GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH……… LÊ VĂN CAN PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ XUẤT HIỆN TÔN GIÁO.NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ NHỮNG MẶT HẠN CHẾ CỦA TÔN G
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
………
LÊ VĂN CAN
PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ XUẤT HIỆN TÔN GIÁO.NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ NHỮNG MẶT HẠN
CHẾ CỦA TÔN GIÁO
Tiểu luận học kỳ III : Môn Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Trọng Hạnh
Trang 2GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
……….
TÊN TÁC GIẢ: LÊ VĂN CAN PHÁP DANH: TRÍ CƯỜNG LỚP ĐTTX: KHÓA VI MSSV: TX 6031
PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ XUẤT HIỆN TÔN GIÁO.NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ NHỮNG MẶT HẠN CHẾ
CỦA TÔN GIÁO
Tiểu luận học kỳ III : Môn Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Trọng Hạnh
TP.Hồ Chí Minh ,Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài : 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài : 1
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu : 1
4 Phương pháp nghiên cứu : 2
5 Bố cục của bài tiểu luận gồm 3 chương 2
CHƯƠNG 1 : NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 1.1.Tín ngưỡng và bản chất của tín ngưỡng: 3
1.1.2 Tôn giáo và bản chất của tôn giáo: 3
1.1.2.1 Bản chất của tôn giáo: 4
1.1.2.2 Nguồn gốc của tôn giáo: 4
1.1.2.3 Tính chất của tôn giáo: 6
1.1.3 : Chức năng của tôn giáo và tín ngưỡng: 7
CHƯƠNG 2: NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA TÔN GIÁO 2.1.Các tôn giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa xã hội 8
2.2.1: Những ảnh hưởng tích cực của tôn giáo lên xã hội: 12
2.2.2:Những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo lên xã hội: 15
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1.Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: 18
3.2.Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay: 20
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và
xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánhthần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mangtính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chungsống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng đểsống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.Tìm hiểu bốicảnh lịch sử ,nguồn gốc và những hình thức tôn giáo nổi bật của từng giai đoạn phát triểntôn giáo phương Tây và tôn giáo bản địa là cơ sở để làm rõ được những thành tựu và giátrị tư tưởng mà tôn giáo đóng góp cho sự phát triển của nhân loại Từ các vấn đề cần
nghiên cứu nói trên, tác giả nghiên cứu đề tài : “ Những điều kiện để xuất hiện tôn giáo
và những mặt tích cực ,mặt hạn chế của tôn giáo” Trong quá trình làm bài tiểu luận, em
đã kết hợp những kiến thức được học cũng như là qua quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tàiliệu Tuy nhiên do kiến thức của em có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy
em kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô cùng các bạn để bài làm của em được tốthơn
2 Mục đích nghiên cứu đề tài :
Về mặt lý luận : Đề tài nhằm góp phần tổng kết, đưa ra những quan điểm chung của tôngiáo, đồng thời đánh giá những giá trị tích cực cũng như hạn chế của tôn giáo.Về mặt thựctiễn : Đề tài góp phần tổng hợp và đưa đến những giá trị lịch sử qua quá trình nghiên cứu,nhằm xem xét những vấn đề cơ bản nhất, nguồn gốc nhất cho tôn giáo
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu :
Lấy cơ sở từ những kiến thức chung về đặc điểm của các tôn giáo và những vấn đề trongquá trình hình thành và phát triển tôn giáo, cùng các vấn đề khác để nghiên cứu các vấn đềtrong đánh giá giá trị và hạn chế tôn giáo
4 Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng phương pháp : phân tích, tổng hợp, đánh giá , bài tiểu luận đã sử dụng cácphương pháp trên để tìm kiếm, phân tích vấn đề
Trang 55 Bố cục của bài tiểu luận gồm 3 chương
Chương I : Nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng tôn giáo
Chương II : Những giá trị tích cực và những hạn chế của Tôn giáo
Chương III :Bài học lịch sử,ý nghĩa thực tiễn và kết luận qua nghiên cứu tôngiáo
Trang 6CHƯƠNG 1 : NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
1.1.Tín ngưỡng và bản chất của tín ngưỡng:
Về sự xuất hiện của tín ngưỡng xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người Tín ngưỡngđược hình thành vào giao đoạn sơ khai của lịch sử loài người (thời tiền sử) Lúc đó ngoàiviệc người tiền sử kiếm ăn, họ tự hỏi phải làm sao để hái được những trái cây trên cao haysăn giết được những thú vật chạy nhanh bay cao Với lối tư duy và suy nghĩ, họ dần dầntạo ra được các dụng cụ và võ khí hiệu nghiệm hơn để thực hiện việc này Tương tự, họ tựhỏi phải làm sao để chống lại sự lạnh lẽo của mưa gió hay để bảo vệ họ khỏi phải bị thú dữ
ăn thịt Dùng những tấm lá cây hay da thú để bao bọc giữ cho cơ thể họ được ấm hay biếtdựng lên rào cản trước hang động để không cho thú dữ xâm nhập trong khi họ ngủ Rồi họbiết dùng lửa, làm quần áo, xây nhà, v.v cho những mục đích này Mỗi lần họ tựhỏi tại sao
để giải thích và phải làm sao để chinh phục một vấn đề, họ tìm cách chế ra một phươngtiện khác tốt hơn, hay hơn giúp họ chống chỏi với thiên nhiên trong cuộc tranh đấu liên tục
để sống còn của họ.Tuy nhiên có những sự việc xảy ra chung quanh người tiền sử mà họkhông hiểu tại sao và không biết làm cách nào để kiểm soát hay chinh phục chúng Trướcthiên nhiên vũ trụ, con người ta thấy được sự nhỏ bé, bất lực của mình với những hiệntượng xảy ra chung quanh người tiền sử mà họ không hiểu tại sao và không biết làm cáchnào để kiểm soát hay chinh phục chúng Thí dụ như những hiện tượng thiên nhiên (núi lửa,động đất, mưa bão, lũ lụt, hạn hán, v.v.) hay những tai ương (bệnh tật, tai nạn, chết chóc,
cá nhân sát hại lẫn nhau, chiến tranh giữa bộ lạc, v.v.) Khả năng trí tuệ và kiến thức hạnhẹp về vũ trụ của họ không cho phép họ giải thích được những vấn đề nghiêm trọng trên.Trong khi đó, bản năng sinh tồn của họ đòi hỏi họ phải tìm ra một giải đáp này.Và rồi bằnglối tư duy của mình lúc bấy giờ con người tưởng tượng ra những sức mạnh siêu nhiên hoàntoàn bên ngoài khả năng điều khiển của họ Họ cho rằng tất cả những hiện tượng khônggiải thích được và những tai ương đều xuất phát từ các sức mạnh này Kinh nghiệm trongđời sống của họ cho họ thấy nếu không chinh phục được một mối hiểm nguy thì cách tốtnhất để sinh tồn là hoặc :
1/ trốn tránh hoặc
2/ thần phục nó
Trang 7Vì không thể trốn tránh tai họa được nên họ tin rằng muốn hạn chế nó xảy ra cho họ thì chỉ
có cách là thần phục và tôn thờ các sức mạnh siêu nhiên trên, từ đó các thần linh ra đờinhư Thần núi lửa gây ra núi lửa Thần mưa, thần gió, thần sấm sét làm ra bão tố mưa gió.Thần sông, thần biển, thần rừng cai trị và tạo ra những hiểm nguy trên sông, ngoài biển,trong rừng Các thú dữ cũng được cho là thần linh: thần cọp, thần rắn, thần chim ưng, thần
cá sấu Tiếp theo là thần cây, thần đá, thần mùa màng, thần sinh sản,…
1.1.2 Tôn giáo và bản chất của tôn giáo:
1.1.2.1 Bản chất của tôn giáo:
Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử
xã hội xác định Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sựbất lực, bế tắc của con người trước sức mạnh tự nhiên và sức mạnh xã hội.Theo C.Mác:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phảnkháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị ápbức, là trái tim của thế giới không có trái tim … tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.Tuynhiên tôn giáo cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lýcủa xã hội.Về phương diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật Mác xít và thế giới quantôn giáo là dối lập nhau Tuy vây, những người cộng sản có lập trường mác xít không baogiờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp củanhân dân Ngược lại, chủ nghĩa ML và những người cộng sản, chế độ xhcn luôn tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân
1.1.2.2 Nguồn gốc của tôn giáo:
A-Nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo:
Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người cảm thấyyếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn cho tự nhiênnhững sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa nhứn sức mạnh đó
Từ đó, họ xây dựng nên những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng.Khi xã hội phân chia thànhgiai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước sức mạnh của thế lực giai cấp thốngtrị Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội ác
… tất cả họ quy về số phận và định mệnh Từ đó, họ đã thần thành hóa một số người thànhnhững thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn
Trang 8giáo.Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức, bóc lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốcsâu xa của tôn giáo.
B-Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và bảnthân mình còn có giới hạn Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa học chưakhám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo
Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào ảo tưởng,thần thành hóa đối tượng
C-Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội mà dẫn đến việcính ra tôn giáo Các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra tôngiáo” Lênin cũng cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản … sự phá sản “độtngột” “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong …, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính
là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại
Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được thể hiệnqua tôn giáo
1.1.2.3 Tính chất của tôn giáo:
A-Tính lịch sử của tôn giáo:
Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạmtrù lịch sử Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tớimức độ nhất định.Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn lịch sử, tôn giáo
có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Thời đại thayđổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo.Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khicon người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủđược tự nhiên, xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗicon người thì tôn giáo sẽ không còn
B-Tính quần chúng của tôn giáo:
Tôn giáo là nơi sinh hoặt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân laođộng Hiện nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thếgiới.Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những con
Trang 9người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bát ái … Bởi vì, tôn giáo thường có tínhnhân văn, nhân đạo hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhaucủa xã hội.
C-Tính chính trị của tôn giáo:
Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chi giai cấp, các giai cấp thốngtrị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình
Trong nội bộ tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tínhchính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận củađấu tranh giai cấp.Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạpkhông chỉ ở quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế Đó là sự xuất hiện các tổ chức quốc tếcủa tôn giáo với thế lực lớn đã tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội Vì vậy, cần nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thõa mãnnhu cầu tinh thần; song trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng đểthực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ.Khi xã hội có những tiến bộ hơn, của cải vật chấttạo ra được nhiều hơn và bắt đầu đã đến sự chiếm hữu về của cải trong xã hội thì sự phânchia về giai cấp bắt đầu Bây giờ ngoài đối diện với sức mạnh thiên nhiên, con người cònphải đối diện với sự cai trị của tầng lớp chủ nô thì nỗi đau, sự khốn khổ cùng cực và sựnhỏ bé đơn điệu của con người càng tăng gấp bội Trước những nhu cầu đó học cần thoát
ra được những nỗi khổ niềm đau này, họ dần dần tư duy và suy nghĩ phải có một vị thầncao nhất, mạnh nhất, thiêng liêng nhất so với tất cả các thần linh khác và định đoạt mọi sốphận con người và những vị thần nhỏ hơn, và là người duy nhất có thể đưa con người thoát
ra khỏi nỗi khổ niềm đau của họ trước sức mạnh thiên nhiên, trước sự cai trị của tầng lớpthống trị, khi đó một khái niệm trù tượng ra đời đó là Trời, Đức Chúa Trời hay Thượng Đế.Bây giờ thì có sự chuyển biến từ cơ chế tính ngưỡng đa thần sang tín ngưỡng độc thần, đâychính là điều kiện để tôn giáo ra đời
Theo đó so với tín ngưỡng thì tôn giáo là một hình thức tâm linh cao hơn, có sự chặt chẽ
và quy mô hơn Để có được một tôn giáo cần thỏa các điều kiện sau:
1 Niềm tin: Là điều kiện cần có cho bất kỳ một tôn giáo nào, tuy nó nó hư ảo nhưng
là là một động lực cực lớn cho con người thoa dịu mọi nỗi khổ niềm đau của họ
2 Vị giáo chủ: Tức người đứng đầu, người biểu trung của giáo phái đó
3 Hệ thống giáo lý: bao gồm kinh điển, tín điều và nghi lễ
Trang 104 Tăng lữ: là những vị tu sĩ, người trực tiếp truyền bá và cử hành các nghi lễ.
5 Hệ thống tín đồ: là những người đặt trọn niềm tin và thực hành theo tôn giáo đó
1.1.3 : Chức năng của tôn giáo và tín ngưỡng:
1.Tạo niềm tin tạo động lực cho con người trong cuộc sống sinh tồn của mình
2.Làm nhẹ đi những nỗi đau mất mát, đem đến sự an lạc, an tâm trước nỗi khổ niềm đau.3.Hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ
4.Có tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống khinh tế xã hội của con người.
7
Trang 11CHƯƠNG 2: NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA TÔN GIÁO
2.1.Các tôn giáo và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa xã hội:
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã nhận đinhtôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo có những giá trị tốt đẹp vềđạo đức, văn hóa Vấn đề đạo đức tôn giáo đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích choviệc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay Giá trị lớnnhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cánhân, hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng cònnhiều yếu tố tiêu cực, nó hướng con người đến hạnh phúc hư ảo và làm mất tính chủ động,sáng tạo của con người Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáonhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chê những tác động tiêu cực của
nó đối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay
Trong xu thế đổi mới hiện nay, cùng với những chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế– xã hội, sự đổi mới trong tư duy lý luận, trong nhận thức về tôn giáo cũng đã và đang diễnra.Trước đây, trong một thời gian dài, chúng ta đã coi tôn giáo như là “tàn dư” của xã hội
cũ, là kết quả sai lầm trong nhận thức của con người Tôn giáo bị xem như cái đối lập vớichủ nghĩa xã hội, với khoa học, kỹ thuật hiện đại và cần phải loại bỏ
Khi đi sâu tìm hiểu về đạo đức tôn giáo, chúng tôi thấy có nhiều quan điểm khác nhau Cóquan điểm cho rằng, đạo đức tôn giáo không chứa đựng những yếu tố tích cực, tiến bộ, màhoàn toàn đối lập với đạo đức trần thế, không thể áp dụng vào đời sống hiện thực Quanđiểm khác lại cho rằng, tôn giáo không có đạo đức riêng, đạo đức tôn giáo chỉ là sự vaymượn đạo đức chung của nhân loại và mỗi tôn giáo có thể nhấn mạnh điểm này hay điểmkhác Trước khi phân tích vai trò của đạo đức tôn giáo đối với đời sống xã hội, chúng tôimuốn đề cập đến một cách khái quát cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đạo đức tôn giáo.Theo học viên, để khẳng định có hay không có đạo đức tôn giáo thì cần phải bắt đầu từ cácluận điểm sau đây:
Trang 12Thứ nhất, cần bắt đầu từ luận điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về đặc điểm phản ánh
của ý thức xã hội, nhất là sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội trong quátrình phản ánh tồn tại xã hội.Khi chỉ ra nguyên lý về vai trò quyết định của tồn tại xã hộiđối với ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời cũng chỉ ra rằng, bản thân đờisống ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối của nó Trong quá trình phát triển, cáchình thái ý thức xã hội có sự giao lưu, kế thừa và ảnh hưởng lẫn nhau Như vậy, ý thức tôngiáo không bao giờ tồn tại một cách biệt lập với các hình thái ý thức khác, như đạo đức,thẩm mỹ, chính trị, pháp luật… Giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại và ảnh hưởnglẫn nhau, tạo ra sự phong phú của mỗi hình thái ý thức xã hội Trong ý thức tôn giáo khôngthể không có những yếu tố của tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa… và trong điều kiện
xã hội có giai cấp, nó còn có cả những yếu tố chính trị, đảng phái nữa Tôn giáo không thểtồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm trong lịch sử của các dân tộc khác nhau trên thếgiới, nếu như bản chất của nó chỉ bao gồm những sai lầm, ảo tưởng và tiêu cực Trong Pháthiện ấn Độ, J.Nehru đã viết: “Rõ ràng là tôn giáo đã đáp ứng một nhu cầu trong tính chấtcon người và đa số người trên thế giới đều không thể không có một dạng tín ngưỡng nàođó… Tôn giáo đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống con người, mà dù một số chuẩnmực ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại, nhưng những chuẩn mựckhác vẫn còn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức”
Như vậy, có thể nói, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình thái ý thức tôn giáo
và hình thái ý thức đạo đức luôn có quan hệ tương tác, đan xen và thâm nhập lẫn nhau Sựtác động biện chứng đó lại diễn ra trong tính quy định của điều kiện sinh họat vật chất xãhội, vì vậy, bản thân tôn giáo chứa đựng những nội dung đạo đức là điều có thể hiểuđược.Với tư cách những thành tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội, tôn giáo và đạođức phản ánh tồn tại xã hội theo các cách khác nhau Tôn giáo phản ánh một cách hư ảohiện thực khách quan vào trong đầu óc con người, trong đó, cái hiện thực đã bị biến dạngcái tự nhiên đã trở thành cái siêu nhiên Còn đạo đức phản ánh các mối quan hệ của conngười với nhau và với xã hội, đó là những mối quan hệ hiện thực
Thứ hai, khi xem xét tôn giáo như một hình thái ý thúc xã hội độc lập với các hình thái ý
thức khác, chúng ta thấy nó chứa đựng nội dung đạo đức (bao gồm giá trị, chuẩn mực, lýtưởng đạo đức…) thể hiện trong giáo lý tôn giáo.Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thốngchuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ
Trang 13Đa số các tôn giáo đều tuyên bố về giá trị tối cao của ‘các lực lượng siêu nhiên (Thượng
đế, Chúa trời, Thần thánh) và mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn Thực tế cho thấy,quan niệm đạo đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tintôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loại, nhưsống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác…Trong Khoa học và tôn giáo, Bertrand Russeli cho rằng, một tôn giáo lớn bao giờ cũng có
hệ thống tín điều, hệ thống đạo đức và giáo hội Người theo tôn giáo không phải sống thếnào cũng được, mà phải sống theo những khuôn phép đạo đức hợp với tín điều của tôngiáo mình, hành động không phải chỉ là thực hành một số hình thức nghi lễ, mà còn phảisống theo những quy tắc đạo đức nhất định Vì vậy, đương nhiên, một số nội dung của đạođức trở thành bộ phận cấu thành nội đung của tôn giáo
Vấn đề trung tâm của Phật giáo là “diệt khổ” để hướng đến giải thoát, chứng được Niếtbàn Muốn đạt được điều đó, con người không chỉ cần có niềm tin tôn giáo, mà còn cần cả
sự phấn đấu nỗ lực của bản thân bằng cách thực hành một đời sông đạo đức Từ đó, Phậtgiáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể để con người tu tập, phấn đấu Trong
đó, phổ biến nhất là Ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nóidối, không uống rượu) và Thập thiện (ba điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộmcắp, không tà dâm, ba điều thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê,bốn điều thuộc về khẩu: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không áckhẩu) Những chuẩn mực này, nếu lược bỏ màu sắc mang tính chất tôn giáo sẽ là nhữngnguyên tắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất có ích cho việc duy trì đạo đức xãhội.Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn yêu thương được xem là nền tảng Con người trướchết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân mình Đây là cơ sở để thực hiện tìnhyêu tha nhân Kinh thánh khuyên con người phải yêu chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em,làng xóm, cộng đồng… Những điều mà Kinh thánh răn cấm cũng rất cụ thể: không giếtngười, không lấy của người, không nói sai sự thật, không ham muốn chồng hoặc vợ củangười, không làm chứng giả để hại người… Ngoài ý nghĩa đức tin vào cái siêunhiên(Thượng đế, Chúa), những chuẩn mực, quy phạm đạo đức ấy là những quy phạm đạođức rất cụ thể hướng con người đến điều thiện, tránh xa điều ác.Phải nói rằng, tôn giáo đã
đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống thế tục và ít nhiều manggiá trị có tính nhân văn Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có