MỞ ĐẦUKhác với các tranh chấp thông thường, các tranh chấp thương mại đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề tài số 21: “Phân tích các quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại bằng hoà giải thương mại Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc tham khảo quy định pháp luật của một quốc gia trên thế giới về nội
dung này
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Khái quát chung về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải 1
1.1 Tranh chấp thương mại 1
1.1.1 Định nghĩa tranh chấp thương mại 1
1.1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 2
1.2 Hòa giải thương mại 2
1.2.1 Định nghĩa hòa giải thương mại 2
1.2.2 Đặc điểm của hòa giải thương mại 3
1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác 3
2. Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải6 3. Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải tại Việt Nam và một số đề xuất 8
3.1 Thực trạng hòa giải thương mại tại Việt Nam 8
3.2 Một số kiến nghị cho Việt Nam theo kinh nghiệm quốc tế về hòa giải thương mại 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Khác với các tranh chấp thông thường, các tranh chấp thương mại đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và đồng thời cũng phải đảm bảo giữ gìn mối quan hệ hợp tác hòa bình, góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, lành mạnh Việc xây dựng, phát triển và vận hành một cách hiệu quả các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cũng là một ưu tiên đặt ra cho công tác giải quyết tranh chấp thương mại Bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp truyền thông như Tòa án thì các phương thức giải quyết tranh chấp tự nguyện như Trọng tài, thương lượng, hòa giả ngày càng trở nên phổ biến Do đó, em xin lựa chọn đề
tài số 21: “Phân tích các quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng hoà giải thương mại Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
từ việc tham khảo quy định pháp luật của một quốc gia trên thế giới về nội dung này.” Làm đề tài tiểu luận của mình.
NỘI DUNG
1 Khái quát chung về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải
1.1 Tranh chấp thương mại
1.1.1 Định nghĩa tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại là hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị tường1 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Từ việc tiếp cận trên, có thể hiểu: “
Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại”
1 Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập II, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.313
Trang 41.1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
Theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam, tranh chấp thương mại có thể được giải quyết theo các phương thức sau: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án2 Mỗi phương thức có sự khác nhau nhất định về tính chất pháp lý cũng như nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành Các bên tranh chấp có quyền tự do trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào những lơi thế mà phương thức giải quyết có thể mang lại cho các bên; mức độ phù hợp của phương thức giải quyết tranh chấp so với nội dung, tính chất của tranh chấp và thiện chí của các bên
1.2 Hòa giải thương mại
1.2.1 Định nghĩa hòa giải thương mại
Hòa giải, thuật ngữ tiếng Anh thông dụng là conciliation, là biện pháp giải quyết tranh chấp mà trong đó vai trò của bên thứ ba thể hiện rõ tính chất tư vấn, chỉ dẫn, tuân thủ pháp luật và mức độ can thiệp nhất định vào việc đưa ra thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho các bên
Theo Điều 1, Luật Mẫu của UNCITRAL, “hòa giải là một trình tự được gọi
bằng cụm từ hòa giải, trung gian hay một cụm từ khác có nghĩa tương đương, trong đó các bên yêu cầu một bên thứ ba (hòa giải viên) hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp; hòa giải viên không có quyền áp đặt giải pháp giải quyết tranh chấp cho các bên”.
Khái niệm hòa giải thương mại được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định
22/2017/NĐ-CP của Chính phủ:” Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này”
2 Điều 317, Luật Thương mại 2005
Trang 51.2.2 Đặc điểm của hòa giải thương mại 3
Đặc điểm của hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải đã có sự hiện
diện của bên thứ ba (do bên tranh chấp lựa chọn) làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp
Thứ hai, quá trình hòa giải các bên tranh chấp không chịu sự chi phối bởi
các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải
Thứ ba, kết quả hòa giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào
sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí nào bảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hòa giải
1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm so với các phương thức giải quyết tranh chấp
khác 4
Ưu điểm:
Thứ nhất, đây là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít
tốn kém
Thứ hai, các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng, người thua nên không
gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên và vì vậy có khả năng duy trì được quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên
Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng hòa giải các bên dễ dàng kiểm soát được
việc cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ qua đó giữ được bí quyết kinh doanh
và uy tín của các bên
Thứ tư, thương lượng, hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, vì vậy
khi đạt được phương án hòa giải thường nghiêm túc thực hiện
Nhược điểm:
3 Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập II, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.324
4 Giáo trình Luật thương mại tập hai (dung cho các trường đào tạo Đại học Luật ), NXB Giáo dục,
Trang 6Thứ nhất, sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp chủ yếu phụ thuộc
vào thái độ thiện và hợp tác của các bên tranh chấp
Thứ hai, việc thực thi các kết quả đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp
phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ phải thi hành; thỏa thuận hòa giải giữa các bên (trừ trường hợp hòa giải tại trọng tài và tòa án) không được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Thứ ba, bên tranh chấp không có thiện chí có thể lợi dụng hòa giải để trì hoãn
việc thực hiện nghĩa vụ
1.3 Pháp luật về hòa giải thương mại
Trước khi có Nghị định 22/2017/NĐ-CP ban hành ngày 22/02/2017 và có hiệu lực từ ngày 15/4/2017 (gọi tắt là Nghị định 22), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã cung cấp dịch vụ hòa giải với Quy tắc hòa giải từ năm 2007 và đã
có 5 vụ hòa giải tại VIAC theo Quy tắc này Tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động này chỉ dừng lại ở khung pháp luật tại một số đạo luật như Luật Thương mại
2005, Luật Trọng tài thương mại 2010, Luật Đầu tư 2014 và Bộ luật dân sự 2015
Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của pháp luật, phương thức hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp có thể chia làm 2 loại:
- Hòa giải bắt buộc theo thủ tục tố tụng của Tòa án (theo quy định tại Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015);
- Hòa giải theo thỏa thuận của các bên hay hòa giải ngoài tòa án (theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010 hoặc theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 quy định về hòa giải thương mại)
1.3.1 Hòa giải thương mại Tòa án
Hòa giải thương mại Tòa án là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng Tòa án, thể hiện tại Điều 10 BLTTDS 2015 Theo quy định hiện hành, hòa giải có thể được tòa
án tiến hành ở nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử và đối với hầu hết các vụ án, trừ một số trường hợp không thể hòa giải được Nguyên tắc tiến hành hòa giải được
Trang 7quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015 BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm trường hợp một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải vào các trường hợp không hòa giải được Trước đây, theo quy định của BLTTDS 2011, Tòa án vẫn phải triệu tập đương sự đến lần thứ hai mặc dù đương sự không muốn tham gia hòa giải, đến lần thứ hai đó vẫn vắng mặt thì mới được đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài Do đó, việc bổ sung quy định này là hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết
vụ án Thủ tục phiên hòa giải trong BLTTDS 2015 đã được quy định chi tiết, cụ thể hơn so với BLTTDS 2011
Đặc điểm của hòa giả thương mại tòa án: Thứ nhất, quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của các bên tranh chấp vẫn được tôn trọng trong quá trình hòa giải tại Tòa án, các bên có quyền tự do thỏa thuận trong các phiên hòa giải do Tòa án mở hoặc ngay trong khi đang xét xử, trước khi Tòa án tuyên án.Thứ hai, quyền tự định đoạt của các bên bị hạn chế ở phạm vi nhất định, chịu ảnh hưởng của cơ chế quyền lực công5
1.3.2 Hòa giải thương mại ngoài tòa án
Hòa giải thương mại ngoài tòa án: là hình thức hòa giải do các tổ chức trọng tài thương mại thực hiện hoặc do các tổ chức làm dịch vụ hòa giải chuyên nghiệp hoặc
do một bên thứ ba (tổ chức, cá nhân) làm trung gian hòa giải theo yêu cầu của các bên tranh chấp Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam So với hòa giải trong tố tụng tại tòa án, tự hòa giải ngoài tố tụng, các bên có thể lựa chọn một bên trung gian thứ ba có tổ chức chuyên nghiệp, kỹ năng kinh nghiệm, năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định pháp luật la hào giải viên thương
5 Lê Đăng Hùng (2019),” Pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại”, luận văn thạc sĩ luật học, đại học Huế, trường
đại học Luật, tr.11
Trang 8mại Kết quả hòa giải thành công được công nhận và đảm bảo theo quy định tại BLTTDS 2015 nếu các bên có yêu cầu
Trước đây, hoạt động hòa giải thương mại ngoài tố tụng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Do vậy, thỏa thuận giữa các bên không có cơ chế bảo đảm thi hành về mặt pháp lý Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại ra đời đã luật hóa hoạt động hòa giải thương mại nhưng vẫn giữ đúng tính thần của phương thức hòa giải Các bên có thể hòa giải theo phương thức truyền thống là tự hòa giải với nhau hoặc có thể lựa chọn hòa giải theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP
2 Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải
Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp, xung đột đã tồn tại lâu đời, nhưng hòa giải theo nghĩa hiện đại, tức là có tổ chức, có quy chế và mang tính chuyên nghiệp được các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng xuất hiện ở Hoa
Kỳ vào những năm 1970, sau đó là các nước khác thuộc hệ thống pháp luật
Anh-Mỹ Đến nay, hòa giải đã được áp dụng ngày càng rộng rãi trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở nhiều nước trên thế giới
Hoa Kỳ:
được mở rộng, cả ở Tòa án, các cơ quan công quyền, ở cộng đồng cũng như trong giới kinh doanh Năm 2001 Ủy ban quốc gia về thống nhất pháp luật tiểu ban của Hoa Kỳ ban hành Đạo luật Hòa giải thống nhất và được sửa đổi năm 2003 để phù hợp với Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế của UNCITRAL(2002) So với các nước khác, đạo luật Hoa Kỳ có quy định về bảo đảm bảo mật thông tin ở mức độ rất cao: hòa giải viên, các bên tranh chấp và cả bên thứ ba tham gia trong quá trình hòa giải để
sử dụng làm chứng cứ (Điều 4 UMA)
Australia
Trang 9Australia cũng là một quốc gia thuộc hệ thống Common Law có hoạt động hòa giải phát triển mạnh và rộng khắp Bên cạnh hình thức hòa giải tại cộng đồng được công nhận và thực hiện khá thành công, hòa giải còn được phát triển khá mạnh mẽ với tính chất là một phương thức giải quyết chuyên nghiệp trong giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại6 Australia có một thiết chế đặc biệt – đó là Hội đồng cố vấn quốc gia về giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (NADRAC) được thành lập năm 1995, có chức năng tham mưu, tư vấn cho Chính phủ trong hoạch định chính sách về ADR Chính quyền các bang ở Australia đều có các biện pháp tích cực mang tính tổ chức và pháp lý nhằm khuyến khích sử dụng phương thức hòa giải như: công nhận về mặt pháp lý vị trí, vai trò của hòa giải trong giải quyết tranh chấp; thiết lập chế độ hoặc công nhân bằng pháp luật các thiết chế hòa giải và tiêu chuẩn đối với hòa giải viên Nhờ đó, Nhà nước Australia đã khẳng định và nâng cao vai trò phòng ngừa và giải quyết tranh chấp của hòa giải, biến hòa giải thành một dịch vụ có tính chuyên nghiệp, có tổ chức
Châu Âu
muộn hơn và ban đầu việc áp dụng hòa giải gặp khá nhiều trở ngại về mặt nhận thức cũng như trong thực tiễn, Đến những năm 1990, hòa giải mới bắt đầu có chỗ đứng trong khu vực này nhờ hoạt động tích cực của các Phòng Thương Mại ở Châu Âu và các tổ chức hòa giải tư, đặc biệt là Trung tâm giải quyết tranh chấp CEDR ở Anh Ở Đức, năm 1996, Hiệp hội quốc gia về hòa giải trong lĩnh vực kinh doanh và lao động (BMWA) được thành lập; tiếp đó, Hiệp hội hòa giải thương mại và quản lý xung đột (GWMK) được thành lập năm 19987 Một số nước châu Âu đã
6 Đặng Hoàng Oanh, Pháp luật và thực tiễn của Australia về hòa giải-một số kiến nghị áp dụng cho Việt Nam, bài viết đăng trên cổng thông tin điện tử Bộ Tư Pháp
7
Alexander, N.(2001), ”What’s law got to do with it? Mapping Modern Mediation movements” 13(2) Bond Law Review, Special Issue: Dispute Resolition 2001, tr.325
Trang 10xây dựng đạo luật riêng về hòa giải như: Áo (2003), Bungari (2004), Bỉ (2005), Cộng hòa Secsbi (2005) với phạm vi điều chỉnh khác nhau
Luât hòa giải của Bỉ (được đưa vào Phần thứ 7 Bộ luật về Tư pháp của Bỉ) điều chỉnh hai hình thức: hòa giải tự nguyện và hòa giải tại tòa án, trong đó hòa giải tự nguyện là hòa giải không gắn với một quy trình tố tụng của tòa án Luật Hòa giải của Bungari điều chỉnh hoạt động hòa giải ngoài tòa án đối với tất cả các tranh chấp dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình, các tranh chấp hành chính liên quan đến quyền lợi người tiêu dung và các tranh chấp khác giữa cá nhân hoặc pháp nhân8
Liên minh châu Âu ra Chỉ thị về một số khía cạnh của hòa giải các vụ việc dân sự, thương mại ra đời tháng 4/2008, ấn định trong thời gian 36 tháng, các quốc gia thành viên EU phải chuyển hóa các quy định của Chỉ thị vào pháp luật quốc gia
Như vậy, hiện nay trên thế giới, hòa giải đã được áp dụng rất phổ biến trong giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại và được luật hóa trong cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Các nước cũng quan tâm đến việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử của hòa giải viên, thiết lập tiêu chuẩn đối với hòa giải viên
và chú trọng đào tạo hòa giải viên mang tính chuyên nghiệp
3 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải tại Việt Nam và một số đề xuất
3.1 Thực trạng hòa giải thương mại tại Việt Nam
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế rất phổ biến trên thế giới và cũng đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên tại Việt Nam hoạt động này chưa được điều chỉnh bởi bất kỳ thiết chế pháp luật nào
Theo số liệu chính thức trên website của Bộ Tư pháp, Việt Nam hiện có 10 Trung tâm hòa giải thương mại Theo qui định của Nghị định 22, hòa giải viên
8 The Bulgarian Mediatione Act 2004