CHUYÊN ĐỀ TÁC PHẨM VĂN XUÔI 1 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Nguyễn Tuân Phần chung Tác giả Nuyễn Tuân Cho đến nay và mãi nhiều năm về sau nữa, chắc chắn không ai nghi ngờ vị trí hàng đầu trong làng văn Việt Nam hiện đại lại thuộc về Nguyễn Tuân Ông là một trong mấy nhà nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX (Nguyễn Ðình Thi) Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một giá trị hiển nhiên, gợi nhắc một vùng trời riêng, xôn xao thanh âm ngôn ngữ dân tộc Sáng tác của ông tồn tại vừa như những.
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Nguyễn Tuân
Phần chung
Tác giả Nuyễn Tuân: Cho đến nay và mãi nhiều năm về sau nữa, chắc chắn không ai
nghi ngờ vị trí hàng đầu trong làng văn Việt Nam hiện đại lại thuộc về Nguyễn Tuân "Ông
là một trong mấy nhà nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX"
(Nguyễn Ðình Thi) Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một giá trị hiển nhiên, gợi nhắc một vùng trời riêng, xôn xao thanh âm ngôn ngữ dân tộc Sáng tác của ông tồn tại vừa như những giá trị thẩm mỹ độc lập vừa gợi ý, kích thích tìm tòi, sáng tạo nên các giá trị mới
Ðọc văn ông, người đọc không chỉ có khoái cảm thẩm mỹ từ nghệ thuật ngôn từ mà còn được bồi dưỡng thêm tri thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch sử, địa lý, điện ảnh Thực tế ấy chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài năng phong phú, có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật Ðời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc Về sau, khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn không bao giờ tỏ ra
lơi lỏng, hời hợt; mà ngược lại, luôn nghiêm khắc với chính mình Ðây là một nhà văn "suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật" (Nguyễn Ðình Thi), tự nhận mình là người "sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa"
Tùy bút Người lái đò sông Đà:
- Hoàn cảnh sáng tác: Là kết quả của chuyến đi thực tế đầy hào hứng và gian khổ khi
lên mảnh đất Tây Bắc rộng lớn và xa xôi, không chỉ để thỏa mãn cơn đói của thú xê dịch mà
chủ yếu là tìm chất vàng của thiên nhiên và chất vàng mười đã qua thử lửa của con người lao động và chiến đấu của miền đất TB Với cảm hứng được gợi nên từ những nét đẹp và đặc biệt của chính dòng sông này:
“Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”
- Đặc sắc nghệ thuật: Tuỳ bút pha bút kí, kết cấu kinh hoạt, vận dụng được nhiều tri
thức văn hoá và nghệ thuật vào trong tác phẩm Nhân vật mang phong thái đời thường giản
dị Bút pháp: hài hoà hiện thực với lãng mạn Ngôn ngữ: hiện đại có pha ngôn ngữ xưa Với tay bút nở hoa đã cho vị thế xứng đáng là một trong số những tùy bút hàng đầu của văn học
ngay trong cuộc sống nhân dân lao động Ông gọi đó là “chất vàng mười đã qua thử lửa” còn theo Nguyễn Minh Châu đó là “viên ngọc ẩn giấu trong chiều sâu tâm hồn của con người VN” Toàn bộ vẻ đẹp ấy ánh lên trong thiên tùy bút “Sông Đà” sáng tác năm 1958 – 1960 với linh hồn là bài kí “Người lái đò sông Đà” Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà”, ngòi bút của NT đã nở hoa trên dòng sông văn chương của mình
TB
Trang 21 Tình yêu riêng biệt của Nuyễn Tuân giành cho Tây Bắc và sông Đà
Khác với những người nghệ sĩ cùng thời, đến với mảnh đất Tây Bắc – mảnh đất trước cách mạng, Nguyễn Tuân đã từng đặt chân, ông ào đến như nai về suối cũ và đã có những áng văn rất đẹp như những bài thơ trữ tình viết về thiên nhiên nơi đây Đến với trang văn của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp thiên nhiên Tây Bắc diễm lệ bởi nơi ấy có thung lũng lúa chín vàng,
có đá chìm đá nổi, có gió cuốn mây bay, có nắng vàng rực rỡ… Nhưng Nguyễn chỉ say mê dùng bút lực của mình để mô tả Đà giang bởi với ông, Đà giang là nơi hội tụ tập trung nhất
vẻ đẹp của núi sông Tây Bắc Đến với Tây Bắc là phải đến với sông Đà Chỉ đến khi gặp được sông Đà mới thấy hết được thần thái của núi sông hùng vĩ, diễm lệ Vì vậy, Nguyễn say sưa viết về con sông Đà và đã đặt tên cho 15 bài kí của mình là Tùy bút “Sông Đà” Để đặc
tả nhân vật trữ tình này, Nguyễn đã sử dụng chủ yếu nghệ thuật nhân hóa để viết về Đà giang Ông viết về Đà giang như đang ngồi khai lí lịch cho đứa con tinh thần của mình Ông thổi hồn mình vào sông Đà Con sông ấy qua ngòi bút của Nguyễn Tuân như oằn mình, cựa quậy trên từng trang viết Có thể khẳng định sông Đà đẹp hơn cả, trở về đúng với bản tính của mình chỉ đến khi gặp được ngòi bút của Nguyễn Ông không viết “khơi nguồn” mà ông viết
“khai sinh” Ông không viết con sông Đà chảy từ Trung Quốc vào VN mà ông viết sông Đà
“xin nhập quốc tịch Việt Nam” Ông không viết sông Đà trải rộng ra trên lãnh thổ nước ta mà viết “sông Đà trưởng thành dần lên”… Với cách viết này, Đà giang thực sự trở thành một
nhân vật, trở thành một hình thể, một cơ thể sống và Nguyễn xứng đáng là một nhà ngôn ngữ
bậc thầy, xứng đáng được văn giới cùng thời mệnh danh là người chẻ sợi tóc làm tư
2, Cái ngông của sông Đà gặp cái ngông của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân còn chọn Đà giang bởi ông là một nhà xê dịch, một chủ nghĩa xê dịch
Đề tài xê dịch được du nhập từ văn học phương Tây Nguyễn chịu ảnh hưởng lớn bởi nhà văn Pháp A.Gide – một người đi đầu trong chủ nghĩa xê dịch ở Pháp Người viết về đề tài xê dịch thường viết về đường xá, xe cộ, sông nước, thác dữ Mảnh đất Tây Bắc là nơi có Đà giang dữ dội Con sông ấy đã từng bước vào trong thơ Nguyễn Quang Bích:
“Chúng thủy giai đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu”
Khi tất cả dòng sông đều chảy về hướng Đông, riêng con sông Đà lại chảy về hướng Bắc Một con sông đầy cá tính gặp một nhà văn phong cách cũng rất lạ mà giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh đã đóng đanh trong một chữ ngông và trên diễn đàn văn chương Việt Nam xuất
hiện những áng văn tuyệt bút viết về sông nước
Người viết về đề tài xê dịch cũng rất thích đi đó đây để thay đổi thực đơn trong nhãn quan tâm hồn mình Nguyễn Tuân cũng vậy, ông không thích những gì gọi là nhàm chán Ta
thấy đây là sự đồng điệu trong tâm hồn những người nghệ sĩ lớn bởi Ma-xim Gor-ky nói “cái bình thường là cõi chết của nghệ thuật” Nam Cao trong “Đời thừa” cũng từng viết: “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho.” Chính
sự đặc sắc của Đà giang đã hấp dẫn ngòi bút của Nguyễn Tuân, trở thành nguồn cảm hứng bất tận để thăng hoa những sở trường, phong cách rất ngông của mình
3, Vẻ đẹp của sông Đà
Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một nhà văn ưa cảm giác mạnh Với Nguyễn, đã là đẹp phải đẹp tuyệt mĩ, đã là dữ dội phải dữ dội đến khác thường, đến tột đỉnh Ông không thích những gì tầm thường Con sông Đà đáp ứng được hai xúc cảm của Nguyễn Tuân vì con sông Đà mang trong mình hai tính cách trái ngược nhưng thống nhất với nhau Ở phần thượng lưu, con sông vô cùng hung bạo, dữ dội Nhưng ở hạ nguồn, nó lại toát lên một vẻ đẹp rất trữ tình, thơ mộng
3.1 Con sông Đà hung bạo
Trang 3Sự hung bạo của Đà giang đã được Nguyễn Tuân thể hiện một cách rất tài tình trong thiên tùy bút này Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh:
“Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh”
sự hung bạo ấy ở những quãng sông huyền bí, hoang vu đặt giữa điệp trùng của núi rừng Tây Bắc
1 Cảnh đá bờ sông
Cái hùng vĩ, sừng sững của sông Đà được thể hiện ngay ở cảnh đá bờ sông: “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ
mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”
Cảnh đá bờ sông được miêu tả dựng vách thành, sự so sánh và liên tưởng khá độc đáo
khiến con sông Đà hiện ngay ra trước mắt người đọc như thành quách sừng sững, đứng án ngữ ngay trước mặt những du khách khi đặt chân đến đây Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân đã cho thấy sự nguy hiểm của dòng sông, một nơi hẹp như thế mà lưu tốc dòng nước vốn nhanh bây giờ lại xiết hơn nữa Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được, lùi cũng không xong chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi
Nguyễn Tuân cho người đọc cảm nhận bằng trực cảm như chính mình được lái đò qua quãng sông hẹp với những vách đá dựng đứng hai bên Cái lạnh rợn người được so sánh như
ta đang đứng giữa mùa hè mà ngột ngạt bởi cái chật hẹp, tối đến bất ngờ và sâu thăm thẳm
như đứng ở dưới một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện Một câu văn tràn dòng với những liên tưởng của liên tưởng
cho thấy sự tài hoa và uyên thâm trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn
2 Cảnh mặt ghềnh Hát Loóng
Cũng như đá bờ sông, thì“quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá,
đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua quãng đấy” Bằng kết cấu trùng điệp: nước
xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” tác giả đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, sẵn
sàng lấy đi tính mạng bất cứ tay lái nào khinh suất Không có từ nào trực tiếp tả ghềnh đá nhưng người đọc hình dung rõ diện mạo con sông Quãng dài ghềnh đá nổi trên mặt sông, nước mạnh xô ghềnh tạo sóng dữ, sóng cuộn trào sinh ra gió thổi rít lên gùn ghè, gùn ghè quanh năm suốt tháng Con sông đến đây đã trở thành một kẻ thù nguy hiểm của con người Với nghệ thuật nhân hóa con sông như một kẻ thù tính khí thất thường, đòi nợ vô duyên cớ không bỏ sót một ai Ấy mới thấy hết cái hung bạo của sông Đà Sự kết hợp ngẫu nhiên hay
Trang 4có lựa chọn giữa tên địa danh với đặc điểm của sông Đà ở quãng sông này? Chỉ biết khi Nguyễn tả luồng gió gùn ghè nơi mặt ghềnh lại nằm đúng vị trí Hát Lóong Đọc tên địa danh
mà phải nén hơi, uốn lưỡi như chính như chính mình vừa phải đi qua chỗ nước giữ, với sóng, với đá, với ghềnh thác của sông Đà
3 Cảnh những cái hút nước
Những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La lại ghê rợn hơn
nữa “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước
ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới” Những cái bẫy ghê sợ, chết người! Vẫn là nghệ thuật so sánh liên tưởng độc đáo kèm theo biện pháp nhân hóa nước biết thở và kêu nghe đã đủ cho người đọc rùng mình nhưng
Nguyễn Tuân không dừng lại ở đó mà tiếp tục thử độ lì trong giác quan của người đọc khi so sánh và liên tưởng với cái cửa cống cái bị sặc nước Khi dòng chảy siết, nó thở và kêu, nhưng
kêu như thế nào thì nhà văn lại tiếp tục tả những cái hút nước ở độ sâu: cái hút xoáy tít đáy, như cái giếng sâu cho thấy độ mạnh của dòng nước; với bề rộng: quay lừ lừ như những cánh quạ đàn; rồi âm thanh: những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào, cuối cùng là độ nguy hiểm: Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới Hình ảnh sông Đà qua ngòi bút của Nguyễn, có lẽ không chỉ làm
những người lái đò qua đây cảm thấy rùng rợn mà chính người đọc cũng như vừa tự mình chèo thuyền qua quãng sông này mà thử cảm giác Thế nên khi chèo thuyền men qua những
vực nước sông Đà cần phải chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Cảm giác lạnh người và rợn
tóc gáy vì câu văn tác động mạnh mẽ vào trực cảm của người đọc
Cho cảm giác thật đến từng mi-li-met nhà văn sử dụng trường liên tưởng trùng điệp Khi nhập vào vai một anh thợ quay phim táo tợn muốn truyền cho người đọc cảm giác lạ đã dũng cảm ngồi vào một chiếc thuyền thúng rồi thả mình và thuyền văng xuống cái hút nước sông Đà Nhìn từ đáy cái hút nước ấy nhìn lên vách thành hút chênh nhau đến vài sải tay Người xoay theo thuyền cả thuyền, người, máy ảnh quay tít Nhìn lên nước sông Đà trong cái hút ấy làm bằng một màu xanh ngọc bích của một khối pha lê đúc dày như sắp vỡ tan ụp vào cả người quay lẫn người xem, khiến ai cũng như đang khiếp hãi để ngồi ghì lấy cái mép
lá rừng vừa bị cho vào cái cốc pha lê mà quay tít như vừa rút ra cái gậy đánh phèn Liên tưởng của liên tưởng để người đọc có thể cảm nhận rõ nhất Phải có sự am hiểu về kiến thức trong lĩnh vực điện ảnh thì Nguyễn mới có thể viết được những câu văn như thế Câu chữ như đang
nở hoa trên dòng sông Đà và trên trang văn của Nguyễn
4 Cảnh những cái thác nước
Tiếng thác réo nghe càng ghê sợ hơn! “Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” Nghệ thuật so sánh, nhân hóa tài ba cùng
những liên tưởng “rất đắt”, Nguyễn Tuân đã cho thấy một cảnh tượng thác nước hùng vĩ, nguy hiểm tận độ Lần đầu tiên trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai
Trang 5nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau, có nước thì không có lửa, ngược lại, có lửa thì không có nước Vậy mà Nguyễn Tuân đã làm được điều đó như một nghệ sĩ bậc thầy! Trước mắt người đọc là cả một rừng vầu, tre nứa hàng ngàn cây đang bị đốt cháy và phát ra tiếng nổ nhưng chưa hết, trong khu rừng vầu, rừng tre đang cháy ấy lại được thả vào đó hàng ngàn con trâu mộng to khỏe, nên khi da của chúng bị đốt cháy và nóng thì chúng sẽ lồng lộn mà phá tan rồi tìm đường thoát thân Khi chạy nó va đập mạnh vào những cây tre, cây nứa tạo nên những tiếng nổ lớn, liên hoàn như âm thanh vang na não bạt, kinh thiên động địa Hình ảnh của Nguyễn tác động mạnh mẽ lên hệ thần kinh người đọc để mang đến cảm giác chân thực và sống động nhất Con sông ấy như một kẻ lắm mưu, nhiều kế để
khiêu khích người lái đò Nó biết: oán trách, van xin, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo
Bộ mặt và tâm địa của một người xấu xa, lắm mưu, nhiều kế - kẻ thù số một của con người
5 Cảnh những trùng vi thạch trận đá
Phối hợp với sóng nước với tiếng thác ầm ầm là “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này” Sông Đà đã
giao việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp lại thành ba trùng vi nguy hiểm Khi miêu tả thạch trận đá tác giả đã vận dụng rất nhiều kiến thức trong lĩnh vực quân sự, thể thao để làm rõ đối tượng miêu tả
Trùng vi thứ nhất: Sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa
sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ
hở, thực chất chúng đóng vai trò dụ chiếc thuyền vào tuyến giữa Ở trùng vi thứ nhất này sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền Vừa vào trận địa, chúng tấn công
chiếc thuyền tới tấp: “Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não nạt Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò” Trận chiến đầu, sóng nước là tuệ binh mà con sông tung ra để thử
thách người lái đò Nhưng bằng sự mưu trí, dũng cảm, ông lái đã vượt qua dễ dàng
Vượt qua trùng vây thứ nhất, ông lái đò phải đương đầu với trùng vi thứ hai: “Tăng
thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền” Tại trận chiến đánh giáp lá cà này, chúng quyết sinh quyết tử với ông lái đò Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn sóng nước cửa tử “vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” Bọn đá, sóng
nước dở những món đòn hiểm độc và tinh vi nhất!
Đến trùng vi thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng
sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Tại đây những boong-ke
chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác phải đánh tan cái thuyền Làm ta liên tưởng đến một
trận đấu bóng quyết liệt Chiếc thuyền như một cầu thủ phải phóng thẳng, chọc thủng cửa giữa, vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, và như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên được vừa tự động lái được lượn được, tiến về phía khung thành và
cuối cùng đã hết thác Trận bóng đã thắng lợi về phe người lái đò tài ba với “tay lái ra hoa” Con Sông Đà như một loài thủy quái, hung hăng, bạo ngược biết bày thạch trận, thủy
trận hòng tiêu diệt thuyền bè trên dòng nước, một thứ thiên nhiên Tây Bắc với “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” Con sông mà “hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà” Chẳng thế mà sông Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh “Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen
Trang 6* Đặc sắc nghệ thuật khi miêu tả cong sông Đà hung bạo:
Viết về Đà giang, ngòi bút của NT vô cùng phóng túng, thoải mái bởi “Người Lái Đò Sông Đà” được viết bằng thể loại tùy bút Ông chẳng khác nào một nhà quay phim lão luyện
Có khi ống kính của nhà văn tiếp cận con sông Đà từ phía viễn cảnh Có đôi lúc, ống kính của nhà văn lia vào để quay cận cảnh từng quãng sông hẹp, cắt từng đoạn sông để mô tả cái
sự hung bạo của những đoạn sông với hình ảnh “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ
ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.” Thậm chí có những đoạn “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.”
Viết về con sông Đà hung bạo, tác giả sử dụng những câu văn rất ngắn, huy động chủ yếu kiến thức võ thuật và quân sự để miêu tả sự vận động của dòng nước Ông cũng cảm nhận con sông bằng nhiều giác quan để kích thích trí tưởng tượng của độc giả Bởi vậy, con sông Đà hiện lên là một nhân vật có tính cách và ngôn ngữ Một nhà thơ Ba Lan có lần đã từng viết:
“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”
Ở đây, ta thấy xuất hiện những câu văn rất ngắn gồm toàn thanh trắc với hơn 300 động
từ mạnh cùng kết cấu điệp trùng miêu tả sự khẩn trương, gấp gáp của nước, của đá, của sóng
và của gió Thể hiện rõ nhất đó là đoạn mặt ghềnh Hát Loóng: “dài hàng cây số nước xô đá,
đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.” Ta còn thấy NT tập trung vào miêu tả
sự hung bạo của Đà giang ở những hút nước với cách liên tưởng vô cùng táo bạo Đó là đoạn
Tà Mường Vát ở phía dưới sông La: “Có những con thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.” Thêm vào đó, NT còn nhìn thấy sự hung bạo ở
mùa lụt của con sông Đà Mùa lụt của sông Đà vẫn còn cái ngấn nước ở cổng châu Quỳnh Nhai Ngày lụt sông Đà, xác hươu, xác nai cùng gỗ Chò Vẩy, Chò Hoa trôi lềnh bềnh trên mặt sông NT ví lúc này dòng sông Đà chẳng khác nào “kẻ thù số một” của người dân Tây Bắc Khi hung bạo thì cực kì nguy hiểm, tâm địa độc ác đến tột cùng
=> Con sông Đà hung bạo đâu bởi thiên nhiên gây ra với: thác dữ, những luồng chết, vực xoáy mà NT còn thấy đó là do con người Đó chính là bọn thổ ti lang tạo đã đắp bến chia ngăn dòng sông Đà, khiến con sông trở nên trái tính, trở thành kẻ thù của người dân TB Đó còn là bọn thực dân Pháp đóng đồn bốt ở hai bên bờ sông khiến Đà giang trở nên càng hung bạo Rõ ràng, con sông Đà mang cốt cách của người dân Tây Bắc Nhìn rộng ra, ta thấy những con sông hầu như đều mang nét đẹp văn hóa vùng miền nơi nó đi qua Nếu “sông Hương” của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang vẻ đẹp trầm mặc của cố đô và người dân Huế thì con sông
Đà lại là biểu tượng, lại mang cái văn hóa của người dân Tây Bắc Như vậy, có thể khẳng định Đà giang qua ngòi bút của NT hiện lên dữ dội đến khác thường, tột đỉnh, thể hiện rất rõ
phong cách rất riêng của NT –một phong cách rất “ngông”
3.2 Con sông Đà trữ tình
1 Hình dáng con sông Đà
Nguyễn Tuân miêu tả hình dáng sông Đà nhìn từ trên cao xuống để phát hiện ra vẻ đẹp tòan diện của con sông, thơ mộng, mềm mại và đẹp ngay từ hình dáng Từ trên cao, tác giả
nhìn thấy con sông Đà dài như một sợi dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình Nó biết mềm
mại, uốn lượn qua các dãy núi, triền đồi, các ghềnh thác để làm cho mình trở nên dịu dàng,
nữ tính
Sông Đà đâu chỉ lắm thác nhiều ghềnh đầy hiểm nguy cho người lái đò mà còn đậm nét
thơ mộng, trữ tình: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Một câu văn với nghệ thuật kết cấu trùng điệp và cách so
sánh liên tưởng gần gũi, sông Đà đã hiện lên như một cô thiếu nữ của mảnh đất Tây Bắc đẹp
Trang 7e lệ, dịu dàng Cô gái ấy có mái tóc tuôn dài, mềm mại Mái tóc ấy lại được ẩm hiện trong mây trời của Tây Bắc, của khói sương mờ ảo khi người dân đốt nương làm rẫy vào mùa xuân với những chùm hoa ban với sắc trắng, sắc tím và màu đỏ tươi của hoa gạo tháng ba – phảng phất vị Đường thi Nếu nhìn và cảm nhận, con sông hiện lên hiền hòa và dịu dàng như một
cô gái đang e lệ với mái tóc dài buông xõa, trên mái tóc đen óng ả ấy cài điểm những bông hoa ban, hoa gạo sặc sỡ sắc màu, và cô thẹn thùng che mặt bằng một tấm khăn voan mỏng manh màu trắng khi bước những bước chân ngập ngừng, e ấp về nhà chồng Còn gì đẹp, thơ mộng và trữ tình hơn khi ví dòng sông Đà với hình ảnh một cô thiếu nữ đang thẹn thùng cất bước chân về nhà chồng Ngòi bút của Nguyễn không chỉ thể hiện sự tài hoa mà còn là sự tinh tế thông qua sự liên tưởng độc đáo và cách so sánh trùng điệp, một cách so sánh tài hoa, đượm chất phong tình Hơn nữa, nếu để ý hẳn độc giả bạn đọc sẽ nhận thấy trong thơ ca cổ trung đại, các bậc tao nhân thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho con người Làm sao quên được hình ảnh:
“Cổ tay em trắng như ngà Đuôi mắt em sắc như là dao cau
Nụ cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”
Ngược lại, đến với Nguyễn, con người là chuẩn mực để so sánh Ông kéo thiên nhiên lại gần với con người Với Nguyễn Tuân, con người là trung tâm của vũ trụ, là một tiểu vũ trụ Vì vậy, ông nhìn sông Đà như áng tóc của người thiếu nữ
2 Màu nước sông Đà
Nước Sông Đà còn thay đổi theo mùa, nó đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông
Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về” Nguyễn tả sắc xanh của
nước sông Đà cũng lạ lẫm, màu xanh ngọc bích, sắc xanh trong vắt như pha lê, ngọc thạch
mà mắt người có thể nhìn thấu đáy Để thấy được sắc xanh như màu xanh của sông Đà là hiếm và khác biệt với nhiều dòng sông khác NT đã so sánh màu sắc của nước sông Đà với màu nước của sông Gâm, sông Lô là màu xanh đục lờ lờ canh hến Sắc nước mùa thu của sông Đà tựu thân nó không thể coi là đẹp nhưng cái đẹp đáng nói ở đây chính bởi sự làm duyên của con sông Mùa thu nước sông Đà dần thay màu, nó lừ lừ và rồi chín đỏ như mặt người đang tím bầm vì rượu bữa, hoặc của một người đang bất mãn, đang bực bội mỗi độ thu
về Xanh trong, dịu dàng là thế vào mùa xuân mà lại chuyển ngay sang sắc tím đỏ giận dỗi vào mùa thu Thế mới biết tính khí của con sông kia cũng thất thường lắm, dịu dàng đấy mà giận dỗi được ngay Không chỉ có tính cách đa dạng mà chúng ta thấy sông Đà hiện lên như một cô gái biết trưng diện, biết điệu đà bởi mỗi mùa cô ấy tự thay tấm áo đã cũ màu, khoác cho mình tấm áo mới, luôn luôn thay đổi, luôn tự làm mới mình để đẹp hơn, hấp dẫn hơn
3 Con sông Đà gợi cảm
Con Sông Đà gợi cảm với vẻ đẹp của nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt
há Dương Châu”, làm cho người đi rừng dài ngày bất ngờ gặp lại con sông“vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” Với nghệ thuật so sánh
cụ thể Nguyễn đã cho người đọc thấy được tình cảm, cảm xúc của mình đối với con sông của miền tây tổ quốc, không chỉ đơn thuần là cảm xúc của một con người đối với một con sông
mà đó là xúc cảm của những “cố nhân” sau bao ngày xa cách Niềm vui ấy như tiếng cười
giòn tan trong ánh nắng của mặt trời bừng chói sau một kì mưa dầm ẩm ướt, hay như một giấc chiêm bao ngọt ngào nhưng ta choàng tỉnh giấc và giờ đây lại được nối lại Niềm vui của sự hân hoan và mãn nguyện sau bao nỗi đợi chờ
Trang 8Sông Đà với Nguyễn như một “cố nhân”, nhưng khổ nỗi cố nhân này lại “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy rồi chốc lại bẳn tính, thác lũ, gắt gỏng ngay đấy” Ấy thế mà
khi được gặp lại cố nhân lại trào dâng một cảm giác đằm đằm, ấm ấm Phải chăng bởi con
sông kia quá gợi cảm và quyến rũ Nét quyến rũ của một “người tình nhân chưa quen biết”
4 Cảnh sắc hai bên bờ sông
Sông Đà còn có những khoảng không gian, những cảnh sắc đầy thơ mộng: “Cảnh ven
sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế
mà thôi” Cái lặng lẽ của thanh bình, yên ả mà có lẽ bất cứ một tâm hồn khó tính nào cũng
muốn ở trọ nơi đây
Có những cảnh hoang vu, hoang sơ đến kì lạ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền
sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Chút hoang dại của lịch sử đất
nước thời khai thiên lập địa, chút hồn nhiên của tuổi thơ với bao mơ mộng gửi theo những câu chuyện cổ tích mà mẹ, bà thường hay kể, tất cả lại về đây hội tụ trên bờ sông Đà vừa hoang vu, vừa hồn nhiên, thơ trẻ
Cảnh sông Đà còn là “những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm”
Một cảnh thơ mộng, tuyệt đẹp trong mùa xuân với sự sống đang cựa mình, sinh sôi Thực
và mộng chảy tràn vào nhau Trong lúc đang thưởng thức cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng và
tuyệt đẹp như thế, nhà văn bỗng cảm thấy“thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”, được đánh thức bởi
sự hiện diện của con người Thiên nhiên tuy đẹp đấy nhưng hoang sơ, “tịnh không một bóng người”, “một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa” mà không có ai chăm sóc, mà
dường như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng vắng lặng như thế mà thôi Từ quá khứ nhà văn trở về với hiện tại và hướng tới tương lai đẹp đẽ Đất đai ở đây sẽ có con người khai phá, đường xá sẽ được mở, những ngôi làng thị trấn sẽ được mọc lên, khắp nơi đều đầy ắp tiếng cười Rõ ràng cảnh vật nếu không có con người thì vẫn chỉ là hoang sơ, tẻ nhạt mà thôi! Đang mộng mơ bên cảnh sông Đà, Nguyễn Tuân có mối giao cảm kì lạ với loài
vật: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi ánh cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Con vật hỏi người hay chính người đang say trong cảnh mộng mà tự hỏi mình
Cảnh sông Đà thơ mộng là thế, có những khoảng lặng diệu kì khiến con người ta rơi vào cảm
giác thần tiên để rồi tiếng đập nước của “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi đuổi mất đàn hươu vụt biến” đánh thức người đang mộng Nguyễn Tuân đã
dùng cái động để tả thật tài tình cái tĩnh lặng kì diệu Trở về với thực tại, lênh đênh trên dòng nước xanh ngọc đẹp đẽ, phẳng lặng, nhà thơ có sự đồng điệu trong cảm xúc về sông Đà như
Tản Đà khi trước: “Dải sông đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của
“một người tình nhân chưa quen biết” Con sông Đà như một sinh vật có linh hồn, dòng nước trôi lững lờ “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi” Con sông trở nên hiền hòa và thơ mộng,
nó “trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình
dây cổ điển trên dòng trên” Đó là niềm mong ước của nhà văn nửa muốn gìn giữ những
nét nguyên sơ của con sông, nửa muốn cải tạo mà khai phá nó để phục vụ con người –
đó phải chăng cũng là lòng yêu nước thầm kín của Nguyễn?
Đà giang hiện lên qua ngòi bút của NT thơ mộng, lãng mạn, trữ tình đồng thời vô cùng kiều diễm Nếu ở đoạn văn trên, NT miêu tả con sông Đà hung bạo với những kiến thức nền chủ yếu là quân sự hay võ thuật cùng những câu văn ngắn, nhiều động từ, nhiều thanh trắc thì đến đoạn văn này, NT chủ yếu sử dụng kiến thức du lịch, kiến thức lịch sử và kiến thức
văn học với câu văn vươn dài ra như nhịp chèo khoan thai của “thuyền tôi trôi trên sông Đà”
Trang 9Nếu để ý, người yêu văn hẳn sẽ nhận thấy có đến 14 câu văn NT kết thúc toàn với thanh bằng
để tạo cảm giác mênh mang mềm mại Người yêu văn có thể dễ dàng chuyển thẳng những đoạn văn NT viết về dòng sông Đà ở hạ lưu thành những bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi Phong cách NT này trước cách mạng ta chỉ bắt gặp ở nhà văn Thạch Lam với lối viết truyện không mâu thuẫn, không kịch tính, không gay cấn, truyện như một bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi Đến đây, ta lại bắt gặp ở nhà ngôn ngữ tài ba NT một phong cách nghệ thuật tương
tự
* Tình yêu đất nước thầm kín của NT
Khi viết về sông Đà, NT đã bộc lộ rõ mình là một nhà văn với tình yêu quê hương đất nước tha thiết bởi trong văn chương nghệ thuật, viết về sông núi là viết về giang sơn mà viết
về giang sơn, là viết về Tổ quốc Đây là tình yêu nhất quán trong cuộc đời cầm bút của nhà văn Trước CM, tình yêu quê hương Tổ quốc của NT được bộc lộ một cách thầm kín thông
qua tác phẩm “Thiếu quê hương” Đó là nỗi lòng của những con người “sống giữa quê hương nhưng vẫn thấy mình thiếu quê hương.” Còn nói như Chế Lan Viên:
“Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy
Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”
Giờ đây, khi viết về con sông Đà, ánh sáng CM rọi chiếu vào tâm hồn của nhà văn, phù
sa của nhân dân bồi đắp Ông đứng giữa dòng sông Đà, đứng giữa nhân dân Tây Bắc để bộc
lộ trực tiếp tình yêu nước sâu sắc qua từng câu chữ Không yêu sao được khi ông đến với Đà giang, viết về một con sông hùng vĩ, ông đã đọc hàng trăm trang cổ sử, hàng trăm trang “Dư địa chí”, đọc biết bao nhiêu áng thơ trữ tình của Tản Đà, của Lí Bạch, của Nguyễn Quang Bích,… nhưng viết về Đà giang, Nguyễn không bị lệ cổ, không bị tập cổ, không bị ảnh hưởng
bởi người xưa mà đã tái tạo mới trên từng trang viết vì nói như Nam Cao: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.”
Cần phải khẳng định rằng khi viết tập tùy bút “Sông Đà”, NT đã đi thực tế ở trên Tây Bắc Trong chuyến đi, NT đã thâm nhập vào đời sống của nhân dân Tây Bắc và đã trở thành người đầu tiên kể ra chính xác 50 trên tổng số 73 con thác dữ từ ngã 3 biên giới Việt – Trung
về tới Chợ Bờ Tố Hữu đã từng nói: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật ứ đầy” 15 bài kí trong tập tùy bút “Sông Đà” nói chung và “Người lái đò sông Đà” nói riêng
thực sự đã được tràn ra từ trong trái tim NT khi cuộc sống của nhà văn trên Tây Bắc đã đủ đầy để chảy tràn thành những áng văn đẹp
Tình yêu nước ấy còn được bộc lộ khi NT nhớ lại một lần nhà văn bám gót anh liên lạc Nhìn thấy con sông Đà từ rất xa, NT gọi con sông ấy là một cố nhân, một người tình chưa hề biết mặt theo ý thơ của Tản Đà Thế là bao nhiêu những vần thơ của các bậc tao nhân mặc khách chợt ùa về trong tâm hồn của nhà văn NT Ông nguyện theo người xưa để thơ lên sóng nước sông Đà Như vậy, 15 bài kí mà Nguyễn gửi trong kho tàng văn chương Việt Nam là gì nếu không phải là những vần thơ đẹp được ông thả trên dòng sông nghệ thuật?
Bên cạnh đó, tình yêu nước của NT còn được thể hiện khi ông say sưa kể về những loài
cá quí hiếm chỉ có ở Đà giang Đó là cá anh vũ, cá dầm xanh “vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.” Như vậy rõ ràng, đây chính là “chất vàng mười” của rẻo cao Tây Bắc Đó không chỉ là “chất vàng mười” của thi ca mà còn là “chất vàng mười” của kiến thức Không
phải ngẫu nhiên mà trong bài kí này, NT ước ao được nghe một tiếng còi tàu xúp - lê từ Yên Bái, Việt Trì vọng lên trên Tây Bắc Điều ấy khiến ta liên tưởng tới Chế Lan Viên với mong muốn được hóa thành đoàn tàu để chở mọi người lên khai phá mảnh đất nơi đây
Đà giang hiện lên qua ngòi bút của NT vừa hùng vĩ, vừa dữ dội nhưng cũng vô cùng
mĩ lệ, trữ tình và vô cùng lãng mạn Hai tính cách ấy đặt bên cạnh nhau nhưng không hề bài trừ nhau mà lại tôn vinh nhau, khiến con sông Đà trở nên chân thực sống động, cựa mình trên trang viết Quan trọng hơn, đằng sau dòng sông ta thấy hiện lên một bức chân dung của một
Trang 10NT với tình yêu quê hương đất nước; một NT đã được ánh sáng của Đảng soi rọi, được phù
sa của nhân dân bồi đắp; một NT với tâm hồn mà như Tố Hữu đã viết:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Như vậy, NT viết bài kí “Người lái đò sông Đà” bằng một tâm hồn rộn ràng tiếng chim như thế, bằng một tâm hồn như một vườn hoa thơm quả ngọt Rõ ràng ông là người chiến sĩ trên mặt trận văn chương
Phân tích hình tượng người lái đò
MB :
Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc của NT được in
trong tập sông Đà (1960) Viết tuỳ bút này Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa được vui và vững bền Chất vàng mười của con người ấy chính là người lái đò sông Đà Dưới ngòi bút tài hoa của NT người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình
2 TB (nói cả phần chung trong đề phân tích hình tượng con sông Đà)
a Lai lịch và ngoại hình người lái đò sông Đà
* Lai lịch :
Ông lái đò sinh ra và lớn lên bên bờ sông Đà, ngay ngã ba sông Đà nên con sông là máu thịt của quê hương đã ngấm vào trái tim, khối óc nên ông lái gắn bó, yêu thương và thấu hiểu tường tận, cặn kẽ dòng sông
nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù Bả vai của ông có vết củ nâu tròn,
dấu tích tì sào của nghề lái đò mười năm liền trên sông nước, vượt qua bao ghềnh thác mà
NT đã ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng
Chỉ bằng vài nét khắc họa tài hoa mà NT đã chạm khắc vào tiềm thức của người đọc một hình ảnh nhân vật ông lái đò gần gũi với với môi trường lao động trên sông nước, sinh
ra trên sông nước và để sống với sông nước Một con người suốt một đời chiến đấu với thác,
đá, sóng, nước sông Đà để tồn tại và xây dựng quê hương Tây Bắc Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình một con người mà còn để ca ngợi sự gắn
bó, yêu quý nghề ở chính con người đó
a Vẻ đẹp tâm hồn người lái đò qua cuộc chiến với sông Đà
1 Sự từng trải và am hiểu dòng sông:
Những nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành thạo trong nghề Nhưng như vậy cũng vẫn là chưa đủ, Nguyễn Tuân còn cho biết: người lái đò còn là một linh hồn muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay ông giữ lái độ sáu chục
Trang 11lần…Cứ đọc trong thiên tùy bút này sự hung bạo của con sông Đà với thác, nước, sóng, đá
mà để lái đò dọc sông Đà là một thử thách lớn trong nghiệp đời của ông
Sự từng trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mươi ba con thác nhưng ông đã lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng nước của tất
cả các con thác hiểm trở Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng Không phải bỗng dưng mà nhà văn nổi tiếng tài tử lại đưa vào trang viết của
mình tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề Phải chi li, cụ thể như vậy mới thấy hết sự từng trải, gắn bó của với nghề đến độ kỳ lạ ở ông lão lái đò Đấy cũng là cách nhà văn bày tỏ nỗi thán phục của chính mình về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở sông Đà
2 Cuộc chiến đấu giữa ông lái đò và con sông Đà :
Ông lái đò đã từng ngược xuôi trên ghềnh thác sông Đà nhiều năm trong cuộc đời nên ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, và thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước, để rồi từ đó mưu trí, dũng cảm vượt qua và chiến thắng thiên nhiên nghiệt ngã để tồn tại, lao động và sáng tạo Ông lái đò hiện lên khác nào vị thần Thủy Tinh trong thần thoại
VN, nhưng có điều ông không có phép tiên mà chỉ đơn thuần là con người lao động bình dị, đời thường tiêu biểu cho phẩm chất của người lao động mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mới ở miền Bắc
Chỉ từng trải thôi chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào trong hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không sẽ phải trả giá bằng chính mạng sống của mình Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một
a, Trùng vi thạch trận thứ nhất : Đương đầu với mặt trận đá
a1, Sông Đà :
* Trận địa đá :
Kẻ thù nham hiểm và hung ác, mặt mũi khó nhìn : Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng
bọt đã trắng xoá cả một chân trời Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông,
hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần
có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Với những từ ngữ : mai phục, vồ lấy thuyền khiến cho lũ đá nơi ải nước như những kẻ thù nham
hiểm và hung ác Chúng có thể bất thình lình tấn công con người bát cứ khi nào và tai họa sẽ
ập đến mà không báo trước Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này Nguyễn đã miêu tả lũ đá ở đây mỗi hòn mang một vẻ mặt khác nhau: hòn thì ngỗ ngược, hòn méo mó, hòn mặt xanh lè, hòn hất hàm như thách thức mỗi hòn mỗi dáng vẻ, nhưng nhìn những bộ mặt ấy thì không có chút nào thiện cảm
bởi vẻ lạnh lùng, hung ác và giữ tợn
* Bày binh bố trận :
Người đọc như đang chứng kiến thạch trận đá trên sông Đà như bày ra một trận địa
chiến đấu mà mỗi vị trí và nhiệm vụ được cân nhắc và tính toán kĩ lưỡng Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng hòn chia làm
ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn Có bọn đá tiền vệ, hậu vệ, đá
cũng biết mai phục, biết đánh trận Tất cả gợi lên sự hung tợn và dữ dội, quyết liệt của con
Trang 12sông Đà hung bạo này Hàng tiền vệ : Có hai hòn canh cửa thoạt nhìn tưởng chúng như sơ hở nhưng thực chất đang đóng vai trò dụ cái thuyền tiến sâu vào bên trong Khi con thuyền đã
bị dụ vào trong thì nước sóng luồng mới đánh khúyp quật vu hồi lại Nhưng con thuyền của ông đò đã dễ dàng vượt qua nên tuyến thứ ba là các boong - ke chìm và pháo đài đá nổi là phải đánh tan con thuyền
Cùng với thạch trận đá là sự tiếp ứng, phối hợp của cả sóng nước biết tung ra bao đòn đánh hiểm độc : khúyp quật vu hồi, đưa ra những đòn độc : đá trái, thúc gối, đội thuyền, túm thắt lưng, bóp chặt hạ bộ người lái đò rồi liên tiếp các đòn trùng điệp : đánh đòn tỉa, đòn âm, hồi lùng
-> NT đã sử dụng hàng loạt những động từ mạnh để diễn tả hết sự hung hăng, dữ tợn
và hiểm nguy của con sông Đà Nhưng càng hung dữ bao nhiêu thì lại càng tôn lên vẻ đẹp của ông lái đò bấy nhiêu vì con sông coi như một hình ảnh làm nền cho người lái đò hiện lên anh dũng, kiên cường, đầy hiên ngang, kiêu hãnh, hào hoa tìm sự sống trên dòng sông chết Hay chúng ta gọi là nghệ thuật vẽ mây nẩy trăng, lấy bóng mà lộ được hình
a2, Người lái đò :
Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình Mặt nước thì hò la vang dậy như muốn bẻ gãy cán chèo, vũ khí duy nhất có trên tay ông lái đò Sóng nước chiến đấu như một kẻ liều mạng, không do dự mà xông thẳng vào người lái đò tiến sát nách mà đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền Khi sông
Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lái đò vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác Ngay cả khi
bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Đặc biệt trên con thuyền có đến sáu bơi chèo vẫn nghe thấy tiếng chỉ huy ngắn gọn mà tỉnh táo của người cầm lái “Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất” Trong trận đánh người lái
đò đã hiện lên thật gan dạ, dũng cảm và đầy sức dẻo dai và một trí tuệ của người chỉ huy con thuyền sáng suốt
Không một phút giây nghỉ tay, nghỉ mắt, người lái đò phải tiếp tục “phá luôn vòng vây thứ hai” Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Biết ở vòng vây thứ hai con sông đã bố trí tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch
qua bờ hữu ngạn Với vòng vây thứ hai không phải chiến đấu với đá, sóng như cửa thứ nhất
mà là đương đầu với dòng thác sông Đà Bằng nghệ thuật liên tưởng độc đáo Nguyễn như thấy ông lái đò không phải chèo thuyền vượt thác mà là cưỡi lên thác nước sông Đà Hơn
nữa bằng nghệ thuật miêu tả đòn bẩy tác giả đã ví thác sông Đà như một con hổ hung bạo đã vào cuộc chiến sinh tử với người lái đò Nên ông lái đã cưỡi lên thác thì phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ Nhằm đúng con sóng mà lướt thì cũng như nắm được cái bờm của con hổ để có chỗ bám, chỗ ghì tay Rồi ông đò ghì cương lái của con thuyền, chắc đôi bàn tay để bám chắc lấy luồng nước mà lái miết một đường vào cửa Sinh Nhưng con sông thật nham hiểm bởi nó không để chút sơ hở cho con thuyền có lối thoát Luồng nước chứa cửa sinh cũng là chỗ lũ
đá đang mai phục Không chỉ có thế, một bọn thủy quân đang chờ sẵn chỗ ải nước chỉ chờ con thuyền đến là xô ra để níu con thuyền vào cửa tử Nhưng ông đò đã nhớ mặt từng đứa một, đứa thì ông tránh để bơi chèo nhanh, đứa thì ông đè sấn lên, chặt đôi ra để lấy đường tiến Và cứ như vậy con thuyền đã bỏ qua hết những cửa tử, và chỉ nghe bên tai tiếng reo hò của sóng nước luồng sinh Trong trận chiến thứ hai phẩm chất nổi bật của ông lái đò lại anh hùng, linh hoạt và chủ động đối phó với thác nước sông Đà
Nếu trong hai trận chiến trên chúng ta có thể đã đủ để ngưỡng mộ người lái đò, nhưng với Nguyễn, tìm đến con người thì con người ấy phải được miêu tả đến tài hoa tột bậc, phải trở thành nghệ sĩ Và Nguyễn đã phải tiếp tục miêu tả người lái đò trong cuộc chiến thứ ba với con sông Đà Và cũng đến vòng vây thứ ba với nghệ thuật miêu tả sắc nét vô cùng thì
Trang 13ông lái hiện lên như một tay lái nở hoa, đạt đến mức độ nghệ sĩ trong nghề lái đò của mình
Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Khung cảnh giao tranh dù rất quyết liệt, một mất một còn nhưng Nguyễn đã miêu tả như một cuộc chiến của giới thần tiên Màn hơi nước mờ trắng hư ảo, con thuyền không bơi trên sóng nước sông Đà
mà nó như đang bay trên dòng sông hư ảo ấy Con thuyền như mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước Còn người lái đò như một tiên ông với phép lạ, chỉ vẩy tay chèo mà con thuyền vút
vút xuyên đi như có một mãnh lực siêu hình Phải chăng đó là tuyệt tài của một tay lái nở hoa Thế là kết thúc
* Nghệ sĩ tài hoa :
Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do
Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống Mà ngay ở những khúc sông không có thác nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc, thiếu đèo Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy Ông lão lái
đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ Sông nước lại thanh bình Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng Cũng chả thấy
ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, người lái đò chỉ có Nguyễn Tuân Và, lời ghi chú của nhà văn thật đáng để suy ngẫm!
3 KB Nổi bật trong trang văn của Nguyễn là nhân vật luôn được nhà văn miêu tả ở
phương diện tài hoa, nghệ sĩ Nếu trước CMT8-1945, Nguyễn Tuân chỉ tập trung vào lớp nhà nho quá vãng thì nay sau CM, tác giả đã tìm thấy và khẳng định cái đẹp ở ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động Cuộc đời của người lái đò vô danh, không tên tuổi, nơi có những ngọn thác hoang vu, khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, một pho nghệ thuật tuyệt vời Nếu như thiên nhiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “kẻ thù số một” của con người, thì cũng chính thiên nhiên, qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh
giá trị con người vào lao động
Trang 14AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
Hoàng Phủ Ngọc Tường
Mở Bài
“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt Vẻ đẹp Huế chẳng
nơi nào có được, nét dịu dàng pha lẫn trầm tư” Mỗi lần nghĩ về Huế là lòng tôi lại ngân nga
câu hát ấy Phải chăng mảnh đất của các lăng tẩm, đền đài, của cố đô trầm mặc đã đi vào thơ
ca nhạc họa để lại bao mê đắm trong lòng người Nói đến Huế ta còn nhớ về sông hương, núi ngự, lục bình trôi - những hình ảnh không thể tách rời kinh thành cổ Dòng sông Hương, dòng sông chỉ thuộc về Huế, dòng sông thơm ngát hương hoa ấy đã vấn vương lòng bao du khách, thậm chí cũng để lại nỗi băn khoăn với cả những người con của đất cố đô “ai đã đặt tên cho dòng sông?”để rồi nó mang tên Hương giang HPNT, một người con của xứ Huế đã trả lời cho câu hỏi ấy bằng một bài bút kí giàu chất trí tuệ, kết hợp giữa tự sự và trữ tình tài hoa, mê
đắm và tình yêu thiết tha giành cho mảnh đất quê hương Ai đã đặt tên cho dòng sông chính
là câu trả lời ấy
Thân Bài
* Nét chính về tác giả HPNT
HPNT là một nhà văn có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí, tuỳ bút Lời văn của HPNT được cấu tạo bởi hệ thống ngôn từ nghệ thuật sang trọng, ám ảnh, đậm chất trữ tình của cái tôi uyên bác, tài hoa
* Hoàn cảnh sáng tác bài bút kí
Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được viết năm 1981, khi tác giả đã sống bên
bờ sông Hương, sống trong lòng Huế hơn 40 năm trời, tình yêu máu thịt đối với quê hương
cứ lớn lên từng ngày và nó hiện hữu ở mọi thời gian, mọi không gian Khi tác giả ngồi đọc truyện Kiều giữa mùa thu, trong một khu vườn xưa cổ, nơi có những loài hoa đang nở, trái cây đang chín, yên tĩnh và khoáng đạt – khu vườn tọa lạc trên vùng đất mà Nguyễn Du từng
Trang 15sống nên thiên nhiên của “mảnh đất Kinh - xưa” đã in bóng trong thơ Nguyễn, ngược lại sông
Hương và Huế đã gợi cho tác giả hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng: Kim- Kiều
Bằng tài năng nghệ thuật viên mãn kết hợp với kiến thức uyên sâu ở nhiều lĩnh vực, nhà văn HPNT đã đưa người đọc đến với dòng sông Hương thiết tha và lãng mạn "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là linh hồn của tập truyện cùng tên xuất bản năm 1986, được tác giả viết năm 1981 và được đưa vào trong chương trình giảng dạy như là một trong những kiệt tác của HPNT nói riêng, của thể kí ở văn học Việt Nam thời hậu chiến nói chung Thành công của HPNT là nhà văn đã xây dựng được con sông thơ mộng, lãng mạn để từ đó bộc lộ cái "Tôi" với tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, sâu sắc
*Thể bút kí
Trước hết cần phải khẳng định "Ai đã đặt tên cho dòng sông" là một áng văn tiêu biểu viết theo thể kí Đây là một thể loại rất kén độc giả bạn đọc và khó sáng tác Người viết tùy bút phải có phông kiến thức uyên sâu ở nhiều lĩnh vực, câu văn co duỗi, nhịp nhàng Đằng sau ông hoàng của thể loại tùy bút Nguyễn Tuân thì ta phải kể đến HPNT Nhận định về ông,
Nguyên Ngọc nói: " HPNT là một trong những nhà văn viết kí hay nhất trong văn học ta hiện nay." Bằng sự am hiểu trong lĩnh vực địa lí HPNT đã làm toát lên dòng sông Hương một vẻ
đẹp thiên nhiên đến mê hoặc lòng người
* Phân tích dòng Hương giang
1 Dòng sông của địa lí
HPNT đã cảm nhận dòng Hương ở các lĩnh vực như địa lí, lịch sử và thơ ca, nhưng có
lẽ dòng Hương giang đẹp và để lại dấu ấn sâu sắc nhất là qua cảm nhận trên phương diện địa
lí với cái nhìn đầy mới mẻ như kết tinh tình yêu và tài năng của tác giả Tác giả đã cảm nhận con sông Hương qua bốn chặng đường khi nó tìm về thành phố Huế
1.1 Sông Hương ở thượng nguồn – Cô gái Di –gan phóng khoáng, man dại
HPNT đã mở đầu bài kí của mình bằng một câu văn đầy chủ quan: "Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất." Nhận xét của HPNT thể hiện được niềm tự hào của mình với dòng sông
Hương đồng thời ông đã đặt ngang hàng Hương giang với vẻ đẹp của các dòng sông trên thế giới Bằng trí tưởng tượng phong phú và niềm say mê bất tận đối với Hương giang, HPNT
đã gợi nên vẻ đẹp hoang dại của dòng sông ở thượng nguồn
Ông gọi đó là "bản trường ca của rừng già" Tên gọi ấy xuất phát từ cội nguồn của
dòng sông đó là đại ngàn của Trường Sơn hùng vĩ Sông Hương ở phần thượng nguồn toát lên vẻ đẹp dữ dội khi nó đi qua dãy Trường Sơn hoang dại của núi rừng và người yêu văn khó có thể quên được những câu văn tùy bút đẹp như một bản nhạc với đầy đủ những nốt
trầm nốt bổng: "rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng." Những vế đầu của câu văn rất ngắn
gọn và những âm vực cao tạo nên những nốt bổng, nốt thăng trong bản nhạc của sông Hương, nhưng vế sau lại là một tổ hợp như những câu phức với nhiều vế dàn trải để người đọc được ngân nga những nốt nhạc nhẹ của sông hương dịu dàng và say đắm
Người đọc nhớ tới con sông Đà của Nguyễn Tuân khi nhập quốc tịch Việt Nam, chảy qua phần thượng nguồn nó cũng vô cùng dữ dội Nguyễn Tuân đã tập trung miêu tả độ dốc
của con sông khi đi qua những quãng sông hẹp: “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ
ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có ánh mặt trời.” Thậm chí có những quãng hẹp đến mức "con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.” Nếu con sông Đà của Nguyễn Tuân hiện lên dữ dội qua những câu văn có kết cấu điệp trùng như "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.” thì con sông Hương của HPNT lại hiện lên với những câu văn tạo
ra âm hưởng hùng tráng rất riêng cho bản trường ca rầm rộ của rừng già Để tạo nên sự man
Trang 16dại của dòng sông ở phần thượng nguồn, HPNT đã sử dụng dày đặc nghệ thuật đối lập, tương phản, so sánh để kích thích trí tưởng tượng của người đọc và từ đó độc giả hình dung ra vẻ đẹp khác nhau của dòng sông Tác giả cũng chọn lựa những tính từ miêu tả để làm nổi bật vẻ
đẹp riêng của sông Hương trên thượng nguồn: rầm rộ, mãnh liệt, cuộn xoáy, dịu dàng và say đắm để cho thấy những nét tính cách đối lập, đa dạng nhưng lại vô cùng thống nhất của sông
Hương Khó ai có thể hiểu những tính cách đối lập ấy lại hội tụ trong một cô gái Tưởng rằng
ví sông Hương như một cô gái thì sẽ thật dịu dàng, nữ tính Không chỉ dừng lại ở đó, HPNT
còn khoác lên cho dòng sông Hương một vẻ đẹp vô cùng độc đáo: "Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di - gan phóng khoáng và man dại" Như vậy, ngay ở những câu đầu tiên của bài kí này, HPNT đã sử dụng rất thành
công nghệ thuật nhân hóa để ví dòng sông như một cô gái với sức mạnh của rừng già: với
bản lĩnh gan dạ và một tâm hồn tự do, trong sáng Cá tính của một cô gái Di – gan phóng
khoáng và man dại Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại chọn hình tượng cô gái Di – gan
để ví với dòng sông Hương trên thượng nguồn Nếu ai đã từng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một
cô gái Di – gan thì tôi dám chắc sẽ bị cuốn hút bởi sự bí ẩn nhưng mạnh mẽ vô cùng, với làn
da nâu rám nắng, đôi mắt xanh thăm thẳm như những thảo nguyên, mái tóc vàng đầy nắng
và gió Đặc biệt những cô gái này còn biết đến bởi nhưng vũ điệu bốc lửa, đắm say và thuật bùa chú Và dòng Hương của Huế trên thượng nguồn cũng vậy Sống cuộc đời phóng khoáng,
tự do của dân du mục, của những con người không bao giờ chịu khuất phục Đặc biệt cô gái
ấy mang chút man dại, hoang sơ của núi rừng như con sông Hương khi còn ẩn mình trong rừng đại ngàn Trường Sơn Nhưng cũng chính rừng già nơi đây cũng đã chế ngự nó để sông
Hương tạo được cho mình một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ - phẩm chất cần thiết của một người
con gái khuôn mực Nếu không có vẻ đẹp dữ dội ở trước đó tạo nên sự lạ lẫm thì đến đây dòng Hương giang lại trở về với vẻ đẹp muôn thủa Hai nét tính cách này của sông Hương làm cho chúng ta liên tưởng đến sự trưởng thành của một người con gái: Khi còn trẻ thì còn ngang ngược, thậm chí bướng bỉnh với lối sống phóng khoáng Nhưng qua thời gian và sự trải nghiệm thì người con gái ấy dần trưởng thành để mang cho mình những phẩm chất để có thể làm một người vợ, người mẹ Nên trong cảm nhận của HPNT, đến đây dòng Hương giang
đã có thể trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở Như vậy, với những hình ảnh phong phú, nghệ thuật đặc sắc, liên tưởng đa dạng, HPNT đã đưa đến những tính cách của dòng sông Hương ở phần thượng nguồn và từ đó ta hiểu sâu thêm phong cách và lối tư duy có chiều sâu trí tuệ của nhà văn Đây là bộ mặt và nét tính cách mà sông Hương muốn giấu kín nên ít ai biết đến mà chỉ hiểu sông Hương một con sông trầm mặc và dịu dàng Bởi trước khi đi ra khỏi rừng sông Hương đã đóng kín lại và ném chiếc chìa khóa vào trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng
1.2 Sông Hương trước khi đi vào kinh thành Huế - hành trình đi tìm người tình trong mộng
Tiếp theo, HPNT đã miêu tả con sông Hương từ cội nguồn trở về ngoại vi thành phố Huế Tác giả đã miêu tả dòng sông Hương bằng cái nhìn rất đa tình, thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn và bay bổng Trước khi trở thành người tình thủy chung dịu dàng của mảnh đất Huế, Hương giang đã trải qua một hành trình đầy gian khổ, thử thách Với sự cảm nhận đầy tinh tế của HPNT, toàn bộ hành trình đi từ cội nguồn đến ngoại vi rồi neo đậu ở thành phố Huế như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình mong đợi của người con gái trong câu chuyện cổ tích ngày xưa Đến đây, sông Hương mang một vẻ đẹp trữ tình, một lần nữa lại
được ví như một "người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại" được người tình đến đánh thức Người đọc nhớ đến câu chuyện cổ tích Nàng công chúa ngủ trong rừng, đang ngủ say sưa trong lời nguyền của mụ phù thủy và chờ đợi người tình
trong mộng đến đánh thức bằng một nụ hôn định mệnh của tình yêu Và người tình ấy với
Trang 17Hương giang không ai khác ngoài kinh thành Huế Rõ ràng, HPNT liên tiếp sử nghệ thuật nhân hóa, liên tưởng để cho dòng sông vừa mang vẻ đẹp trữ tình, vừa bừng lên sức sống
Tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, người đẹp Hương giang đã: “Chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông – bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ" Đoạn
văn đẹp này như một câu thơ, nó gợi lên dòng sông đẹp miên man và duyên dáng Đọc đoạn văn này, người yêu văn lại liên tưởng đến Nguyễn Tuân khi miêu tả con sông Đà ở hạ lưu
với những câu văn đẹp: “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn
mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Vậy vì sao mà con sông phải chuyển dòng liên tục, có
phải chăng HPNT muốn nói rằng cuộc tìm kiếm một người tình trong mộng là không hề dễ dàng, có thể đôi bàn chân phải bôn ba trên khắp các nẻo đường như dân gian đã từng viết :
Anh đến tìm hoa Thì hoa đã nở Anh đến tìm đò
Thì đò đã sang sông Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng
Và sông Hương trong cuộc hành trình tìm kiếm người yêu đích thực của mình cũng
vậy Nó phải Chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột – thì mới gặp được Huế Dịu dàng và đầy e ấp, nó uốn mình theo những đường cong thật mềm, nhưng lại bất giác rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông – bắc, ôm lấy chân đồi Thiên
Mụ Phải chăng chính khúc quanh đột ngột này là nàng Hương đã nhìn thấy thấp thoáng bóng
dáng người tình trong mộng của mình Và nó không chần chừ một giây phút để lỡ và quay
về phương đó Con sông Hương chảy qua đôi bờ cỏ cây tươi tốt, góp nhặt sắc núi Ngọc Trản
rồi qua Tam Thai, Lưu Bảo để trở nên mềm mại như một tấm lụa HPNT đã vẽ một bức tranh
bằng nghệ thuật ngược sáng của điện ảnh Dòng sông in bóng những ngọn đồi tạo nên phản
quang nhiều màu sắc: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” Ta lại hình dung đến vẻ đẹp thật dịu
dàng, e lệ của sông Hương trước khi gặp thành phố Huế Nàng Hương ấy điệu đà mà chuẩn
bị để đi gặp người tình trong mộng: nàng chuẩn bị cho mình ba sắc áo nàng yêu thích nhất: xanh, vàng, tím để làm duyên, làm dáng với tình nhân Dòng sông thật yểu điệu trong con mắt của HPNT Nếu sông Hương đổi sắc màu theo ngày thì sông Đà của Nguyễn Tuân lại
đổi sắc màu theo tháng trong năm Mùa xuân nước sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích” chứ không “xanh màu canh hến của sông Gâm sông Lô” Mỗi độ xuân về, nước sông lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”
Hương giang không rực rỡ kiêu sa nữa bởi nó đã thấm vào mình một vẻ đẹp của rừng
thông u tịch Đó là vẻ đẹp triết lí như cổ thi và niềm kiêu hãnh âm u tỏa ra từ giấc ngủ ngàn
thu của vua chúa Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương Khi thoát khỏi những vách núi, những đá vực, Hương giang bừng tỉnh, khi ngân nga tiếng chuông chùa Thiên Mụ rồi xa cách tiếng gà ở làng đồi núi trung du Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của Hương giang là sự hắt bóng kì diệu, vẻ đẹp mơ mộng của phong cảnh miền đất cố đô
1.3 Sông Hương khi đi vào kinh thành Huế - cuộc gặp gỡ người tình trong mộng
Điều đầu tiên tác giả muốn cho người đọc thấy nét thay đổi của sông Hương khi gặp
kinh thành Huế là nó vui tươi hẳn lên Đó là quy luật tình cảm tất yếu Có ai từng quá nửa
hành trình trong cuộc đời mình đi tìm một người tình trong mộng với bao gian nan, vất vả giờ đây khi gặp được chủ nhân của lòng mình lại không vui hay sao? Chính điểm vui tươi của một người con gái trong tình yêu là thời gian đẹp nhất Có lẽ vì thế mà Hương giang thật
sự muốn vấn vương, muốn sống chậm lại để cảm nhận
Miêu tả vẻ đẹp quyến rũ của Hương giang khi chảy qua lòng thành phố Huế, HPNT đã cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông bằng cảm quan của một người nghệ sĩ: một người họa sĩ
Trang 18kiêm một nhạc sĩ Dưới con mắt của hội họa, Hương giang hiện lên với đường nét mềm mại, màu sắc hài hòa Sông Hương đã tìm thấy tình yêu của mình khi trở về với thành phố Huế
Đến đây sông Hương như một tiếng "Vâng" không nói ra của tình yêu – vẫn dịu dàng, nhẹ
nhàng và e thẹn, sông Hương mang chút ngập ngừng của một người con gái khi nhận lời yêu thương từ người yêu của mình Tiếng vâng này cho ta nhớ đến cái lắc đầu như chấp thuận của người con gái đang yêu trong thơ Xuân Quỳnh:
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Khi gặp người yêu, gặp chủ nhân của lòng mình thì có ai muốn nỡ rời xa, bởi khi ấy mỗi giây phút đều đong đầy yêu thương nên ai cũng muốn thời gian như ngừng lại để níu giữ
lấy tình yêu Thế mới hiểu vì sao HPNT lại ví sông Hương như một điệu « Slow » tình cảm
giành riêng cho Huế
Nhệ thuật nhân hóa khiến cho sông Hương trở nên gần gũi như con người và mảnh đất
cố đô nơi này Hai chữ "yên tâm" trong đoạn văn chính là cảm giác của Hương giang khi tìm
được tình yêu đích thực của mình Sau cảm giác bình yên giữa lòng thành phố Huế, Hương giang lại hiện ra với những đường cong mềm mại, thướt tha, duyên dáng, quen thuộc như vốn
có Nó đang uốn lượn trước mắt, đang làm duyên làm dáng với người tình chung của
So sánh giữa sông Hương và sông Xen ở Paris, sông Nêva ở Leningrad càng làm cho dòng sông Hương trở nên cổ kính và quí giá hơn Điểm giống nhau giữa ba con sông này là đều nằm trong lòng thành phố thân yêu của nó Nhưng khác với những dòng sông trên sông Hương khi đi trong lòng thành phố thân yêu nó trôi đi thực chậm, chứ không chảy nhanh như đoàn tàu tốc hành của dòng Nê – va để khi chảy đi rồi mà vẫn chưa kịp nói gì với thành phố thân yêu của nó Sông Hương khi vào đến kinh thành Huế, nếu giải thích về mặt địa lí thì do các chi lưu nhỏ dẫn nước của con sông đi khắp các biền bãi và với hai hòn đảo nhỏ trên sông làm cho lưu tốc của dòng nước chậm hẳn lại Sông Hương trôi đi thực chậm, thực chậm, cơ
hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh Nhưng nếu nhìn đồng nhất trong sự so sánh của tác giả - sông Hương như một cô gái trong hành trình đi tìm người tình trong mộng, thì đến đây sông Hương đã bắt gặp người tình nhân của mình
Hơn thế, HPNT còn thổi vào dòng Hương giang vẻ đẹp VH Đó là vẻ đẹp của cố đô, vẻ
đẹp của Việt Nam Tác giả hướng tới cái nhìn xưa cũ của "những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít", của những ánh lửa thuyền chài lập lòe Không chỉ gợi nên bằng đường nét, sông Hương còn được gợi nên với màu sắc
Qua bàn tay của người nghệ sĩ tài ba, HPNT đã gợi nên dòng sông Hương với đầy đường nét quyến rũ, sắc màu hài hòa, màu biêng biếc của hàng cau, bóng trúc, lung linh trong trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh trên sông và đặc biệt là cây cầu trắng in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một vầng trăng non Những ánh hoa đăng bồng bềnh trôi trên sông bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng Phải là người yêu quê hương, yêu dòng sông Hương, yêu mảnh đất Huế đến nhường nào thì HPNT mới viết lên được áng văn lay động lòng người đến vậy Qua cảm quan của người nhạc sĩ, HPNT đã cảm nhận sông Hương qua liên tưởng độc đáo và thú vị Sông Hương như một điệu nhạc tình cảm dành riêng cho Huế Dòng sông chảy chậm như điệu chảy lững
lờ vì nó quá yêu thành phố Huế Đó là tình cảm của sông Hương dành cho thành phố Huế và cũng là tình cảm của tác giả dành cho dòng sông Hương, cho mảnh đất cố đô này Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa dòng sông Hương mềm mại với con người xứ Huế Sông Hương dịu dàng, duyên dáng như đã góp phần hình thành nên tính cách nết na, ý nhị của người con gái cố đô
1.4 Sông Hương chia tay kinh thành Huế - cuộc chia tay người tình trong mộng
Trang 19Khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương chếch về phía chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói Như một giấc mộng tình yêu để Hương giang đứng trước cuộc chia tay rồi mà còn chưa tỉnh mộng Trước khi xa dần thành phố, dòng sông
đã lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ
Dạ với màu nắng tinh khiết tinh khôi mà đã từng bước vào thơ Hàn Mặc Tử:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Dù vấn vương, dù lưu luyến không muốn rời xa nhưng đâu ai “tắm được hai lần trên một dòng sông” – Hương giang phải chia tay thành phố thân yêu, người tình trong mộng của mình Nhưng đi rồi, sông Hương mới chợt nhận ra còn một điều chưa nói với người tình chung nên nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông-tây để gặp lại thành phố lần cuối
ở góc thị trấn Bao Vinh cổ xưa Về địa lí đây là một nơi khá cao của kinh thành Huế, nơi có thể dõi mắt nhìn xa hàng dặm trường đình khi chia tay Hình ảnh và không khí mang đậm
chất Đường thi, “đăng cao viễn vọng” trong mỗi cuộc chia ly Cái đổi dòng này về mặt địa lý
mà nói thì thực bất ngờ bởi sông Hương đã chảy xuống vùng đồng bằng phù sa êm ái thì không ai nghĩ nó còn đi ngược lên vùng cao này, bởi nước chảy xuôi dòng Nhưng nhìn theo cái lí của tình yêu thì nó thật dễ hiểu và dễ chấp nhận Vì thế HPNT mới nói dòng Hương có
cái rất lạ, rất con người ở đây, hay nói đúng hơn đó là cái “lẳng lơ, kín đáo” của tình yêu Mà
nhà văn liên tưởng ngay đến nàng Kiều trong đêm tình tự đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng ở
ngã rẽ này để nói một lời thề trước khi về biển cả: “còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ…” Và lời thề ấy của dòng Hương chung thủy để đến nay nó vẫn còn vang vọng khắp
lưu vực sông thành điệu hò dân gian dìu dặt: Nam ai, Nam bình, Mái nhì, Mái đẩy Hay đó cũng là tấm lòng chung tình của người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương
xứ sở, của HPNT với xứ Huế yêu thương
2 Dòng sông của văn hóa
Sông Hương được nhà văn cảm nhận từ nhiều góc độ khác nhau Từ đó, nhà văn đã mở
ra cho tác phẩm này chiều sâu của lịch sử, của văn hóa Sông Hương – dòng sông của lịch sử văn học thi ca – có mặt từ thuở đầu lập nước Từ hiện thực kiêu hùng của Huế, mà Hoàng
Phủ Ngọc Tường cho rằng: “Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết dưới màu cỏ lá xanh biếc” Mặt khác, sông Hương cũng là cội nguồn của thi ca nghệ
thuật Có biết bao văn nhân, thi sĩ đã từng rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du,
Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu Nhà văn đã tin rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương
và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương
mà thốt lên rằng: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” Tản Đà thấy “dòng sông trắng,
lá cây xanh” Hàn Mặc Tử thì lại so sánh tôn vinh sông Hương như sông ngân hà: “Thuyền
ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay” Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng “Con sông dùng dằng con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương Giang lãng đãng một bầu khí
quyển huyền thoại thi ca giúp nhà thơ thăng hoa những vần mê đắm:
“Con sông đám cưới Huyền Trân Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn Hèn chi thơm thảo nỗi buồn Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờCon sông nửa thực nửa mơ Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên”
Đất nước Việt Nam có rất nhiều dòng sông chảy qua mọi miền xứ sở, và nó đã kịp chảy vào trong những vần thơ, trang văn tuyệt vời Bạn đọc từng xót xa với Hoàng Cầm khi nghe
tin sông Đuống bị quân thù chiếm đóng Nhà thơ đã thốt lên: “Sông Đuống trôi đi/Một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” Công chúng yêu văn cũng đã
Trang 20chiêm ngưỡng vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của “Đà Giang độc bắc lưu” qua những “trang
hoa” xuất sắc của nhà tuỳ bút hàng đầu Nguyễn Tuân Giờ chúng ta lại tìm đến với sông Hương - dòng sông chỉ tự thu mình khiêm tốn trong lãnh địa Thừa Thiên Huế, nhưng qua những trang kí tài hoa của HPNT sông Hương hiện ra với những vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, góp phần làm cho Huế trở nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình
Hơn thế, sông Hương còn là dòng sông lịch sử, văn hoá, thơ ca, nghệ thuật Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc Câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của HPNT đã gợi lên trong miền tình cảm của bạn đọc nhiều băn khoăn về một dòng sông ngỡ là quá quen, hoá ra lại có nhiều bí ẩn cần được khám phá thêm Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc hơn về quê hương đất nước, tự hào hơn về giang sơn cẩm tú Việt Nam
3 Dòng sông của lịch sử
Nó đã tham gia vào chứng kiến biết bao nhiêu biến cố quan trọng của lịch sử dân tộc Sông Hương xuất hiện trong lịch sử trước hết với vai trò của một dòng sông biên thùy xa xôi
của đất nước, của các vua Hùng khi còn mang tên Linh Giang trong "Dư địa chí" của Nguyễn
Trãi Sau đó, nó còn đảm nhận là dòng sông Viễn Châu – dòng sông ở chốn xa xôi của Tổ quốc đã chảy vào trận chiến oanh liệt để bảo vệ đất nước Đại Việt thân yêu Nó cũng đã từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ ở thế kỉ 18 Sông Hương đã từng sống hết bi tráng của thế kỉ 19 với những cuộc khởi nghĩa, trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của thế kỉ 20 Sông Hương lại có thêm sức mạnh để làm nên chiến thắng Cùng với Huế, sông Hương đã trở thành một nét son trong lịch sử dân tộc Đặt sông Hương trong chiều dài của lịch sử từ thời dựng nước của các vua Hùng cho đến ngày hôm nay, HPNT đã thể hiện tình yêu, niềm trân trọng, niềm tự hào sâu sắc đối với sông Hương Tác giả đã gọi
đó là dòng sông của thời gian, ngân vang của lịch sử Khi viết về màu xanh biêng biếc, cách miêu tả tinh tế cùng cách so sánh liên tưởng ấy đã làm hiện ra các sắc thái khác nhau cùng tồn tại trong một dòng sông bởi sử thi hay anh hùng ca là một thể loại gắn liền với những chiến công còn màu lá xanh biêng biếc là màu sắc của tính chất trữ tình, của sự sống bình yên, của tình yêu
Có thể nói rằng HPNT là một nhà văn hoá Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương trôi
ở trong thì hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hoà, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như
là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử Sông Hương trong quá khứ qua các triều đại phong kiến vàng son, nó đã từng mang cái tên Linh giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc nước Đại Việt Nó đã từng vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ, rồi nó đi suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ góp phần làm nên những chiến công lẫy lừng vang dội cả thế giới như lời
đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu: “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”
KB
Ai đó đã từng viết “Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để mãi mãi mang theo” Vâng, “một dòng sông để thương, để nhớ” của mỗi người rất khác nhau HPNT
đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa
đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình
Trang 21VỢ CHỒNG A PHỦ
Tô Hoài
MB
Có những mảnh đất chỉ một lần đặt chân đến trong đời nhưng để thương, để nhớ Những
kí ức, kỉ niệm như một vùng sáng đã hằn in trong tâm khảm để mỗi khi nhớ lại lòng chợt dâng trào bao xúc cảm Và có lẽ nhà văn Tô Hoài cũng có ấn tượng như vậy về mảnh đất Tây
Bắc Và hơn một cánh thư, là cả một tấm lòng gửi về Tây Bắc “Vợ chồng A Phủ” đã trả lại
cho Tô Hoài niềm thương nỗi nhớ đầy vơi với cảnh và người nơi đây
TB
* Hoàn cảnh sáng tác
Tô Hoài là nhà văn luôn cố gắng đi tìm sự thật trong đời sống để phản ánh vào tác phẩm Nhà văn quan niệm phải nói lên sự thật dù có đập vỡ thần tượng trong lòng bạn đọc Chính vì thế các trang văn của ông thấm đẫm chất hiện thực nhưng bằng vốn ngôn ngữ phong phú và lối diễn đạt tinh tế, hóm hỉnh mà độc giả yêu mến các trang văn của Tô Hoài
Năm 1952 Tô Hoài đi cùng với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc Trong chuyến đi này nhà văn đã có dịp sống găn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số ( Thái, Mường, Mông, Dao ) nên đã để lại nhiều kỉ niệm, hiểu biết về cuộc sống con người miền núi Tất cả những yếu tố trên và với một tài năng tuyệt vời đã thôi thúc Tô Hoài viết tập "Truyện Tây Bắc" gồm ba truyện: Cứu đất cứu Mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ
"Vợ chồng A Phủ” được giải nhất Truyện và kí Việt Nam năm 1954-1955 Tác phẩm
gồm hai phần, đoạn trích trong sách giáo khoa là phần một
CÁC ĐỀ PHÂN TÍCH THƯỜNG GẶP
1 Phân tích nhân vật Mị
* Khái quát về nhân vật Mị:
Có thể nói cuộc đời của Mị trong câu chuyện cũng là cuộc đời và số phận tiêu biểu cho người phụ nữ vùng cao Tây Bắc suốt những năm kháng chiến chống Pháp Tô Hoài muốn làm sáng tỏ quy luật tất yếu của con đường nhân dân đến với cách mạng để giải phóng chính mình Cuộc đời Mị vừa là bi kịch của số phận nhưng cũng là tất yếu của cách mạng Điều đó
đã làm nên thành công cho tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài cũng như hình tượng
nhân vật Mị
Trang 22Cuộc đời Mị chia làm những chặng đường, mà mỗi chặng là một bước tiến quan trọng đưa nhân vật đến gần với ánh sáng của tự do hơn, cho dù có lúc Tô Hoài phải để nhân vật của mình đi qua bóng tối khổ đau
* Cách giới thiệu nhân vật của nhà văn
Với thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy và cách giới thiệu có vấn đề, nhà văn đã gây ấn tượng
mạnh mẽ cho độc giả Không đơn thuần là sự miêu tả hoàn cảnh và tính cách nhân vật như ta thường gặp mà có một điều gì như đặc biệt, như đổi mới ở đây Khung cảnh đầu truyện cũng chính là khung nền mà Mị xuất hiện Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra cũng trông
thấy một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Không phải ngẫu nhiên
mà Mị lại xuất hiện cạnh những vật vô tri, vô giác bởi chính cô cũng là một con người đang chết ngay khi còn sống: không cảm nhận, không buồn vui Những chi tiết đắt giá làm nổi
hình sắc nhân vật Con người LẪN VÀO với những vật vô tri, thân phận trâu ngựa Lúc nào
cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải hay chẻ củi, cõng nước thì mặt cô cũng buồn rười rượi Mâu thuẫn nảy sinh để ai cũng phải băn khoăn một câu hỏi: vì sao con gái một nhà giàu
như nhà thống lí Pá Tra thì bao giờ biết đến cái khổ mà biết khổ, mà buồn Chính vì vậy người đọc muốn đi tìm căn nguyên nỗi buồn khổ ấy của nhân vật, và nhà văn cũng có cái cớ
để kể lại cuộc đời, số phận của nhân vật Mị Đây là một cách mở truyện khá thành công, hấp dẫn của Tô Hoài
Kết cấu đồng tâm, đi từ điểm nhấn trong cuộc đời nhân vật mà ra chứ không dựng
theo trình tự thời gian Cũng như Nam Cao lựa chọn giới thiệu nhân vật Chí Phèo khi nhân vật đã bị tha hóa, lưu manh hóa thì Mị cũng đến với bạn đọc khi cô về làm dâu nhà thống lí, khi sức sống của cô đã bị vùi dập Vậy là giá trị tố cáo thông qua hình tượng nhân vật đã xuất hiện ngay trang văn đầu tiên của truyện Từ đó tác giả bắt đầu làm một cuộc hành trình xuyên suốt cuộc đời nhân vật để làm sáng tỏ dụng ý nghệ thuật của mình Người đọc ngược dòng thời gian tìm hiểu cuộc đời của Mị theo để thấy những mảng tối, sáng và những bước thăng trầm trong cuộc đời nhân vật
a, Trước khi về làm dâu
Mị được coi là một cô gái với nhiều đức tính tốt Là một người con của núi rừng Tây bắc xinh đẹp, tài hoa, chăm chỉ, hiếu thảo và yêu tự do, cô có tình yêu đẹp và niềm tin vào cuộc sống tương lai tươi sáng Nhưng Mị sớm phải gánh trên vai món nợ truyền kiếp của cha
trong những tháng ngày tươi đẹp của tuổi thanh xuân, tràn trề cơ hội được hưởng thụ tình yêu
và hạnh phúc Bởi khao khát, Mị cũng đã có người yêu, một tình yêu đẹp với ngón tay đeo nhẫn và tín hiệu gõ vách hẹn hò
Bên cạnh vẻ đẹp, tài năng thì bản chất của một người lao động không mất đi trong con người Mị - một cô gái của núi rừng Mị biết cuốc nương, làm ngô và sẵn sàng làm nương ngô
trả nợ cho bố mẹ:“bố đừng bán con cho nhà giàu con sẽ làm nương ngô trả nợ cho bố” Mị
hiếu thảo, sẵn sàng chịu vất vả, khổ cực vì cha, không ngại ngần mà làm nương trả nợ Nhưng cũng chính là để bảo vệ mình, giữ cho mình một tình yêu tự do Khao khát tình yêu tự do là hạt mầm đầu tiên gieo lên sức sống tiềm tàng đầy mãnh liệt ở Mị
Xuất hiện với vẻ đẹp toàn diện của một cô gái không chỉ có ngoại hình xinh đẹp như bông hoa ban núi rừng Tây Bắc, mà Mị còn có nội tâm đẹp đẽ, trong sáng Bên cạnh đó tài thổi sáo như điểm tô thêm vẻ đẹp cho nhân vật đạt đến độ toàn mĩ Ấy vậy mà, cuộc đời Mị không theo ý muốn của cô, không thể tự quyết định cuộc đời của mình Mị bị bắt về nhà Thống lý Pá Tra ép sống kiếp dâu con gạt nợ Đó cũng là số phận chung của những người phụ nữ trong thời kì Pháp thuộc nơi miền núi Tây Bắc xa xôi ấy
Trang 23b, Mới về làm dâu
Một cô gái trẻ đẹp với bao khát vọng về cuộc sống hạnh phúc tươi sáng ở tương lai, nhưng bàn tay vô hình của số phận đưa Mị đi làm dâu gạt nợ cho nhà giàu - Mị như chết đứng với số phận từ đây Tô Hoài phải thật sự am hiểu về phong tục tập quán của người dân miền núi mới có thể miêu tả tỉ mỉ tục bắt vợ Đêm mùa xuân ấy, cũng là đêm cuối cùng Mị còn tự
do với tình yêu trong sáng, cháy bỏng của mình Và cũng là đêm bắt đầu cho những chuỗi ngày tăm tối như địa ngục trần gian của Mị tại nhà thống lí Pá Tra Tác giả miêu tả rất tự nhiên vào một đêm khuya Mị nghe tiếng gõ vách Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu Mị vừa hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên để tìm bàn tay quen thuộc của người yêu Khi nắm được vào bàn tay có đeo nhẫn ở đúng ngón tay mà người yêu Mị thường đeo thì tiếng gọi của tình yêu
để cho Mị nhấc tấm vách gỗ bước ra với người yêu Một hành động tưởng như viết ra thật đơn giản nhưng sao lại làm ta nhớ đến cái táo bạo trong tình yêu của cô Kiều trong trang thơ
của Nguyễn Du xưa kia Đang trong đêm mà “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang
hẹn ước, thề nguyền với chàng Kim Cái tài của cả Nguyễn Du và Tô Hoài không chỉ là để cho nhân vật của mình thể hiện khao khát tự do yêu đương mà để thấy sức sống mãnh liệt khi
họ dám bước qua bao lễ giáo, hủ tục để đến với tình yêu Phải chăng điều này cũng là một
dự báo ban đầu của sức sống tiềm tàng để về sau người đọc không ngỡ ngàng trước những
hành động đầy bứt phá của Mị trên con đường tự giải phóng bản thân Nhưng thật không may, tưởng rằng được đến với tình yêu và hạnh phúc của mình cũng là lúc Mị rơi vào vực thẳm của số phận với bi kịch về làm dâu gạt nợ cho nhà giàu
* Sự phản kháng của Mị khi mới về làm dâu
1 Về nhà thống lý Pá Tra, Mị âm thầm chịu đựng nỗi đau “có đến mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc” Giọt nước mắt của nhân vật Mị chính là sự phản kháng đối với thực tại
Sự phản kháng ở cấp độ thấp nhưng cũng đủ để thấy Mị không thỏa hiệp, đầu hàng chấp
nhận số phận Bởi trong người con gái ấy khao khát tự do chưa thể lụi tàn
2 Những tháng ngày sống trong nhà Pá Tra, Mị không thể thỏa hiệp với nó Mị sẵn sàng quên hết đi tất cả để tìm đến cái chết khi ý thức được cuộc sống và tháng ngày sau này mình sẽ phải chịu đựng như thế nào, cuộc sống không đáng sống Đây là cấp độ phản kháng cao hơn để khẳng định khao khát sống đang bùng cháy trong cô Bởi khi còn muốn chết tức
là con người ta còn ý thức được về một cuộc sống không đáng sống của mình, và còn khao khát được sống Một điều tưởng chừng như phi lí nhưng lại nằm trong quy luật tâm lí tự nhiên của con người Mị quyết định vào rừng hái nắm lá ngón, giấu vào trong tay áo và về qùy lạy bố để chết Có lẽ để có đủ dũng cảm cầm nắm lá ngón trên tay Mị đã phải băn khoăn, trăn trở rất nhiều Ai chẳng hiểu sự sống là đáng quý bởi cuộc đời ai sinh ra cũng chỉ được sống một lần, nên khao khát sống chính đáng là điều ai cũng mong muốn Mị đã dám từ bỏ cuộc đời khi đang xuân thì phải chăng cuộc đời Mị không còn ý nghĩa Hành động này của Mị là một
lời tố cáo đanh thép xã hội thực dân phong kiến miền núi, đã đè nén, áp bức đẩy con người ta đến bước đường cùng Trong Mị thấp thoáng số phận của những chị Dậu, những
anh Pha, những Chí Phèo – người nông trước cách mạng tháng Tám
Tưởng dứt hết nợ duyên với đời để tìm đến cái chết nhưng vì một chữ hiếu mà Mị không đành lòng nhìn bố mình chịu khổ cực Mị đành từ bỏ ý định, cô ném nắm lá ngón xuống đất như ném đi khát vọng cuối cùng của cuộc đời mình Vậy ra, trong cô gái trẻ kia, mạng sống, tình yêu, và tự do không phải là thứ cô đặt lên hàng đầu Bên tình và bên hiếu trong giờ phút quyết định khiến cô phải lựa chọn và tất nhiên cô cũng như bao người con gái khác sẵn sàng:
Để lời thệ hải minh sơn Làm con trước phải đền ơn sinh thành
Mị đã coi việc làm dâu trong nhà thống lý Pá Tra như làm kiếp trâu ngựa để trả nợ cho cha mẹ năm xưa, làm tròn chữ hiếu Đây chính là phẩm chất đáng quý, đáng ngợi ca của nhân vật mà Tô Hoài đã tìm thấy nơi đáy sâu cùng cực của số phận
Trang 24c, Khi làm dâu đã quen
* Sự tê liệt trong tâm hồn Mị
Ở địa ngục trần gian của nhà Pá Tra, bao vất vả, cực nhục đổ lên đầu Mị Mấy năm
sau khi bố Mị qua đời, Mị cũng không nghĩ đến cái chết nữa, bởi vì "Mị quen cái khổ rồi Bây giờ thì Mị tưởng như mình cũng là con trâu, con ngựa (…) chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi" Cách so sánh bằng đã cho thấy điều mà tác giả dự báo ở đầu tác phẩm khi để
nhân vật hiện lên giữa những vật vô tri, vô giác được cụ thể hóa hơn Mị có khác nào một công cụ lao động của nhà thống lí, không có chút quyền tự do nào Mị chỉ còn ý niệm về công
việc nối tiếp công việc, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng cứ thế làm đi làm lại: tết xong thì hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, cuối mùa đi bẻ bắp…Còn nỗi đau nào của một kiếp người mà phải mang thân trâu ngựa: « con ngựa con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc cả đêm lẫn ngày »
Sự so sánh đòn bẩy cho thấy Mị còn không bằng cả kiếp trâu ngựa Người đọc không chỉ ngậm ngùi, xót thương cho thân phận tủi cực của Mị mà cả những người phụ nữ miền núi trong xã hội xưa
Thêm vào sự đọa đày thể xác ấy, còn là ách áp chế về tinh thần - thần quyền đã hỗ trợ đắc lực cho giai cấp thống trị Nó thực sự là thứ "thuốc phiện tinh thần » Bởi nó tạo thành một lối mòn trong suy nghĩ của Mị : đã bị bắt về nhà Pá Tra, đã cúng trình ma nhà nó rồi thì
cả đời sống ở nhà này, và chết cũng là ma nhà này mà thôi Mị đã không còn phản kháng để tìm lối thoát cho mình Điều này xét về một góc độ nào đó, nếu nhìn về mặt đấu tranh giai cấp, thì nó còn nguy hại hơn là sự áp bức về thể xác
Không chỉ dừng lại ở đó, ở tầng sâu hơn, ngòi bút Tô Hoài còn nêu lên một sự thực đau lòng: con người bị áp bức, nếu cứ nhẫn nhục chịu đựng, kéo dài đến một lúc nào đó, sẽ bị tê
liệt cả tinh thần phản kháng "Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa" thật không ở đâu, mạng sống, nhân cách con người bị coi rẻ đến thế! Cũng không ở đâu,
con người lại tuyệt vọng như vậy Mị cam chịu thân phận con rùa nuôi trong xó cửa, chỉ biết
ngồi trong cái buồng kín mít, trông ra cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, "đến bao giờ chết thì thôi" Một chi tiết tưởng chừng như nhỏ nhặt trong tác phẩm nhưng nếu nhìn kĩ ta lại thấy
sau đó những ẩn ý của nhà văn Căn buồng của một người phụ nữ nói chung và người phụ nữ Mông nói riêng là nơi chia sẻ mọi buồn vui, giấu kín bao khát khao mơ ước, và là không gian theo bám suốt cuộc đời của họ Khi còn trẻ đó là căn buồng kín đáo của một cô thiếu nữ, với bao niềm riêng tư Khi đi lấy chồng đó là căn buồng đong đầy hạnh phúc lứa đôi Xa hơn là căn buồng đếm từng ngày, từng tháng khi thai nghén chín tháng mười ngày, khi nuôi con bế bồng với bao tin yêu, hi vọng Tưởng như đó là không gian thân thương, gần gũi và ấp áp nhưng với Mị thì không Đó là một căn buồng kín mít, chỉ có một lỗ vuông cửa sổ chỉ nhỏ
bằng bàn tay mà ngồi trong đó nhìn ra bên ngoài lúc nào cũng thấy « mờ mờ, trắng trắng không biết là sương hay là nắng » Người đọc có thể liên tưởng ngay đến hình ảnh một ngục
thất tinh thần, thiếu sinh khí, thiếu sự sống Phải chăng chính điều này đã làm tê liệt hơn sức sống trong người con gái đầy xuân xanh
Khi một "nạn nhân" đau khổ, còn nghĩ đến cái chết để tìm sự giải thoát, thì phải chăng, trong họ vẫn còn khao khát sống Với Mị cũng đã có một lần như thế nhưng giờ đây cô đã dường như phó mặc thân phận cho định mệnh, không còn ý thức về thời gian Với Mị, sự chuyển biến của thời khắc sớm tối, năm tháng qua đi cũng không còn ý nghĩa, không gợi cho
cô cảm xúc gì, cuộc sống chỉ là một màn sương mờ đục, không hiện tại, quá khứ và tương lai Một con người sống mà chỉ như tồn tại, không có một ý niệm nào về cuộc sống Có lẽ đây là bản án đanh thép mà nhà văn đã gửi đến cho xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời - bóp nghẹt sức sống của con người
* Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân
Đau khổ kéo dài khiến cho lòng Mị tưởng chừng nguội lạnh Dường như mọi cảm xúc, khát khao dã bị dập tắt từ lâu Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực
Trang 25tội ác cũng không hủy diệt được con người Lay lắt, đói khổ, nhục nhã nhưng Mị vẫn sống
âm thầm mà mãnh liệt Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái bị dày đọa kia vẫn âm ỉ, le
lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về Sức sống ấy như hòn than nhỏ đang bị vùi
lấp trong cái vẻ ngoài lặng câm vô cảm Vô tình cơn gió mùa xuân đã làm hồi sinh con người
Mị, thức dậy cả một kí ức tươi đẹp và trỗi dậy một sức sống, lòng ham sống đến cuồng nhiệt nhưng cũng đầy bi kịch
- Những nhân tố tác động làm bùng lên sức sống của nhân vật
1 Thiên nhiên đầy đột biến ở Hồng mùa Ngài xuân ấy như một dự báo
Mùa xuân ở Hồng Ngài rộn rã âm thanh và màu sắc Một năm với tiết xuân mới: các nương ngô, nương lúa đã thu hoạch xong Trẻ con đi chăn trâu tinh nghịch đốt những mái lều canh nương để lửa khói sáng trắng trên nương Đó là tiếng cười của trẻ con, màu vàng ửng của cỏ gianh và gió rét dữ dội, là màu đỏ của những chiếc váy hoa phơi trên những mỏm đá xòe ra như những con bướm sặc sỡ Cái rét đến sớm và dữ dội, công việc cũng đã xong và năm ấy Hồng Ngài ăn tết sớm Sự đột biến của thiên nhiên của mùa xuân năm ấy liệu có báo hiệu sự đột biến trong nhân vật Mị, con người vẫn đang trong tuổi xuân và đầy sức xuân trong mình ?
2 Rượu
Đêm tình mùa xuân, mọi người uống rượu, đi chơi và Mị cũng tìm đến rượu, nhưng
không phải để tìm vui mà là để giải sầu "Mị uống ực từng bát rồi say" Cách uống rượu của
Mị như nuốt căm, nuốt hận vào lòng Sự bất bình thường ấy đã nói lên tất cả Sức chịu đựng
có hạn, đã đến lúc cần bùng cháy Rượu và tiếng sáo chính là chất men say đánh thức phần đời đã mất của Mị, giờ đây Mị không còn lặng câm nữa Mị đã hồi sinh! Rượu chính là chất men xúc tác để nhân vật có đủ sức mạnh và can đảm làm những việc mà khi tỉnh táo Mị không thể bởi bao áp chế đè nặng Vì thế mới có những diễn biến đầy phức tạp trong tâm lí
và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân Có lẽ chúng ta không thể cảm nhận và phân tích những nét tâm lí ấy bằng lí trí của một người tỉnh táo mà phải là sự chuyếnh choáng trong hơi men nồng nàn của rượu, trong kí ức của tiến sáo năm xưa Cũng như tâm lí của nhân vật Chí Phèo đang chơi vơi giữa hai bờ say, tỉnh của Nam Cao khi xách dao đến nhà Bá Kiến để
đòi lương thiện Tâm trạng lưỡng cực đầy tinh tế của nhân vật, «không phải người viết mà là thần viết»
3 Tiếng sáo
Mùa xuân năm ấy với Mị không thể thiếu được "tiếng sáo gọi bạn yêu" Chính thanh
âm quen thuộc ấy như một cơn gió thổi tung đám tàn tro đang vây quanh cuộc đời Mị Đặc biệt qua nghệ thuật trần thuật và miêu tả tiếng sáo đặc sắc, Tô Hoài đã mang đến cho người đọc một linh hồn đang cựa quậy hồi sinh đằng sau lớp xác giá băng Chính tiếng sáo đã tác động đến Mị, góp phần thức tỉnh một tâm hồn nguội lạnh Tiếng sáo như sợi dây vô hình nối
mị với quá khứ và hiện tại làm sống dậy trong Mị một kí ức đẹp tươi Nói đúng hơn nó đánh thức cái tài hoa trong Mị ngày nào Mị thổi sáo hay, thổi lá giỏi có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị Quá khứ đẹp nhưng đối lập với hiện tại buồn mênh mang Tác
giả miêu tả tiếng sáo rất cụ thể: khi còn xa Mị cảm thấy « lấp ló» ngoài đầu núi Nhưng rồi
nó đến gần hơn, vọng lại rõ hơn để rồi nghe thấy «thiết tha bổi hổi» Mị nghe rõ và nhẩm
được cả lời của bài hát Mị ngồi nhẩm thầm lời của người đang thổi sáo:
Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương
Ta chưa có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu Ngay sau đó là một câu văn ngắn gọn, chắc nịch : «Những đêm tình mùa xuân đã tới»
Mùa xuân mới, sự bùng trỗi dậy của sức sống, của những khao khát và đổi thay của đất trời, vạn vật Phải chăng với Mị điều đó cũng đang đến gần
* Diễn biến tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân
Trang 26Sự xuất hiện cũng như tác động đồng thời của cả ba tác nhân có thể ví như một làn gió
đã thổi tan lớp tro tàn nguội lạnh trong tâm hồn Mị và khơi lên hơi ấm mà hòn than của sức sống vốn bị vùi chôn nơi sâu kín nhất trong tâm hồn Để rồi dẫn đến hàng chuỗi các hành động cả vô thức lẫn ý thức nhưng chứa đựng đầy sức sống của nhân vật
1 Khi ngập mình trong hơi men nồng nàn, tha thiết, với tiếng sáo đang đang « văng
vẳng gọi bạn đầu làng », Mị đang sống về ngày trước và không gì có thể ngăn được niềm vui sướng ấy: "lòng Mị đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước" Còn gì hạnh phúc
bằng khi mình tìm lại được chính mình? Tô Hoài đã thâm nhập vào mê cung tâm trạng của người phụ nữ này và bằng lòng cảm thông yêu thương sâu sắc, nhà văn đã làm người đọc thực sự xúc động trước những biến đổi về tâm lý của Mị Con rùa nuôi trong xó cửa ấy đã không còn lùi lũi nữa Nó đã phá vỡ cái bức tường vô cảm kia để khát khao tìm ra thiên đường
mùa xuân của tuổi trẻ, của hạnh phúc Mị nhận thức được chính mình, đó chính là ý thức
về tuổi trẻ Mị thấy mình còn trẻ "Mị trẻ lắm Mị hãy còn trẻ Mị muốn đi chơi" Còn trẻ nghĩa
là còn sức sống, còn khao khát, còn muốn yêu thương Đúng là một cảm xúc bi kịch: nhận ra mình còn trẻ khi mà tuổi xuân bị tước đoạt rồi và sống trong hoàn cảnh hiện tại này của Mị thì đúng là bi kịch Nhưng dù đó là bi kịch thì Mị vẫn vui sướng vì dù sao con tim ấy đã vui trở lại
2 Nhưng đớn đau thay, cùng với cảm xúc tìm lại được chính mình là một nỗi tủi thân
Mị đã có chồng nhưng người chồng ấy không tình yêu, không hạnh phúc A Sử - kẻ khốn nạn
ấy đã giam hãm cuộc đời Mị và dẫu "không có lòng với nhau mà cũng phải ở với nhau" Cảm
xúc ấy như gáo nước lạnh dội vào mặt, làm tan biến đi tất cả niềm vui sướng mà nãy giờ Mị chắt chiu gom góp Còn gì đau khổ bằng lấy một người mà mình không có tình yêu Còn gì đau khổ bằng phải sống với một kẻ vũ phu chỉ xem mình là món đồ chơi và bị khinh rẻ như súc nô Mị lại tưởng đến nắm lá ngón, Mị ước ao có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại nước mắt chỉ ứa ra Muốn chết để giải thoát nỗi đọa đày, muốn chết để thoát khỏi bi kịch, điều này dễ thông cảm nhưng hơn hết Tô
Hoài đã mang đến cho người đọc sự lột xác của Mị Muốn chết chính là biểu hiện của sức sống Khi Mị đã hồi sinh, khó có thể nào chấp nhận được thực tại cay đắng này Vậy là hơn
một lần Mị tìm đến cái chết nhưng lần này thì sự hồi sinh trong con người tưởng như đã chết với tâm hồn, tư tưởng nhưng không phải Sức sống ấy bỗng dưng ùa về, làm cô khao khát hơn bao giờ hết kiếp sống đáng sống, sống đúng với nghĩa của một con người Đây phải chăng là tình yêu, lòng nhân đạo của tác giả đối với nhân vật
3 Không có lá ngón trong tay, tâm trạng Mị chợt xoay sang hướng khác Khi tiếng sáo
gọi bạn yêu ngoài kia đang réo rắt, khi mà cả thiên đường hạnh phúc của mùa xuân phía sau
ô cửa nhỏ kia đang nồng nàn, thôi thúc trái tim Mị Mị không thể ngồi yên được nữa Mị phải đứng dậy! Mị hành động trong lặng lẽ Lặng lẽ nhưng mãnh liệt Mị đã thắp lên ngọn đèn trong căn phòng u ám, đặc cóng muộn phiền Không phải bỗng dưng mà Tô Hoài chọn hành động thắp đèn làm hành động đầu tiên sau khi người con gái lặng câm ấy thức tỉnh, bởi trong hoàn cảnh này ngọn đèn như xua tan đi tất cả cái bóng tối u ám đang bao quanh cuộc đời Mị Ngọn đèn thắp sáng tâm hồn Mị, đốt cháy cả nỗi khát khao vượt ra khỏi bức tường địa ngục
để đến với thế giới ngoài kia đang dập dìu tiếng sáo Nhà văn diễn tả thật sâu sắc khát vọng cháy bỏng của Mị bằng một đoạn văn ngắn nhưng giàu sự cảm thông Câu văn ngắn, nhịp
văn mạnh mẽ thể hiện sự trỗi dậy mãnh liệt của nhân vật "Mị quấn lại tóc Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách" Mị hành động thản nhiên, dù A Sử đang hiện diện trong căn
buồng của Mị Nhưng Mị không sợ, bóng ma thần quyền đã không thể làm gì Mị bởi sức sống trong con người ấy đang trỗi dậy mạnh mẽ Nhưng đớn đau thay, sự độc ác tàn nhẫn của giai cấp thống trị miền núi đã dập tắt đi cái khát vọng và sự trỗi dậy đó của Mị, mà A Sử chính là kẻ đại diện A Sử đã nhẫn tâm trói Mị bằng một thúng sợi đay, tóc Mị xõa xuống hắn cuốn luôn tóc Mị lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa Sự đè nén,
áp chế đến tàn nhẫn của bọn thống trị
Trang 274 Nhưng lúc này đây, Mị đâu còn sống bằng thể xác nữa mà Mị đang thực sự đang
sống với tâm hồn A Sử trói được thể xác của Mị nhưng không thể nào trói được tâm hồn cô Thậm chí sự áp bức về thể xác càng lớn thì sự trỗi dậy của tinh thần càng mạnh mẽ Bởi tâm hồn Mị đã vượt ra khỏi cái lỗ vuông bằng bàn tay kia để sống cùng đêm tình mùa xuân Thể
xác Mị nằm đây, giữa bốn bức tường câm lặng nhưng hồn Mị đang "đi theo những cuộc chơi những đám chơi", mị còn nhẩm thuộc lòng trong đầu lời bài hát của người thổi sáo mà có lẽ
đó cũng là bài hát và khúc nhạc sáo mà Mị thổi năm nào: « Em không yêu, quả pao rơi rồi
Em yêu người nào, em bắt pao nào ? » Tâm hồn Mị ngập đầy tiếng sáo, ăm ắp những kỷ
niệm đẹp tươi Có lúc tiếng sáo nhập cả vào hồn Mị làm Mị bừng lên như ngọn lửa gặp cơn
gió lớn "Mị vùng bước đi" Hành động này cho thấy Mị không hề biết mình đang bị trói (hoặc
có thể biết bị trói nhưng đã quên vì sức sống của tâm hồn lớn hơn nỗi đau thể xác) Nhưng
rồi "tay chân đau không cựa được" lại đưa Mị về với hiện thực cay đắng "Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa"- hiện thực khắc nghiệt của thực tại đè nặng làm cho Mị không
thể sống với thế giới mộng tưởng của mình được Nhưng sức sống ấy vẫn âm ỉ cháy dù đau
đớn, tủi nhục Suốt đêm, Mị lúc mê lúc tỉnh Lúc mê thì sống trong "hơi rượu tỏa" cùng tiếng sáo mênh mang gọi bạn tình Lúc tỉnh thì "nồng nàn tha thiết nhớ" Rất tài tình thì nhà văn
mới có thể miêu tả được tâm trạng của nhân vật lúc này bởi nhân vật không sống với cái xác
mà sống với hồn cốt và sống với hoài niệm trong tâm trí của mình, một trạng thái chập chờn giữa cơn tỉnh, cơn mơ Có một chi tiết lại xuất hiện như một dấu hiệu thức tỉnh của nhân vật
Đó là hình ảnh giọt nước mắt của Mị Mị đã khóc ròng rã hàng tháng trời khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí Nhưng cũng đã bao ngày tháng Mị không khóc, cũng không còn buồn nữa
Và cho đến tận bây giờ giọt nước mắt ấy lại chảy ra, phải chăng đó là dấu hiệu một tâm hồn, một sức sống đã hồi sinh thực sự Chi tiết này có lẽ Tô Hoài đã bắt gặp Nam Cao, bởi các nhân vật của Nam Cao cũng có những giọt nước mắt của sự bừng tỉnh : Hộ khóc, Chí Phèo khóc, Thứ khóc Mị khóc, Mị đã hồi sinh để nhận ra bi kịch của cuộc đời mình Mị khóc
nhưng rồi « Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi » Câu văn đồng thời đan xen cả hiện tại và quá khứ,
giữa tỉnh và say, giữa thực và mơ Cả đêm hôm đó Mị sống trong trạng thái khi tỉnh khi mê Cho tận đến sáng, có lẽ đó là lúc hơi rượu đã nhạt, tiếng sáo đã ngừng và đêm tình mùa xuân cũng tàn thì Mị mới choàng tỉnh
*** Có một chi tiết rất đắt khi nhà văn kết thúc diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm
tình mùa xuân Đó là chi tiết: Mị tỉnh dậy và nhớ lại câu chuyện người đàn bà bị chồng trói
chết trong căn nhà này Và Mị đã sợ, sợ chết "Mị cựa quậy xem thử mình còn sống hay đã
chết" Sợ chết là biểu hiện của lòng ham sống Vậy là sức sống trong con người khốn khổ
ấy đã không lụi tàn mà ngược lại vẫn mãnh liệt như những đợt sóng ngầm gầm gào trong
lòng đại dương tưởng như không gì có thể dập tắt nổi Nói như nhà văn Lỗ Tấn "Một tia lửa hôm nay báo hiệu một đám cháy ngày mai" Chắc chắn đợt sóng ngầm ấy sẽ hứa hẹn trở
thành bão táp của ngày mai Đó là đêm cởi trói cho A Phủ một năm sau đó
=> Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị đã có cơ hội đánh thức sau bao ngày bị vùi
chôn trong đọa đày Nó đủ kéo Mị ra khỏi vỏ bọc của một con rùa rụt cổ, của một cái bóng
vô hồn, của một vật vô tri vô giác trong nhà Pá Tra Thậm chí là đủ để cho nhân vật có thể phản kháng với thực tại, cho dừ sự phản kháng ấy còn yếu ớt Nhưng nó là tín hiệu dự báo
sự đột phá của nhân vật trong cuộc vùng dậy cởi trói cho A Phủ và giải thoát chính bản thân, tìm sự sống cho mình
- Diễn biến tâm lí của Mị trong đêm giải cứu A Phủ
@ A Phủ
A Phủ cũng là nạn nhân của việc cho vay nặng lãi, A Phủ trở thành trâu ngựa trong nhà
Pá Tra Hai số phận nhưng một cảnh ngộ Họ là nô lệ, ăn đời ở kiếp cho lũ nhà giàu Vì để
hổ bắt mất một con bò, mạng sống của A Phủ bị treo lên giá chết Án tử đang đợi A Phủ từng phút từng giây
@ Mị với hiện tại
Trang 28Đêm tình mùa xuân, như cơn gió thoảng qua đời Mị, cô lại tiếp tục quay về kiếp sống trâu ngựa tại nhà thống lí - vô hồn, vô cảm Đó là những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn Mị thức dậy và sống cùng ngọn lửa Mị vẫn câm lặng trong nỗi cô đơn Lửa cũng cô đơn Hai kẻ cô đơn ấy sưởi ấm cho nhau Nhìn thấy A Phủ bị trói đứng như thế, Mị cũng bình thản, bình thản một cách lạ lùng đến nhẫn tâm Thậm chí nếu A Phủ là cái xác chết ở đó thì
Mị vẫn như vậy mà thôi, vẫn dậy sưởi lửa mà như không hay Phải chăng "Sống lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi" nên Mị không còn nhận ra nỗi khổ của người khác Bởi khi con
người ta không còn biết thương đến bản thân mình thì không thể yêu thương người khác được
@ Nhân tố tác động làm bừng tỉnh Mị
Đã mấy ngày A Phủ bị trói đứng ở cột: chịu đau, chịu đói, chịu rét nhưng không một
tiếng kêu nài, van xin Chỉ khi dòng nước mắt của A Phủ "bò xuống hai hõm má đã xám đen lại", dấu hiệu của thần chết đã xuất hiện trên khuôn mặt người nô lệ ấy, thì trái tim Mị mới
bừng tỉnh, lòng thương người trong Mị mới trỗi dậy Nhưng không phải nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ mà Mị đã cảm thương con người này, đó là cả một quá trình diễn biến tâm lý đầy phức tạp trong Mị mà Tô Hoài đã miêu tả thật tinh tế
@ Diễn biến tâm lí của Mị trong đêm giải cứu A Phủ
Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị
Lúc này đây, Mị mới thấm thía được nỗi cùng cực của kiếp người
B1 : Khi nhìn thấy dòng nước mắt ấy «lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại»,
Mị chợt nhớ ngay lại đêm năm trước A Sử cũng trói đứng Mị như vậy và cô thấy thương mình Mị hình dung lại chuỗi ngày ê chề dài dằng dặc của cuộc đời mình A Phủ sao mà
giống Mị thế, Mị cũng từng bị A Sử trói đứng thế kia, có «nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được»
B2 : Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh
ngộ rất dễ cảm thông cho nhau Mị căm phẫn khi nhớ lại người đàn bà bị trói chết trong căn
nhà này Mị càng căm phẫn càng uất hận "chúng nó thật độc ác" Mị nhận ra kẻ gieo rắc nỗi
khổ Chúng nó - cha con thống lí Pá Tra, những kẻ đại diện cho thế lực phong kiến miền núi chuyên bóc lột, áp bức nhân dân Nhớ đến những chuyện ngày trước, Mị lại trở về với hiện
tại, Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của mình: "Ta là thân đàn bà chúng nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi"
B3 : Khi không tìm được lối thoát cho mình nhưng trong Mị tình người đã trỗi dậy, bởi
đồng cảnh ngộ nên Mị hiểu nỗi khổ mà A Phủ đang phải gánh chịu, thậm chí là đang đối mặt, cận kề với cái chết nên Mị không thể làm ngơ Mị không có quyền bỏ mặc người khác Lý trí mách bảo Mị rằng phải cứu A Phủ Trái tim nhân ái đã thôi thúc Mị phải hành động Nhưng
Mị chợt chùn lại Mị giằng xé dữ dội giữa mạng sống của mình và người đồng cảnh ngộ Có thể Mị cứu được A Phủ nhưng chính Mị sẽ lại phải chết trên cái cọc ấy Nhưng Mị nào đâu thấy sợ, bởi giờ đây, lòng thương người đã lớn hơn tất cả mọi nỗi sợ hãi
B4 : Khi lòng thương, tình yêu đủ lớn nó sẽ có sức mạnh để áp đảo mọi thế lực, thậm
chí là đánh đổi cả mạng sống của mình cho người khác Mị táo bạo, Mị quyết liệt, Mị nổi loạn Chính hành động cắt dứt sợi dây trói đã phần nào cho thấy vẻ đẹp sức sống của Mị Đó chính là sức sống của cô gái Mèo dám dứng lên đương đầu với lũ ác thú Dù còn mang tính
tự phát nhưng đó là dấu hiệu dự báo cho thấy được sự bừng tỉnh của những con người nô lệ đang đi theo tiếng gọi của cách mạng Có ai ngờ được rằng Mị cắt đứt dây trói cho A Phủ cũng là vô tình cắt đi sợi dây oan nghiệt trói buộc cuộc đời mình Mị đã làm một cuộc cách mạng tất yếu
B5 : Giây phút đứng lặng trong bóng tối là Mị sống trong sự ngổn ngang trăm mối, rối
bời: chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết? Khi đã cứu được người, A Phủ đã được tự do, được sống thì cũng là lúc tình thương người trong Mị hoàn thành bổn phận Giờ đây chỉ còn lại mình Mị với số phận đã an bài và một cái chết đang chờ đón Khi con người ta đang đứng
Trang 29giữa ranh giới mà sự sống và cái chết chỉ cận kề trong gang tấc thì bản năng sinh tồn của con người sẽ trỗi dậy Mị hành động theo bản năng tất yếu Cuối cùng tiếng gọi của tự do và sức
sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Mị vụt chạy ra Mị băng đi như đi tìm sự sống và tự do cho chính mình Những bước chân của hai con người khốn
khổ ấy băng qua đêm tối như đạp đổ cường quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn họ bao năm qua Ta hãy nghe Mị nói sau bao nhiêu năm câm
nín: "A Phủ Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất" Có lẽ chưa bao giờ niềm khao khát sống và
khát khao tự do đến với Mị mãnh liệt như lúc này Hành động cắt dây trói cho A Phủ nhưng cũng chính Mị tự tay cắt đứt bao sợi dây của cường quyền, thần quyền đã trói buộc mình Tiếng gọi tự do đang vẫy chào họ phía trước, nơi họ đến là Phiềng Sa vùng đất hứa còn Hồng Ngài hôm nay còn chăng là những ngày buồn đau, tủi nhục trong quá vãng
* Ý nghĩa hành động Mị cắt dây trói cho A Phủ
Đây không phải là hành động mang tính bản năng Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của ký ức, khát vọng sống tự do, đã khiến Mị chạy theo A Phủ Mị giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho bản thân mình! Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái dám chống lại cả cường quyền và thần quyền Hành động này đã được dự báo, dự đoán trong quá khứ khi Mị khóc lúc mới về làm dâu nhà Pá Tra, Mị định lấy lá ngón tự tử, khi Mị hừng hực sức sống trong mùa xuân năm trước để năm nay Mị
đủ sức cầm con dao cắt dây trói cho A Phủ Giải cứu A Phủ là Mị giải cứu chính mình Sức sống mãnh liệt của người con gái ấy vượt lên trên cả cường quyền, thần quyền thậm chí là chấp nhận cả cái chết để đánh đổi một cuộc sống đáng sống, và được sống là chính mình Hành động này là biểu hiện đầy đủ nhất, cao nhất của nhân vật Mị mà tác giả Tô Hoài đã dày công phân tích đầy lô gic và thyết phục
Thành công của nhà văn khi miêu tả sự hồi sinh của nhân vật đó chính là nhờ vào nghệ thuật trần thuật hấp dẫn Phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo Cách dựng cảnh sinh động Cách lột tả nội tâm nhân vật nhiều bất ngờ thú vị Ngôn ngữ mộc mạc giản dị Tất cả đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm, góp phần mang đến cho người đọc sự xúc động mãnh liệt trước số phận của đồng bào miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn chủ nô và lũ
Tây đồn
=> Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc luôn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Nó như ngọn lửa vẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một làn gió mát lành thổi tới là có thể bùng cháy một cách mãnh liệt Những tác động ngoại cảnh là yếu tố không nhỏ để khơi lên sức sống tiềm tàng của Mị Đó cũng chính là tinh thần nhân văn của tác phẩm mà Tô Hoài gửi gắm
3 KB
Qua hình tượng nhân vật Mị, điều Tô Hoài muốn nhắn nhủ chính là sức sống mãnh liệt của người con gái ấy Không một thế lực nào có thể dập tắt nó, thậm chí nếu càng đè nén, càng áp bức thì đến một lúc nào đó nó sẽ trỗi dậy mạnh mẽ hơn Đồng thời nhà văn cũng ca ngợi vẻ đẹp của những cô gái dân tộc Mèo xinh đẹp, tài hoa và hiếu thảo Vẻ đẹp chân chất, giản dị như những bông hoa ban nơi núi rừng Tây Bắc để lại thương nhớ nhiều không chỉ cho nhà văn mà còn để thương để nhớ cho bạn đọc mãi mãi về sau
Trang 30PHÂN TÍCH NHÂN VẬT A PHỦ
MB
“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn được rút ra từ tập “Truyện Tây Bắc” của Tô
Hoài viết vào năm 1953 ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của tác giả Truyện đã được tặng giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955 Đấy là truyện ngắn đặc sắc nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn xuôi chống Pháp nói chung, tác phẩm là một bức tranh chân thực
về cuộc sống và thân phận khổ đau của những người nông dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đồng thời là bài ca về phẩm chất, sức sống, khát vọng
tự do của con người lao động miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và sự đổi đời của
họ Tiêu biểu cho những con người ấy là A Phủ, một trong hai nhân vật thành công nhất của
Tô Hoài trong truyện ngắn này
TB
1, Cách giới thiệu nhân vật
Trong tác phẩm tác giả không giới thiệu nhân vật A Phủ theo trình tự tuyến tính của thời gian mà để cho nhân vật xuất hiện đầy bất ngờ, đường đột trong một cuộc hỗn chiến với
A Sử
A Sử vốn là con quan, nên dù có vợ rồi, nó vẫn muốn đi bắt vài đứa con gái nữa về làm vợ Chỉ cần nhìn thấy chiếc vòng bạc ở cổ rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ là không ai dám động vào Có lẽ vì thế mà A Sử tha hồ ngông ngược quậy phá Nó vào làng trêu con gái, thậm chí còn đánh cả trai làng Mâu thuẫn đã diễn ra từ đêm hôm trước, và được giải quyết vào sáng hôm sau A Sử dẫn đầu nhóm đến để tìm trai làng, còn trai làng dẫn đầu là A Phủ
Chỉ cần nhìn thấy bọn A Sử trai làng đã xôn xao và cất tiếng gọi A Phủ: A Phủ đâu? A Phủ đánh chết nó đi! Không phải ngẫu nhiên mà A Phủ lại được gọi tên lên trong một nhóm các
trai làng Hẳn là vị trí của A Phủ không đơn giản như những chàng trai kia Điều này phần nào bộc lộ phẩm chất con người, bản tính của A Phủ Cách để nhân vật xuất hiện với những câu hỏi bỏ ngỏ lại trong lòng người đọc khiến cho họ phải cuốn theo mạch truyện để tìm hiểu
xé vai áo, đánh tới tấp Với những hành động của A Phủ người đọc nhận thấy rất nhiều gợi
ý về con người này Không chỉ là một sức mạnh của một con người cường tráng Mà đó còn
là phẩm chất của một con người thấy chuyện bất bình không bỏ qua Thậm chí khi biết đó là con quan nhưng cũng không sợ Thậm chí A Phủ biết đánh con quan là mắc tội chết, nhưng vẫn làm vì bản tính của một con người ngay thẳng không chịu khuất phục trước cường quyền Với những hành động mà A Phủ đánh A Sử còn cho thấy sức mạnh từ nội tại bên trong một con người - một Lục Vân Tiên của thời hiện đại Lần theo thời gian, tác giả đưa ta về với tuổi thơ đầy sóng gió của A Phủ
2, Lai lịch của A Phủ
Đó là một chàng trai phải chịu đựng một tuổi thơ bơ vơ đau khổ A Phủ quê ở
Háng-bla, vừa mới lên mười tuổi đầu đã phải gánh chịu một tai họa khủng khiếp Trận dịch đậu mùa tràn đến làm cho trẻ con, người lớn chết Nhà A Phủ, cha mẹ, anh chị em cũng bị chết hết, chỉ con sót lại một mình A Phủ – một mầm sống khỏe Làng chết nhiều quá, có người làng đói bụng đã bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng Là
Trang 31một thiếu niên có tính gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp, A Phủ đã trốn lên núi cao khác, lưu lạc đến Hồng Ngài Đi làm cho nhà người khác để sống, lần nữa mùa này sang mùa khác, dù sống trong cảnh cực khổ, cô đơn, nhưng chẳng bao lâu A Phủ trưởng thành với biết bao những phẩm chất tốt đẹp của người lao động miền núi A Phủ cứ thế lớn lên và trưởng thành với núi rừng Tây Bắc và mang đầy đủ, trọn vẹn những phẩm chất tốt đẹp của những con người nơi đây
3, Phẩm chất của A Phủ
A Phủ là một chàng trai người Mèo có nhiều phẩm chất tốt đẹp của người lao động A
Phủ sớm tự khẳng định tính cách gan góc, một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề “biết đúc lưỡi cày, biết đúc cuốc, lại cày giỏi và săn bắn bò tót rất bạo” Khi lớn lên, A Phủ chẳng những hiền lành, lao động giỏi mà còn có sức khỏe hơn người: “công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng…”, “A Phủ chạy nhanh như ngựa” Vượt lên trên hoàn cảnh
khắc nghiệt, A Phủ vẫn sống một cuộc sống phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, tự tin của
tuổi trẻ “Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng cổ, A Phủ cứ đi chơi cùng trai làng, đem sáo, khèn, con quay và
cả quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng” Bởi vậy được nhiều người con gái trong làng mê và trở thành niềm ao ước của biết bao cô gái Họ kháo với nhau: “đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu” Với tập tục, phép
làng, lễ cưới xin khắc nghiệt của xã hội phong kiến miền núi đương thời, A Phủ, chàng trai không cha không mẹ, không ruộng nương, không tiền bạc ấy, làm sao có thể lấy nổi vợ, làm
gì có gia đình, hạnh phúc?
4, Con đường đẩy A Phủ vào kiếp nô lệ
Đau khổ hơn nữa, A Phủ là đứa con của núi rừng, tự do mà vẫn không thoát khỏi kiếp sống nô lệ Do tính tình phóng khoáng, bướng bỉnh và yêu lẽ phải, chính nghĩa nên A Phủ đã dám đánh lại con quan Hành động dữ dội đó của A Phủ còn có nguyên cớ sâu xa từ một mối thù giai cấp gay gắt Sau đó A Phủ bị cha con thống lí Pá Tra và bọn tay sai bắt và đánh đập
vô cùng tàn bạo, dã man hơn cả thời trung cổ
* Cảnh xử kiện có một không hai
@Thành phần xử kiện
Thông thường khi xử kiện thì có bên nguyên, bên bị, có người làm chứng, có quan
phân xử Ở cuộc xử kiện này có đầy đủ những thành phần đó nhưng sắp xếp đầy phi lí Người kiện chính là A Sử, người xử kiện lại là thống lí Pá Tra đồng thời cũng là người cho vay tiền Cán cân công lí đã xoay vần theo sức mạnh của quyền lực và tiền bạc
@Cảnh xử kiện
Xử kiện thì phải diễn ra chốn công đường thâm nghiêm, minh bạch Tất cả phải tỉnh
táo về tinh thần Ấy vậy mà cuộc xử kiện diễn ra ngay trong nhà Pá Tra Và điều đặc biệt hơn nữa là ở đó lại chuẩn bị một tiệc cỗ và tiệc hút Các quan chức, thống quán, xéo phải kéo đến
ăn cỗ, hút thuốc phiện và đánh đập A Phủ suốt từ trưa đến hết đêm: “càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút” Người bị xử, là trung tâm của buổi xử kiện thì không được
nói một lời nào Cứ mỗi lần bọn chức việc hút xong A Phủ lại quỳ trước nhà, lại bị người xô
đến đánh Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu Hai đầu gối sưng bạnh ra như mặt hổ phù” Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới Cứ liên tục quay vòng
những hành động: Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút Và không chỉ diễn ra trong chốc lát cảnh tượng xử kiện hãi hùng này mà nó kéo dài suốt chiều, suốt đêm Đúng là cảnh tượng xử kiện có một không hai trong lịch sử văn học Sự bất công, độc ác trong cuộc xử kiện đã lột trần bộ mặt thật của bọn chúa đất phong kiến miền núi
Như vậy dưới ách thống trị tàn bạo và khắc nghiệt của lũ chúa đất, cuộc sống của người dân nghèo miền núi thật thảm thương, họ bị đánh đập hành hạ như một con vật Tuy vậy A
Phủ không hề khóc lóc, van xin mà trái lại vẫn tỏ ra cứng rắn, gan dạ “A Phủ quỳ chịu đòn chỉ im lặng như tượng đá”
Trang 32@Kết quả cuộc xử kiện
Cuối cùng, với cách xử kiện quái gở, A Phủ đã bị phạt làm nô lệ suốt đời không công cho nhà thống lí Đáng ra với tội đánh con quan thì A Phủ sẽ bị xử tội chết nhưng A Phủ được
tha cho mạng sống để làm nô lệ để trả nợ cho Pá Tra “đời mày, đời con mày, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ mới thôi” Và số tiền mà A Phủ phải vay để thiết đãi các
quan làng xử kiện là 100 đồng bạc trắng Không có tiền phải vay nhà thống lí Cảnh thống lí cho A Phủ vay tiền cũng nghịch lí không kém gì cảnh xử kiện Pá Tra lấy tráp ở ngăn bàn ra,
để mở trăm bạc trắng rồi đưa cho A Phủ sờ tay vào coi như đã nhận tiền rồi cúng trình ma nhận mặt con nợ Vẫn là một lối mòn cũ, giống như đã làm với Mị: dùng cường quyền để ép
A Phủ, sau đó dùng thần quyền để mê hoặc: cúng trình ma để con nợ không còn có ý định trốn thoát nữa A Phủ trở thành tên nô lệ chung thân bị khinh rẻ, bị ngược đãi trong vòng kiểm soát của thống lí Pá Tra
5, Cuộc sống của A Phủ ở nhà thống lí
Từ đây A Phủ sống cuộc đời của thân phận nô lệ, bị thống lí bòn rút sức lao động “đốt rừng, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, ngựa quanh năm một thân một mình, rong ruổi ngoài gò ngoài rừng” Quanh năm A Phủ bôn ba một thân một mình rong ruổi ngoài gò
ngoài rừng Với sức vóc của một chàng trai khỏe mạnh, lại biết công biết việc nên công việc làm hay đi săn cứ đi phăng phăng Điều đặc biệt là chúng ta tự hỏi vì sao một chàng trai khao khát tự do, không chịu gò mình vào khuôn phép nào lại chấp nhận sống kiếp nô lệ cho nhà thống lí? Phải chăng cũng vì công việc mà A Phủ đang làm vẫn đảm bảo cho chàng trai này cuộc sống tự do như mong đợi, vẫn như ngày chưa đi ở cho nhà Pá Tra Tự do giữa núi rừng với thiên nhiên, cây cỏ, muông thú
6, Bi kịch tính mạng và số phận của A Phủ
Nếu cuộc đời làm nô lệ của A Phủ cứ thế trôi đi êm đềm thì chắc chẳng bao giờ có thêm bước ngoặt nào trong cuộc đời chàng trai này Nhưng cuộc đời là sóng gió, là phong ba, chỉ với một việc cỏn con mà tính mạng của A Phủ bị đe dọa…
Vào mùa năm đó, khi hổ, gấu đang đói, chúng kéo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa,
do mải mê bẫy nhím nên A Phủ đã để hổ vồ mất một con bò Bi thảm và tuyệt vọng hơn nữa khi tính mạng của A Phủ sống hay chết lại được quyết định bởi bàn tay tàn bạo của thống lí
Pá Tra Thống lí quát thẳng vào mặt A Phủ “Quân ăn cướp làm mất bò tao…” rồi sai A Phủ
lấy cái cọc, tự đóng cọc, và lấy dây mây để trói mình Pá Tra bắt và cuộn dây mây cuốn từ
chân lên vai trói đứng A Phủ Nếu không bắt được hổ đem về thì cho A Phủ “đứng chết ở đấy” Người đọc có lẽ cảm giác thấy đau đớn, xót xa bởi mạng sống của một con người mà
không bằng một con bò - quá rẻ mạt Con người không được làm chủ cuộc đời, không bảo vệ được sinh mạng của mình Đó là lời tố cáo chế độ xã hội đương thời đã bóp nghẹt quyền sống của con người A Phủ hay Mị đều một thân phận nô lệ như nhau
Sau mấy ngày bị “trói đứng ở trong góc nhà”, “chỉ đứng nhắm mắt” và thần chết đã
đặt tay lên hai hõm má xám lại vì tuyệt vọng và khổ đau của A Phủ Cận kề bờ vực của cái
chết: “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” Một câu
văn với sự dự đoán nhưng như lời khẳng định chắc nịch theo các thành phần vị ngữ được
ngắt ra dứt khoát: chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Còn nỗi đau nào lớn hơn khi con
người ta ý thức được rằng mình sẽ chết, sắp chết, chứng kiến cái chết đang lan khắp cơ thể
mà đành bất lực tuyệt vọng Không có một con đường nào khác Đó là bi kịch của số phận một con người Miêu tả cuộc sống khổ cực đau thương, tủi nhục của A Phủ, Tô Hoài một mặt đồng cảm xót thương với thân phận khổ đau của người lao động miền núi, một mặt khác vừa vạch trần bộ mặt tàn bạo, dã man của bọn chúa đất đã vùi dập không tiếc thương sự sống của
họ
Trang 337 Sức sống mãnh liệt trỗi dậy khi cận kề cái chết
Tuy vậy, với khát vọng sống mãnh liệt, với bản chất gan góc, bất khuất sẵn có đã tiềm
ẩn trong dòng máu của mình, A Phủ không chịu tìm cái chết mà tìm mọi cách tự giải thoát
“Đến đêm, A Phủ cúi xuống nhay đứt hai vòng mây, nhích giãn dây trói một bên tay” Nhưng
nếu một mình, với chút sức lực yếu đuối của mình thì A Phủ không thể tìm được lối thoát trong thân phận của một người nô lệ Và khi có sự trợ giúp của Mị, cả hai đã đứng lên tự giải phóng và tìm được đường đi cho mình, thoát khỏi kiếp sống nô lệ A Phủ đã bị trói đứng mấy ngày, không được ăn uống, lại chịu cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng núi cao Mị tưởng A Phủ
đã chết rồi nếu không thấy A Phủ mở mắt và nước mắt bò xuống hai hõm má Lúc ấy, mị thấy A Phủ thở phè phè, không biết là mê hay tỉnh Nhưng với quá trình đấu tranh tâm lí đầy giằng xé của mình, Mị đã quyết định tiến lại gần cầm dao cắt nút dây mây, cởi trói cho A Phủ Bản thân Mị cũng hốt hoảng nhưng cuối cùng hành động đó cũng xảy ra Dù Mị chỉ thì
thào một tiếng “đi ngay” Khi vừa cởi được dây trói thì “A Phủ khuỵu xuống, không bước nổi” Ta cứ tưởng khi Mị cắt dây trói A Phủ sẽ gục ngã, nhưng không, khi đứng giữa ranh
giới của sự sống và cái chết, thậm chí là cái chết đang cận kề thì bản năng sống của con người
sẽ trỗi dậy, bùng lên mạnh mẽ mà không một thế lực nào cản trở nổi “A Phủ đã quật sức vùng lên, chạy xuống dốc núi” Với A Phủ lúc này chỉ có con đường chạy trốn mới tìm được
lối thoát cho cuộc đời, mới giữ được tính mạng và giải phóng khỏi kiếp nô lệ A Phủ và Mị trốn khỏi Hồng Ngài, tới khu du kích Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu A Phủ và Mị lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, bản làng quê hương mình Từ đấu tranh tự phát A Phủ và Mị tiến dần đến cuộc đấu tranh tự giác Nếu đứng lên đấu tranh đơn lẻ, một mình sẽ không bao giờ giành được thắng lợi, nhưng nếu biết đoàn kết hợp sức nhau lại thì thắng lợi sẽ nằm trong tầm tay Minh chứng
là cuộc sống đổi thay của nhân dân vùng núi Tây Bắc khi cách mạng về, tập hợp quần chúng nhân dân dưới lá cờ thống nhất của Đảng lãnh đạo và đưa cuộc cách mạng đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân
3 Kết luận:
Khắc họa nhân vật thông qua những hành động, A Phủ hiện lên trong tác phẩm như một nhân vật anh hùng cổ trang, kiệm lời mà sống động Dù số phận của Mị và A Phủ có những điểm chung nhưng cách miêu tả và khắc họa chân dung hai con người thì không giống nhau Nhưng đó là số phận tiêu biểu cho người dân vùng cao Tây Bắc Từ bóng tối của cuộc đời đau khổ tủi nhục, họ đã vươn tới ánh sáng rực rỡ của nhân phẩm, của tự do và cách mạng
Đó cũng là giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này
VỢ NHẶT
Trang 34TB
a, Hoàn cảnh sáng tác
Tác phẩm tái hiện bối cảnh rộng - nạn đói năm 1945 Đó là hậu quả tất yếu của chiến tranh, khi Nhật xâm chiếm Đông Dương bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay Bọn thực dân sau khi thua ở Đông Dương thì ra sức bóc lột nhân dân để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới, bọn địa chủ cường hào ở nông thôn ngày càng ức hiếp dân lành Mất mùa vì hạn hán, lũ lụt xảy ra thường Năm 1945, nạn đói chưa từng có trong lịch sử đã cướp đi hơn hai triệu đồng bào ta Những cảnh chết đường chết chợ, tha phương cầu thực diễn ra tất cả các hang cùng ngõ thẳm
Truyện ngắn "Vợ nhặt" có tiền thân là một truyện dài nằm trong dự định của Kim Lân
- tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” Nhưng sau đó mất bản thảo, thất lạc và Kim Lân muốn dồn đọng lại nội dung ý tưởng trong một tập truyện ngắn – đó là lí do "Vợ nhặt" truyện ngắn độc đáo
ra đời Sau khi hoà bình lập lại (1954) Kim Lân dựa vào một phần cốt truỵên cũ và viết truyện ngắn này Truyện chứa đựng dung lượng hiện thực lớn mà nhà văn lấy bối cảnh hiện thực năm đói 1945 Nhưng điều mà nhà văn muốn gửi gắm không chỉ là hiện thực thê thảm của năm đói mà ông muốn thắp sáng vẻ đẹp tình người trong những năm tháng tối tăm Tác phẩm được hoàn thành ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công Truyện được in trong tập
“Con chó xấu xí” (1962)
b, Chủ đề:
Thông qua tác phẩm, nhà văn đã phản ánh và trân trọng những con người bần cùng, lương thiện Trong hoàn cảnh đói kém khủng khiếp, họ vẫn đùm bọc nhau, dành cho nhau hạnh phúc và hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn
1 Khái niệm tình huống truyện và tình huống truyện Vợ Nhặt
“Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt Truyện ngắn điểm huyệt thực hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày” (Nguyên Ngọc) Vậy là đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu
trúc thể loại, nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất Bên cạnh đó, từ tình huống truyện, các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển,
tính cách nhân vật được bộc lộ - nói cách khác tình huống truyện như một thứ nước rửa ảnh
Trang 35làm nổi hình, nổi sắc nhân vật Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống
truyện sẽ bộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả Việc sáng tạo nên các tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất cuộc sống, bản chất con người của nhà văn
Tình huống truyện "Vợ nhặt" hiện lên ngay từ nhan đề, gợi lên sự chua xót, mai mỉa,
một nỗi đau không thể nói thành lời “nhặt vợ”, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay
Hoặc ít ra cũng là:
Ba trăm một mụ đàn bà Mang về mà trải chiếu hoa cho ngồi
Vậy mà ở đây, Tràng đã nhặt được vợ, trong cơn đói khủng khiếp mà có lẽ đến giờ con cháu chúng ta vẫn kể cho nhau nghe để rùng mình; trong khi Tràng khó lòng có thể lấy được
vợ và thậm chí là ế vợ thì chàng ta lại “nhặt được vợ” Cái lạ thường, kì dị của hành động
“nhặt vợ” đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối toàn bộ tác
phẩm
2 Nét đặc sắc của "tình huống truyện" trong truyện ngắn Vợ nhặt
a Tạo được sự bất ngờ hấp dẫn cho thiên truyện:
* Bất ngờ cho toàn dân xóm ngụ cư
Đã từ lâu, dân xóm ngụ cư này đã quá quen với hình ảnh vập vạp, thô kệch của Tràng
với cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng trên môi, Tràng nghèo túng, xấu xí hơn cả
những con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm làng thì làm gì có thể lấy được vợ? Thế nhưng hôm nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén
và e thẹn Điều đó gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và người đàn bà trên con đường xao xác nắng chiều Mọi người cứ xì xầm
bàn tán “Ai đấy nhỉ ! Hay là người nhà bà cụ Tứ mới lên?”; “Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu?” thỉnh thoảng lại “rung rúc” vang lên tiếng
cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương
về cuối xóm Mặc cho những lời bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì
có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma” thay cho khách và tiếng quạ gào
lên thê thiết từng hồi, tiếng khóc hờ tỉ tê của những nhà có người chết thay cho pháo cưới Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối Cái đói đã luồn
những làn gió chết chóc mọi nơi Vậy mà Tràng lại có vợ “Ôi chao! Biết có nuôi nổi nhau qua được cái thời đói khát này không”
Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng”
“Ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải Ra hắn đã có vợ đấy ư?” Mọi chuyện xảy ra quá bất ngờ, dường như chỉ là cơn mơ, một cơn mơ theo đuổi
tâm trí hắn cho đến tận buổi sáng ngày hôm sau Người đàn bà chỉ gặp mới hai lần lại trở thành vợ hắn Mà thật ra, hắn cũng không có ý định gì với thị Thị liều lĩnh đến với hắn chỉ bằng một câu nói suông Đùa mà thành thật, Thị theo hắn như phó mặc cho số phận Cái đói
đã đẩy họ đến với nhau trong hạnh phúc ngỡ ngàng, đầy lo âu Mọi chuyện xảy ra quá bất
ngờ, dường như chỉ là cơn mơ Người đàn bà mới chỉ gặp hai lần nay lại trở thành vợ hắn…
Trang 36b Tình huống đã phơi trần hiện thực và qua đó bộc lộ thái độ của nhà văn đối với con người cũng như xã hội:
Cái đói - không cần dùng đến những lời lẽ đanh thép hay “đại ngôn” nhưng tác phẩm
Vợ nhặt mang đến một giá trị nhân bản vô cùng to lớn Bằng tình huống đầy bi hài, nhà văn
xoáy vào tố cáo chế độ thực dân phát xít, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái đói kinh hoàng Cái đói mang đến sự chết chóc, tang thương khắp mọi nơi và cũng chính nó làm giá trị con người bị hạ xuống mức thấp nhất Con người dường như mất hẳn tính người, chỉ còn sống theo bản năng để được ăn, được sống Cơn đói khát làm cho người đàn bà quên cả sĩ diện,
được mời ăn “hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên” tức thì, thế rồi “thị sà xuống ăn thật Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” Đoạn văn làm cho bất
cứ ai có lương tâm cũng phải xấu hổ, phải quay mặt đi để cười ra nước mắt Thì làm ta liên
tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam Cao Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói luôn ám ảnh Giận thị nhưng ta vẫn xót xa trước dáng hình tiều tụy của thị “hôm nay thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Cái đói, với bóng đen kinh hoàng của nó bao trùm khắp mọi
nơi, đè nặng lên cuộc sống bình thường của mỗi con người Nó không chỉ tàn phá nhân hình
mà còn làm cho con người mất đi cả danh phẩm – một người vợ theo không, nhưng cái đói
vẫn đeo bám Thê thảm với đám “rước dâu” có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai hờ khóc tỉ tê “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”
Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là một tình huống oái oăm Ta sẽ mừng hay lo, buồn hay vui cho cặp vợ chồng này? Tâm trạng của những nhân vật trong câu chuyện chứa đầy những cảm xúc ngổn ngang và mâu thuẫn Bà cụ Tứ vui vì cuối cùng con
mình cũng có vợ nhưng lại tủi vì sự trớ trên của số phận: có phải thời “tao đoạn” như thế,
người ta mới chịu lấy con mình? Bà mẹ nghèo nặng trĩu những lo âu cho tương lai của con
mình, “liệu chúng nó có nuôi nhau nổi sống qua được cơn đói khát này không?” Câu hỏi từ
tận đáy lòng của bà mẹ chất chứa nỗi hoang mang, ám ảnh của kiếp bần hàn không lối thoát
và cả sự rình rập trước ngõ của cơn ác mộng về cái đói chưa bao giờ dữ dội đến thế Trong lòng bà, ta cảm thấy cả nỗi buồn của một người mẹ không được thấy con trong ngày vui, không được một vài mâm làm lễ gia tiên Trong lời nghẹn ngào tâm sự của bà có cả sự xót
xa, một chút ân hận vì đã không làm được đầy đủ bổn phận của một người mẹ đối với con Nỗi buồn tủi của bà cụ Tứ, thân phận bọt bèo của những con người như Tràng và cô vợ Nhặt, những cám cảnh bần cùng ấy tự thân nó đã có sức tố cáo mạnh mẽ cái tội ác của thực dân phát xít
Nhà văn trân trọng, tôn vinh những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân: dù đối mặt với hoàn cảnh sống ngặt nghèo nhưng họ vẫn luôn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau Thậm chí càng gieo neo, khốn khó lại càng yêu thương nhau Đó là truyền thống cao đẹp đầy chất nhân văn của người Việt “Thương người như thể thương thân” Rộng sâu hơn, nhà văn đã viết bản
bi ca về niềm lạc quan, yêu sống, ham sống của con người Đúng như nhà văn tâm sự khi viết
truyện ngắn này : “Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình người vẫn vượt lên trên tất cả Có tình người là có cuộc sống Có tình người là có hi vọng vào tương lai”
c Nhưng tình huống truyện cũng làm ngời sáng lên vẻ đẹp của những người nông dân bình thường thô mộc, giúp các nhân vật bộc lộ sâu sắc tâm trạng và tính cách của mình
* Với Tràng
Đó là khát khao hạnh phúc của anh Tràng Tình huống nhặt vợ mang đầy vẻ bi hài,
chỉ bằng những câu bông lơn và bốn bát bánh đúc, thị đã đồng ý làm bạn với hắn Thị theo hắn dường như để giải quyết nhu cầu ăn Những chuyện tưởng như rất thô lậu và trơ trẽn nhưng dưới ngọi bút tài tình của Kim Lân, nó trở nên nhẹ nhàng hơn và lấp lánh tình người
Trang 37Tràng hoàn toàn mờ mịt về tương lai của mình “thóc gạo này đến thân mình còn chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng” nhưng hắn vẫn ra tay cưu mang người đàn bà nghèo khổ
Đói kém đã đẩy đưa người phụ nữ đến với hắn, mang đến cho hắn niềm hạnh phúc của một người có được mái ấm gia đình với bao ước mơ về tương lai dung dị nhưng đầy cảm động Chính vì thế, hắn nhận ra trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc mà mình vừa có được Lòng hắn chợt loé lên một ý nghĩa được đổi đời, tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ, vẩn vơ, khó
hiểu – khao khát đổi thay
Tính cách của Tràng cũng diễn biến rất tinh tế, thay đổi linh diệu nhờ tình huống nhặt
vợ Trước khi nhặt được vợ, Tràng chỉ là một anh chàng đẩy xe bò thuê, cuộc sống nghèo khổ, bấp bênh thậm chí là bế tắc với khuôn mặt đầy lo âu, khắc khổ và cái cười hềnh hệch Nhưng khi thị quyết định theo Tràng về làm vợ, trong suy nghĩ của con người vô tư ấy chợt
có những suy nghĩ đầy trưởng thành “thóc gạo này đến cái thân mình còn không biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”, rồi hắn quyết định, dứt khoát và đánh cược với số phận
* Với bà cụ Tứ
Trong cảnh thê lương ấy, những tấm lòng nhân hậu lại sáng ngời lên mà tiêu biểu
trong tác phẩm là bà cụ Tứ Trong lòng người mẹ nghèo ấy lúc nào cũng mang sẵn tình
thương con vô bờ bến “vừa ai oán vừa xót xa cho số kiếp của đứa con mình” Trong cái nhìn đăm đăm vào người đàn bà đang “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt” có sự xót thương, thông cảm sẻ chia Tình thương con dù bao la đến mấy cũng có thể chỉ làm bà “rỉ xuống hai dòng nước mắt” Cái khổ đau vất vả một đời đã vắt kiệt nước mắt người mẹ Nó
không đủ để chảy thành dòng “rỉ” xuống như chết non một cách tức tưởi Không còn nước mắt nhưng bà vẫn nhận lấy nguy cơ bị cái chết gần thêm bước nữa Bằng ngòi bút tài năng của mình, Kim Lân có lúc đã đưa người đọc đến tận cùng màn đêm tối tăm, u ám, nhưng rồi lại nhẹ nhàng hé ra một khe sáng lấp ló đâu đó khiến chúng ta hướng về và vươn tới Người
dân Việt nam mà đại diện là những bà mẹ Tràng, anh Tràng và người đàn bà vẫn khát khao
cuộc sống hạnh phúc tươi sáng hơn “Bà lão nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau
này” Trong tâm trí bà là viễn cảnh tươi sáng gia đình Niềm vui làm bà mẹ Tràng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác thường , “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Ta vui lây niềm
vui của gia đình hoà thuận, đầm ấm, niềm vui của Tràng được thấy xung quanh mình hôm nay có gì vừa thay đổi mới mẻ, khác thường Niềm vui bất chợt của gia đình làm ta cười sung sướng nhưng nước mắt vẫn cứ tuôn mãi nghẹn ngào Ta muốn tha thứ tất cả, kể cả sự trơ tráo của người đàn bà và cả tội phung phí đến hai hào dầu của anh Tràng
đổi ấy: “Tràng nom thị hôm nay trông khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Thị tu chí làm
ăn, và có ý thức cùng chồng vun vén, xây dựng gia đình Hạnh phúc gia đình, sự cảm thông, lòng yêu thương giữa con người với con người chính là bàn tay ấm kéo con người về với cuộc sống
3 Kết bài Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao điều Mỗi
ý nghĩ của tình huống lại mang một giá trị nhân bản, tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn Chính vì thế, tác phẩm mang đầy tình yêu thương nồng ấm như một ngọn lửa nhỏ lấp loé mãi trong cuộc đời Và tác phẩm đã cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân hậu, tuyệt vời đức hi sinh của những người nông dân Việt Nam Dù đứng trước sự mất còn của mạng sống ( hiểu theo nghĩa đen trần trụi nhất) vẫn cưu mạng, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người,
Trang 38để sống với hi vọng, với tương lai Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh dẫn đoàn người đói khát
đi phá kho thóc của Nhật đâu chỉ là mộng tưởng Cách mạng đã gần kề, suối nguồn của chủ nghĩa nhân đạo sẽ làm sáng lên những con người bình dị nhưng có phẩm chất nhân đạo như cụ Tứ, như Tràng và cô “vợ nhặt” tội nghiệp Họ sẽ viết tiếp truyện thống về phẩm giá con
người Việt Nam trong tương lai
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRÀNG
MB
Nếu Chí Phèo đi vào trong tác phẩm của Nam Cao với dáng ngật ngưỡng của kẻ say và tiếng chửi đời đầy chua chát Thì nhân vật Tràng cũng bước vào trang văn của Kim Lân với cái lưng to như lưng gấu và dáng đi lững thững đầy mỏi mệt, cái mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều Nhưng trước cách mạng, Nam Cao đã bất lực nhìn Chí Phèo chết mà không thể đưa tay cứu vì hạn chế của lịch sử Còn Kim Lân viết về anh cu Tràng sau cách mạng thành công nên nhân vật đã được dắt tay đến ánh sáng của cách mạng, tìm đường tới tự do Con đường ấy chông gai, và thách thức như thế nào trong thiên truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã
vẽ lại con đường ấy bằng ngòi bút chân thực, sống động khi miêu tả nhân vật Tràng, một nhân vật chính của truyện với sự cảm thông và lòng nhân đạo sâu sắc
ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về
b, Ngoại hình
Tràng xấu xí, thô kệch Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng khẳng
khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa
dữ tợn Còn đầu của Tràng thì cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch
Với lai lịch là dân ngụ cư nghèo, lại có ngoại hình xấu trai như vậy cũng đủ anh Tràng khó lấy được vợ nếu không muốn nói là ế vợ Nhưng ẩn chứa bên trong nét ngoại hình xấu
xí ấy là tâm hồn của một con người luôn vươn tới những khao khát sống đẹp Và điều này một phần được thể hiện thông qua tính cách của nhân vật
2.2.Tính cách:
a, Con người vô tư, nông cạn nhưng đầy tình thương
Tràng hầu như không tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình, không vướng bận những lo toan của cuộc sống cơm áo, gạo tiền Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn từ dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư
ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút
Ngay cả chuyện quan trọng cả một đời như lấy vợ, bất cứ ai cũng phải lựa chọn, cân nhắc kĩ càng nhưng Tràng thì ngược lại Tràng cũng chỉ đưa ra quyết định trong chốc lát,
Trang 39nhanh chóng đến bản thân anh ta còn không tin nổi Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ Tràng cũng thừa biết, người như hắn thì không thể có vợ Đó là lần gò lưng kéo cái
xe thóc vào dốc tỉnh, Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc Chủ tâm của anh ta là vui đùa chứ đâu có chòng ghẹo cô nào
Muốn ăm cơm trắng với giò!
Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!
Nhưng không hiểu sao những cô kia lại đẩy Thị ra với hắn Thế rồi, một người đàn bà đang đói bám lấy để được ăn, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận, cười tít mắt và cùng đẩy xe bò
Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái "cười tít mắt của thị" bởi "từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu" Cái cười của Tràng làm ta nhớ
đến giây phút mà Chí Phèo không quên và đầy xúc cảm trào dâng như khi nhận bát cháo hành
từ trên tay Thị Nở, vì từ xưa đến nay có ai cho hắn cái gì, muốn có ăn thì phải cướp, giật, dọa nạt Một sự bố thí nhỏ nhoi của số phận cũng làm cho con người trào dâng niếm hạnh phúc
Ấy chính là tinh thần nhân đạo của nhà văn
Vì đùa nên Tràng quên ngay nhưng thị thì nhớ như in và tới ăn vạ Lơ ngơ giây lát nhưng khi nhận ra Tràng nhanh chóng gật đầu Lần thứ hai gặp lại là Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ người đàn bà sầm sập chạy đến, cong cớn, sưng sỉa với
hắn "Điêu, người thế mà điêu Bữa trước hẹn thế mà mất mặt" Tràng không nhận ra người
đàn bà hôm trước đẩy xe cho mình Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn phá cả nhân hình lẫn phẩm cách Thị gầy sọp hẳn đi, quần áo rách như tổ đỉa, ngực gầy lép, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt Thấy người đàn bà đói, rách rưới, thảm hại Tràng động lòng thương Có ai ngờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả đến thế bởi chính Tràng lúc này cũng bị cái đói bủa vây, cũng thảm hại đáng thương như người phụ nữ kia Thế nhưng Tràng đã quên đi cái nghèo khổ của mình, chỉ còn lòng thương, một lòng thương người đầy đủ giành cho người đàn bà
Tràng cho thị ăn, ăn rất nhiều " bốn bát bánh đúc" - bởi giữa lúc tao đoạn ấy thì “một miếng khi đói bằng một gói khi no” Miếng ăn ấy có thể cứu sống một con người Đó chính là lòng
thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hoặc chòng ghẹo Một phẩm chất cao cả, một tâm hồn đẹp ẩn bên trong một ngoại hình thô kệch, xấu xí Một lòng thương người bao la giữa cái đói cái chết đang cận kề Đó là phẩm chất tốt đẹp trong con người lao động nghèo khổ Việt Nam mà Kim Lân đã dày công kiếm tìm và ca ngợi
b, Khát khao hạnh phúc gia đình
Vốn tính hay đùa, khi thị lo lắng hụt tiền bị vợ mắng, Tràng lại tầm phơ tầm phào "Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về" Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết Mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng" Đó là nỗi sợ hãi
có thật, nhất lại là thời điểm đói kém như thế Một thoáng trong óc Tràng, nỗi ám ảnh của cái đói, cái chết hiện về đầy đủ và chân thật nhất Nó là hiện thực khắc nghiệt mà không một lí trí nào đủ mạnh mẽ để làm ngơ Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã
lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi "Chậc kệ!"
Chỉ một từ "chậc kệ" thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo
nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa sự sống Tội nghiệp thay, người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa Một người vì khát khao hạnh phúc gia đình, người kia vì miếng ăn Nói tóm lại là họ đánh liều với số phận, với sự sống, nhưng cái liều của họ làm người ta bật khóc Bởi sống giữa cuộc đời mà ngay khi cái đói, cái chết cận kề,
họ không nghĩ đến cái đói, cái chết mà lại hướng tới sự sống, khát khao hạnh phúc Đó là vẻ đẹp, nghị lực sống phi thường của người nông dân nghèo Bấy giờ thì họ là người dũng cảm, dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới mong manh của sự sống và cái chết Họ làm ta khâm phục và kính trọng, phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin
Trang 40của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói? Tất cả dồn tụ, lắng đọng lại trong chi tiết nhặt vợ thật nhanh chóng của Tràng!
c, Tràng là người đàn ông nhân hậu phóng khoáng
Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa
no nê Anh còn mua 2 hào dầu để thắp sáng, để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí Đó có vẻ như là sự chi tiêu phóng khoáng thậm chí là cố gắng quá mức của Tràng trong lúc đói khát, thóc cao gạo kém này Nhưng cũng rất dễ hiểu vì Tràng sắp được làm chồng
Không phải vì vợ nhặt mà Tràng coi thường, không trân trọng mà ngược lại, hắn yêu thương và nâng niu chút hạnh phúc lớn lao bỗng nhiên hắn có được Trên đường về, khác với anh Tràng hôm qua buồn bã, cúi mặt lo âu nghĩ ngợi, hôm nay Tràng có niềm vui lạ, một
niềm hạnh phúc tràn ngập khiến mặt Tràng cứ "phớn phở khác thường" Thỉnh thoảng lại còn
cười nụ một mình Lúc thì hắn đi sát người đàn bà, lúc lại lùi ra sau một tí, hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia, muốn nói đùa một câu, lại cứ thấy ngường ngượng Kim Lân đã làm người đọc thấy được sự thay đổi về tâm lí của Tràng Tràng thật sự đã đổi khác Trong lòng Tràng
tràn ngập niềm vui sướng miên man khiến "Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó
ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ dọc sống lưng" Thế là
rõ rồi: Tình yêu, hạnh phúc gia đình luôn đủ sức mạnh khiến con người ta thay đổi
d, Biết đến những lo âu chính đáng
Khi về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy "ngượng nghịu" rồi cứ thế "đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ" Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi Hạnh phúc lớn lao quá
khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình
với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: "hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?" Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng
Không chỉ có bản thân Tràng thấy bất ngờ về việc mình bỗng nhiên có vợ, mà tất cả những người dân trong xóm ngụ cư đều không tin được Bởi đây là một việc như từ trên trời rơi xuống Cái đói cướp đi cả mạng sống của con người thì có hạnh phúc nào nó có thể ban cho con người? Vậy mà Tràng lại nhặt được hạnh phúc ngay lúc sự sống chênh vênh nhất, không biết nên mừng hay tủi, vui hay buồn, hạnh phúc hay âu lo? Nhưng đã vượt qua tất cả hiện thực khắc nghiệt, Tràng đón nhận niềm vui của hạnh phúc nhỏ nhoi, bất ngờ của mình Lúc chờ đợi Mẹ về: Tràng nóng ruột, đi đi lại lại Chưa bao giờ người ta thấy hắn nôn nóng như thế- hắn biết lo toan, như mốc đánh dấu sự trưởng thành của một con người Vì sao? Bởi hắn lo mẹ không đồng ý, và nếu như vậy thì niềm hạnh phúc hắn đang có sẽ bị mất
đi Khi mẹ về, hắn mừng rỡ, rối rít như trẻ con vì dù sao Tràng vẫn còn có mẹ - đó là đấng tối cao của Tràng vì chỉ có mẹ mới quyết định được hạnh phúc của hắn Tràng nóng lòng thưa chuyện với mẹ Bắt mẹ ngồi lên giường để thưa chuyện, như thế ta mới thấy hết Tràng cũng ý thức được mình lấy vợ là một việc vô cùng hệ trọng Có gì đó như sự đổi thay ghê gớm Trên chợ tỉnh mới trước đó ít phút, lời rủ thị về đích thực là một câu đùa thì với hành động mời mẹ ngồi lên ghế chĩnh chện để thưa chuyện thì đó lại là việc hệ trọng cả một đời Một chàng trai đã lớn, đến tuổi dựng vợ, gả chồng mà khi thưa chuyện vợ con với mẹ Tràng vẫn còn ngượng nghịu, chút ngượng ngịu đầy trân trọng của chàng trai nghèo trước hạnh phúc bất ngờ Niềm vui, sự ngượng nghịu hoàn toàn đối lập với sự ủ rũ của cậu con trai Lão Hạc khi bị phụ tình, vì nghèo mà mất đi tình yêu đầy chua xót Hai phận nghèo nhưng lại là hai kết thúc khác nhau trước hạnh phúc gia đình Nên người đọc hoàn toàn có thể hiểu và cảm thông cho niềm vui của Tràng Khi được mẹ đồng ý, Tràng thở đánh phào một cái nhẹ