1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN từ tín NGƯỠNG đến tôn GIÁO đa THẦN,TÔN GIÁO độc THẦN

22 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 90,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài: Tôn giáo luôn tồn tại song song với sự tồn tại của một đất nước.Tôn giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi dân tộc nó thể hiện bản sắc văn

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

-TÊN TÁC GIẢ: BÙI NGỌC BÍCH PHÁP DANH: NGỌC LINH LỚP ĐTTX: KHÓA VI MSSV: TX 6022

BÀI TIỂU LUẬN

PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TỪ TÍN NGƯỠNG

ĐẾN TÔN GIÁO ĐA THẦN,TÔN GIÁO ĐỘC THẦN

Tiểu luận học kỳ III : Môn Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Trọng Hạnh

TP.Hồ Chí Minh , Năm 2020

Trang 3

- LỜI CẢM ƠN :

Tôi xin trân thành tri ân những cá nhân, tập thể và những ai liên quan đã hướng dẫn giúp đỡ, cộng tác trong quá trình thực hiện đề tài

(Tác giả tiểu luận ký tên)

Bùi Ngọc Bích NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT ………

TP.HCM, ngày …… tháng …… năm 2020

Trưởng tiểu ban xét duyệt

Ts Nguyễn Trọng Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi đề tài 1

3 Cơ sở dữ liiệu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục tiểu luận 1

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 :Nguồn gốc của Tín Ngưỡng Tôn giáo 1.1.Bản năng sinh tồn của con người………2

1.2.Sự ra đời của thần linh&thượng đế……….2

CHƯƠNG 2:Quá trình phát triển tín ngưỡng đa thần&độc thần……… 3

2.1.Tôn giáo đa thần……… 3

2.2.Tôn giáo độc thần……….4

2.2.1.Do thái giáo&kinh thánh……… 4

2.2.2.Cơ đốc giáo………5

2.2.3.Hồi giáo……….5

CHƯƠNG 3:Những tôn giáo lớn trên thế giới 3.1.Đạo do thái……… 5

3.2.Đạo tin lành……… 6

3.3.Hồi giáo 8

3.4.Đạo phật 10

3.5.Đạo nho 11

3.6.Đạo lão 13

3.7.Phật giáo mật tông 14

C KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 5

A MỞ ĐẦU:

1 Lý do chọn đề tài:

Tôn giáo luôn tồn tại song song với sự tồn tại của một đất nước.Tôn giáo đóng vai trò

vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi dân tộc nó thể hiện bản sắc văn hóa,tín ngưỡng tâm linh của dân tộc ấy nhưng trong bối cảnh của các thời đại lịch sử khác nhau tôn giáo lại có những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế ,thậm chí trở thành một trong các lực lượng võ trang Vì vậy ta không chỉ nguyên cứu tôn giáo ở trên phương diện tích cực mà còn ở những phương diện khác đó là lý do học viên chọn đề

tài phân tích quá trình phát triển từ tín ngưỡng đến tôn giáo đa thần,độc thần làm đề tài

tiểu luận

2 Phạm vi đề tài :

Trong bài tiểu luận này người viết chỉ trình bày những nguyên nhân và hệ quả của

các lực lượng võ trang Công giáo,Cao Đài,Hòa Hảo Vì số trang có giới hạn cũng như

thời gian không có nhiều nên người viết không thể trình bày một cách chi tiết về nguyênnhân ra đời các tổ chức tôn giáo, vì vậy chắc chắn sẽ gặp phải những thiếu sót lỗi lầm, ngưỡng mong Chư vị tôn túc giáo thọ sư từ bi, hoan hỷ chỉ dạy để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn

3 Cơ sở tài liệu:

Trong quá trình thực hiện người viết đã được kham khảo những tài liệu về tôngiáo do chư vị Tôn túc Hoà thượng, Thượng tọa, Ni trưởng… phiên dịch và chú giải đểlàm cơ sở nghiên cứu cho tập tiểu luận này Mục đích là nói lên quá trình dẫn đến sựxuất hiện và phát triển các tín ngưỡng tôn giáo đa thần,tôn giáo độc thần và những ảnhhưởng liên quan đến sự tồn tại của các tôn giáo và đối với người dân như thế nào? Từ

đó mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn để không bị ảnh hưỡng suy nghĩa phiến diện từcác tôn giáo đó Với mục đích ấy nội dung tiểu luận này cũng muốn nhắc lại một lầnnữa về sự quan trọng của việc phân quá trình phát triển từ tín ngưỡng đa thần,tôn giáođộc thần dẫn

4 Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp:tổng hợp-phân tích-đánh giá rời điđến kết luận

5 Bố cụ tiểu luận: gồm 2 chương,18 tiểu mục và 17 trang

1

Trang 6

B NỘI DUNGCHƯƠNG 1 :NGUỒN GỐC CỦA TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO

-Tín ngưỡng và tôn giáo xuất phát từ sự sợ hãi của con người

-Bản năng sinh tồn tự nhiên của con người dẫn đến sự ra đời của những thần linh và thượng đế

-Từ ý niệm thần linh sinh ra tín ngưỡng và tôn giáo

-Tín ngưỡng và tôn giáo trở thành một nhu cầu cơ bản của con người.

1.1.Bản năng sinh tồn tự nhiên của con người.

Bản năng tự nhiên của con người là tìm tòi và chinh phục Đây là một bản năng then chốt để con người sinh tồn và tiến hóa

Khi đứng trước một vấn đề, con người biết :

1/ xác định vấn đề đó là gì, rồi

2/ tìm một giải pháp thích hợp nhất để giải quyết vấn đề này

3/ quan sát, suy luận và nếu cần sẽ cải tiến để đi đến một giải pháp mới hiệu quả hơn Phương cách giải quyết vấn đề trên giúp con người thành công trong việc bành trướng khắp địa cầu.Khi người tiền sử kiếm ăn, họ tự hỏi phải làm sao để hái được những trái cây trên cao hay săn giết được những thú vật chạy nhanh bay cao Áp dụng phương cách trên, họ dần dần tìm chế ra được các dụng cụ và võ khí hiệu nghiệm hơn để thực hiện việc nầy.Tương tự, họ tự hỏi phải làm sao để chống lại sự lạnh lẽo của mưa gió hay

để bảo vệ họ khỏi phải bị thú dữ ăn thịt Dùng phương cách trên họ dần dần tìm chế ra được những tấm lá cây hay da thú để bao bọc giữ cho cơ thể họ được ấm hay biết dựng lên rào cản trước hang động để không cho thú dữ xâm nhập trong khi họ ngủ Rồi họ biết dùng lửa, làm quần áo, xây nhà, v.v cho những mục đích nầy

Mỗi lần họ tự hỏi tại sao để giải thích và phải làm sao để chinh phục một vấn đề, họ tìmchế ra một phương tiện khác hay hơn, tốt hơn giúp họ chống chỏi với thiên nhiên trong cuộc tranh đấu liên tục để sống còn của họ.Tuy nhiên có những sự việc xảy ra chung quanh người tiền sử mà họ không hiểu tại sao và không biết làm cách nào để kiểm soát hay chinh phục chúng Thí dụ như những hiện tượng thiên nhiên (núi lửa, động đất, mưabão, lũ lụt, hạn hán, v.v.) hay những tai ương (bệnh tật, tai nạn, chết chóc, cá nhân sát hại lẫn nhau, chiến tranh giữa bộ lạc, v.v.)

Danh sách các sự việc nầy kéo dài vô tận và họ bất lực không có cách giải quyết Khả năng trí tuệ và kiến thức hạn hẹp về vũ trụ của họ không cho phép họ giải thích được những vấn đề nghiêm trọng trên Trong khi đó, bản năng sinh tồn của họ kêu gào đòi hỏi

họ phải tìm ra một giải đáp, một lối thoát ra khỏi ngõ cụt nầy với bất cứ giá nào

1.2.Sự ra đời của thần linh và Thượng Đế.

Một trong những lãnh vực tiến hóa mà loài người phát triển hơn các thú vật khác là họ

có trí tưởng tượng.Nhờ có trí tưởng tượng loài người mới có thể hình dung được những

sự vật không hiện diện thật sự trước mặt họ Nhờ vậy họ mới có thể chế tạo ra được những dụng cụ chưa từng hiện hữu bao giờ trước đó, có thể hoạch định những việc làm

mà họ chưa bao giờ làm cả; nhờ vậy họ mới có thể đặt ra những sự việc và kể lại câu chuyện chưa bao giờ xảy ra, v.v.Khả năng tưởng tượng nầy cũng đem lại cho con người một lối thoát ra khỏi ngõ cụt sinh tồn như vừa kể trên.Con người tưởng tượng ra những sức mạnh siêu nhiên hoàn toàn bên ngoài khả năng điều khiển của họ

Trang 7

Họ cho rằng tất cả những hiện tượng không giải thích được và những tai ương đều xuất phát từ các sức mạnh nầy.Kinh nghiệm trong đời sống của họ cho họ thấy nếu không chinh phục được một mối hiểm nguythì cách tốt nhất để sinh tồn là hoặc :

Vì danh sách các hiện tượng con người không hiểu biết và không kiểm soát được kéo dài bất tận nên danh sách các thần linh trong lịch sử con người cũng kéo dài bất tận.Khi một nhóm người có quá nhiều thần linh nên lẽ tự nhiên theo họ là phải có nhiều hạng thứ, nhiều cấp bậc thần linh khác nhau Đó là vì trong xã hội con người cũng có nhiều hạng thứ, cấp bậc khác nhau Và khi có hạng thứ, cấp bậc thì sẽ phải có một vị thần cao nhất, mạnh nhất, thiêng liêng nhất so với tất cả các thần linh khác Từ đó Thượng Đế của nhóm người nầy ra đờiMỗi nhóm người, mỗi chủng tộc sống trong mỗi môi trường khác nhau Họ đối diện với những hiện tượng bí ẩn khác nhau, có những nỗi sợ hãi khácnhau Do đó những nhóm người khác nhau tôn thờ nhiều nhóm thần linh khác nhau và

do đó có nhiều Thượng Đế khác nhau Sự khác nhau nầy đưa đến nhiều nhóm tín

ngưỡng, và từ đó nhiều tôn giáo khác nhau

Nói cách khác:Con người đã từ sự sợ hãi dẫn đến niềm tin về thần linh Họ đoán rằng,

và dần dần “tin” rằng, có những sức mạnh huyền bí và những thần linh sau lưng các hiện tượng họ không giải thích và kiểm soát được.Họ đoán thêm rằng, và dần dần “tin” rằng, họ có thể liên lạc và mua chuộc các thần linh nầy giúp đỡ họ bằng cách tôn thờ, dâng cúng các lễ vật Đây là những “niềm tin” của con người trong thời văn minh thô sơ.Những niềm tin, hay tín ngưỡng, nầy trở thành nền tảng của tín ngưỡng và tôn giáo trong nhân loại cho đến ngày nay.Tín ngưỡng trở thành một nhu cầu cơ bản của con người Nhu cầu nầy là một phần của quá trình tiến hóa và đóng vai trò quan trọng trong

sự sinh tồn của nhân loại Nhu cầu tín ngưỡng đứng ngay đàng sau các nhu cầu thiết yếukhác như cơm ăn, áo mặc và tình dục

ĐA THẦN,TÔN GIÁO ĐỘC THẦN

Thần Thánh thành ba lọai:

_ Tôn giáo đa thần (polytheism)

_ Tôn giáo độc thần (monotheism)

_ Tôn giáo phiếm thần (pantheism)

2.1.Tôn giáo đa thần.

Tín ngưỡng đa thần phát sinh từ sự kính sợ các hiện tượng thiên nhiên hay từ cảm tính

Trang 8

về cái thiêng của một vật thể nào đó Tín ngưỡng đa thần cũng bắt nguồn từ những thần thọai mô tả rất nhiều nhân vật có hình tướng lạ thường, tính cách phi thường, có sức mạnh siêu phàm Những thần này đặc trách cai quản và phò hộ cho một lãnh vực đời sống thế gian.Tín ngưỡng đa thần còn đi đến sự thần hóa các vị anh hùng trong dã sử hay lịch sử của một dân tộc.Điều quan trọng để xác định tín ngưỡng đa thần là lọai tín ngưỡng này chưa có "khái niệm" về một vị thần tối cao duy nhất tự hữu và hằng hữu Nghĩa là với tín ngưỡng đa thần, dù cho có một vị thần đứng đầu trong số những vị thần

mà họ tôn thờ, vị thần này cũng sinh ra từ một phả hệ hay dòng tộc như trong xã hội loàingười.Có thể đơn cử hệ thống các vị thần của đỉnh núi Olympus của Hy Lạp (Zeus (Ζευς) Vị thần tối cao cai quản thế giới thần thánh và những người trần

thế,Hades(Άδης )Vị thần cai quản thế giới âm phủ.), Poseidon (Ποσειδῶν) Vị thần cai quản biển khơi.), Athena (Αθηνά) Vị nữ thần của trí tuệ, chiến thắng, công lý, nghề thủ công., Ares (Ἀρης) Thần chiến tranh., để có khái niệm về tôn giáo đa thần.Các vị thần trên đỉnh Olympus trở thành các thần tối cao trong thế giới thần thánh ( có nghĩa là đứng đầu các thần khác, chưa phải là Thượng Đế của tôn giáo độc thần –NV) sau khi Zeus lãnh đạo các anh chị của mình trong cuộc chiến chống lại các thần khổng lồ Titan

và thành công Zeus, Hera, Poseidon, Demetra, Hestia và Hades là anh chị em ruột; tất

cả các vị thần khác thường là con của Zeus với những người vợ khác nhau của ông

2.2.Tôn giáo độc thần.

Các nhà nhân văn-xã hội học cho rằng tín ngưỡng độc thần tiến bộ hơn tín ngưỡng đa thần; nhưng có trường phái quan niệm tín ngưỡng đa thần là sự suy thoái từ tín ngưỡng độc thần Nghĩa là độc thần có trước, đa thần có sau.Bước tới: menu, tìm kiếm,Độc thầngiáo, hoặc nhất thần giáo, là niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, phổ quát và bao hàm mọi sự vật.Trong tư duy phương Tây, chỉ có các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham được xem là độc thần.Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham: Ở phương Tây, Kinh

thánhDo Thái giáo (Hebrew Bible), tức Cựu Ướccủa Cơ Đốc giáo, là nguồn kiến thức chủ yếu về độc thần giáo, miêu tả trình tự và thời điểm độc thần giáo được giới thiệu vào vùng Trung Đôngvà phương Tây Theo các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, ấy là khi Abrahamnhận biết Thiên Chúa (Sáng thế ký 12:1-9; 13:14-18;15; 18; và 22), ông là tín hữu độc thần giáo đầu tiên trên thế giới Trong lịch sử cổ đại, cho đến thời điểm ấy(khoảng 1500 năm TCN), mọi nền văn hoá đều đặt niềm tin vào nhiều thần linh, hoặcvào các sức mạnh thiên nhiên và các loài tạo vật, hoặc tin vào sự huyền nhiệm của môn chiêm tinh, nhưng không ai đặt niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất và chân

thật.Kinh Thánh Hebrewdạy rằng mặc dù khi sáng thế Adamvà Eva(cùng với dòng dõi của họ) đã nhận biết Thiên Chúa, nhưng trải qua các thế hệ Thiên Chúa và danh của Ngài đã bị lãng quên

2.2.1._Do Thái giáo và Kinh Thánh Hebrew:Do Thái giáo (Judaism) : [ .] qui tắc

sống đạo được bảo tồn và huấn thị trong kinh Torah và kinh Tanakh (Kinh Thánh

Hebrew), cung cấp nguồn văn kiện xác minh sự khởi phát và tăng trưởng của nền luân

lý độc thần giáo của Do Thái giáo:Mosestrở lại với dân chúng với Mười Điều Răntrên tay Điều răn thứ nhất dạy rằng "Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác" (Xuất Ai Cập ký 20.3) Hơn nữa, người Do Tháithường trích dẫn Shema Yisrael("Hãy lắng nghe, hỡi Israel"), chép rằng "Hãy lắng nghe, hỡi Israel: Đức Giê-hô-va, Thiên Chúa của chúng ta, Thiên Chúa là duy nhất" Độc thần giáo là trọng tâm của dân tộc Do Thái và

Do Thái giáo

Trang 9

2.2.2 Cơ Đốc giáo:Xác tín vào một Thiên Chúa duy nhất, hầu hết tín hữu Cơ Đốc tin

rằng Thiên Chúa hiện hữu trong ba thân vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh (giáo lý Ba Ngôi) Ba Ngôi có cùng một bản thể và một thần tính Tuy nhiên, có một vàigiáo phái nhỏ, tự nhận mình thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo như Chứng nhân Jehovah, bác bỏ giáo lý Ba Ngôi trong khi đạo Mormon chỉ thờ một Thiên Chúa nhưng không phủ nhận sự hiện hữu của các ngôi kia

2.2.3.Hồi giáo:Hồi giáo trình bày xác tín của mình về độc thần giáo theo cung cách đơn

giản hơn Bản tín điều Shahadah(ةداهشلا) khẳng định niềm tin vào Đấng Allahduy

nhất và tiên tri Muhamad Câu kinh này được xem là một trong Năm Trụ cột của Hồi giáotheo hệ phái Sunni Khi một người đọc to câu kinh này, người ấy được xem là đã chính thức theo đạo Hồi Hồi giáo cho rằng tính duy nhất của Thiên Chúa là giáo lý căn cốt Hơn nữa, Hồi giáo còn xem học thuyết Ba Ngôi của Cơ Đốc giáo là sự biến dị của lời dạy của Chúa Giê-su

NHẬN ĐỊNH

Về mặt lý thuyết, các tôn giáo được phân lọai như trên, nhưng tìm hiểu sâu giáo lý,

cách thờ phượng và mục đích hành đạo của mỗi tôn giáo, chúng ta sẽ thấy không có tínhchất tuyệt đối độc thấn, đa thần hay phiếm thần.Cơ Đốc giáo nhấn mạnh giáo thuyết Thiên Chúa Duy Nhất nhưng vẫn có chủ thyết Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh.Ấn giáo tuy nghiêng về Phiếm thần, nhưng vẫn có giáo thuyết "Tam vị nhất thể" (Brahma –Vishnu – Shiva) và thờ nhiều vị thần khác.Hồi giáo thuộc về độc thần, tuy không nhìn nhận Thiên Chúa Ba Ngôi nhưng tin tưởng vào Tiên tri Muhamad và Thiên thần Gabriel.Ngọai trừ các tôn giáo đa thần Hy Lạp và La Mã xưa, không nói đến chủ thuyết độc thần với Thượng Đế tối cao duy nhất tự hữu, bất diệt Tuy nhiên, do Kinh Thánh Hebrew (hay Cựu Ước hay Kinh Do Thái) có câu: "Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác" (Xuất Ai Cập ký 20.3), khiến cho tín đồ các giáo phái hay tôn giáo có nguồn gốc Cơ Đốc giáo, trong đó các phái Kháng cách (hay Protestant hay Tin lành ) không chấp nhận các tôn giáo khác tôn thờ những vị Thần Thánh hay thờ Thượng Đế dưới những danh hiệu khác hơn tôn giáo họ

CHƯƠNG 3:NHỮNG TÔN GIÁO LỚN TRÊN THẾ GIỚI

Tôn giáo trên hoàn cầu thì rất nhiều, nhưng chúng ta chỉ lượt qua những tôn giáo chính

3.1.Đạo Do Thái (Du già giáo) :

Đạo Thiên Chúa phát xuất bên Do thái mà Tổ phụ là ông Abraham khoảng 2000 năm trước công nguyên được gọi là Do thái giáo (đạo Du già) Khoảng 1000 năm trước côngnguyên khi các vua Ai Cập cố tình đàn áp dân Do thái như cấm họ lấy vợ đẻ con và làm một số nghề nghiệp, anh hùng Moise xuất hiện để đưa dân Do thái từ Ai Cập đến vùng đất hứa tức là nước Do thái ngày nay Tuy Moise dẫn dân Do thái từ Ai Cập đến vùng đất hứa, nhưng ông chết trước khi vào được vùng đất này Trong cuộc hành trình đầy dẫy khó khăn đó, chính Moise đã lên núi Sinai và ở lại trên đó 40 ngày Khi xuống núi ông đem theo hai khối đá có khắc 10 điều thánh lịnh làm nền tảng cho cuộc sống của người Do thái và cũng là khuôn mẫu cấu trúc xã hội cho những quốc gia theo Thiên chúa giáo hiện nay Trong mười điều thánh lịnh thì năm điều dạy con người về đạo làm người và năm điều dạy con người tôn vinh Thượng đế

Trang 10

Sau khi đến được vùng đất hứa, dân Do thái bắt đầu chia rẽ thành những bộ tộc riêng, đến khi vua David thống nhất 12 bộ tộc để làm thành một quốc gia và họ chọn

Jesusalem (nghĩa là hòa bình) làm thủ đô Vua David chết, con là Salomon lên thay là vịvua mạnh nhất với lực lượng quân sự hùng hậu để chinh phục chư hầu Ông xây đền Temple với trên 150,000 thợ xây liên tiếp trong 7 năm mới hoàn tất Vì là danh tướng, chinh phục khắp nơi nên ông cũng nổi tiếng có tới 700 bà vợ và trên 300 bà thứ thiếp từ những giống dân khác nhau Kinh Torah là Thánh kinh cựu ước còn những Thánh kinh sau thời Chúa Giê-Su là tân ước Đối với đạo Do thái thì lễ Sabbat rất quan trọng vì dựa theo Thánh kinh là khi Thượng đế dùng 6 ngày để tạo ra con người và thế giới thì ngày thứ 7 tức là ngày chủ nhật Ngài phải nghĩ ngơi để dưỡng sức.Kinh thánh Cựu ước có tất

cả 46 cuốn kể về những chuyện trước khi Chúa Giê-Su ra đời Bộ này chia làm bốn tập :1) Tập 1 gồm 5 cuốn Thánh kinh đầu tiên : Sáng thế ký, Xuất hành ký, Lê vi ký, Dân số

ký và Thân mệnh ký

2) Tập 2 là bộ sử thư gồm 16 cuốn

3) Tập 3 gồm 7 cuốn là những thi ca triết học

4) Tập 4 gồm 14 cuốn sách tiên tri

2) Thiên Chúa giáo :Vào thời Chúa Giê-Su, nước Do thái nằm dưới sự bảo hộ của đế quốc La Mã với Hoàng đế Auguste Chính sách bảo hộ của La Mã bày ra rất nhiều loại sưu cao thuế nặng và cấm dân Do thái không được tiếp tục truyền thống cắt da quy đầu cho trẻ em Trong khi đó người giàu có không còn quan tâm đến việc tôn giáo Tệ hại hơn nữa, mọi người quá bất mãn về những hành động xá xí và thụ động của những giáo

sĩ Rabbi Trong hoàn cảnh đó, La Mã lại cử viên Thái thú mới tên là Ponce Pilate để thay thế Gratius Ponce Pilate được Hoàng đế Auguste cho phép toàn quyền quyết định

về an ninh, chính trị, thuế vụ và tòa án tại Do thái Trong hoàn cảnh đó, Chúa Giê-Su bắt đầu đi giảng đạo khi Ngài 30 tuổi và địa bàn hoạt động chỉ chung quanh nơi sanh trưởng của Ngài tức là vùng phía bắc Palestine trong khi người anh em chú bác John theBaptist, người đã làm phép rửa tội cho Chúa Giê-Su trên dòng sông Jordan thì hoạt động ở miền Nam Vài tháng sau John bị bêu đầu nên Chúa Giê-Su thay thế John.Chúa Giê-Su tự xưng mình là con của Thượng đế và sau khi gây xáo động tại đền thờ Temple,Ngài bị bắt và bị đóng đinh trên thập tự giá vào năm 37 tây lịch chỉ sau khi Ngài hoạt động được 3 năm Lúc đó Ngài vừa 33 tuổi Khác với Đức Phật lúc nào cũng có trên ngàn đệ tử quanh Ngài, Chúa Giê-Su chỉ có 12 môn đệ Ngày nay những quốc gia Tây phương thường kỵ ngày thứ sáu thứ 13 của mỗi tháng Có nhiều lối giải thích cho vấn

đề nầy, nhưng phần lớn đều đồng ý rằng thứ sáu là ngày Chúa bị đóng đinh và con số 13

ám chỉ cho người đệ tử thứ 13 là Ju-Đà đã bán Chúa cho đế quốc La Mã Ba mươi bảy năm sau đó, toàn dân Do thái đồng lòng nổi dậy chống lại đế quốc La Mã Kết quả là dân Do thái đã bị đế quốc La Mã tàn sát khoảng một triệu người, toàn diện ngôi đền Temple mà vua Salomon đã xây dựng bị tiêu hủy và dân Do thái bị lưu vong khắp thế giới cho mãi đến năm 1948 Dựa vào những dữ kiện lịch sử đó, có những sử gia danh tiếng sau này có đặt câu hỏi rằng thật sự Chúa Giê-Su có phải là nhà lãnh đạo tôn giáo hay chỉ là nhà cách mạng để đánh đuổi đế quốc La Mã ra khỏi đất nước của Ngài?Ba trăm trăm năm trước, chính đế quốc La Mã đã đóng đinh Chúa Giê-Su, nhưng khi đế quốc này đang trên đà suy vong thì Hoàng đế Constantine lại cải đạo và thiết lập tòa thánh Vatican tại Rome (La Mã tức nước Ý) vào năm 324 sau công nguyên cho đến ngày nay và tất cả những vị Giáo Hoàng đều là người Ý cho đến những thập niên gần

Trang 11

đây mới có Giáo Hoàng người Ba Lan (John Paul II) và Đức (Benedict) Thật ra người

có công lớn nhất trong việc bành trướng đạo Thiên Chúa giáo là ông Paul (Phao Lô) Ông Pual không phải là người Do thái, sanh tại Tarse thuộc nước Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng ông lớn lên tại Damas thuộc nước Syrie bây giờ Ông nói tiếng Hy Lạp và mang quốc tịch La Mã Ông không phải là môn đồ của Chúa Giê-Su và chưa bao giờ gặp mặt Chúa khi Ngài còn sống Ông đề xướng đạo Thiên Chúa giáo là cho tất cả mọi người chớ không chỉ dành riêng cho dân Do thái nên ông dùng đường biển để truyền bá phúc âm khắp vùng Địa trung hải cho đến lúc bị La Mã chặt đầu ở hải cảng Ostie Quan điểm củaông chính là khúc quanh lịch sử của đạo Thiên Chúa giáo bởi vì cho đến ngày nay đạo

Do thái (đạo Du già) và ngay cả người Do thái vẫn không chấp nhận Chúa Giê-Su là đấng cứu thế và đạo này chỉ dành riêng cho dân Do thái Trong một cuộc cãi vã lớn giữa

em của Chúa Giê-Su là James và ông Paul tại thành Jesusalem, James nói rằng : ”Trong suốt ba năm truyền giáo, anh ta không bao giờ có ý định thành lập một tôn giáo mới, màNgài chỉ muốn cải tạo, sửa đổi đạo Do thái mà thôi” Vì Paul không phải là người Do thái nên ông cực lực phản đối và khẳng định rằng cho dù là người Do thái hay không đều có quyền gia nhập đạo mới tức là Thiên Chúa giáo Đạo Thiên chúa giáo có bốn bộ Thánh kinh gọi là “Tân ước” như sau:

1) Matthew : kinh này được viết khoảng 50 tới 70 năm sau công nguyên Đây là cuốn Thánh kinh có lẽ là hoàn hão nhất viết về trọn cuộc đời của Chúa Giê-Su Kinh này viết tại Antioch dành cho dân Do thái và người Thiên chúa giáo nói chung

2) Luke : kinh này viết từ năm 58 tới 70 Tây lịch và viết tại Rome dành cho dân Hy Lạp

và tín đồ Thiên chúa giáo

3) Mark : kinh này viết từ năm 50 tới 70 Tây lịch và chỉ viết trong thời gian 3 năm chúa

đi giảng đạo Kinh này cho người La Mã và tín đồ Thiên chúa giáo

4) John : kinh này viết từ năm 85 tới năm 95 Tây lịch, viết tại Ephesus và nội dung chỉ nói lại 3 năm sau cùng của cuộc đời Chúa Giê-Su.Thiên Chúa giáo trên thế giới cũng không đồng nhất và được chia làm Công giáo có Tòa thánh ở Rome, rất nhiều chi phái Tin Lành và phái Chính Thống ở Nga, phái Hợp Nhất ở Hy Lạp…Tuy bốn cuốn Thánh kinh Tân Ước nói rất rõ về chúa Jesus từ lúc Ngài mới giáng sinh đến lúc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, nhưng không có một Thánh kinh nào nói gì về cuộc đời của Ngài

từ lúc 13 tuổi đến khi 30 tuổi là lúc Ngài bắt đầu đi truyền đạo Đây là khoảng trống gần

17 năm Những năm gần đây, có vài “huyền thoại” nói về vấn đề này, chúng tôi trong tưthế khách quan, xin trích đăng nguyên văn để quý Phật tử tư duy quán chiếu :1) Vào năm 1894, một bác sĩ người Nga, Nicolas Notovitch, xuất bản một quyển sách tựa đề

là : ”Cuộc Đời Không Được Biết Của Giê-Su” dựa trên cuộc hành trình rộng lớn của ông ta ở A Phú Hản, Ấn Độ và Tây Tạng Một trong những chuyến du hành, ông đã viếng Leh, thủ phủ của Ladakh và ở trong tu viện Phật giáo Hemis một thời gian khi ông ta bị gãy chân Tại tu viện Hemis, ông đã được cho xem hai tập tài liệu lớn màu vàng bằng Tạng ngữ, “Cuộc đời của Thánh Issa” Bởi vì Chúa Giê-Su được xem như là Issa tức là con trai của Thượng đế Sách này được viết bởi một nhà học giả Vệ Đà Notovitch ghi xuống 200 đoạn kệ ở phía sau nhật ký của ông mà ông giữ suốt chuyến

du hành Tài liệu này tạo thành một cơn giông bão ở phương Tây Ngay cả Tu viện trưởng tu viện Hemis, một Lạt Ma lão thành của trường phái Phật giáo Drukpa,

Gwalyang Drukpa cũng tin tưởng vào huyền thoại này nên phát biểu rằng : Giê-Su đượcnói đã từng thăm viếng đất nước chúng ta và Kashmir để học hỏi Phật pháp Ngài được truyền cảm hứng bởi giới luật và tuệ giác của Đức Phật.Swami Abhedananda, một học

Ngày đăng: 26/07/2022, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w