Đó cũng là lý do yếu điểm mà học viên chọn đề tài “ sơ đồ cấu trúc của hoạt động tu tập của bản thân mình, phân tích các thành tố trong sơ đồ trên và mối liên hệ giữa các thành tố đó”..
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CỦA HOẠT ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TU TẬP CỦA SINH VIÊN
Giáo viên hướng dẫn: ThS Ngô Minh Duy Sinh viên thực hiện:
Pháp danh:
Mã sinh viên: PHTX
Trang 2Tp.HCM, năm 2022
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CỦA HOẠT ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TU TẬP CỦA SINH VIÊN
Giáo viên hướng dẫn: ThS Ngô Minh Duy Sinh viên thực hiện:
Pháp danh:
Mã sinh viên: PHTX Lớp: ĐTTX Khóa VII Chuyên ngành: Triết học phật giáo
Tp.HCM, năm 2022
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
MỤC LỤC
A Lời mở đầu
B Nội dung
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT BỘ MÔN TÂM LÝ
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu của tâm lý học 2
1.2 Khái niệm về tâm lý học 2
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HOAT ĐỘNG 2.1 Các khái niệm 3
2.2 Cấu trúc tâm lý của hoạt động 3
CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG CỦA CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG TU TẬP 3.1 Động cơ học tập 5
3.2 Mục đích học tập 5
3.3 Điều kiện học tập 6
3.4 Phương thức, đơn vị thực hiện hoạt động học của sinh viên 9
C Kết luận 12
D Danh mục tài liệu tham khảo 13
Trang 5A LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Sau một thời gian học tập và tìm hiểu về bộ môn tâm lý học, tôi đã hiểu và tiếp thu được một số khái niệm, nhận ra tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của tâm lý học Tâm lý học luôn có một vị trí to lớn trong cuộc sống và hoạt động con người Có thể nói rằng mọi thời kì lịch sử, mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có sự đóng góp của tâm lý học Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hành vi, tinh thần và tư tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động) Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người Có thể nói tâm lý học giúp tôi nhận thức tốt hơn về con người cũng như trong cuộc sống ngày nay, đặc biệt là trong đời sống tình cảm và đó là một trong số nội dung trong bộ môn này đem lại, cũng là phần tôi cảm thấy thích thú nhất trong quá trình học Đó cũng là lý do yếu điểm mà học viên chọn đề tài “ sơ đồ cấu trúc của hoạt động tu tập của bản thân mình, phân tích các thành tố trong sơ đồ trên và mối liên hệ giữa các thành tố đó”
2.Phương pháp nghiên cứu:
Học viên chọn nghiên cứu với phương pháp chất lượng (Qualitative Method) giúp chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu về tâm lý của con người trong xã hội qua thu thập dữ liệu và tìm hiểu các cá thể, sự kiện tác động tâm lý để rút ra nhiều khía cạnh tâm lý phong phú khác nhau, kết hợp phương pháp phân tích (Anlytical Methold)
3.Nội dung nghiên cứu:
Vì kiến thức hạn chế,học viên chỉ đi xâu nghiên cứu sơ đồ cấu trúc hoạt động của con bản thân trân bình diện cơ bản nhất
4.Bố cục tiểu luận:
Gồm 4 phần :
Mở đầu&Nội dung,Nội dung gồm 03 chương
Phần kết luận & Tài liệu tham khảo
Trang 6A NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT BỘ MÔN TÂM LÝ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu của tâm lý học
Thời kỳ cổ đại ,trong các di chỉ ở Ấn Độ,Ai Cập,Trung Hoa có quan điểm về hồn,phách sau cái chết của thể xác.Đến cuối thế kỷ thứ 4:Arixtốt(nhà triết học thời kỳ
Hy Lạp cổ đại) cho rằng tâm hồn gắn với thể xác,có ba hồn:hồn dinh dưỡng,hồn cảm giác & hồn suy nghĩa.Cuối thế kỷ thứ 16 đầu thế kỷ 17 ,R.Đềcác cho rằng vật chất&tâm hồn là hai thực thể song song tồn tại.Đến đầu thế kỷ 18,nhà triết học Volt (người Đức) là người sử dụng cụm từ tâm lý học.Năm 1879 các nhà triết học tách triết học tâm lý học thành ngành độc lập ,cũng trong năm này nhà tâm lý học Wilhelm Wundt (1832-1920) sinh tại Neckarau.Ông đã sáng lập phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới Phòng thí nghiệm Wilhelm Wundt trở thành mô hình mà theo đó các
tổ chức tương tự được tạo ra tại các trường đại học khác ở các khu vực khác nhau trên toàn cầu.Đầu tiên, cô tập hợp tất cả những người muốn học tâm lý học và triết học tại các trường đại học ở Đức, sau đó chuyển thành một trung tâm dành cho sinh viên tốt nghiệp từ Mỹ và Anh, những người quan tâm đến nghiên cứu khoa học tâm lý.Sau đó, Phòng thí nghiệm Tâm lý của Wilhelm Wundt trở thành Viện Tâm lý học Thực nghiệm (nguyên mẫu của các viện nghiên cứu hiện đại)
1.2 Khái niệm về tâm lý học
Theo tiếng Latinh, “Psyche” có nghĩa là “linh hồn”, “tinh thần” “Logos” là “học thuyết”, “khoa học” Tâm lý học (Psychology) có nghĩa là khoa học về tâm hồn Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn, Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về hành vi và những quá trình tinh thần Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hành
vi, tinh thần và tư tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động) Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người Ngành này tập trung vào loài người, tuy một vài khía cạnh của động vật cũng thỉnh thoảng được nghiên cứu Động vật ở đây có thể được nghiên cứu như là những chủ thể độc lập, hoặc – một cái nhìn gây tranh cãi hơn – được nghiên cứu như mộtcách tiếp cận đến sự hiểu biết bộ máy tâm thần của con người (qua tâm lý học so sánh) Tâm lý học được định nghĩa một cách rộng rãi như là “khoa nghiên cứu những hành vi và những tiến trình tâm thần của con người” Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học.Tâm lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng, thông qua những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa học để thử và bác bỏ những giả thuyết Tâm lý học có khuynh hướng chiết trung, sử dụng và tiếp thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học khác để hiểu và lý giải hành vi của con người
2
Trang 7CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HOAT ĐỘNG 2.1 Các khái niệm
Hoạt động là sự tác động qua lại có định hướng giữa con người với thế giới xung quanh, hướng tới biến đổi nó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Trong quá trình đó, con người luôn tích cực sáng tạo tác động vào thế giới khách quan, tạo sản phẩm về phía thê giới và tạo ra tâm lý của chính mình.Cấu trúc tâm lý của hoạt động là phương thức hoạt động bao gồm 6 thảnh tố: động cơ, mục đích, điều kiện, hoạt động, hành động, thao tác Hoạt động luôn được thúc đẩy bởi động cơ, hoạt động bao gồm nhiều hành động khác nhau, mỗi hành động hướng tới nhiều mục đích, tập hợp các mục đích
đó thỏa mãn động cơ Trong hành động có nhiều thao tác, thao tác được thực hiện thông qua các phương tiện
2.2 Cấu trúc tâm lý của hoạt động
Cấu trúc tâm lý của hoạt động được nhà tâm lý học người Nga A.N.Lê-on-chep (1903-1929) mô tả qua một ví dụ về một quá trình lao động tập thể của những người đi săn
từ thời xa xưa: nhóm này đuổi thú, nhóm kia bắt thú, nhóm khác làm thức ăn, áo mặc… Khi tạo ra sản phẩm cuối cùng, có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống từng thành viên tập thể, người này có quan hệ trực tiếp, người kia có quan hệ gián tiếp Nhưng cuối cùng mọi người đều được hưởng thức ăn, áo mặc, những cái này là cụ thể hóa nhu cầu của họ và cũng chính là động cơ hoạt động của cả nhóm, cũng như của cá nhân Ở đây ta có một bên là hoạt động, một bên là động cơ Hoạt động hợp bởi các hành động Cái mà hành động nhằm tới gọi là mục đích Có thể coi động cơ là mục đích chung, còn mục đích mà hành động đạt tới là mục đích bộ phận Hoạt động của tập thể người đi săn nói trên có mục đích chung là kiếm thức ăn Mục đích cụ thể của nhóm thứ nhắt chỉ là đuổi thú về, nhóm thứ hai là bắt thú, nhóm thứ ba làm thịt…Có thể coi mục đích chung là động cơ xa, mục đích bộ phận là động cơ gần Ở đây ta có một bên là hành động, một bên là mục đích.Hành động bao giờ cũng nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nhất định, nhiệm vụ này chính là mục đích được đặt ra trong những điều kiện cụ thể nhất định, tức là mục đích bộ phận phải được cụ thể hóa thêm một bước nữa, sự cụ thể hóa này được quy định bới các điều kiện cụ thể nơi diễn ra hành động Từ đây cũng xá định phương thức để giải quyết nhiệm vụ.Các phương thức này gọi là thao tác Ở đây ta có một bên là thao tác, một bên là điều kiện khách quan cụ thể (phương tiện).Qua phân tích trên, cấu trúc tâm lý của hoạt động có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 8• Chủ thể : người học, học viên.
• Hoạt động cụ thể : học, ghi nhớ, ôn tập
• Hành động : lắng nghe, tư duy, ghi chép…
• Thao tác : di chuyển tay, cúi đầu…
• Phương tiện : tài liệu, giáo trình…
• Mục đích : học để có tri thức
• Khách thể : giáo viên
• động cơ : hiểu biết và vận dụng
• mục đích: khơi gợi tiềm năng người học, đóng góp
• hoạt động cụ thể : soạn bài, giảng, tổ chức lớp học…
• Phương tiện : giáo án, máy tính, máy chiếu…
• Sản phẩm : tri thức, kinh nghiệm
Sơ đồ trên thể hiện quan hệ qua lại giữa động cơ và mục đích, giữa động cơ chung – động cơ riêng, giữa mục đích chung và mục đích cụ thể Mối quan hệ này nảy sinh từ hoạt động Chính quá trình hoạt động của con người tạo nên mối quan hệ qua lại giữa động cơ và mục đích Sự nảy sinh và phát triển của mối quan hệ này chính là sự xuất hiện và phát triển của tâm lí ý thức nhân cách.Từ những phân tích trên cho thấy, trong cấu trúc hoạt động có sáu yếu tố và chia thành hai hàng:Hàng thứ nhất là động cơ – mục đích – điều kiện, thể hiện nội dung, tính chất của hoạt động.Giữa các yếu tố trên
có mối quan hệ với nhau.Động cơ được cụ thể hóa thành các mục đích.Mục đích lại quy định việc lựa chọn đối tượng tác động mà từ đó ảnh hưởng đến việc xác định điều của hoạt động.Hàng thứ hai là hoạt động – hành động – thao tác, thể hiện phương thức
và các đơn vị thực hiện hoạt động.Một hoạt động được thực hiện bởi nhiều hành động.Một hành động lại được tiến hành bằng nhiều thao tác
4
Trang 9CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG CỦA CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG TRONG HOẠT
ĐỘNG TU TẬP 3.1 Động cơ học tập
Các yếu tố của hoạt động học được hình thành trong chính hoạt động học.Nói đến hình thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự hình thành động cơ học tập.Hoạt động học với chủ thể là sinh viên, còn đối tượng của nó là những tri thức kinh điển,giáo lý,phương pháp tu tập như chỉ quán , với mục tiêu cuối cùng là thấy pháp thể nhập pháp an lạc và giác ngộ giải thoát cho người học Sinh viên khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức ,kiến thức phật học thì tri thức ,trí tuệ dần dần thúc đẩy tiếp tục quá trình tu tập(văn,tư ,tu) Động cơ của hoạt động học tập ở sinh viên được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà trường mang lại Đặc biệt, đối với sinh viên, động cơ học tập được chia thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội Thuộc về loại động cơ hoàn thiện tri thức ở đây là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với những môn học… Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này, không chứa những mâu thuẫn bên trong
và nó đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu tranh với chính bản thân mình Động cơ quan hệ xã hội đó là sự thưởng phạt hoặc đe doạ, những áp lực gia đình, nhà trường, công việc, danh vọng hoặc mong đợi sự hạnh phúc… ở mức độ nào đó đối với sinh viên, động cơ này mang tính cưỡng bách, và có lúc xuất hiện như một vật cản cần khắc phục để vượt qua đạt được mục đích của mình Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó ( tức là đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện tri thức là động cơ chính của hoạt động học tập.Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, tùy điều kiện của sinh viên mà động cơ này hay động cơ kia trở nên chiếm ưu thế
3.2 Mục đích học tập
Mục đích được hiểu là cái mà hành động đang diễn ra hướng tới.Với sinh viên, động
cơ thúc đẩy học tập và tiến hành dưới các hoạt động học.Mục đích của hoạt động học sinh viên hướng tới là các khái niệm, giá trị, chuẩn mực… trong từng cử chỉ,oai nghi
tế hạnh của người xuất gia cụ Mục đích hình thành bắt đầu từ các phương pháp tu tập chân chính dần tinh tấn tu tập trong đời sống.Đặc trưng trong học tập của học sinh, sinh viên là ở chỗ: khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng tác động
mà thay đổi chính bản thân mình Sinh viên học tập để tiếp thu các kiến thức phật học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo, phát triển những phẩm chất nhân cách người xuất gia Xuất gia theo nghĩa đen là ra khỏi nhà Nhưng đầy đủ thì xuất gia mang ba ý nghĩa chính
Trang 101 Xuất thế tục gia: chỉ cho người đó quyết lòng vứt áo ra đi, từ bỏ những tình cảm, những lòng thương yêu thân bằng quyến thuộc của mình, chấp nhận ra đi và ra đi tìm đạo, chân lý, con đường chân lý, hay để phụng sự
2 Xuất phiền não gia: là qua quá trình tu tập người này đã điều phục được tất cả phiền não: tham, sân, si, ích kỷ, đố kỵ, thù hận, ghen tuông, thủ đoạn, lừa đảo, mánh mung,
… tất cả những thói hư tật xấu này, mà người tu tập cần phải điều phục
3 Xuất tam giới gia: Và khi đã chấm dứt mọi phiền não vượt ra ngoài sự chi phối, ràng buộc của ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới Đây là những từ ngữ chuyên môn
có phân tích thì cũng mơ hồ lắm, nhưng đại khái để giải thoát ra khỏi cuộc đời này, cái đó gọi chung là xuất tâm giới gia
Tu là một con đường hy sinh, không trốn chạy ai cả Ở đây không ai thiếu nợ mà đi tu, cũng không ai tệ bạc gì lắm mà đi tu, cũng không ai trốn chạy được điều gì, nhưng cơ bản nhất là trước hết muốn đi tu người đó phải hy sinh.Người đi tu trước hết là hy sinh cho gia đình, hy sinh tình cảm riêng, hy sinh nguồn hy vọng của gia đình và bên cạnh
đó phải đủ bản lĩnh hy sinh tất cả nhu cầu riêng tư của bản thân Có phải người tu là
hy sinh tất cả những nhu cầu của bản thân không? Người tu ăn cái gì? Mặc gì? Nhu cầu của nhà tu là cái gì? Như vậy chúng ta thấy rằng phải hy sinh nhu cầu của bản thân.Thậm chí về mặt tình cảm cũng phải kiềm chế những tình cảm riêng của bản thân rất là cơ bản của con người Đừng nghĩ một nhà tu không có tình cảm, cả cuộc đời này ngoài người điên và bậc chứng thánh không ai không có tình cảm cả nhưng nếu là một nhà tu phải biết kiềm chế tình cảm riêng để vì cái chung, và qua quá trình tu hành phải
đủ bản lĩnh vượt qua những nhu cầu của bản năng càng sớm càng tốt, có khả năng tự chủ mình càng cao càng hay Chứ đừng nói đi tu không có tình cảm Khi Thái tử Tất Đạt Đa chứng kiến cảnh đau khổ thường tình của kiếp nhân sinh khi dạo bốn cửa thành, Thái Tử đã xin phép vua cha xuất gia nhưng bị ngăn cản Người đã ra bốn điều kiện nếu cha đáp ứng được sẽ không đi tu Đó là:
Làm sao cho con trẻ mãi không già
Làm sao cho con mãnh mãi không đau
Làm sao cho con sống hoài không chết
Làm sao cho mọi người hết khổ
Cho nên vì vậy đức Phật đi tu đầu tiên vì tình yêu thương rộng lớn, đầu tiên Ngài phải
hy sinh tình cảm cá nhân của ngài.Tổ Quy Sơn từng dạy: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long Thánh chủng, trấn nhiếp ma quân, dụng báo
tứ ân, bạt tế tam hữu”.Phù xuất gia giả: phàm là người xuất gia, hễ là người xuất gia.Phát túc siêu phương: giở chân cất bước đến một chân trời cao rộng.Tâm hình dị tục: thân tâm này phải khác người đời, tâm thì không thấy được nhưng thân này có khác người đời chưa? Nhìn đầu, nhìn áo là biết khác rồi.Thiệu long Thánh chủng: nối tiếp theo hạt giống, hay con đường của các bậc Thánh.Trấn nhiếp ma quân: nhiếp phục các cái xấu, cái dỡ, cái tệ, cái ma quân.Dụng báo tứ ân: để đền đáp bốn ân: tam bảo, cha mẹ, quốc gia, đàn na thí chủ.Bạt tế tam hữu: cứu tất cả muôn loài Như vậy chúng ta thấy người xuất gia là con người bước đi một con đường cao rộng, một con đường sống vì tất cả mọi người, một con đường bắt đầu bước vào cuộc hy sinh mà không có những nhu câu riêng cho bản thân mình Đó là một con người đạo đức, giàu lòng vị tham thương yêu chúng sanh mà chúng ta phải trân trọng, kính mến và ủng hộ bước đường tu tập của họ
3.3 Điều kiện học tập
6