Người Mường có một nguồn truyện thơ (còn gọi là truyện kể bằng thơ) rất đa dạng và hấp dẫn. Trong không gian văn hóa của dân tộc Mường, truyện thơ phổ biến rộng rãi từ mường trong đến mường ngoài, trong đó tập trung là địa bàn trung tâm hiện nay của người Mường, bao gồm những mường gốc trên vùng đất phía Nam tỉnh Hòa Bình, phía Bắc tỉnh Thanh Hóa. Trong số các truyện thơ Mường đã được sưu tầm, công bố phổ biến, nổi tiếng nhất là các truyện thơ: Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm chàng Bồng Hương, Nàng con Côi. Phần lớn những câu chuyện đều lấy môi trường tự nhiên, địa danh, những phong tục, tập quán ở các bản mường miền núi Thanh Hóa làm “nền” cho cốt truyện. Giao tiếp, ứng xử của các nhân vật trong truyện đều mang phong cách của người Mường gốc xứ Thanh.
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN Môn: Văn học dân gian Việt Nam
Đề bài: Tóm tắt một nội dung truyện thơ dân gian của dân tộc thiểu số ở Việt
Nam và phân tích những nét đặc sắc về nội dung – nghệ thuật của thể loại truyện
thơ qua tác phẩm đó?
Trang 2MỞ ĐẦU
1) Lí do chọn đề tài
Em chọn đề tài truyện thơ “Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương” của dân tộc Mường Vì đây là truyện thơ đầu tiên của dân tộc thiểu số mà em đã đọc, tìm hiểu Ngày 9/2/2021 khoa K65 Văn học đã có chuyến đi tới làng Văn hóa, ở đây em có ghé vào thăm ngôi làng của dân tộc Mường, em có giao lưu, trò chuyện với người Mường và nghe họ kể về văn hóa cũng như các câu chuyện của dân tộc Mường Chính vì điều mới mẻ này đã dẫn em tới truyện thơ “Nàng Ờm – Chàng Bông Hương”
2) Thời gian nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu vấn đề
Vì thời gian có hạn nên bài tiểu luận này chỉ thực hiện trong hai tuần Phạm vi nghiên cứu là truyện thơ dân gian của dân tộc thiểu số ở Việt Nam – Truyện thơ của dân tộc Mường “Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương”
3) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, so sánh
4) Tài liệu tham khảo
“Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam” tập V truyện thơ – Sử thi
“Tổng hợp văn học dân gian của dân tộc thiểu số Việt Nam” tập 21
“Văn học dân gian Việt Nam” do Đinh Gia Khánh chủ biên
5) Bố cục chính của tiểu luận
Phần mở đầu
Bốn chương chính:
Chương I: Tóm tắt truyện thơ “Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương” Chương II: Tổng quan về truyện thơ
Chương III: Những nét đặc sắc về nội dung của thể loại truyện thơ được thể hiện trong tác phẩm
Chương IV: Những nét đặc sắc về nghệ thuật của thể loại truyện thơ được thể hiện trong tác phẩm
Phần kết luận
Trang 3CHƯƠNG I: TÓM TẮT TRUYỆN THƠ “NÀNG ỜM – CHÀNG BỒNG
HƯƠNG”
Nàng Ờm quê ở đất Cành Nàng, làng Cai Gia, con mường Kì Ống, nàng sinh trong một gia đình giàu có, bố mẹ nàng thì “lắm quyền lắm thế, lắm phép lắm khôn” Gia đình của nàng có bốn thành viên là bố mẹ nàng, nàng Ờm và cô em gái tên Yêu Cả hai chị em từ nhỏ đã sống theo khuôn phép chặt chẽ của gia đình Lúc nàng Ờm 15 tuổi, khi đang chơi thì nàng gặp chàng Bông Hương rồi chàng đi theo tán tỉnh nàng, ngày ngày đi chơi theo nàng, cả hai đã bên nhau rất lâu, có rất nhiều kỉ niệm với nhau Cho đến khi nàng đã 19 tuổi, chàng đã ngỏ lời yêu nàng và muốn sống với nàng hạnh phúc mãi mãi về sau Nàng cũng thích chàng Bồng Hương nên
cả hai đã hẹn hò với nhau nhưng vì sợ bố mẹ nàng không cho phép nàng với Bồng Hương ở bên nhau nên nàng đã giấu diếm bố mẹ bằng những lời nói dối của mình để có thể bên chàng Nhưng lời nói dối không được bao lâu thì em Yêu xấu tính mách bố mẹ nên bố mẹ nàng đã cấm đoán, ngăn cản Bố mẹ của nàng lừa nàng đi chặt “chín chục cái roi lảy trảy” để dạy đàn bò trâu nhưng thật ra là để đánh đập nàng một cách tàn nhẫn và nhốt nàng ở trong buồng, không cho phép nàng đi gặp Bồng Hương nữa Chàng biết vậy nên đã đến nhà của nàng, muốn vào nhà nhưng lại sợ bố
mẹ nàng mắng, không cho vào nên chàng đành phải đứng ở ngoài sân Trong lúc đấy, cô em Yêu mới nhe nhói lòng thương chị của mình nên đã
mở của cho chị mình trốn đi Chàng đã chờ sẵn ngoài sân, Nàng vì những vết thương đau không đi nổi nữa nên quăng mình xuống sân và được Bồng Hương đỡ rồi ôm nàng chạy vào trong rừng – núi Làn Ai Ở đây chàng chăm sóc nàng cẩn thận để tránh đụng tới vết thương làm đau nàng, xong chàng đi xin gạo, mượn nồi để nấu cháo cho nàng ăn và tính đến chuyện cả hai cùng nhau bỏ trốn sang nơi khác song Nhưng nàng không dám vì nàng sợ “phép mẹ, quyền cha”, nàng sợ những lời gièm pha của mọi người nên nàng có ý nghĩ muốn ăn lá ngón hoặc treo cổ tự vẫn Mặc
dù được chàng hết lòng khuyên ngăn, nài nỉ nhưng nàng cuối cùng cũng
ăn lá ngón để “gữi trọn lời thề cùng về bên ma” Lúc nàng chết vì quá yêu, nhớ nhung nàng và xót xa, đau khổ cho số phận của cả hai nên chàng cũng đã ăn lá ngón để về cùng Mường ma với nàng Để cả hai con người đáng thương, tội ghiệp có thể bên nhau mãi mãi, không bị ai cấm đoán,
Trang 4ngăn cản Sau khi hai người chết thì được người lên núi phát hiện ra xác của hai người và gọi cho gia đình của nàng đến nhận xác Thấy con gái mình chết bố mẹ mới ân hận, thương xót cho con gái của mình nên muốn đem con gái về mường làm ma, làm vía Nhưng hồn vía của nàng không muốn quay trở về, Nàng muốn ở lại núi Làn Ai này để có thể bên chàng mãi mãi và cũng để làm tấm gương cho đời sau, để cho câu chuyện của nàng kéo dài mãi mãi, cho tất cả mọi người cùng biết, cho muôn đời sau lắng nghe mà rút kinh nghiệm
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TRUYỆ THƠ
6) Khái niệm truyện thơ
Cũng như các thể loại văn học khác, truyện thơ cũng không hoàn toàn đồng nhất về các khái niệm:
Theo từ điển thuật ngữ do PGS Lê Bá Hán, GS Trần Đình Sử, GS Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (bản in 2004 của NXB Giáo Dục) không
có mục từ “truyện thơ” mà chỉ có mục từ “truyện Nôm” với lời giải thích là: “Thể loại truyện thơ dài, rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam nở
rộ vào cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, do viết bằng Tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”
Hay Nhà Đông phương học Xô Viết N.I.Niculin nói rằng: “Truyện thơ bắt nguồn từ văn học dân gian với tư cách là những thể loại, chúng tạo thành một đặc biệt cho thơ ca Việt Nam Truyện thơ đã làm cho thơ ca Việt Nam khác biệt hẳn với truyền thống ở Viễn Đông mà nó gắn bó mật thiết”
Nhưng khái niệm chung nhất của truyện thơ là những truyện được kể bằng thơ và có sự kết hợp giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình, truyện thơ phản ánh cuộc sống của con người nghèo khổ, luôn khát vọng về tình yêu
tự do, hạnh phúc
7) Khái niệm truyện thơ của dân tộc thiểu số
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Tổng hợp văn học dân gia các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập 21, NXBKHXH – 2008) thì
“Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, kể cả trước và sau khi đã được ghi chép và thường
Trang 5có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi” Truyện thơ của các dân tộc thiểu số là một loại hình tự sự có hình thức văn vần, còn có các hình thức như diễn xướng, kể hát, ngâm, đọc, … mà không phải bất kì truyện thơ nào cũng được thể hiện bằng tất cả các hình thức
đó Đề tài của truyện thơ thì rất phong phú, đa dạng, chúng đè cập đén nhiều mặt trong xã hội của các dân tộc Đặc biệt là đè tài về sự đấu tranh
tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong xã hội cũ là một
đề tài khá phổ biến Và truyện thơ của các dân tộc cũng rất phong phú như: người Thái có truyện “Tiễn dặn người yêu”, “Chàng Lú – Nàng Ủa’’…; người Mường có truyện “Nàng Nga – Hai Mối”, “Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương” Nhìn chung kho tang truyện thơ của các dân tộc thiểu số khá nhiều và đa dạng, chính điều này đã tạo nên sự phong phú cho nền văn học Việt Nam
8) Phân loại truyện thơ
Theo cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” do Đinh Gia Khánh chủ biên có chua truyện thơ thành hai loại sau:
Căn cứ theo phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc:
Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt lễ dân gian: Khảm Hải (Tày), Ông cha đánh giặc (Thái)…
Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ các dân tộc: Tiễn dặn người yêu (Thái), Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương (Mường)…
Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện thơ Nôm Kinh: Lưu Đài – Hán Xuân, Trần Châu (Tày)…
Căn cứ theo đè tài thì có thể chia truyện thơ như sau:
Truyện thơ về tình yêu
Truyện thơ về sự nghèo khổ
Truyện thơ về chính nghĩa
Trang 6CHƯƠNG III: NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN THƠ QUA TÁC PHẨM “NÀNG ỜM – CHÀNG BỒNG
HƯƠNG”
9) Ngợi ca tình yêu đẹp đẽ của Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương
Tình yêu đẹp đẽ, trân thành của hai người được thể hiện khi hai số phận, hoàn cảnh khác nhau nhưng tình yêu họ giành cho nhau là thật lòng, không chút dối trá Vì nhà của Nàng Ờm rất giàu có:
“…Bố nhà em bố có,
Mẹ nhà em mẹ giàu;
Dưới sân có trâu cùng bò, Trên nhà cơm no lúa xiểng;
Của nhà em, chẳng phải dùng bương ran ran Nhà nhà em, lát ván gỗ lim
Cửa quang sân rộng, Nhà năm gian, con hàng chín vóng…”
Nàng nhà giàu như vậy, còn nhà chàng thì nghèo nhưng chính sự không cân xứng về địa vị xã hội, không “môn đăng hộ đối” đó vẫn tạo nên một tình yêu đẹp, hai người họ không quan trọng bề ngoài ra sao, chỉ cần họ thích, nguyện ý thì họ muốn ở bên nhau mãi mãi Là một tình yêu thủy chung, son sắt của hai người từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành:
“…Thuở ấy, tuổi em mới lên mười lăm, Váy em bằng một păng
Hàm rang em còn trắng Bàn chân bằng lá phay pháy Bàn tay bằng lá muồng muồng; …”
“…Gặp chàng Bồng Hương trai tơ vừa tuổi, Thấy em đi chơi cùng bạn trong xóm;
Anh chàng Bồng Hương giơ tay toan vỗ vào vai Hẹn một hẹn hai làm nhà làm cửa;
- “Nàng hãy cùng anh làm cửa làm nhà
Để bố mẹ nhà lấy đường đi lại” …”
“…Qua bốn mùa hoa mơ, Trải bốn mùa hoa mận, Tuổi em đã lên mười chín
Trang 7Còn phòng cho đến đôi mươi.
Mái tóc đã xanh,
Em đã nên người, May áo khách dài, Nói lời con gái
Đã rộng đường bên trai bên gái;
Em đi chơi trầu cùng anh Bồng Hương,
Em đi chơi trai cùng anh trên nương hôm sớm
Cây cau nhà anh đã lớn,
Lá trầu nhà em đã xanh
Lòng muốn cùng anh nên nhà nên cửa Nhưng miệng chưa dám mở
Mà lời chẳng tiện thưa
Sợ rồi lời nói gió đưa Như cây đu đến mùa rụng lá
Không nên cơm nên cá Chẳng thành rẫy thành nương, Nhưng anh chàng Bồng Hương, Anh đã nói lời thương:
- “Anh không phải giọt sương trên mặt lá, Anh không phải con cá dưới khe Ngón
Anh cùng em quyết chung một đường
Em cùng anh sẽ đi một lối
Ăn cơm chung một gian Uống nước chung một máng Xỉa răng chung một ống Chết hay sống cũng chọn một đời” ….”
Ở bên cạnh nhau từ nhỏ cho đến lớn, là “thanh mai trúc mã”, đã bên cạnh nhau trải qua bao nhiêu mùa, qua bao thời gian mà tình cảm của họ giành cho nhau không những không phai nhạt đi mà càng ngày càng sâu đậm hơn trước Mỗi một ngày trôi qua là một ngày thứ tình cảm đó lớn dần lên, họ đã trao lời thề ở bên nhau dù sống hay chết họ vẫn muốn bên cạnh nhau mãi mãi.Dù chỉ là hai con người nhỏ bé nhưng tình cảm trân thành
họ giành cho nhau to lớn vô cùng, một thứ tình cảm sâu đạm thủy chung khiến cho lòng người không khỏi cảm thán trước tình yêu mà họ giành cho nhau.Cũng như nhà thơ Xuân Diệu – ông hoàng thơ tình – từng nói:
“Làm sao sống được mà không yêu
Trang 8Không thương không nhớ một kẻ nào?”
10) Phê phán những hủ tục lạc hậu, những định kiến xã hội đã gây
ra bi kịch cho Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương
Mặc dù yêu nhau là vậy, muốn ở bên nhau chọn đời, chọn kiếp, “đầu bạc răng long” là thế Nhưng tình yêu của hai người lại bị cấm đoán, bị ngăn cản bởi cha mẹ của mình chỉ vì sự đối lập, sự phân biệt giàu – nghèo, sự phân chia đẳng cấp, địa vị xã hội Chỉ vì hững suy nghĩ chủ quan, lạc hậu, cổ hủ như vậy đã gây nên bi kịch đau thương cho những cặp đôi yêu nhau trân thành, luôn khao khát được sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi về sau Chính vì sự cấm đoán, ngăn cản, sợ bị chia rẽ cho nên hai con người yêu nhau nhưng không thể ở bên nhau một cách quang minh chính đại, được mọi người chúc phúc mà lại phải giấu diếm để có thể được gặp nhau
“… Nhưng nước suối khi đầy khi vơi, Lòng mẹ cha có như lòng ta muốn
Nên mẹ nhà em chẳng gả Nên bố nhà em chẳng cho Nên đành lòng đi về đêm tối Bắt đom đóm làm đèn, Lấy áo em thay làm nón;
Em vượt suối sâu, qua lùm lá ngón
Đi chơi cùng chàng Bồng Hương
Nhưng bố mẹ chẳng thương, Chửi em hết điều
Mắng em hết lời
Em đã thương anh rồi Khi xa nhau nghe nhớ
Lúc vắng nhau nghe thương,
Em đi trâu, ngồi gốc cây nhỏ
Em đi bò, ngồi gốc cây nhuối
Em cùng chàng Bồng Hương Hái chung một con vườn Dâu non lắm lộc
Nắm to là tay em hái, Nắm nhỏ của chàng Bồng Hương
Em gái yêu nhà chẳng thương
Trang 9Mách với bố mọi đường, Nói với mẹ mọi nỗi
Để bố nhà em giận,
Để mẹ nhà em dỗi,
Em phải tìm lời ăn gian nói dối,
Ăn chối nói qua Cho bố mẹ khỏi la khỏi mắng;
Nắm nào cũng tay em hái, Nắm nhỏ là khi em còn phải;
Đuổi trâu ăn lọ Đuổi bò ăn dâu,
Để bố mẹ già khỏi giận khỏi hờn mà thôi…”
Nhưng những lời nói dối để có thể ở bên nhau rồi cũng sẽ có ngày lộ và bi kịch đã sảy ra khi cô em gái Yêu xấu tính đã mách với bố mẹ Nàng Vì quá tức giận làm che mờ đi lý chí nên đã ra tay đánh nàng một cách tàn nhẫn và nhẫn tâm, khiến nàng bị thương đầy mình:
“… Giữ đêm em còn vào ra khung cửi, Tấm vải em dệt dây hoa bông trăng
Tấm vải em căng trên khung mượt óng, Trong cửa trong nhà năm gian chín vóng, Nhà năm gian bố em khóa chặt,
Cửa chin vóng mẹ em cài then, Như con nhà ngài làm kén làm quái Chín chục roi lảy trảy bố em bó thành bảy, Bảy mươi roi lèn en mẹ em buộc nên ba, Gữi em trong nhà
Bố mẹ em ra tay đánh đập Đánh em như sấm trên trời Như hòn đá to rơi xuống suối
Đánh em tay không biết mỏi, Đánh em máu chảy khắp người
Áo em rách tả tơi, Chân tay em rã rời, Trông không nên người, không nên con gái
Em van bố, bố không thương,
Em vái mẹ, mẹ không buông,
Bố mẹ chẳng thương…”
Trang 10Chỉ vì không cùng địa vị đẳng cấp, vì nhà Bồng Hương không giàu có mà chính gia đình của nàng, người đã sinh ra nàng nhẫn tâm ngăn cản, “trà đạp” lên tình cảm trân thành của Ờm Chính những suy nghĩ cổ hủ, những
hủ tục ngày xưa nên đã đẩy số phận của hai người đến bi kịch đau lòng không thể quay trở lại được Hai con người tội nghiệp, đáng thương đó chay vào núi Làn Ai, muốn chạy trốn khỏi sự éo le của số phận, chạy tới nơi thật xa chỉ có hai người sống hạnh phúc Nhưng nàng lại quá sợ
“quyền cha, phép mẹ”, nàng sợ những tiếng gièm pha từ người ngoài cho nên nàng quyết định chọn cái chết để có thể “giữ chọn lời thề cùng về bên ma” Sau khi nàng ăn lá ngón để tự vẫn thì chàng Bồng Hương vì qua yêu nàng, chàng không thể nào sống tiếp nếu thiếu nàng nên chàng cũng quyết định ăn lá ngón để chết cùng nàng, để cho cả hai có thể nên đôi vợ chồng sống bên nhau mãi mãi không chia lìa ở thế giới bên kia Ở cùng một thế giới mà không có sự cấm đoán, cũng không ai ngăn cản, chia rẽ họ, bắt họ phải xa nhau, ở nơi đấy chỉ có hai người yêu nhau và muốn thành vợ chồng sống bên nhau hạnh phúc mãi mãi Vì sự cấm đoán của bố mẹ nên
đã đẩy hai con người yêu nhau đến bờ vực của cái chết, đến khi chết rồi thì dù có hối hận ra sao cũng không thể cứu vãn được nữa Rồi tất cả cũng phải trả giá cho những hành động thiếu suy nghĩ bằng hậu quả thương tâm nhất Đặc biệt với hình ảnh “lá ngón”, hình ảnh “lá ngón” xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm, khi con người bị dồn ép, đè nén quá mức thì họ chỉ còn cách ăn lá ngón – nghĩ đến cái chết để có thể giải thoát cho chính mình khỏi hoàn cảnh éo le, số phận bất hạnh của bản thân Cũng giống như Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” khi những con người bị đẩy đến bước đường cùng thì họ chỉ có thể nghĩ đến cái chết mới có thể khiến mình được giải thoát, được tự do làm điều mình muốn ở thế giới bên kia Chính điều này mà các tác giả khi tạo ra một tác phẩm là muốn lên án, phê phán những định kiến xã hội, những hủ tục lạc hậu của các dân tộc thiểu số đã khiến cho biết bao tình yêu đẹo đẽ trở thành nỗi bi kịch đầy đau thương, mất mát
11) Lời khuyên dăn đối với người đời sau
Đừng vì sự giàu có hay nghèo hèn mà các bậc cha mẹ cấm đoán, ngăn cản tình yêu của con mình, mặc dù cũng chỉ vì muốn tốt cho con nhưng đừng để sự giận dữ che mờ đi lý trí mà đẩy con mình vào nỗi đau khổ cùng cực Cũng đừng vì không cân xứng, không “môn đăng hộ đối”