1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 TUẦN 3

10 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 75,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN BÀI THẢO LUẬN TUẦN 3 Môn học NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ Đề bài TÀI SẢN VÀ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI ******

BÀI THẢO LUẬN TUẦN 3

Môn học: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ

Đề bài:

TÀI SẢN VÀ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

Trang 2

TPHCM, ngày 22 tháng 03 năm 2022

MỤC LỤC

1 Khái niệm tài sản 4

1.1Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về giấy tờ có giá 4 1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? 4 1.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài); 4 1.4 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có

là tài sản không? Vì sao? 4 1.5 Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” 4 1.6 Bitcoin là gì? 5 1.7 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không? 5 1.8 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 5 Tại một số quốc gia, pháp luật coi Bitcoin là một tài sản 5

Ví dụ: Mexico (Luật Fintech), 5 1.9 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam 5 1.10 Quyền tài sản là gì? 5 1.11 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không? 5

1.12 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?5

1.13 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)? 6

2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu 6

2.1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 6 2.2 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 7 2.3 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa

Trang 3

2.5 Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp trên cơ

sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao? 8

3 Chuyện rủi ro đối với tài sản 9

3.1 Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 9

3.2 Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 9

3.3 Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 9

Trang 4

1 Khái niệm tài sản

1.1

Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Căn cứ vào Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP thì “Giấy tờ

có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.

Ví dụ giấy tờ có giá: cổ phiếu , trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, tiền gửi, séc, chứng chỉ có giá khác theo quy định của luật

1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?

Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không là giấy tờ có giá

Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời, Tại Quyết định số 6 có viết “Căn

cứ Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.” như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.”

1.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến

“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài);

Theo tôi, xét về phương diện pháp lý, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể xem

là loại tài sản nếu nhìn nó dưới góc độ đơn thuần chỉ là một tờ giấy, vì nó là vật

1.4 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận

sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không là tài sản Vì căn cứ theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 “ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”

1.5 Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”

Hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là hợp lý Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu là ông Võ Văn B, bà Nguyễn Thị Thuỷ H không có bất kỳ quyền hạn

Trang 5

1.6 Bitcoin là gì?

Bitcoin là một dạng tiền kỹ thuật số (tiền ảo), không được phát hành bởi Chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà được tạo ra và vận hành dựa trên hệ thống các máy tính kết nối mạng internet ngang hàng

1.7 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?

Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và quyền tài sản’ và theo Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hoá bao gồm: tất cả các loại bất động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai” Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/ NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự Chính vì vậy, theo Toà án, Bitcoin không phải

là tài sản theo pháp luật Việt Nam

1.8 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật

mà anh/chị biết

Tại một số quốc gia, pháp luật coi Bitcoin là một tài sản

Ví dụ: Mexico (Luật Fintech),

1.9 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam

Tôi đồng tình với quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam Vì pháp luật chưa có quy định cụ thể nào về việc sử dụng đồng tiền Bitcoin, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng không chấp nhận loại tiền ảo như một đồng tiền sử dụng Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động của Bitcoin khó kiểm soát, nằm ngoài thẩm quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nước Những giao dịch ngầm, chuyển tiền phi pháp, rửa tiền, trốn thuế sẽ lợi dụng Bitcoin để thực hiện hành vi của mình Hy vọng trong thời gian sớm nhất, chúng ta sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về Bitcoin

1.10 Quyền tài sản là gì?

Căn cứ Điều 115, Bộ luật Dân sự 2015, quyền tài sản là quyền trị giá bằng tiền, bao gồm quyền tài tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác

1.11 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?

Quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản được khẳng định tại Điều 188 và Điều

634 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, quy định này đã không còn hiệu lực

Trang 6

1.12 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?

Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua

là tài sản ở đoạn “ Đến thời điểm cụ T chết năm 1995, cụ chưa làm thủ tục hóa giá đối với nhà số 63 nếu trên Theo quy định tại Điều 188 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm

1995, quyền thuê, mua hoá giá nhà của cụ T là quyền tài sản (trị giá được bằng tiền) và được chuyển giao cho các thừa kế của cụ T.”

1.13 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết

Hướng giải quyết trong Quyết định số 05 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là hợp lý Vì căn cứ vào Điều 188 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 1995, quyền thuê, mua hoá giá nhà của cụ T là quyền tài sản (trị giá được bằng tiền) và được chuyển giao cho các thừa kế của cụ T

2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu

2.1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị

về khẳng định này của Tòa án?

Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm ở đoạn:

“ Gia đình chị Nhữ Thị Vân tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân có lời khai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hào và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con cụ Hào), nhưng cụ Hào vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính cũng không xuất trình được tài liệu cụ Hào uỷ quyền cho ông Chính quản lý căn nhà Trong khi đó chị Vân khai gia đình chị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954, lúc đầu ông nội chị Vân ở, sau này bố chị Vân và chị Vân tiếp tục ở Mặc dù phía nguyên đơn khai

có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hoà giải tại Uỷ ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 20010; đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã

ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: “ Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó,kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 điều này…”.”

Quyết định của Toà án là không hợp lý, căn cứ Điều 190 Bộ luật Dân sự 2005 “Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu tài sản

Trang 7

2.2 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị

về khẳng định này của Tòa án?

Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm thể hiện ở đoạn:

“ Gia đình chị Nhữ Thị Vân tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân có lời khai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hào và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con cụ Hào), nhưng cụ Hào vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính cũng không xuất trình được tài liệu cụ Hào uỷ quyền cho ông Chính quản lý căn nhà Trong khi đó chị Vân khai gia đình chị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954, lúc đầu ông nội chị Vân ở, sau này bố chị Vân và chị Vân tiếp tục ở Mặc dù phía nguyên đơn khai

có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hoà giải tại Uỷ ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 20010; đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã

ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: “ Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó,kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 điều này…”.”

Khẳng định này của Toà án là hợp lý Vì căn cứ vào Điều 190 Bộ luật Dân sự 2005

“Việc chiếm hữu tài sản được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về tài sản đó là chiếm hữu liên tục, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.” Trên thực tế, không có bằng chứng xác định thời điểm cho thuê là năm

1954 hay 1968 thì đến thời điểm 2004 khi cụ Hảo khởi kiện ra Toà án thì cũng đã quá 30 năm Bên cạnh đó, gia đình cụ Hảo không có tài liệu chứng minh có đòi nhà đối với chị Vân sau năm 1975 nên khẳng định của Toà án về việc gia đình chị Vân chiếm hữu liên tục là hợp lý

2.3 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị

về khẳng định này của Tòa án?

Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm thể hiện ở đoạn:

“ Ngày 18/02/2001 chị bán tầng 1 nhà số 2 Hàng Bút cho vợ chồng anh Nguyễn Hồng Sơn và chị Dương Thị Ngọc Lan, giá 80 lượng vàng tương đương 384.000.000 đồng Giấy bán nhà có chữ ký của 3 anh em ( là chị và anh Nhữ Duy Lâm, anh Nhữ Duy Lân) nhưng chị là người trực tiếp mua bán nhà và nhận tiền với chị Lan anh Sơn, còn hai anh

em là anh Lâm và anh Lân do chj yêu cầu nên có ký vào giấy… nếu hợp đồng mua bán nhà giữa anh chị với chị Vân không đúng thì anh chị yêu cầu chị Vân thanh toán tiền nhà cho anh chị theo giá thị trường

Trang 8

Khẳng định này của Toà án là hợp lý Vì căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Dân sự 2005

“Việc chiếm hữu tài sản được coi là chiếm hữu công khai khi thực hiện một cách minh bạch, không giấu diếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng

và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của mình” Trong thực tế, trong khoảng thời gian gia đình chị Vân chiếm hữu căn nhà, bố chị Vân có nâng cao nền nhà, thay cửa, giữ gìn như tài sản của mình và sinh sống liên tục, công khai trong hơn 30 năm

2.4 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn là chủ

sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp thể hiện ở đoạn:

“ Mặc dù phía nguyên đơn khi có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hoà giải tại Uỷ ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất nếu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định tại Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự về xác lập quyền

sở hữu theo thời hiệu: “Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch”.”

Quyết định của Toà án là hợp lý Vì năm 2004, cụ Hảo có di chúc giao quyền bất động sản cho bà Châu toàn quyền sử dụng Do đó cụ HẢo đã không còn là chủ sở hữu nhà đất

có tranh chấp

2.5 Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao?

Căn cứ Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự 2005: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 điều này…”

Gia đình chị Vân không được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp trên

cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền, bởi vì gia đình chị Vân đã được xác định đã ở tại căn nhà có tranh chấp trên 30 năm, là chiếm hữu, liên tục , công khai nhưng không ngay tình

Bởi vì chị Vân biết rõ căn nhà được thuê từ ông Chính, đồng thời đứng tên sở hữu là tài sản của cụ Dư THị Hảo ( có bằng khoán điền thổ số 25, tập 2, tờ số 55, đăng ký trước bạ

Trang 9

được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu, thì đó là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

3 Chuyện rủi ro đối với tài sản.

3.1 Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Căn cứ vào Điều 162, Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình

3.2 Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Tại thời điểm cháy chợ, bà Dung là chủ sở hữu số xoài vì cháy chợ xảy ra sau khi bà Dung đã nhận hàng

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 161 Bộ luật Dân sự 2015 “Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao

Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản.”

3.3 Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời

Bà Dung phải thanh toán số tiền mua ghe xoài cho bà Thuỷ Vì tại thời điểm ghe xoài bị

hư do cháy chợ, bà Dung là chủ sở hữu của ghe xoài và bà Dung có trách nhiệm chịu toàn bộ rủi ro liên quan đến ghe xoài

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 441 Bộ luật Dân sự 2015: “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

Ngày đăng: 05/08/2022, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w