các nhóm thiểu số Quyền cũa các
cá nhân thuộc một nhóm thiểu số được sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng mình không đồng nhất với các quyền khác về ngôn ngữ được ghi nhận trong ICCPR Đặc biệt quyền này phải được phân biệt với quyền tụ* do ngôn luận nêu ở Điều 19.Quyền tự do ngôn luận ở Điều 19 áp dụng cho tất cả mọi người, bất kể họ thuộc nhóm thiểu số nào hay không, trong khi quyền về ngôn ngừ trong Điều 27 chỉ ápdụng với thành viên của các nhóm thiểu số cụ thể Quyền sử dụng ngôn ngữ thiểu
số trong Điều 27 cũng không đồng nhất với quyền sử dụng ngôn ngữ trước tòa án nêu ở Điều 14 (3, í) Theo Điều 14 (3, í), không phải bất cứ trường hợp nào cũng cho phép người bị buộc tội có quyền sử dụng ngôn ngữ họ lựa chọn trong quá trìnhxét xử, trong khi Điều 27 không giới hạn việc sử dụng ngôn ngữ thiếu số trong bất
kỳ môi trường nào (đoạn 5)[8] Bên cạnh Điều 27 1CCPR, Tuyên bố về quyền củanhũng người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chùng tộc, tôn giáo và ngôn ngữnăm 1992 là một văn kiện quan trọng về quyền của người thiểu số Văn kiện này cụthể hóa và mở rộng nội dung Điều 27 của ICCPR cả về phạm vi chù thể và nội hàmcác quyền, về mặt chủ thế, Điều 2 (khoản 1) Tuyên bố kể trên đề cập đến thành bốndạng người thiểu số: thiểu số về sắc tộc (ethnic), tôn giáo (religious), ngôn ngữ
11
Trang 17(linguistic) và dân tộc (national) (trong khi Điêu 27 ICCPR chỉ đê cập đên ba dạng đầu), về mặt nội hàm của quyền, các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 2 Tuyên bố bổ sung một
số quyền với nguời thiểu số, bao gồm: (i) quyền được tham gia vào đời sống chínhtrị, văn hóa, tôn giáo, xã hội, kinh tế cùa quốc gia; Và (ii) quyền thiết lập và duy trìcác mối quan hệ giữa các thành viên cũa nhóm mình và nhóm khác[8]
Khái niệm quyền sừ dụng ngôn ngữ là một khái niệm rộng hơn quyền dùngtiếng nói và chữ viết Quyền sử dụng ngôn ngữ là một trong nhũng quyền của conngười có ảnh hưởng đến việc lựa chọn hoặc sử dụng ngôn ngữ của các cơ quan nhà nước, mỗi cá nhân và một số nhóm số đối tượng khác Quyền sử dụng ngôn ngữ cóthể được mô tả như hàng loạt các nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc sử dụng một ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định; Hoặc không can thiệp việc cánhân, các nhóm riêng biệt lựa chọn, diễn đạt ngôn ngữ theo cách mình muốn Nó dẫn tới nghĩa vụ phải công nhận và ủng hộ việc sử dụng ngôn ngừ của các dân tộcthiểu số hoặc người bản địa[ 10]
Các tộc người ở Việt Nam hầu hết đều có ngôn ngữ riêng Hiện tượng songngữ hay đa ngữ là phổ biến
Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sổng trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc cóquyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục,tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sáchphát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” Để bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” Hiến pháp năm 2013 là kết quả của quá trình pháttriển nhận thức, tư duy của Đảng vả Nhà nước ta về quyền con người, phù hợp vớitiến trinh đổi mới của đất nước và bảo đảm nhất quán với các Điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta đã tham gia ký kết
12
Trang 181.1.2 Khái niệm dân tộc thiêu sô và quyên sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
1.1.2.1 Khái niệm dân tộc thiểu so
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý phồ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệcác cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc(omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và
tự do cơ bản của con người Tuy nhiên, tương tự như các nhóm xã hội dễ bị tốn thương khác, cần hiểu rằng người thiểu số cũng là chủ thể bình đẳng về các quyền con người, bình đẳng trước pháp luật, trong các quan hệ xã hội Quyền của nhóm này có liên quan mật thiết đến một số nội dung cơ bản của Tuyên ngôn toàn thế giới
về quyền con người của Liên Hợp quốc (LHQ), trong đó bao gồm: Điều 18 (về tự
do tôn giáo), Điều 19 (về tự do ngôn luận và ý kiến), Điều 20 (về tự do hội họp, lậphội), Điều 26 (về tự do lựa chọn hình thức giáo dục), Điều 27 (về tự do tham gia đời sống văn hóa của cộng đồng) và đặc biệt là Điều 2 (về nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền con người)[4] v.v
Khái niệm “dân tộc thiểu số” và “người thiểu số” (“minorities”) từ lâu đã trởthành một chủ đề gây tranh cãi trong giới luật gia quốc tế Từ trước đến nay, nhiềuđịnh nghĩa về người thiếu số đã được nêu ra, tuy nhiên, ba định nghĩa dưới đây có thể cho là tiêu biểu:
Định nghĩa thứ nhất được đưa ra bởi Tòa án Công lý quốc tế thường trực(“Permanent Court of International Justice” - PCIJ, cơ quan tài phán của Hội quốc liên) vào năm 1930, PCU xác định một cộng đồng thiểu số là: mợ/ nhỏm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điêm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tình thần và truyền thắng của chủng tộc họ”, Tuy nhiên, những thuộc tính được nêu ra trongđịnh nghĩa này là quá rộng, chạm đến mối lo ngại thường trực của các quốc gia về
13
Trang 19những răc rôi đôi với an ninh, trật tự xã hội có thê nảy sinh trong các vân đê liên quan đến người thiểu số Hội quốc liên chấm dứt vào năm 1939, nhưng khái niệm
về người thiểu số vẫn được tiếp tục ở diễn đàn tổ chức quốc tế mới thay thế Hộiquốc liên vào năm 1945, là Liên họp quốc
Định nghĩa thứ hai về người thiếu số được đưa ra bởi Francesco, báo cáoviên đặc biệt của Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số của LHQ, trong báo cáo nghiên cứu công bố vào năm 1977, chuyên gia này định nghĩa:
“ .một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốc gia,
có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm - mà đang là kiều dân của một nước - có những đặc trưng về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cư còn lại và chúng tỏ rất rõ ràng là có một ý thứcthổng nhất trong việc bảo tồn nền vãn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ ”. So với định nghĩa của PCIJ, địnhnghĩa thứ hai đà bổ sung hai thuộc tính mới, đó là về mặt số lượng, một nhóm được coi là thiểu số phải ít hon so với phần dần cư còn lại của quốc gia; về mặt vai trò, một nhóm được coi là thiếu số phải có vị thế yếu trong xã hội.
Một chuyên gia nữa là Giulơ Đexchênít (Jules Descheness) cũng làm việctrong Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số của LHQ đã đưa
ra định nghĩa về người thiểu số, không có sự khác biệt lớn so với định nghĩa của Francesco, ngoài thuộc tính bố sung đó là một nhóm người được coi là thiểu số phải
có một động cơ rô rệt trong việc sử dụng ý chí tập thê đê tồn tại và đạt được mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn
Thuộc tính bổ sung này, về mặt logic, tiếp tục hạn chế phạm vi những đối tượng được coi là người thiếu số Cũng chính vì thuộc tính bố sung này mà định nghĩa củaGiulơ Đexchênít bị ủy ban quyền con người (nay là Hội đồng quyền con người) của LHQ chỉ trích và bác bỏ [4]
Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù quyền của người thiểu số đã được khẳng định trong Điều 27 của ICCPR và Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về “người thiểu số” Điều này cho thấy tính chất phức
14
Trang 20tạp của vân đê người thiêu sô trên thê giới Trong thực tê, một sô văn kiện vê quyên con người cùa Châu Âu, cụ thể như Công ước Châu Âu về bảo vệ người thiểu số(Điều 2) hay văn kiện Copenhagen của tổ chức An ninh và Họp tác Châu Âu (Đoạn32) v.v, đã nêu ra định nghĩa chính thức về người thiểu số, song nhừng văn kiệnnày chỉ có hiệu lực trong phạm vi khu vực.
Mặc dù vậy, tồng hợp những thuộc tính được nêu trong các định nghĩa nêu trên cũng như từ nội dung các văn kiện quốc tế có liên quan đến vấn đề thiếu số, cóthể hiểu “người thiểu số” qua các đặc điểm cơ bản sau:
21 cũng đã khẳng định: “DTTS, cũng như những người thuộc DTTS, không chỉ có quyền có bản sắc riêng của họ mà còn có quyền phát triến trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa Bất kỳ chương trình nào hướng tới thúc đẩy sự hội nhập mangtính xây dựng của các DTTS và những người thuộc DTTS vào xã hội chung của
15
Trang 21một quôc gia thành viên cân dựa trên sự hòa nhập, tham gia và không phân biệt đôi
xử, nhằm bảo tồn bản sắc đặc trưng của các văn hóa thiểu số” [24]
Như vậy khái niệm “quyền của người DTTS” có thể được hiểu là quyền căn bản cùa con người thuộc nhóm DTTS ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, đó là quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử, quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, quyền được nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt để thoa mãn các nhu cầu trong cuộc sống
về cơ bản, pháp luật Việt Nam tuơng thích với Luật Nhân quyền quốc tế,nghĩa là chúng có nguyên tắc và tiêu chuẩn nền tảng giống nhau Bên cạnh đó vẫncòn có một số hạn chế, cụ thể về quyền của người thiểu số và bản địa: Việt Namkhông thừa nhận có người bản địa và khái niệm người thiểu số mới chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp (về sắc tộc) Hiện nay, nước ta sử dụng hai thuật ngữ “Dân tộc thiểu
số” và “Dân tộc thiểu số rất ít người”, theo nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 05tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, xác định “Dân tộc thiểu số
là những dân tộc có dân số ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xácđịnh rõ trong cộng đồng 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm 85,73% dân số là dân tộc
đa số; 53 dân tộc còn lại, chiếm 14, 27% là dân tộc thiểu số
7.7.2.2 Quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
Quyền sử dụng ngôn ngữ của người DTTS là một trong những quyền chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù và phản ánh rõ nhất những yếu tố “riêng biệt” trong các quyền con người của người DTTS Đảm bảo quyền sử dụng ngôn ngữ của người DTTS đã được pháp luật quốc tế và Việt Nam ghi nhận Đe thực hiện tốt hơn việcđảm bảo các quyền này, cần tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan nhà nước
Ngôn ngừ, nằm trong nội hàm văn hóa, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cómối quan hệ mật thiết với nhau, chúng không ở ngoài nhau, biệt lập với nhau, độc lập với nhau mà chúng hòa quyện vào nhau Tuy nhiên, các quyền này lại thực hiện,
cụ thể hóa khác nhau ở các quốc gia trên thế giới [3]
Điều 27 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (1CCPR) cũng ghi rõ:
Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những
16
Trang 22cá nhân thuộc các nhóm thiêu sô đó, cùng với những thành viên khác của cộng đôngmình, không bị khuớc từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền đuợc theo và thục hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
Riêng đối với người DTTS, Điều 2 Tuyên bố về Quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chúng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 quy định: Những người thuộc các nhóm thiêu sô vê dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngônngữ (dưới đây gọi là những người thuộc các nhóm thiểu số) có quyền:
- Hưởng nền văn hóa dưới hình thức riêng rẽ hoặc trong tập thể, một cách tự
do và không bị can thiệp hay bị bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào;
- Tham gia một cách tích cực vào đời sống văn hóa tôn giáo, xã hội, kinh tế
vậy, Bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ là những bảo đảm pháp lý quốc gia và quốc
tế đê thực hiện trong thực tế quyền con người về sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
Trong các quốc gia đa dân tộc, chính sách ngôn ngữ thường là một bộ phậnkhăng khít của chính sách dân tộc Vì vậy, các nguyên tắc chủ đạo trong vấn đề giải quyết dân tộc có sự chi phối lớn lao tới chính sách ngôn ngữ Tuy nhiên, từ thực tiễn giải quyết vấn đề ngôn ngữ của nhiều quốc gia trên thế giới, các nhà nghiên cứu
17
Trang 23đã đúc kêt ra một quy luật là, ở đâu chính sách ngôn ngữ được xây dựng trên cơ sởcùa thực tiễn cảnh huống ngôn ngữ thì ở đó chính sách ngôn ngữ sẽ có hiệu quả tích cực[6] Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến chính sách dân tộc nói chung và chính sách ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số nóiriêng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (3/1935), Đảng ta đã xác định: “Các dân tộc được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và vănhóa ” (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, trang 481) Nghị quyết của BCH TW lầnthứ tám năm 1941 cũng ghi rõ: “Vàn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm” Trong “Luận cương Cách mạng Việt Nam” do đồng chíTrường Chinh trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ hai (2/1951), Đảng ta tiếp tục cụthể hóa chủ trương: “Phát triển bình dân học vụ và phát triền văn nghệ dân tộc ở các vùng thiếu số, phố biến việc la tinh hóa tiếng nói của các dân tộc chưa có chữ viết
và đảm bảo việc dạy học bằng các thứ tiếng đó trong các trường dân tộc thiểu số[61 năm 1964, Ban Bí thư TW đã ra Chỉ thị số 84-CT/TW (3/9/1964) về: “Nhiệm vụcông tác giáo dục ở miền núi trong hai năm 1964-1965 và 1965-1966” trong đó nêurõ: “Sử dụng chữ dân tộc là nguyện vọng thiết tha của các dân tộc, cần nghiên cứu
về mặt khoa học, đồng thời mạnh dạn sử dụng rộng rãi ba thứ chữ Tày, Nùng, Mèo (H’Mong), Thái trên sách báo, trong cơ quan hành chính và đời sống hàng ngày.Chống tư tưởng coi thường chữ dân tộc, ngại khó, không mạnh dạn phát triến việc học và sử dụng chữ dân tộc Đi đôi với việc học tập chữ dân tộc, cần dạy chữ phổ thông ngay từ các lớp cấp 1 của thiếu niên và cả đối với người lớn tuổi Đảng đoàn
Bộ Giáo dục và Ban dân tộc trung ương cần phối hợp để chỉ đạo và rút kinh nghiệm
về vấn đề này Báo cáo chính trị Đại hội VI (12/1986) khẳng định: “Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở miền núi, thực hiện chủ trương dùng tiếng nói và chừ viết dân tộccùng với tiếng phổ thông” Nghị quyết Hội nghị ttrung ương lần thứ V, khóa VIIInhấn mạnh: “Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ các dân tộcthiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết của dân tộcmình” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (4/20001) khẳng định lại: “Ngoài tiếng
18
Trang 24phố thông, các dân tộc có chữ viết riêng được khuyến khích học chừ dân tộc”,
“Dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) và lần thứ XI (4/2011) tiếp tục khẳng định: “Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểuSố”f61 Năm 1945, nước Việt Nam Dân chú Cộng hòa ra đời, sau một năm nước ta
có bản Hiến pháp năm 1946
Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc cóquyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sác dân tộc, phát huy nhừng phong tục,tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sáchphát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” Đe bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”
Với chủ trương xây dựng nền văn hóa thống nhất, đa dạng trong cộng đồngcác DTTS Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển văn hóa các DTTS, Đảng và Nhà nước xác định, cùng với chăm lo phát triền kinh tế - xã hội (KTXH), bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, việc bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS vừa là nhiệm vụ cấp thiết, vừa có ý nghĩa chiến lược phải thực hiện kiên tri, lâu dài Chínhphủ đã phê duyệt các chính sách, đề án nhàm thực hiện hiệu quả việc bảo tồn, pháthuy và phát triển giá trị văn hoá DTTS đặc biệt là văn hoá DTTS rất ít người Ngày15-9-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1409/QĐ-TTg về việc Ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19-6-2020 củaQuốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia pháttriển KTXH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 trong đó lĩnh vực văn hoá nhấn mạnh tập trung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt
19
Trang 25đẹp của các DTTS gãn với phát triên du lịch và đặc biệt quan tâm đâu tư phát triênnhóm DTTSRIN, nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới” Qua đó tuyên truyền vận động để các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam hiểu về nhau, gần gũi tương
hỗ giúp đỡ cùng phát triền kinh tế, vàn hóa, xã hội đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân Tạo điều kiện để nhân dân tham gia và phát huy vai trò làm chú trong công cuộc xây dựng đời sống vãn hóa mới, góp phần nâng cao mức hưởng thụvăn hóa của người dân vùng DTTS và miền núi
Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chừ viết, tậpquán, tín ngường, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS được thực hiện hiệu quả trong thời gian qua Tuyên truyền, vận động đòng bào DTTS từng bước hạn chế tiến tới xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.Nhiều lễ hội truyềnthống lành mạnh được phục hồi, phát triển và hình thành mới, góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Việc triển khai “Dự án bảo tồn, phát huy giá trị làng truyền thống các DTTS” vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa tạo nên mô hình hiệu quả, thiết thực, đem lại lợi ích trên nhiều mặt của đời sống KTXH, văn hóa tạivùng đồng bào DTTS trên cả nước Mở các lóp truyền dạy văn hóa truyền thống phivật thể của DTTS có số dân rất ít người như: Bố Y, Pu Péo, ơ Đu, Brâu, Rơ Măm,Mảng, Cống, Lô Lô, Chứt, Si La v.v, tại các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An,Kon Turn, Điện Biên, Lào Cai, Thái Nguyên, Quảng Bình v.v Các lớp này dochính các nghệ nhân - chủ thể của văn hóa các dân tộc, người nắm giữ kho tàng vănhóa phi vật thể trực tiếp tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ Đây chính là một trong các hình thức hiệu quả đem lại có sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc nâng cao ý thức
tự giác giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dântộc mình
Tại các địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống đã gắn bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa các DTTS với phát triến du lịch bền vững, giúp ngườidân giảm nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển KTXH tại địa phương nơi sinh sống(Dân tộc Xtiêng, Chăm, Ba Na, Cơ Ho, Mnông, Ê Đê, Vân Kiều, Khơ Mú, Mường,
20
Trang 26Thái, Mông v.v) Ngôn ngữ, chữ viêt dân tộc được quan tâm bảo tôn, phát huy với nhiều hình thức như biên soạn, xuất bản sách theo tiếng dân tộc; Lập hồ sơ khoahọc về ngôn ngũ1: “Chữ Nôm cùa người Dao”, “Chữ Nôm của người Tày”, “Chừ viết
cổ của người Thái”, “Nói lý, hát lý của người Cơ Tu” đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Đã có 62.283 di sản vàn hóa phi vật thể của 63 tỉnh,thành phố được kiểm kê, 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (trong đó, có 145/288
di sản của các DTTS, chiếm hơn 50% tổng số di sản); 05 di sản thuộc loại hình tiếngnói, chữ viết Trong giai đoạn từ 2016-2020, đã có 3 di tích quốc gia đặc biệt, 8 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh liên quan đến đồng bào DTTS được xếp hạng ditích quốc gia; có 126 di sản văn hóa phi vật thể, 276 nghệ nhân ưu tú là ngườiDTTS
Các kêt quả trên đà tác động tích cực đên các chiêu, cạnh của các môi quan hệdân tộc, trong đó có vai trò của văn hóa, góp phần tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Đại bộ phận đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đường lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật cùa Nhà nước[23]
Nội dung cơ bản về quyền con người theo qui định của Công ước quốc tế vềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966 đã đề cập những vấn đề
cơ bản như: Quyền lao động; Quyền được hưởng an sinh xã hội; Quyền được hưởng
và duy tri tiêu chuẩn sống thích đáng; Quyền được chăm sóc sức khỏe về thể chất
và tinh thân ở mức độ cao nhât có thê; Quyên vê giáo dục; Quyên được hưởng các thành tựu khoa học và Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa về Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, năm 2009, ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa đã thông qua Binh luận chung sô 21 vê Quyên tham gia vào đời sông văn hóa,trong đó, ủy ban đã giải thích những khái niệm căn bản về “Văn hóa”, “đời sốngvăn hóa” cũng như các khía cạnh của quyên được tham gia vào đời sông văn hóa và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên để đảm bảo quyền này, cụ thể, trong Đoạn 13,Binh luận chung sô 21 vê quyên tham gia vào đời sông văn hóa của Uy ban vê quyền kinh tế, xã hội và vãn hóa năm 2009 đã nêu: “Văn hóa, bao gồm những lốisống, ngôn ngữ, văn học truyền miệng và viết, âm nhạc và bài hát, các hinh thức
21
Trang 27giao tiếp không lời, tôn giáo hay các hệ thống tín ngưỡng, nghi thức và nghi lễ, thểthao và các trò chơi, phương thức sản xuất hay công nghệ, môi trường tự nhiên vànhân tạo ẩm thực, trang phục và nơi sinh sống, nghệ thuật, phong tục và truyềnthống mà qua đó các cá nhân, nhóm người và cộng đồng thể hiện tính nhân văn và ý nghĩa cảu sự tồn tại cũa họ, cũng như xây dựng thế giới quan thể hiện sự tương tác vớicác thế lực bên ngoài có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ văn hóa hình thành và phản chiếu các giá trị của hạnh phúc và đời sống kinh tể, xã hội và chính trị của các cá nhân,nhóm người và cộng đồng”[3].
Ở Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước năm 1975, các quyền kinh tế, xã hội vàvăn hóa đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1982, với tinh thần “tậntâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tiến hành nội luật hóa các quy định của Công ước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ quyền con người Ớ ViệtNam, Hiến pháp năm 2013 đã có bước tiến quan trọng liên quan đến vấn đề quyền con người so với các Hiến pháp trước đó Lần đầu tiên, trong Hiến pháp đà dành hắn mộtchương (Chương II, tù’ Điều 14 đến Điều 49), ngay sau chương I về Chế độ chính trị, để qui định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm cả cácquyền dân sự - chính trị Tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định:
“7 Ờ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chỉnh trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2 Quyển con người, quyền công dãn chỉ có thế bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lỷ do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng ” [3]
Hiến pháp năm 2013 bồ sung rất nhiều quyền về dân sự, chính trị: quyền sống,quyền không bị tra tấn, đánh đập, xúc phạm nhân phẩm, quyền xác định dân tộc, quyền
sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, quyền về môi trường v.v
Có thể nói, Chương II Hiến pháp năm 2013 đã bao quát khá đầy đủ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong Luật Nhân quyền quốc tế [9J
22
Trang 28Thông qua các quy định pháp luật và các chính sách, Việt Nam đã đạt đuợc nhiều thành tựu trong việc bảo vệ và thục thi các quyền kinh tế, xã hội và vãn hóa Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được, Việt Nam vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn, trong đó có nhũng khó khăn xuất phát tù’ một số quy phạm pháp luật, tù’ nhận thức của
bộ phận thực thi pháp luật.v.v Đứng trước tình hình đó, Việt Nam cần có chính sách
và chiến lược lâu dài để khắc phục tình trạng trên nhàm bảo đảm tốt nhất các quyền con người ở Việt Nam nói chung và quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói riêng [3]
1.2 Pháp luật quốc tế và pháp luật việt Nam về bảo đảm Quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiếu số
7.2.7. Pháp luật quốc tế báo đảm Quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu sắ
Quyền của các dân tộc thiều số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương được ghi nhận trong nhiều vãn bản pháp luật quốc tế quan trọng Đó không phải là những đặc quyền, mà nó được quy định đề tạo điều kiện cho các dân tộcthiểu số có thể bảo tồn những bản sắc, đặc trưng và truyền thống của họ.Các quyền
đó chỉ quan trọng trong việc bảo đảm sự đối xử bình đẳng[12]
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc (ƯDHR) năm 1948 có ghi: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” - (Điều 2) và Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và chính trị (viết tắt là ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước cónhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cánhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với nhữngthành viên khác của cộng đồng mình, không thế bị tước bỏ về quyền được thụhưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” - (Điều 27) Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền dân tộc thiểu số được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền các quyền dân sự, chính trị đó
Bên cạnh ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, luật pháp quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm cho các cá
23
Trang 29nhân thuộc các nhóm dân tộc thiêu sô quyên được hưởng nên văn hóa, ngôn ngữtrong các điều kiện đặc thù của mình.
Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồntại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý cùa họ và khuyến khích những điều kiện đểthúc đẩy bản sắc đó; Các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và nhữngbiện pháp thích hợp khác đề đạt được những mục tiêu này” - (Điều 1) Đây là văn kiện riêng biệt duy nhất của LHQ đề cập đến các quyền đặc biệt của người thiểu số.Tuyên bố sau khi quy định bảo đảm một sự cân bằng giừa các quyền của nhữngngười thuộc các nhóm thiểu số được duy trì, phát triển bản Sắc và những đặc trưngcủa họ cùng những nghĩa vụ tương ứng của các quốc gia, đã đề cập đến việc bảo vệ
sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập về chính trị của các quốc gia Các nguyên tắc được ghi nhận trong Tuyên bố được áp dụng cho những người thuộc các nhóm thiếu sốnhằm bổ sung cho các quyền con người đã được thừa nhận rộng rãi và đã được bảo đảm trong các văn kiện quốc tế khác
Các vãn kiện khu vực ghi nhận những quyền đặc biệt của người thiểu số bao gồm Công ước khung về bảo vệ người dân tộc thiểu số, Hiến chương Châu Âu vềcác ngôn ngừ thiếu số và khu vực, Văn kiện của Hội nghị Copenhagen về vị thế củacon người (Tổ chức An ninh và hợp tác Châu Âu - OSCE) V.V Theo đó, pháp luậtquốc tế quy định quyền của các dân tộc thiểu số gồm các quyền sau:
* Được các quốc gia bảo vệ cuộc sống và những đặc trưng về dân tộc, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ
* Có những quyền hưởng thụ đời sống văn hóa, thể hiện và thực hành tínngưỡng riêng của họ cũng như sử dụng ngôn ngừ của riêng họ trong đời sống riêng
tư cũng như công cộng
* Có quyền tham gia vào đời sống công cộng và các hoạt động văn hóa, tôn giáo, kinh tế, xã hội
* Có quyền tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng tới họ ở cấp độ quốcgia và khu vực
24
Trang 30yr 9
* Có quyên thiêt lập và duy trì những tô chức riêng của họ
* Có quyền thiết lập và duy trì các mối quan hệ hòa bình với các thành viên khác của nhóm họ và của nhũng người thuộc các nhóm thiểu số khác, cả trong
phạm vi quôc gia và ngoài biên giới quôc gia
Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa có vị trí quan trọng trong hệthống quyền con người, được đề cập trong Điều 27 của UDHR 1948 sau đó được cụ thể hóa trong Điều 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóaICESCR 1966 Nhăm góp phân cụ thê hóa các quy định trên, nãm 2009, Uy ban vêquyền kinh tế, xã hội và văn hóa đà thông qua Bình luận chung số 21 về quyền tham gia vào đời sống văn hóa, trong đó ủy ban đã giải thích những khái niệm cănbản về “văn hóa” và “đời sống văn hóa”, “tham gia vào đời sống văn hóa” cũng nhưcác khía cạnh cũa quyên tham gia vào đời sông văn hóa và nghĩa vụ của các quôcgia thành viên để đảm bảo quyền này, cụ thể là:
Văn hóa “bao gồm những lối sống, ngôn ngữ, văn học truyền miệng và viết,
âm nhạc và bài hát, các hình thức giao tiếp không lời, tôn giáo hay các hệ thống tín ngưỡng, nghi thức và nghi lễ, thể thao và các trò chơi, phương thức sản xuất haycông nghệ, môi trường tự nhiên và nhân tạo ẩm thực, trang phục và nơi sinh sống, nghệ thuật, phong tục và truyền thống mà qua đó các cá nhân, nhóm người và cộngđồng thế hiện tính nhân vãn và ý nghĩa của sự tồn tại của họ, cũng như xây dựng thếgiới quan thể hiện sự tương tác với các thế lực bên ngoài có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Văn hóa hình thành và phản chiếu các giá trị của hạnh phúc và đời
25
Trang 31sống kinh tế, xã hội và chính trị của các cá nhân, nhóm người và cộng đồng người”
- (Trích Đoạn 13, Bình luận chung số 21 về quyền tham gia vào đời sống văn hóacủa ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 2009)
ĩ.2.2 Pháp luật việt Nam bảo đảm Quyên sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiêu sô
Chủ trương, đường lối của Đảng đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số: Ngay
từ những năm đầu lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hếtsức quan tâm đến chính sách dân tộc nói chung, chính sách ngôn ngũ’ của các dântộc thiểu số nói riêng Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (3/1935) Đảng ta
đã xác định: “Các dân tộc., được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chínhtrị, kinh tế và văn hóa ” Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám năm 1941 ghi rõ: “Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm” Theo dồi các văn kiện của Đảng, chúng ta thấy rằng, đường lối chỉ đạo này được quán triệt xuyên suốt từ đó đến nay Như trong “Luận cương Cách mạng Việt Nam” do đồng chíTrường Chinh trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ hai (2/1951), Đảng ta tiếp tục cụthể chù trương: “Phát triển bình dân học vụ và phát triển văn nghệ dân tộc ở cácvùng thiểu số, phổ biến việc la tinh hóa tiếng nói cùa các dân tộc chưa có chữ viết
và đảm bảo việc dạy học bằng các thứ tiếng đó trong các trường của dân tộc thiếu
số năm 1964, Ban Bí thư Trung ương đã ra chỉ thị số 84-CT/TW (03/9/1964) về
“Nhiệm vụ công tác giáo dục ở miền núi trong hai năm 1964-1965 và 1965-1966”,trong đó nêu rõ: “Sử dụng chữ dân tộc là nguyện vọng thiết tha của các dân tộc, cần nghiên cứu về mặt khoa học, đồng thời mạnh dạn sử dụng rộng rãi ba thứ chữ Tày- Nùng, Mèo, Thái trên sách báo, trong cơ quan hành chính và trong đời sống hàngngày Chống tư tưởng coi thường chữ dân tộc, ngại khó, không mạnh dạn phát triểnviệc học và sử dụng chữ dân tộc Đi đôi với việc học tập chữ dân tộc, cần dạy chữ phổ thông ngay từ các lớp cấp I của thiếu niên và cả đối với người lớn tuối Đảng đoàn Bộ Giáo dục và Ban dân tộc Trung ương cần phối hợp để chỉ đạo và rút kinhnghiệm về vấn đề này” Báo cáo chính trị Đại hội VI (12/1986) khẳng định: “Đẩy
26
Trang 32mạnh sự nghiệp giáo dục ở miên núi, thực hiện chú trương dùng tiêng nói và chữviết dân tộc cùng với tiếng phổ thông” Nghị Quyết Hội nghị Trung ương lần thứ V, khóa VIII nhấn mạnh: Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu
số Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngừ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻthuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếngnói, chữ viết của dân tộc mình” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) khẳng định lại: “Ngoài tiếng phồ thông các dân tộc có chữ viết riêng được khuyếnkhích học chữ dân tộc”, “Dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc” Gần đây,các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) và lần thứ XI (4/2011), Đảng tatiếp tục khẳng định: “Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trịvăn hóa, ngôn ngữ, chừ viết các dân tộc thiểu số” [6]
Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền văn hóa về cơ bản được xây dựng hoànthiện trên cơ sở thực tiễn tình hình phát triển kinh tế - xã hội cùa đất nước, đồngthời bảo đảm phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc thamgia Bên cạnh đó, Chính phú Việt Nam không ngừng xây dựng và triển khai cácchương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa nhằm đáp úng nhu cầu đời sống tinhthần ngày càng cao của người dân; khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển cho lĩnh vực văn hóa; bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, nhất là của các dân tộc thiều số, trong đó có bảo tồn tiếng nói và chữ viết
Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam làquốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngừ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc cóquyền dùng tiếng nói, chữ viết, giừ gìn bản sắc dân tộc, phát huy nhừng phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sáchphát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các DTTS phát huy nội lực, cùng pháttriển với đất nước” Để bảo đảm các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ,
27
Trang 33lựa chọn ngôn ngữ giao tiêp” Hiên pháp năm 2013 là kêt quả của quá trình pháttriển nhận thức, tư duy của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, phù hợp vớitiến trinh đổi mới của đất nước và bảo đảm nhất quán với các Điều ước quốc tế vềquyền con người mà nước ta đã tham gia ký kết.
Nước ta là một nước đa dân tộc, các dân tộc ở nước ta sinh sống trong nhữngvùng có hoàn cảnh địa lý tự nhiên không giống nhau Các dân tộc cộng cư với nhautrong những vùng khác nhau, môi trường địa lý và môi trường nhân văn khác nhau
đó làm cho các dân tộc trong từng vùng trải qua quá trình giao lun vàn hóa lâu đời
có những sắc thái địa phương mà ta không thề không quan tâm, vùng Đông bắc cógiao lưu văn hóa của các dân tộc người Tày, Nùng, Dao, Việt; Vùng Tây bắc có bảnsắc và giao lưu văn hóa của các dân tộc nói tiếng Thái, Mông, Việt, Mường, Khơ
Me, Mianma v.v, việc nghiên cứu và giao lưu văn hóa theo từng vùng cho phép ta tìm hiểu được kỹ càng hơn văn hóa tộc người, từ đó có cách xử lý tốt hơn mối quan
hệ giữa văn hóa và phát triển [2]
Trong sự phát triến giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, đối với dân tộc ở vùng rẻo cao và vùng căn cứ cách mạng trước đây còn gặp nhiều khó khăn, việc bảo tồnbản sắc đối với của các dân tộc này không dễ dàng Trải qua thời gian, việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là quá trình đồng hóa dân tộc Ờ nước ta, cơ bản là sự đồng hóa tự nhiên, đồng hóa ở đây không chỉ dân tộc có số dân đông hơn đồng hóa một bộ phận dân tộc có số dân ít hơn mà còn có trường hợp một bộ phận dân tộc đa
số bị dân tộc thiểu số đồng hóa Ví dụ như cư dân ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An (Cao Bằng) hiện nay chủ yếu là con cháu của các quan lại họ Lê, nay tiếp thu văn hóa Tày v.v Ở Việt nam ít nói đến sự đồng hóa dân tộc bằng biện pháp cưỡng bức Tuy nhiên, thời kỳ nhà nước đưa ra chủ trương xây dựng “chế độ mới xã hội chủ nghĩa” với chủ thể là “con người mới xã hội chủ nghĩa” thì nhà nước cũng đồng thời chủ trương phá bỏ các phong tục tập quán bị cho là “bảo thủ lạc hậu” để “xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa” Vi vậy, rất nhiều thứ thuộc về văn hóa truyền thống của dân tộc Tày bị phá bỏ, những người hoạt động tín ngưỡng sè bịloại trừ, những ông Tảo, bà Pửt, Then v.v, đều bị cho là những kẻ gieo rắc mê tín dị
28
Trang 34đoan làm u mê dân chúng, cho nên họ đêu bị băt và đem đi đên các “trại cải tạo” đê học tập, họ phải viết bản kiểm điểm và phải lên tiếng tự phỉ báng những việc họ đã từng làm, sau đó họ phải viết giấy cam kết là không bao giờ hành nghề mê tín nữa, còn các sách và dụng cụ hành nghề thì bị mang ra đốt [11] Việc này khác gì thựchiện việc đồng hóa toàn diện giữa dân tộc lớn với dân tộc nhở một cách hợp pháp.Những ông Tảo, bà Pửt, Then., khi hành nghề đều có những cuốn sách, sách đókhông phải chỉ có giá trị cúng bái (tín ngường của người Tày), mà sách còn có giátrị văn học mang tính nhân văn rất cao, ví dụ như Trường ca “Khảm hải” (Vượt biển) dài 650 câu, được hát ở các đêm Then và Pửt, tác phẩm “Khảm hải” đã đượcđưa vào giảng dạy trong nhà trường, may mắn là các khúc ca này vẫn có nhiềungười lúc đó thuộc nên đã được sưu tầm và ghi chép lại.[ 11]
Chủ nghĩa Mác - Lênin lên án hiện tượng đồng hóa cưỡng bức Đảng và Nhà nước ta không bao giờ chủ trương một sự đồng hóa như vậy Tuy nhiên, một số cán
bộ các ngành, các cấp địa phương, do tư tưởng chủ quan nóng vội, cố tình hay vôthức đã có một số việc làm trên thực tế là sự cưỡng bức về thực chất Như ở TâyNguyên, để xúc tiến việc giải thể nhà dài, có nơi đề ra chủ trương cấp đất cấp ràngcho từng hộ gia đình Ở Thừa Thiên - Huế, có cuộc vận động đồng bào thiểu số bởnhà sàn để ở nhà đất v.v Những biện pháp cường bức như vậy cần được loại bỏ,
vì nếu không, trong mối quan hệ giữa các dân tộc có lúc phải trả giá [2]
Từ thời kỳ đôi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong xâydựng hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó có quyền được tham gia vào đời sống văn hóa nói chung và quyền sử dụng ngôn ngữ của DTTS nói riêng Các quy định của pháp luật Việt Nam là phù hợp và tương thích với Luật Nhân quyền quốc tế, đồng thời thểhiện nhất quán quan điểm của Đảng, Nhà nước: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp
đờ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc Tuy nhiên, việc bảo đảm uyền của các dân tộc thiểu số Việt nam hiện nay vẫn nổi lên những thách thức như: năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là vùng dân tộc thiểu số còn bất cập; Trình độdân trí, ý thức pháp luật của người dân tộc thiếu số còn hạn chế Bên cạnh đó, một
29
Trang 35sô thê lực thù địch thường xuyên lợi dụng tình hình khó khăn, sự chưa hoàn thiện cùa hệ thống pháp luật vu cáo, vu cáo, xuyên tạc về vấn đề dân tộc; Tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết, gây mát ổn định chính trị xã hội ở vùng đồng bào dân tộcthiểu số Do vậy, việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số theo tinh thần HiếnPháp 2013 là vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu lý luận, xây dựng, thực thipháp luật ở Việt Nam hiện nay [12]
1.3 Nội dung và đặc điểm cơ bản bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Việt Nam
1.3.1.1 Nghiên cứu quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam được xem xét trên các khía cạnh đó là: quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử,quyền được giữ gìn bản sắc văn hóa, Công dân có quyền xác định dân tộc của mình,
sử dụng ngôn ngừ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, quyền được nhà nước hồ trợphát triển
- Quyền bình đắng không bị phản biệt đối xử:
Tương ứng với các nội dung các Điều 26, 27 ICCPR, Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộcbỉnh đẳng, đoàn kết, tôn tọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành
vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triềntoàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”; Điều 16 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không
ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xãhội”.Điều này được hiểu là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bỉnh đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau Điều 27 quy định: “Công dân đủ mười tám tuối trở lên có quyền bầu cử
30
Trang 36và đủ hai mươi môt tuôi trở lên có quyên ứng cử vào Quôc hội, Hội đông nhân dân.Việc thực hiện các quyền này do luật định”.
Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thểchế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75 Hiến pháp 2013) Theo chế địnhnày, Hội đồng Dân tộc do Quốc hội bầu ra, bên cạnh các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan của Quốc hội, Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu vàkiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc, giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồngbào dân tộc thiểu số Chú tịch Hội đồng Dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về thực hiện chính sách dân tộc Chính phủ có trách nhiệm tham khảo ý kiến Hội đồng Dân tộc trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc Đe hỗ trợ Chính phủ trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về các vấn đề dân tộc, có một cơ quan chuyên trách cấp bộ là Ưỷ ban Dân tộc
Ngoài ra, quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được tái khẳng định và cụthế hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, cụ thể Luật Quốc tịchViệt Nam năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (các Điều 4, 21), Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2004 (Điều 20), Luật Tố tụng hành chính 2010 (Điều 22) quy định
về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trinh tiến hành tố tụng chính lànhững quy định bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng cùa mọi công dân trước pháp luật và Toà án Đó cũng là điều kiện đế họ
có thế biểu đạt được hết những suy nghĩ, biện minh cho hành vi vi phạm của mình
và cũng là điều kiện để cơ quan và người tiến hành tố tụng có căn cứ xác định được
sự thật khách quan của vụ án, từ đó áp dụng pháp luật một cách chính xác nhất trong việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệquyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng
31
Trang 37nhân dân năm 2015 (Điêu 8, Điêu 9) quy định vê sự tham gia bình đăng cúa các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND
■ Quyền giữ gìn bản sắc văn hóa
Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”; Điều 41: “Mọi nguời có quyền huởng thụ và tiếp cận các giátrị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ
mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” Đây chính là sự khẳng định một quyền đặc thùcủa các nhóm thiểu số về dân tộc, đó là quyền được giữ gìn bản sắc văn hóa củacộng đồng
Trong nhiều văn bản pháp luật trong đó có Bộ luật Dân sự năm 2005 (các Điều 4, 5, 30, 31) quy định về việc bảo vệ các quyền nhân thân, quyền xác định dân tộc, quyền văn hóa của các đân tộc và quyền kết hôn giữa người các dân tộc Đe bảotồn và thúc đẩy đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, Thủ tướng Chínhphủ đã ra Chỉ thị số 39 (1998) về đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi
và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chỉ thị này yêu cầu các cơ quan nhà nước vàchính quyền địa phương tập trung thực hiện mục tiêu nâng cao mức hưởng thụ văn hóa - thông tin cho đồng bào sống ở vùng cao, biên giới, vùng khó khăn, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dântộc thiểu số, sưu tầm, nghiên cứu, khai thác và giới thiệu, có kế hoạch bảo tồn cáccông trình, địa chỉ văn hóa có giá trị tiêu biểu ở vùng các dân tộc thiểu số (như chùa, tháp, nhà rông, nhà dài, nhà sàn, các làng, bản có nghề thù công truyềnthống ) và các di sản văn hóa có giá trị khác
■ Quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt
Hiến pháp năm 2013 không chi đưa ra quy định về trách nhiệm của Nhànước trong việc giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiếu số, mà quan trọng hơn là Nhànước tạo điều kiện đế các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất
32
Trang 38nước Đây là tư duy mới ghi nhận và khăng định sự vươn lên của đông bào dân tộcthiếu số chứ không phải chỉ là trông chờ vào sự giúp đờ cùa Nhà nước.
Điều 58 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xà hội đầu tư phát triển
sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cùa nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàndân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”; Điều 60 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dụng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa vãn hóa nhânloại”, Điều 61 quy định: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo,vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ” Luật Giáo dục năm 2005 (các Điều 61, 82) quy định về việc Nhà nướcthành lập các trường phố thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học chocon em dân tộc thiều số và chính sách luân chuyền cán bộ quản lý giáo dục công tác
ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật Khám chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách củaNhà nước về khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được uu tiên bố tríngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân
Trách nhiệm quan trọng của Nhà nước là xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách thuận lợi đế đồng bào có điều kiện được phát triển, phát huy nội lực củaminh vươn lên toàn diện Đó là điều căn cơ, lâu dài, bởi chỉ khi nào đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ cuộc sống của mình thi mới có binh đẳng thực sự
Như vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đà tiệm cận với sự bình đẳng trên thực tế giữa các dân tộc ở Việt Nam, dần thoát khỏi tư tưởng trông chờ sự giúp đỡ của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, là điều kiện để từng bước xoá bỏ khoảng cánh về phát triển giữa các vùng, các dân tộc
ỉ 3.1.2.Quyền giảo dục và quyền ngôn ngữ là một nội dung cơ bản của quyền Văn hỏa các dân tộc • •thiểu số Việt Nam
Theo các diễn đàn LHQ về các vấn đề các vấn đề DTTS, các nhóm thiếu số ở tất cả các khu vực trên thể giới bị ảnh hưởng không tương xứng trong ứng xử về
33
Trang 39giáo dục và văn hóa Một diễn đàn được thành lập bởi Hội đồng nhân quyền vào tháng 9/2007, đã đưa ra các Khuyến nghị đầu tiên kêu gọi một chiến lược giáo dục hiệu quả cho các nhóm thiểu số dựa trên các nguyên tắc bình đẳng và không phânbiệt đối xử Thuật ngữ dân tộc thiểu số dùng để chỉ các dân tộc thiểu số hoặc quốcgia, tôn giáo và ngôn ngừ, như được nêu trong Tuyên bố thiếu số của LHQ Hơn
400 người tham gia bao gồm các quốc gia thành viên LHQ, các tổ chức phi chínhphủ, cơ quan LHQ và các chuyên gia giáo dục từ các nhóm thiểu số đã tham giadiễn đàn Cao ủy nhân quyền Navi Pillay nói với diễn đàn rằng việc thúc đấy và hảo
vệ giáo dục là một công cụ không thê thiếu đê đạt được nhiều quyền khác, cho dù là dân sự, vãn hóa, kinh tế, chỉnh trị hay xã hội, đặc biệt là đổi với các nhóm thiểu số.
Theo Luật Nhân quyền quốc tế, giáo dục là quyền con người không thể thayđối, không phải là hàng hóa hay dịch vụ đơn thuần, mà đó là “quyền trao quyền”.Bà Gay McDougall, chuyên gia độc lập về các vấn đề dân tộc thiểu số, đã nói trong diễn đàn rằng, ở tất cả các khu vực, trẻ em dân tộc thiểu số trên thế giới bị ảnhhưởng không tương xứng khi tiếp cận không công bằng với giáo dục chất lượng, do
đó, đã cưóp đi tiềm năng con người đầy đủ của họ và khả năng đóng góp đầy đủcho cộng đồng của chính họ và cho xã hội rộng lớn hơn
Các Khuyến nghị của diễn đàn đặt ra các nguyên tắc cốt lõi để thực hiện quyền giáo dục cho người thiểu số trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử.Họ tập trung vào các yêu cầu thiết yếu cho một chiến lược giáo dục hiệu quả, tiếp cận bình đẳng với giáo dục chất lượng cho người thiểu số, môi trường học tập,nội dung và phân phối chương trình giảng dạy
Diễn đàn kêu gọi các chính phủ nên tiếp cận giáo dục các nhóm thiểu số theo tinh thần tích cực Họ nên xem xét lại, ban hành và sửa đổi luật pháp khi cần thiết
để khẳng định quyền giáo dục cho tất cả mọi người, xóa bỏ phân biệt đối xử và đảmbảo chất lượng giáo dục cho tất cả các thành viên của DTTS
Diễn đàn cũng gợi ý thêm rằng các dịch vụ giáo dục nên tiếp cận cộng đồngthiểu số, bao gồm cả người lớn trong cả nước và đủ để giải quyết nhu cầu của
34
Trang 40họ.Chính phủ cũng phải đảm bảo răng các dịch vụ giáo dục cho người thiêu sô cóchất lượng tương đương với giáo dục quốc gia.
Diễn đàn cung cấp một nền tảng để thúc đẩy đối thoại và họp tác về các vấn
đề thiếu số Nó cũng xác định và phân tích các thực tiễn, thách thức, cơ hội và sáng kiến tốt nhất để tiếp tục thực hiện Tuyên bố thiểu số cùa LHQ
Trong hầu hết các trường hợp, thiểu số là một bộ phận dân số nhỏ hơn DTTS thường có ý thức mạnh mẽ về bản sắc tập thể và có các đặc điểm dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ riêng biệt khác với dân số đa số.Tất cả các quốc gia có mộthoặc nhiều nhóm thiểu số trong lãnh thổ quốc gia của họ Một dân tộc thiểu số sống cùng nhau trong các khu vực được xác định rõ ràng, trong khi những người khác sống rải rác trong cả nước
Quyền ngôn ngữ của nhóm thiểu số sử dụng ngôn ngữ thiếu số
Một Báo cáo viên đặc biệt về các vấn đề thiều số được giao nhiệm vụ cùngvới việc thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố dành cho người thiểu số, trong đó baogồm rõ ràng về Quyền của những người thuộc nhóm thiểu số ngôn ngữ.Trong mối liên hệ này, vào nãm 2013, Rita Izsák-Ndiaye, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên hợp quốc (lúc đó là Chuyên gia độc lập) về các vấn đề thiểu số, đã trình bày báo cáothường niên của mình cho Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc tập trung vào những thách thức và quyền của các nhóm ngôn ngữ thiểu số ( A / HRC / 22/49) Trong báo cáo đó, Báo cáo viên đặc biệt bày tở lo ngại rằng những thách thức đốivới việc thụ hưởng các quyền của các dân tộc thiều số ngôn ngữ đang tồn tại ở tất cả các khu vực Chúng bao gồm những hạn chế về cơ hội dành cho người thiểu số ngônngữ để học và được giáo dục cho con cái họ bằng ngôn ngữ thiểu số, cũng như nhữnghạn chế về việc sử dụng ngôn ngừ thiểu số trong đời sống công cộng và các phương tiện truyền thông Bà cảnh báo rằng trên toàn cầu, nhiều ngôn ngừ thiểu số đang bị đedọa suy giảm hoặc biến mất đáng kể do các yếu tố như sự thống trị của các ngôn ngữ quốc gia và quốc tế, quá trình đồng hóa và sự sụt giảm số lượng người sử dụng ngôn ngữ thiểu số Bà đã xác định và thảo luận về chín lĩnh vực quan tâm:
35