Có những bức tượng đài đã trở thành bất tử trong văn học viết về người lính: nữ anh hùng thủa bà Trưng, bà Triệu “cưỡi voi xông trận”, người nông dân nghĩa sĩ với “manh áo vải, ngọn tầm vông” trong văn Nguyễn Đình Chiểu, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ Quang Trung …Nhưng có một bức tượng đài đẹp như huyền thoại trong văn học là hình tượng người lính trong KKCP. Chắc chúng ta đã biết đến người nông dân vác súng lên đường đi chiến đấu trong bài Nhớ của Hồng Nguyên. Người đồng đội thắm thiết ân tình trong Đồng Chí của Chính Hữu…Một mảnh đất thân quen của văn học đã bao người cày xới. Đã bao cây đại thụ trưởng thành từ mảnh đất này. Đó là một thử thách không hề nhỏ đối với người cầm bút có ý định viết về mảng đề tài người lính. Nhưng khó khăn càng lớn càng thôi thúc và đánh thức tài năng. QD đã không ngần ngại khi lách bút vào kẽ hở của đề tài này và ươm lên một hạt mầm đủ sức vươn cao, trường tồn, bất tử cùng thời gian. Tây Tiến là một minh chứng hùng hồn khẳng định lao động nghệ thuật đầy trách nhiệm, ý thức và tình yêu của Quang Dũng.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
TÂY TIẾN Quang Dũng
MB
Nhà thơ CLV đã từng tha thiết, vời vợi những nhớ thương với mảnh đất Tây Bắc:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
Mỗi mảnh đất đi qua là « nơi máu rỏ » để tâm hồn ta thấm đất, mỗi bước chân là một bước ân tình Bao nhiêu
kỉ niệm đã ăn sâu vào tiềm thức, những tháng ngày gian nan, lúc băng rừng, vượt thác, khi hào hùng, lúc mộng mơ tất cả chỉ bao bọc trong nỗi nhớ, niềm thương của người đại đội trưởng gửi trao những đồng đội thân yêu
TT là tiếng lòng thổn thức, chơi vơi mà QD gửi lại mảnh đất miền Tây Bắc và đoàn quân TT của mình
TB
1 Đề tài: hình tượng người lính trong KCCP
Có những bức tượng đài đã trở thành bất tử trong văn học viết về người lính: nữ anh hùng thủa bà Trưng,
bà Triệu “cưỡi voi xông trận”, người nông dân nghĩa sĩ với “manh áo vải, ngọn tầm vông” trong văn Nguyễn Đình Chiểu, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung …Nhưng có một bức tượng đài đẹp như huyền thoại trong văn học là hình tượng người lính trong KKCP Chắc chúng ta đã biết đến người nông dân vác súng lên đường đi chiến đấu trong bài Nhớ của Hồng Nguyên Người đồng đội thắm thiết ân tình trong Đồng Chí của Chính Hữu…Một mảnh đất thân quen của văn học đã bao người cày xới Đã bao cây đại thụ trưởng thành
từ mảnh đất này Đó là một thử thách không hề nhỏ đối với người cầm bút có ý định viết về mảng đề tài người lính Nhưng khó khăn càng lớn càng thôi thúc và đánh thức tài năng QD đã không ngần ngại khi lách bút vào
kẽ hở của đề tài này và ươm lên một hạt mầm đủ sức vươn cao, trường tồn, bất tử cùng thời gian Tây Tiến là một minh chứng hùng hồn khẳng định lao động nghệ thuật đầy trách nhiệm, ý thức và tình yêu của Quang Dũng
2, Hoàn cảnh sáng tác
Một tác phẩm ra đời đôi khi là sự thai nghén, thôi thúc của cả nội tâm và ngoại cảnh Tây Tiến cũng vậy,
là kết tinh của tình yêu, nỗi nhớ, niềm thương mà QD gửi về cho binh đoàn Tây Tiến máu thịt, thân yêu của mình
Đặc điểm của binh đoàn TT:
- Thành phần: Đoàn quân TT được thành lập vào mùa xuân năm 1947, gồm phần đông là những chàng trai
trẻ của đất Hà thành, hào hoa, thanh lịch:
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất cờ đỏ thắm
Nên tâm hồn họ lãng mạn, bay bổng, nhiều mộng và cũng lắm mơ Đây là điểm khác biệt rõ nét làm nên chất lãng mạn và trữ tình cho bài thơ cũng như hình tượng người lính trong thơ QD (so sánh với hình tượng người lính trong bài Đồng Chí của Chính Hữu)
- Tinh thần: Họ ra đi chiến đấu mang trong mình lí tưởng: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, quyết tử cho
tổ quốc quyết sinh Một lí tưởng sáng ngời chân lí của thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh
- Địa bàn hoạt động: Một khu vực rộng khắp kéo dài từ Mai Châu- Hòa Bình cho đến tận Thanh Hóa, kéo
sang cả Sầm Nứa của Lào Đó là vùng địa hình đồi nứi phía Tây Bắc hiểm trở của tổ quốc Nơi rừng thiêng, nước độc, nơi thâm sơn cùng cốc với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt
- Nhiệm vụ: Chiến đấu, bảo vệ vùng biên giới phía Tây Bắc của tổ quốc, kết hợp cùng với bộ đội Pa-thét Lào
đánh tiêu hao sinh lực địch
- Cuộc sống chiến đấu: Vô cùng thiếu thốn, khó khăn gian khổ Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt Chính vì
thế mà những người kính TT hi sinh vì mũi tên hòn đạn thì ít mà vì ốm đau, bệnh tật thì nhiều
Chính vì vậy chỉ sau một năm chiến đấu, binh đoàn TT đã hi sinh gần hết, đơn vị tan rã, đại đội trưởng QD được chuyển sang một đơn vị khác và TT sát nhập vào Trung đoàn 52 Một lần, ngồi tại dòng sông Đáy hiền hòa thuộc tỉnh Hà Đông cũ kỉ niệm, kí ức về những tháng năm gắn bó cùng đồng đội thân yêu, vào sinh ra tử lại ùa về TT được viết lên trong nỗi nhớ trào dâng, da diết QD gửi đến cho đất và người trọn vẹn một tình yêu
3, Nhan đề và xuất xứ bài thơ
Tác phẩm văn học có thể coi như đứa con tinh thần của nhà văn, nhà thơ Chính vì thế đặt tên cho tác phẩm cũng là nỗi băn khoăn, trăn trở của mỗi tác giả Có những tác phẩm tên được đặt đi, đặt lại TT của QD mới ra đời nó có tên là “Nhớ TT” Nhưng có lẽ sau này QD hiểu rằng, thơ là “ý tại ngôn ngoại”, không nói nhớ mà
Trang 2nghệ sĩ Nhan đề đã được tinh giản chỉ còn “TT” mà nỗi nhớ vẫn chơi vơi, như mạch ngầm và là nguồn cảm hứng của cả bài Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô” năm 1948
Phân tích bài thơ
Bố cục: 4 phần:
1 Hình tượng người lính TT thấp thoáng ẩn hiện trên chặng đường hành quân giữa thiên nhiên núi rừng Tây Bắc
2 Cảnh đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng
3 Chân dung người lính TT
4 Lời thề gắn bó với binh đoàn TT và mảnh đất miền Tây
Phân tích đoạn thơ đầu
1, Hai câu thơ đầu: Cánh cửa cảm xúc của bài thơ
*Câu 1
Ý1: Hình ảnh dòng sông Mã
- Vai trò của dòng sông Mã
+ Biểu tượng cho tình yêu quê hương
Đã là người con của đất mẹ Việt Nam có lẽ chúng ta ai cũng từng một lần trên môi ngân nga khúc hát ngọt
ngào “quê hương ai cũng có một dòng sông bên nhà Đi xa ai cũng nhớ, một dòng sông tuổi thơ…” Một đất
nước miền khí hậu nhiệt đới, thiên nhiên lại ban tặng cho hầu hết mỗi tỉnh thành một dòng sông Nhà thơ Hoàng Cầm yêu con sông Đuống hiền hòa bên làng tranh Đông Hồ cổ kính Tố Hữu yêu dòng sông Hương với mái chèo man mác và điệu hò Nam ai, Nam bình, Mái nhì, Mái đẩy QD của chúng ta là con của mảnh đất Hà Thành, nơi có dòng sông Hồng thắm đỏ phù sa, nên nỗi nhớ khắc sâu trong tim đáng ra phải là dòng sông ấy Nhưng điều đặc biệt ở đây là nỗi nhớ lại ùa về theo dòng chảy cuộn xoáy của dòng sông Mã Phải chăng dòng sông của mảnh đất miền Tây ấy đã gắn bó máu thịt như quê hương thứ hai của nhà thơ Nên xa rồi mới thấy nhớ thương, thấy vấn vương để cất lên thành tiếng thơ dào dạt
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi +Là chứng nhân lịch sử
Dòng sông Mã là dòng sông nằm miền Tây Bắc của tổ quốc, chảy qua Sơn La và Thanh Hóa và với hàng loạt chi lưu của nó Dòng sông ấy đã gắn bó cùng chiến sĩ trong đoàn quân TT suốt những năm tháng chiến đấu ở nơi đây Dòng sông đã trở thành chứng nhân lịch sử, chứng kiến bao vui buồn, những niềm vui hân hoan khi chiến thắng, những nỗi đau thầm lặng của sự hi sinh…Một chứng nhân không thể thiếu trong dòng hoài niệm của QD khi nhớ về đồng đội thân yêu
+ Sự kết nối giữa dòng sông hiện tại và dòng sông trong kí ức
Năm 1948, QD được cử làm đại biểu đi dự đại hội toàn quân tại Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội Một hôm ngồi tại bến Phù Lưu Chanh của dòng sông Đáy hiền hòa, nỗi nhớ về đồng đội trào dâng, dòng sông Đáy của hiện tại đã đưa QD trở về với quá khứ, với những tháng ngày gắn bó cùng binh đoàn TT Nỗi nhớ này gọi nỗi nhớ kia, dòng sông này chảy về dòng sông khác Kí ức về đoàn quân TT dập dềnh theo sóng nước của dòng sông hoài niệm Và nỗi nhớ vỡ òa chơi vơi
Ý 2: Thời gian:
Như một sự thật phũ phàng mà QD không thể phủ nhận là cho dù hình ảnh dòng sông Mã có thân thương đến mấy, TT có gần gũi biết bao thì giờ đây chỉ còn trong hoài niệm, trong kí ức vì tất cả đã “xa rồi” Tính từ chỉ thời gian được đặt giữa câu thơ như bẻ đôi quá khứ và hiện tại Như một lẽ hiển nhiên của sự chia cắt Bởi
kỉ niệm càng đẹp thì càng xót xa
Ý 3: Danh từ TT
Nỗi nhớ thương như đang dâng trào theo con nước cuộn xoáy của dòng sông Mã Khi biết tất cả đã xa rồi thì QD muốn níu kéo Và như một phản xạ bản năng, tiếng gọi TT bật lên thân thương, trìu mến và da diết biết bao TT là danh từ chung chỉ đoàn quân TT, nhưng khi QD cất lên tiếng gọi TT ơi thì danh từ chung đã chuyển thành danh từ riêng khi có thán từ hô gọi “ơi” đứng phía sau và người đọc lại có cảm giác như chính tác giả đang gọi một người bạn tri âm, tri kỉ của mình Có như vậy ta mới hiểu hết hồng tâm đầy tình sâu, nghĩa nặng
mà QD dành cho đồng đội thân yêu
Ý 4: Dấu chấm cảm
Dấu chấm cảm cuối câu như một sự khẳng định lại dứt khoát, mạnh mẽ, chắc nịch tình cảm của nhà thơ Nếu có ai đó, sẽ là không quá, nếu nói rằng câu thơ đầu đã khơi được mạch nguồn cảm xúc cho toàn bộ bài thơ
Trang 3để rồi nỗi lòng của nhà thơ không thể che giấu được, và phải lộ thiên theo ngôn từ, một thứ ngôn ngữ đặc biệt của trái tim
=>Câu thơ 7 chữ mà có 4 chữ là tên riêng, đó cũng là nơi gửi, chốn về của nỗi nhớ: Vùng đất miền Tây mà con sông Mã đã trở thành biểu tượng mỗi lần người ta nhắc đến mảnh đất nơi chiến trường chiến đấu oanh liệt khiến bao thế hệ của Tổ quốc nhìn lại để ngậm ngùi
*Câu 2
Ý1: Điệp từ nhớ
Nỗi nhớ không thể chất chứa được trong lòng, nó đã bật lên thổn thức Câu thơ thứ hai không có chỗ cho hình ảnh thơ mà nó là những khoảng, những chỗ trống cho trái tim lên tiếng Nói nhớ thôi có lẽ là chưa đủ, nên vần thơ điệp lại: nhớ rồi lại nhớ Nỗi nhớ cứ ùa về, trào dâng, cuộn xoáy trong lòng
Ý 2: Từ láy nhớ chơi vơi
Để diễn tả nỗi nhớ, người ta có thể sử dụng hàng loạt các bổ ngữ: da diết, cồn cào, cháy bỏng, nồng nàn…Nhưng QD lai không chọn những từ quen thuộc Lọc trong hàng ngàn tấn quặng ngôn ngữ để chắt lọc được một ngôn từ trong thơ đó là việc của những bậc thi thánh QD khi viết nhớ chơi vơi liệu ông có nghĩ đến những câu ca dao quen thuộc:
Ra về nhớ bạn chơi vơi Nhớ chiếu bạn trải Nhớ chăn bạn nằm
Hay Xuân Diệu cũng từng viết
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
Phải chăng khi sử dụng nhớ chơi vơi là QD như ngầm một sự so sánh: Nỗi nhớ của tôi dành cho đồng đội thân yêu cũng da diết cháy bỏng như nỗi nhớ, nỗi tương tư của trai gái trong tình yêu Còn gì sâu đậm hơn? Bản thân từ láy “chơi vơi’ còn có tác dụng gợi hình Nỗi nhớ ấy dù không có hình, khối, không thể cân, đong, đo, đếm được nhưng chỉ biết rằng nỗi nhớ ấy cứ dâng lên, cứ đầy lên, từ lòng người mà tan thấm, lan tỏa ra bao trùm khắp không gian rừng núi mênh mông
2, Sáu câu thơ tiếp: Thiên nhiên miền Tây qua chặng đường hành quân của binh đoàn TT
*2 câu đầu
Ý 1: Những địa danh lạ lẫm, xa xôi
QD đã đưa người đọc đến những vùng đất hẻo lánh, xa xôi của miền biên cương qua các địa danh nghe lạ lẫm đến vô cùng
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Ý 2: Thiên nhiên miền Tây và con người hòa quyện
* Chất hiện thực
- Qua ngòi bút kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tả thực và lãng mạn, thiên nhiên miền Tây hiện lên hoang sơ, hùng vĩ, khắc nghiệt nhưng cũng thơ mộng đến vô cùng Nơi núi rừng Sài Khao sương mù bao phủ trắng trời, như nhấn chìm, khuất lấp cả đoàn quân Sương mù là nét thiên nhiên đặc trưng của chốn núi rừng Đó cũng là
sự khắc nghiệt của thiên nhiên làm tăng thêm sự khó khăn, gian khổ cho đoàn quân TT trong quá trình chiến đấu Thê nên mới dẫn đến một hệ lụy tất yếu là “đoàn quân mỏi”
- Thanh trắc của tư “lấp” như vút lên, sương dày, sương che thì bước chân của những chiến sĩ càng nặng nề, nên kết thúc câu thơ là thanh trắc của từ “mỏi” Nếu chỉ dừng lại ở câu thơ này thì có lẽ cảm xúc chính lắng lại
là sự mệt mỏi, nhọc nhằn cả về thể xác lẫn tinh thần
- Liên hệ: Cũng miêu tả về "sương", Chế Lan Viên cũng đã viết trong "Tiếng hát con tàu":
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương
* Chất lãng mạn
- Bằng ngòi bút tài hoa và nghị lực phi thường, ngay câu thơ sau với thủ pháp lãng mạn đã nâng đỡ tâm hồn người lính trên con đường hành quân vất vả, gian lao:
Trang 4+ Ở Mường Lát những đóa hoa rừng đang bung nở trong đêm Hình ảnh “hoa về” có nhiều ẩn ý Người đọc có thể hiểu rằng, những người lính TT trên chặng đường hành quân dù đầy khó khăn, gian khổ nhưng những chàng trai mang tâm hồn hào hoa, lãng mạn của đất Hà thành vẫn yêu đời “ngắt một đóa hoa rừng cài lên mũ
ta đi” Khi đoàn quân dừng chân nghỉ tại Mường Lát, quân về cũng là lúc “hoa về” Đồng thời hình ảnh “hoa về” còn cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tài tình của QD, đoàn quân ấy là những chàng trai hào hoa, với tâm hồn đẹp và lí tưởng đang tỏa sắc, lên hương như loài hoa của núi rừng Tây Bắc
“Hoa về” còn có thể hiểu là khi hành quân đêm trong rừng rậm, những chàng lính trẻ đã làm những bó đuốc bằng thanh nứa, thanh tre đập dập Khi cháy rất đượm và những tàn lửa tung bay trông từ xa đoàn quân như một tràng hoa lửa rực rỡ đang về nơi tập kết giữa núi rừng trong làn sương mờ hư ảo
+ Hình ảnh thiên nhiên “đêm hơi” được miêu tả lập lờ giữa hai bờ hư, thực Đêm hơi còn có thể hiểu là đêm có sương mù giăng mắc, một nét đặc trưng đầy khắc nghiệt của thiên nhiên miền Tây Nhưng chỉ bằng cách thay
đổi một từ sương bằng hơi đã làm cho khung cảnh bỗng trở nên lung linh, hư ảo Người đọc như đang cùng
những chàng Lưu Nguyễn thời đại Hồ Chí Minh vào nhập cõi thiên thai
=> Cái tài tình của QD là sự đan xen giữa bút pháp tả thực và lãng mạn Nếu câu trước là nét vẽ gân guốc,
đầy khắc nghiệt của hiện thực thì câu sau lại là nét vẽ mềm mại của bút pháp lãng mạn Đó là sức mạnh nâng đỡ tâm hồn người lính TT trên chặng đường trường hành quân đầy gian khổ
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Ý 2: Từ láy tượng hình
Bức tranh ấy còn thêm sinh động, tác giả đã tô vẽ bằng những từ láy tượng hình
- “Khúc khuỷu” là con đường vừa dốc lại như gấp khúc, gẫy gập Con đường hành quân của người lính TT
vốn đã gian nan giờ độ khó khăn lại còn tăng thêm
- “Thăm thẳm” vốn là từ độc quyền để tả độ sâu Nhưng thật tài tình khi QD dùng nó để tả độ cao của dốc núi
và nó mang lại hiệu quả bất ngờ Con dốc mà chót vót thì có lẽ người đọc còn nhìn thấy điểm cuối của con đường và nơi ấy là chỗ dừng chân Nhưng để từ “thăm thẳm” ở cuối câu trong việc tả con dốc thì dường như cung đường ấy không chỉ cao mà còn dài hun hút, không cùng, không tận, biết đâu là điểm cuối - gian nan nối tiếp gian nan
- Từ láy “heo hút” gợi lên sự hoang sơ, vắng lặng của chốn thâm sơn cùng cốc Nơi mà chỉ có thiên nhiên ngự
trị khiến cho con người thêm nhỏ bé, choáng ngợp trước không gian
Ý 3: Thanh điệu câu thơ
Một câu thơ 7 tiếng mà có đến 5 thanh trắc không chỉ diễn tả con đường đi đầy gập ghênh, gian nan mà còn khiến người đọc như nghe rõ tiếng thở hổn hển của người lính TT khi leo dốc Thế mới thấy thi trung không chỉ hữu họa mà còn có nhạc Đọc câu thơ mà ngỡ nhạc rung trong lời Đó là cái tài của nhà thơ
Trang 5- Nghệ thuật nhân hóa như hé mở tâm hồn đang đùa vui, bốc tếu đầy hóm hỉnh của những chàng lính trẻ Những tâm hồn hào hoa, lãng mạn
- Hình ảnh này còn tôn lên tư thế hiên ngang, đang làm chủ hoàn cảnh, đứng trên đỉnh đèo cao Con người mang tầm vóc kì vĩ, lớn lao Một tư thế hiên ngang như bức tượng đài của người lính thế kỉ XX, người lính trong thời đại Hồ Chí Minh
Ý 6: Đứng trên cao cảm nhận con đường đi
- Đứng trên đỉnh dốc núi cao, họ nhìn xuống con đường hiểm trở vừa vượt qua và con đường gấp khúc sẽ đi xuống Đường lên dốc và đường xuống dốc đều thăm thẳm, hun hút Hình ảnh thơ thật đối xứng, câu thơ như
một đường thẳng bị bẻ gấp lại:
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
- Điệp từ "ngàn thước" đã mở ra 1 không gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên hùng vĩ vô cùng Bên cạnh đó, QD còn khắc họa lại ngọn núi án ngữ sừng sững con đường đi, hai bên dốc núi nhìn lên cao chót vót nhìn xuống sâu thăm thẳm
- Câu thơ ngắt nhịp 4/3 như bẻ đôi con đường Hai từ đối lập, trái nghĩa: lên >< xuống khiến người đọc rơi vào cảm giác bất ngờ, như một làn sương lạnh thốc vào giác quan chứng kiến cảnh vật biến động nhanh đến choáng váng Mà như nhà phê bình Trần Đình Sử đã nhận xét: đọc câu thơ mà QD cho người đọc như đang chơi trò bập bênh đến chóng mặt
* Ý 7: Câu thơ kết
- Sau ba câu thơ gân guốc, táo bạo với nhịp thơ như hơi thở dồn dập, tác giả khắc họa cái dữ dội tột đỉnh của thiên nhiên Tây Bắc Những thanh bằng với nhạc điệu lâng lâng, mênh mang, QD đã thể hiện ánh mắt vô cùng thơ mộng của người lính Tây Tiến để tìm thấy vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Câu thơ như tiếng thở phào nhẹ nhõm của người lính sau khi vượt đèo cao, núi sâu Họ tạm dừng chân bên dốc núi, phóng tầm mắt ra xa qua không gian mịt mùng của sương rừng, mưa núi để ngắm nhìn những ngôi nhà đang thấp thoáng trôi nhẹ nhàng giữa biển mưa Câu thơ giống như một gam màu lạnh giữa gam màu nóng trong hội họa dịu lại cả khổ thơ tạo nên một cảm giác êm đềm
- Xa xa, lẫn trong màn mưa núi sương rừng, bản làng mờ ảo, thấp thoáng trong thung lũng, lúc ẩn lúc hiện Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến Dưới ngòi bút của Quang Dũng, dường như nó lãng mạn hơn, trữ tình hơn Nhà thơ đầy sáng tạo khi tả mưa rừng bằng cụm từ "mưa xa khơi"
Nó gợi lên một cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giữa chốn núi rừng, tả mưa rừng mà cho người đọc cảm giác như đang đứng trước biển khơi mênh mang khác nào bậc kì tài Nguyễn Tuân đã dùng lửa để tả nước trong tùy bút Người lái đò sông Đà của mình
- Hình ảnh ngôi nhà của ai đó thấp thoáng sau làn sương mù và mây núi thật hư ảo Nó không chỉ có tác dụng
làm cho những người lính thấy ấm lòng khi tìm thấy cuộc sống quen thuộc nơi núi rừng hoang sơ, hiểm trở
Mà ngôi nhà thân thương ấy còn là động lực giúp họ bước tiếp trên con đường chiến đấu gian nan đầy hiểm nguy Bởi:
Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông
- Câu thơ thứ 7 với 8 thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra một bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn Những câu thơ Tây Tiến giàu chất tạo hình hôm nay gợi nhớ những dòng thơ trong "Chinh phụ ngâm khúc" xưa:
Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao Sương đầu núi buổi chiều như dữ dội Nước lòng khe nẻo suối còn sâu
=> 6 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến Qua những chi
tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ Đó là nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và hững người lính nói chung
3, Bốn câu thơ tiếp:Người lính TT trên chặng đường hành quân
* 2 câu đầu: sự hi sinh và lí tưởng của người lính TT
Ý 1: Cách gọi
Trang 6Hai từ “anh bạn” cất lên như muốn đùa vui, hóm hỉnh, như một cái vỗ vai nhẹ nhàng người đồng đội thân quen của mình Thân thiết biết nhường nào
Ý 2: Từ láy “dãi dầu”
Trong dân gian ta có câu thành ngữ “dãi nắng, dầu sương” để chỉ sự vất vả, gian truân QD đã rút gọn thành ngữ trong từ láy dãi dầu vừa để gom lại sự nhọc nhằn của những chàng lính TT vừa để khắc họa cuộc sống và chiến đấu đầy khắc nghiệt Chữ "dãi dầu" đã lột tả được hết sự khốc liệt của chiến tranh Bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy, gian khổ phủ lên đầu người lính nên mệt mỏi là những tất yếu
Ý3: Hiện thực khốc liệt
- Thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt như vậy khiến cuộc hành quân của người lính Tây Tiên vô cùng gian khổ:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời
- Câu thơ viết về một hiện thực khốc liệt ấy thế mà lại đuợc nói bằng giọng nhẹ nhàng, thấm thía"…không bước nữa"và "gục lên súng mũ" gợi tư thế ngạo nghễ của người lính Tây Tiến Người lính ấy không rũ bỏ, quay lưng lại với kháng chiến, phải chăng phút giây phó mặc, bất cần, đầy ngạo nghễ của họ cũng là điều tất yếu sao? Các anh đã không bước tiếp được nữa trên con đường hành quân đầy gian khổ
Ý 4: Nghệ thuật miêu tả sự hi sinh
- Cụm từ ‘bỏ quên đời” trong câu thơ có nhiều cách hiểu Cũng có thể là người lính TT, trên chặng đường hành quân mệt mỏi, họ không đi nữa và dừng chân lại nghỉ và giấc ngủ say đến thật nhẹ nhàng Trong giây phút ấy người lính như gác lại, để quên những khó khăn, nhọc nhằn của cuộc chiến đấu Nhưng cũng có thể hiểu rằng các anh nằm xuống và vĩnh viễn không bao giờ đứng dậy cùng đồng đội tiếp tục cuộc chiến đấu trường kì được nữa
- Cái chết của các anh đựơc miêu tả nhẹ nhàng, than thản"bỏ quên đời" bởi nghệ thuật nói giảm, nói tránh Ba chữ:"bỏ quên đời" thể hiện tinh thần, thái độ của người lính trước cái chết, xem như đó là điều hiển nhiên, nhẹ
tựa lông hồng Các anh lên đường, đến với núi rừng miền Tây và biết rằng:"Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi"(xưa
nay chinh chiến mấy ai trở về) Họ chủ động chấp nhận cái chết, coi nó chỉ đơn giản như một giấc ngủ mà thôi Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy sau này ta còn bắt gặp trong "Dáng đứng Việt Nam":
Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng Một bàn tay chưa rời báng súng Chân lưng chừng nửa bước xung phong
- Câu thơ đã tiếp tục cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến Đây là hình ảnh vừa bi vừa hùng mang không khí thời đại Họ ra đi chiến đấu với lời thề thiêng liêng: "Quyết tử cho tổ quốc quyết
sinh Mỗi cuộc ra đi đều không hẹn ngày trở về giống như một lời ca của một thời: "Đoàn vệ quốc quân 1 lần
ra đi nào có mong chi đâu ngày trở về Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà quyết không lui"
=>Hai câu thơ của Quang Dũng dẫu có buồn vì nói đến mất mát, hi sinh nhưng vẫn không bị lụy về thái độ của người hi sinh Người chiến sĩ ở đây dẫu không áp đảo đựoc khó khăn nhưng họ không chịu khuất phục
Họ đứng trên cái chết, coi cái chết "nhẹ tựa lông hồng"và sẵn sàng đón nhận nó vì Tổ quốc thân yêu
* 2 câu sau: Những hiểm nguy ẩn chứa nơi núi rừng
Bấy nhiêu khắc nghiệt mà người lính phải chịu đựng vẫn chưa phải là tất cả bởi vùng rừng núi miền Tây
ấy còn là nơi ngự trị của âm u, hoang dã, của thác cao, sông sâu, suối dữ Sự hoang dã ấy không chỉ đựơc mở
ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cả thời gian với những đe dọa khủng khiếp luôn rình rập
con người:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét, Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Ý 1: Điệp từ chỉ thời gian
- Hết chiều chiều lại đến đêm đêm, những hiểm nguy cứ kéo dài, triền miên không dứt Lúc nào cũng đe dọa những người lính TT
Ý 2: Hình ảnh thác gầm thét và cọp trêu người
- Người ta hay nói đến rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí Với rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi chiều tà
lại nghe tiếng thác gầm thét đổ xuống và cứ mỗi đêm sâu lại nghe tiếng cọp gầm Âm thanh nào cũng ghê rợn Quang Dũng bằng tài thẩm âm của mình đã cụ thể hóa và làm sống động những tiếng nói riêng của núi rừng
- Vậy chỉ với hai câu thơ, Quang Dũng đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để cực tả vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng, miền đất ấy còn chứa nhiều điều hoang sơ và huyền bí Cảnh hoang vu của núi rừng Tây Bắc đúng
là thử thách ghê gớm đối với người lính Tây Tiến
Trang 7- Các từ láy chỉ biên độ lặp lại thường xuyên của thời gian kết hợp với biện pháp nhân hóa "thác gầm thét","cọp trêu người "đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm, dữ dội, hoang dã chứa đầy nguy hiểm, cái chết luôn luôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây Đồng thời cho thấy sự đùa vui hóm hỉnh, coi nhẹ những gian khó hiểm nguy của những chàng lính trẻ
- Qua cách sử dụng thanh điệu: hai thanh trắc là hai dấu nặng ở hai từ “hịch, cọp” nhà thơ Trần Lê Văn từng nhận xét "Hai chữ có dấu nặng đi với nhau nghe nặng như tiếng chân cọp" Trước đó lại kết hợp với cả hai thanh bằng đã tạo nên một quá trình rình mồi rồi bất ngờ vồ mồi của loài cọp dữ dội, quyết liệt Hình ảnh trên trang giấy được nhà thơ tài tình lưu giữ thành những kỉ niệm gian khổ, khắc nghiệt không thể quên của những chàng lính chiến
* 2 câu cuối: Nồng ấm tình quân dân
Đoạn thơ đã khép lại bằng một cảm xúc thật ấm áp và ngọt ngào
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em cơm nếp xôi
Ý 1: Hình ảnh bát cơm nếp xôi
- Trên đuờng hành quân cheo leo đầy trắc trở đoàn quân dừng lại nghỉ chân nơi bản làng Một bát cơm nếp xôi còn nóng đang bốc khói, tỏa hương Hương vị ngọt ngon của những bát xôi nếp thơm do những bông hoa của núi rừng Tây Bắc đem tới đã khiến cho các chàng trai hào hoa, phong nhã như quên đi tất cả nỗi vất vả về thể xác suốt dọc đường để đón nhận tình quân – dân nồng đượm
Ý 2: Nghệ thuật sử dụng thanh điệu
- Ba thanh trắc với ba dấu sắc của từ “nhớ, Tiến, khói” không chỉ cho người đọc hình dung được làn khói tỏa
ngào ngạt của bát cơm xôi nếp, mà còn như nghe được tiếng suýt xoa của những người lính TT khi đón nhận bát cơm còn ấm nóng tình người Hương vị của nếp xôi, hương vị của lòng người Chiến binh Tây Tiến hào hùng mà cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên và tình người đằm thắm
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng nagỳ không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
=> Đoạn thơ đã cho thấy nét tài hoa trong phong cách của Quang Dũng câu thơ đỡ câu thơ, hình ảnh đỡ hình ảnh để giữa sự trùng điệp của núi rừng sự gian lao của hành trình những người lính Tây Tiến vẫn có phút dừng chân thư thái yên bình những hình ảnh lãng mạn, trữ tình, thơ mộng
Phân tích đoạn thơ thứ hai
Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sự hòa hợp diệu kỳ giữa thiên nhiên và con người Cảnh trí miền Tây dường như được tạo hình theo thi pháp truyền thống đậm chất Đường thi: “Thi trung hữu hoạ, thi
trung hữu nhạc” Một miền Tây thơ mộng, thi vị, ấm áp giàu sức cuốn hút
1 Bốn câu thơ đầu: Cảnh đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân
Ý 1: Từ bừng- nhãn tự của đoạn thơ
Câu mở đầu đoạn tạo cảm giác đột ngột bừng sáng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
- Nội hàm khái niệm mà động từ “bừng” bao chứa: “Bừng lên” vừa chỉ được ánh sáng phát ra đột ngột,
bất ngờ vừa gợi sự thú vị Cả cảnh vật và lòng người đều bừng sáng lên Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu Từ “bừng” làm sống dậy cả một đêm liên hoan văn nghệ, làm bùng sáng và rộn ràng cả đoạn thơ Chính vì thế có thể coi nó là nhãn tự, là chữ có thần
Trang 8- Bừng lên đầu tiên là ánh sáng Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra giữa lòng núi rừng đại ngàn của miền Tây
nên cần phải có lửa đuốc để soi sáng Người đến xem và những chàng lính trẻ cầm trên tay bó đuốc là những thanh nứa, thanh tre đập dập Khi đêm liên hoan văn nghệ diễn ra cũng là lúc ánh sáng của lửa đuốc bừng lên soi tỏ mặt người, ấm áp tình quân dân Trong con mắt thơ tài hoa của QD đó là đêm hội đuốc hoa, ngọt ngào, đắm say, lãng mạn như đêm động phòng hoa trúc của lứa đôi trong tối tân hôn Thật là cảm xúc táo bạo và khó phai mờ
- Ánh sáng bừng lên cũng là lúc những sắc màu lung linh tỏa rạng của những xiêm áo thổ cẩm
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu say đến cảm phục Yêu say từ vóc dáng đến trang phục Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc tôn vinh thêm
vẻ đẹp của họ Quang Dũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên trước vẻ đẹp ấy Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa
- Bừng lên cả âm thanh của tiếng khèn “man điệu”
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Những điệu nhạc truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc du dương, bí ẩn hoang sơ như chốn núi
rừng có sức mạnh hút hồn các chàng lính trẻ
Ý2: Trạng thái cảm xúc của người lính TT
Thán từ “kìa em” như lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sướng đến ngỡ ngàng Lời chào đón mang tính phát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ
Ý3: Hình ảnh nhân vật trung tâm đêm liên hoan văn nghệ
Trên cái nền không gian ấy “em” xuất hiện “Em” xuất hiện lập tức trở thành trung tâm thu hút mọi điểm nhìn
-Nhân vật “em” đã có những cách lí giải khác nhau Có thể là những cô gái dân tộc miền núi rừng Tây Bắc, mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình, múa những điệu Lâm Tơi, Lâm Vông để phục vụ cán bộ kháng chiến và những anh chàng lính trẻ “Em” cũng có thể hiểu là những cô trong các đoàn văn công về phục vụ văn nghệ làm giàu có thêm đời sống tinh thần của những người chiến sĩ Sau bao chặng đường hành quân chiến đấu vất vả gian lao giờ là những phút nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần bỏ lại sau lưng bao mệt mỏi, nhọc nhằn của hiện thực cuộc sống Và “em” cũng có thể chính là những anh chàng lính trẻ Trong nhật kí trung đoàn có ghi lại: Trong đoàn quân, có những chàng lính trẻ, dáng người mảnh mai, nhỏ nhắn, giả trang làm con gái, khi lên sân khấu diễn cũng tình tứ, duyên dáng như ai bởi sự e ấp, thẹn thùng
Ý4: Lí tưởng của người lính
-Câu thơ cuối ngời sáng lí tưởng người bộ đội Cụ Hồ Người đọc cứ tưởng rằng, trước sắc màu lung linh của những bộ xiêm áo, trước điệu nhạc miên man, du dương trầm bổng, trước những điệu múa yêu kiều, duyên dáng, tình tứ, uyển chuyển những chàng trai Hà Thành sẽ bị hút hồn vào đêm liên hoan văn nghệ Đó cũng là những phút giây lắng lòng để nghỉ ngơi sau một chặng đường dài hành quân mệt mỏi Nhưng không, có lẽ chúng ta đã lầm tưởng bởi trong giây phút thăng hoa với nghệ thuật, cảm xúc cũng là lúc người lính sống đúng với khát khao cháy bỏng của mình
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
- Tiếng nhạc phiêu bồng đưa tâm hồn người lính thoát khỏi thời gian và không gian hiện tại, chơi vơi sang tận thủ đô Viên Chăn của Lào Người đọc chắc hẳn đã đặt câu hỏi vì sao? Thủ đô là trung tâm đầu não của một quốc gia Khi thủ đô còn bóng một kẻ thù nào thì dân tộc đó chưa có độc lập Và khi bóng giặc bị đẩy ra khỏi thủ đô cũng là lúc nam bang, bốn cõi đã cất lên khúc ca khải hoàn Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra tại Viên Chăn của Lào ắt sẽ là đêm liên hoan vui niềm vui trọn vẹn, niềm vui trong chiến thắng
=> Trong lúc mộng mơ nhất, người lính TT vẫn không quên nhiệm vụ của mình Vẫn cháy bỏng một khát khao quét sạch bóng quân thù ra khỏi biên cương, bờ cõi Đó là khát vọng của lí tưởng chân chính, đúng đắn
2 Bốn câu thơ sau: Cảnh sông nước miền Tây thơ mộng
Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Trang 9nhớ về TT, QD đã nhớ đến khoảnh khắc đầy ắp những kỉ niệm cùng đồng đội thân yêu, nhớ từng khuôn mặt, từng bóng hình thân quen
Ý2: Thời gian
Câu thơ xuất hiện một cụm từ chỉ thời gian “chiều sương ấy” Không định vị cụ thể đó là thời gian nào nhưng QD chắc còn nhớ như in đó là một buổi hành quân trong chiều sương mù giăng mắc, bao phủ mênh mang khắp núi rừng, sông suối Một không gian bảng lảng khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra Cái thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng sương khói hiện lên như một miền cổ tích Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ đậm màu sắc hội họa Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật tài hoa
Ý3: Khung cảnh thiên nhiên
- Không gian tràn ngập một màu trắng mờ mờ, bàng bạc của làn khói sương hư ảo chốn núi rừng Tây Bắc
Không gian dòng sông buổi chiều giăng mắc một màu sương, sông nước, bến bờ hoang dại như một bờ tiền
sử
-“Hồn lau”: Những cây lau không còn vô tri vô giác mà ẩn chứa linh hồn Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh
tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận được hồn lau đang giăng mắc, neo đậu bến bờ Những bông lau nở trắng khắp bờ sông, phất phơ trong làn gió nhẹ và sương khói lam chiều, nó không chỉ mang hồn cốt của mảnh đất miền Tây mà còn kí thác anh linh của những người đã ngã xuống vì tổ quốc thân yêu Câu thơ này gợi người đọc nhớ tới câu thơ đầy ám ảnh của bà Huyện Thanh Quan xưa khi nhớ về kinh đô Thăng Long cổ kính qua linh hồn cây cỏ:
Lối xe ngựa cũ hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Và nay QD nhớ da diết núi rừng Tây Bắc qua hồn lau lay động bến bờ
- Hình ảnh hoa đong đưa trên dòng nước lũ Dòng sông miền Tây hiện lên không hiền hòa êm dịu như
những con sông nơi đồng bằng mà nó cuộn xoáy và càng dữ dội hơn khi mùa nước lũ tràn về Bên bờ sông có những bông hoa dại nở, khi nước lũ tràn về, dâng cao làm ngập những đóa hoa rừng Dòng nước vì yêu hoa nên muốn kéo hoa đi cùng nhưng vì hoa yêu đất nên hoa vấn vương ở lại Kết quả là bông hoa cứ đong đưa chao mình trên dòng nước lũ, dùng dằng nửa ở, nửa đi nhưng vấn vương không nỡ nên cứ làm mình làm mẩy, làm duyên làm dáng trên dòng sông Tình cây- tình đất, bông hoa - dòng nước đang cố giao hòa giao cảm làm nên cái duyên đẹp của thiên nhiên, đất trời
Ý 4: Hình ảnh con người trung tâm
Trung tâm, điểm nhấn của bức tranh là hình ảnh con người chèo thuyền độc mộc trên dòng nước lũ
- Con thuyền độc mộc là một loại thuyền chỉ xuất hiện trên những dòng sông thác dữ giữa núi rừng Nó không giống như thuyền thắt đuôi én, thuyền nan ở những con sông vùng đồng bằng Con thuyền được làm từ thân một cây gỗ lớn, được đục và khoét thân nên thuyền rất chắc chắn
- Dáng người chèo thuyền độc mộc xuất hiện uyển chuyển, tình tứ Đó là ai, người con gái hay con trai? Có lẽ người đọc dễ dàng nhận ra dáng uyển chuyển ấy chỉ có thể là những cô thiếu nữ chèo thuyền đưa các chiến sĩ qua sông Để rồi khi đã sang sông nhưng bao chàng còn ngẩn ngơ, còn làm thơ, còn vấn vương mãi trong tim bóng hình uyển chuyển, mềm mại ấy và rồi bỗng nhiên nó trở thành một hình ảnh trong kỉ niệm ngọt ngào neo đậu mãi trong tim những chàng trai trẻ
Ý 5 Sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người
- Hình ảnh thiên nhiên với những bông hoa đang làm duyên, làm dáng, đong đưa trên dòng nước lũ thì con
người cũng đang duyên dáng, uyển chuyển tựa tay lái nở hoa trên dòng sông Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếc thuyền độc mộc Cảnh rất thơ và người cũng rất tình Bởi vậy tác giả như ngây ngất đắm say Ở đây cảnh như làm duyên với người Duyên dáng đến độ và tình tứ cũng hết lời Bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên với người Cảnh và người hòa quyện đồng điệu đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng Ta có cảm nhận đây là thế giới của cõi mộng, cõi mơ, cõi thơ và cõi nhạc Thơ và nhạc là hai yếu tố tạo nên bức tranh Tây Bắc nên thơ, mĩ lệ Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nước độc xin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn
Ý 6 Nghệ thuật
- Điệp từ: “có thấy” “có nhớ” Được lặp lại ở hai câu thơ liên tiếp như những câu hỏi đang xoáy sâu và tâm
can người đại đội trưởng QD QD như muốn hỏi, muốn đối thoại: Đồng đội của tôi ơi, ai còn, ai mất, có như tôi lúc này đang nhớ lại từng kỉ niệm đã qua, từng khuôn mặt, từng dáng hình đồng đội thân yêu không
Trang 10- Gieo vần: Với kết cấu câu thơ vắt dòng: “ấy” “thấy”, “bờ” “nhớ” khiến cho âm hưởng câu thơ cứ trào dâng
da diết Cảm xúc cứ dạt dào cuộn xoáy, câu thơ này gọi câu thơ khác, nỗi nhớ này gọi về nỗi nhớ kia Tất cả cứ
ào ạt, xô bờ, vỗ sóng trong tâm hồn nhà thơ
=>Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời Cảm ơn nhà thơ đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc, yêu cảnh và người nơi đây
Phân tích đoạn thơ thứ ba
1, Hai câu đầu: Ngoại hình của người lính TT
Ý1: Cụm từ “đoàn binh”
QD rất tài hoa khi lựa chọn ngôn ngữ thơ điêu luyện Tác giả không nói là đoàn quân mà là đoàn binh nên nghĩa được nhấn sâu và bồi đắp thêm rất nhiều Đoàn binh vừa chỉ tập hợp quân sĩ mà còn có tác dụng gợi hình
vì đoàn quân ấy luôn sẵn sàng cầm binh khí trong tay, với tư thế sẵn sàng chiến Chỉ bằng một cụm từ đắt nghĩa
mà QD đã cho thấy hào khí ngút trời của thế hệ trẻ những chiến sĩ lên đường đi chiến đấu
Ý 2: Hình ảnh “không mọc tóc”
- Hoàn cảnh cuộc chiến đấu: “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc kháng chiến trường kì gian
khổ nhưng nhất định thắng lợi”(Trường Chinh) Các anh bộ đội cụ Hồ ra đi kháng chiến thời kì này phải chịu
nhiều khó khăn, thiếu thốn: những thiếu thốn về vật chất, họ lại phải hành quân nung nấu trong suốt những đêm dài nên người lính TT thường mắc căn bệnh sốt rét rừng – đây là hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh Hiện
thực cuộc sống bước vào văn chương như một quy luật tất yếu bởi “nhà văn là thư kí trung thành của thời đại”
(Ban-dắc)
- Căn bệnh sốt rét rừng:
+ Liên hệ mở rộng:Viết về các anh, văn nghệ sĩ trong giai đoạn này thường bị ám ảnh bởi căn bệnh sốt rét rừng Nếu căn bệnh này được cảm nhận qua tâm hồn những nhà thơ hiện thực cách mạng thì người lính hiện ra thật đáng thương, làm sao ta có thể quên được những vần thơ của Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí”:
“…Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi…”
Có khi căn bệnh sốt rét rừng lại được hiện lên qua màu da vàng nghệ của anh vệ quốc quân trong bài “Cá
nước” của Tố Hữu:
“…Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi!
Sao mà yêu anh thế…”
+ Cách viết riêng của QD:
Nghệ thuật lãng mạn hóa: QD cũng viết về căn bện này nhưng ông đã cảm nhận bằng tâm hồn của một nhà
thơ lãng mạn, đây là nghệ thuật nhất quán của nhà thơ QD Đó không phải là thứ lãng mạn tô hồng, bôi đen cuộc sống, thứ lãng mạn thoát li của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trước cách mạng QD đã lãng mạn hoá hiện thực
là thứ lãng mạn cách mạng và lí tưởng Hiện thực là những người lính TT vì mắc căn bệnh sốt rét rừng nên các anh đã bị rụng tóc Hiện thực này tái hiện qua tâm hồn lãng mạn của QD, nay được thể hiện trên trang thơ là
hình ảnh: “Đoàn binh không mọc tóc”
Nghệ thuật đảo ngữ: “không mọc tóc” chứ không phải là tóc không mọc Cách viết này, QD đã làm toát lên
tư tế chủ động của người lính TT: Không thèm mọc tóc Bởi thực tế cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt và thiếu thốn nên có khi những người lính TT đã cắt tóc, cạo trọc đầu để tiện cho quá trình sinh hoạt, chiến đấu cũng như vệ sinh cá nhân Qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan, đùa vui hóm hỉnh, bốc tếu của những chàng lính
trẻ
Ý 3: Hình ảnh “quân xanh màu lá” Có hai cách hiểu:
- Vẫn biết rằng căn bệnh sốt rét làm cho da dẻ người lính xanh xao, vàng vọt Mà như một nhà thơ khác cũng
ẩn ý QD không nói là da xanh màu lá mà là “quân xanh màu lá” nó không còn là màu vàng nghệ của làn da
bị bệnh tật, nó là màu xanh của lá nguỵ trang, màu xanh của cánh rừng bạt ngàn… Nhờ có nghệ thuật lãng mạn, QD viết về cái bi của hiện thực chiến tranh nhưng thơ của Quang Dũng không hề bi quan, bi luỵ trái lại
là bi hùng, bi tráng
Trang 11Ý 4: Hình ảnh “dữ oai hùm”
- Với nghệ thuật tu từ ẩn dụ vật hóa đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc, bởi tầm vóc của những người chiến sĩ bật lên với sức mạnh táo bạo, gân guốc, oai phong, dữ dằn như những vị chúa tể sơn lâm, những con hùm thiêng nơi núi rừng Tây Bắc Nhưng điều quan trọng hơn với cách viết này, Quang Dũng đã làm tái hiện trước mắt chúng ta bức chân dung của những anh vệ trọc oai phong như mãnh hổ: dữ oai hùm, ngự trị giữa
chốn rừng thiêng làm cho quân thù phải khiếp sợ Đúng như giáo sư Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Lối viết
của QD thật tài hoa Nói được lính ốm mà không thấy lính yếu”
- Liên hệ: Nếu các tráng sĩ đời Trần có vẻ đẹp “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” Sức mạnh của các tráng sĩ đời
Lê là “sĩ tốt kén tay tì hổ” thì các chiến sĩ TT thời đại HCM có vẻ đẹp “dữ oai hùm” Đó là một dòng chảy lịch
sử hào hùng của giòng giống “con rồng cháu tiên”
2, Hai câu thơ sau: vẻ đẹp của tâm hồn người lính
“…Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…”
Ý 1: Hình ảnh ánh mắt
- Ánh mắt được coi là cửa sổ tâm hồn Có thể dâng cả tình yêu lên sóng mắt, nhưng cũng có thể là sự căm hờn,
uất hận Mà theo quan niệm dân gian của các cụ ta xưa nếu yêu ai thì nhìn bằng con mắt màu xanh, còn ghét ai thì nhìn bằng con mắt trắng
- Hình ảnh “Mắt trừng” thể hiện sự căm hờn, uất hận Chính vì thế đây là con mắt mà những người lính TT nhìn kẻ thù xâm lược
- Ánh mắt ấy dù nhìn kẻ thù xâm lược sục sôi căm hờn nhưng cũng không quên gom vào đó những mộng mơ, hoài bão của tuổi trẻ Đó là khao khát giết giặc lập công –“xác giặc chất đống xây thành chiến công”
Ý 2: Giấc mộng chiến công
- Hình ảnh “gửi mộng qua biên giới” phải chăng là giấc mộng chiến công Khi ra đi những chàng trai trong
binh đoàn TT đã mang trong mình lí tưởng
“Ra đi chỉ một lời thề Khi chưa hết giặc chưa về quê hương”
Nên mong ước ấy đã được QD gửi gắm một cách kín đáo vào ngôn từ “Qua biên giới” hay cũng chính là khi
bóng dáng quân thù đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi quê hương để đất nước sống trong thái bình yên ổn Một ước
mơ sáng ngời lí tưởng của những anh bộ đội Cụ Hồ
- Nhắc đến nghệ thuật của câu thơ bình giảng, ta không thể bỏ qua nghệ thuật đối lập qua hình ảnh thơ: “Mắt
trừng gửi mộng…” Mắt “trừng” trong câu thơ này nghĩa là các anh đang trừng về phía quân thù để canh
chừng, để nêu cao quyết tâm chiến đấu và tinh thần cảnh giác đồng thời họ vẫn gửi mộng qua biên giới về Hà
thành mĩ lệ Chữ “mộng” trong câu thơ này phải hiểu theo nghĩa hàm ẩn, là mộng lí tưởng, là khát vọng lên
đường, chính nó đã thôi thúc người lính Tây tiến lên đường vì nghĩa lớn và chính nó đã giúp cho người lính Tây tiến vượt qua những chặng đường gian khổ
Ý 3: Những khoảnh khắc hiếm hoi của tâm hồn
Trong hành trang lên đường chiến đấu của người lính TT không chỉ có mộng mà còn có mơ
- Lí do: Những anh bộ đội cụ Hồ có nguồn gốc xuất thân từ nhiều ngả đường của tổ quốc Nên khi ra đi quê
hương là một phần máu thịt mang theo trong tâm hồn họ
- Liên hệ tình yêu, nỗi nhớ quê hương:
Người lính trong bài Đồng Chí của Chính Hữu đến từ những miền quê nghèo, người dân lao động một nắng
hai sương, cày sâu cuốc bẫm:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau…”
Họ bỏ lại đằng sau quê hương, nơi ấy có “giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”; họ còn bỏ lại sau lưng Hà
thơ hay trong bài thơ “Nhớ” - Hồng Nguyên:
“…Ba năm rồi gửi lại quê hương
Trang 12Mái lều gianh tiếng mõ đêm trường Luống cầy đất đỏ, ít người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya…”
- Nguồn gốc xuất thân của những chàng lính TT: Cần phải mở ngoặc đơn để nói với nhau rằng: đối tượng
ra lính trong bài thơ này là những trí thức Hà thành Tâm hồn họ đã thấm nhuần áng văn chương cổ, họ xếp bút non nghiên lên đường vì nghĩa lớn Nhớ về hà thành mĩ lệ, họ xem Hà Nội như một dáng kiều thơm là hoàn toàn hợp lí chứ sao?
Ý 4: Hình ảnh “dáng Kiều thơm”
- “Dáng Kiều thơm” như một mặc định biểu tượng cho những người phụ nữ đẹp Họ có thể là những người
yêu, người vợ, người mẹ, người em gái đất Hà thành Những con người mà không hề quá khi Nguyễn Khải
ca ngợi họ là những “hạt bụi vàng” làm nên vẻ đẹp lung linh, làm nên bản sắc đậm đà cổ kính của đất kinh
3, Bốn câu tiếp: Sự hi sinh của người lính TT
*Câu 1:
Ý 1:Ngòi bút tả chân
Viết về chiến tranh, nhà thơ QD không hề ngần ngại né tránh viết về những hi sinh, mất mát bởi súng đã nổ người Việt Nam cùng đổ máu Nhưng cái hay của người nghệ sĩ tài ba này là ở chỗ: xuyên suốt bài thơ, khi đề cập đến cái chết, nhà thơ Quang Dũng không phải sử dụng đến từ “mất”, “chết”, “hi sinh” Thay vào đó là hình ảnh:
“…Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiều anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành…
- Hai chữ “rải rác” cho thấy đoàn binh TT năm xưa họ bị chết bệnh nhiều hơn chết trận Mỗi mảnh đất đi qua đều có thể là nơi những đồng đội thân yêu nằm xuống Những nấm mồ nằm rải khắp miền biên ải xa xôi, hoang
vu, lạnh lẽo Thậm chí còn vĩnh viễn gửi thân mình nơi đất bạn Lào Nhưng dù ở nơi đâu thì đó cũng là sự hi sinh đáng trân trọng
Ý 2: Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt
- Cách viết của QD: Viết về cái bi nhưng trong thơ Quang Dũng cái bi đã giảm đi đáng kể bởi ở đây tác giả
liên tục sử dụng những từ Hán Việt:
“…Rải rác biên cương mồ viễn xứ…”
Câu thơ gồm bảy âm tiết, ở đó đã có năm âm tiết “biên cương mồ viễn xứ” vốn là những từ Hán Việt dùng để
chỉ những nấm mồ nơi rừng sâu biên giới Nhờ đó mà Quang Dũng viết về cái bi thương không hề bi luỵ, bi quan trái lại là bi hùng, bi tráng Vẫn viết về cái chết ở nơi chiến trường biên ải trong “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm - Đặng Trần Côn, cảnh tượng hiện ra rùng rợn, ảm đạm và thê lương hơn nhiều:
“…Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi…”
* Câu 2:
Ý 1: Lí tưởng của người lính TT
Đặc biệt, câu thơ tiếp sau cái bi không còn nữa bởi khát vọng lên đường đầy cao đẹp của các anh:
“…Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”
Nghệ thuật đảo ngữ: Ấn tượng của bạn đọc với câu thơ này là nghệ thuật đảo ngữ Xưa nay, người ta thường
nói “đi chiến trường”, ở đây Quang Dũng đặt hai chữ “chiến trường”, tác giả khẳng định đây là một cuộc chia
li đã xác định được lí tưởng cũng như mục đích lên đường Đó là một cuộc chia li chói ngời sắc đỏ đã làm nên
“Sao chiến thắng” của Chế Lan Viên Ta liên tưởng tới cuộc chia li trong bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:
“…Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giớ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong…”
Trang 13Ý 2: Cụm từ “chẳng tiếc”:
Đọc câu thơ: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, ta nhận thấy sức nặng của thơ ca lại dồn vào hai chữ
“chẳng tiếc” làm ta liên tưởng tới hai chữ “mặc kệ” trong thơ Chính Hữu: “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” Ta còn nhớ đến chữ “thà” trong tứ thơ đẹp của Thâm Tâm trong “Tống biệt hành” khi tác giả khẳng
định sự quyết tâm của trang nam nhi lên đường vì nghĩa lớn không hẹn ngày về:
“…Người đi ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…”
Ý 3: Cụm từ “đời xanh”:
Hai chữ “đời xanh” ở cuối câu thơ đã gợi lên cái tuổi với bao mộng đẹp, hoài bão vậy mà các anh cũng chẳng
tiếc, chẳng màng tới, các anh đã hi sinh cả cuộc đời cho Tổ quốc, vậy thì thử hỏi có sự hiến dâng nào cao hơn
sự hiến dâng này? Hai chữ “đời xanh” trong câu thơ còn giúp cho bạn đọc liên tưởng tới tứ thơ đẹp trong
“Trường ca đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo:
“…Thế hệ chúng con ra đi như gió thổi
Áo quân phục xanh đồng sắc với chân trời Chưa kịp yêu một người con gái Lúc ngã vào lòng đất vẫn còn trai…”
Đó là những con người sống giản dị, bình tâm nhưng chính họ đã âm thầm ngã xuống vì ngày mai độc lập để đất nước Việt Nam mang dáng hình các anh Là một người chiến sĩ làm thơ, bước chân của Nguyễn Khoa Điềm in hằn trên dải đất hình tia chớp Sau khi đi dọc dải đất Việt Nam thân yêu, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định:
“…Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước! Sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”
* Câu 3: Sự hi sinh cao cả
Ý 1: Hiện thực khốc liệt
Thơ của Quang Dũng bùng lên với khát vọng, lí tưởng thì lại bị trùng xuống bằng một hiện thực khốc liệt Đoạn
thơ này không nằm ngoại lệ Câu thơ mô tả một hiện thực khó khăn mà người lính Tây tiến phải đối mặt “Áo
bào thay chiếu anh về đất”
- Hình ảnh“Áo bào thay chiếu”: Người yêu thơ thường bị ám ảnh bởi “Áo bào thay chiếu”
+ Thứ nhất, theo cách hiểu của Trần Lê Văn: thì đây là hình ảnh chiếu thay áo bào, đó là những chiếc chiếu
được đồng bào dân tộc đan tặng người lính Tây Tiến, thể hiện tình quân dân cá nước, nếu hiểu theo cách này thì nhà thơ Hoàng Lộc trong bài “Viếng bạn” đã khẳng định:
“…Ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn Của đồng bào Cửa Ngăn Tặng tôi ngày phân tán…”
+ Cách hiểu thứ hai: Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh đầy thiếu thốn ấy, những chiếc chiếu để khâm liệm
các anh cũng không còn vì vậy để thể hiện sự trân trọng của mình trước sự ra đi đầy cao đẹp của người lính Tây tiến, Quang Dũng đã thay bằng hình ảnh “Áo bào thay chiếu” Suy đến cùng thì nó là những chiếc áo được Chế Lan Viên ghi lại trong “Tiếng hát con tàu”:
“…Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con…”
Đó là những chiếc áo đã đi vào trong thơ ca truyền thống từ “Ngoài cật có một manh áo vải” (Nguyễn Đình Chiểu) cho đến “Mà nay áo vải cờ đào” (Quang Trung - Nguyễn Huệ) Như vậy, các anh ra đi như thế nào thì khi trở về với đất mẹ lại vẫn giản dị như thế
+ Ý nghĩa của hình ảnh áo bào: Áo bào là loại áo đặc biệt dành riêng cho vua chúa Vậy mà khi nằm xuống
những chiến sĩ đã vinh dự khoác trên mình tấm áo ấy Phải chăng qua hình ảnh này điều QD muốn ngầm gửi gắm là vai trò của các anh trong lịch sử dân tộc Hơn 4000 năm lịch sử dựng nước, giữ nước và đấu tranh triền miên để chống giặc ngoại xâm, đã có bao chiến sĩ hữu danh và vô danh nằm xuống Nhưng nhân dân thì không một ai nhớ mặt đặt tên Còn các ông vua của các triều đại thì nhân dân ngàn đời ghi nhớ Nên khi khoác cho
Trang 14các anh tấm áo bào khi nằm xuống QD đã một lần nữa khẳng định: công lao của các anh dành cho dân tộc lớn lao như những vị vua đối với dân tộc Và vì thế nhân dân, dân tộc đời đời nhớ ơn các anh
- Nghệ thuật nói giảm nói tránh: Cụm từ “về đất”
+ Chất đau thương của hiện thực, của sự hi sinh đã giảm đi đáng kể khi QD sử dụng biện pháp nghệ thuật nói giảm nói tránh này
+ Với động từ “về” trong câu thơ này chứng tỏ rằng cái chết của người lính Tây Tiến năm xưa không phải là chấm hết mà mở ra một cuộc sống mới Ra đi nhưng thực chất lại là sự trở về của ngày đòan viên, ấm cúng Cái chết không chỉ vỗ về bản thân người ngã xuống Cái chết ấy làm cho những đồng đội ở lại của mình có thêm động lực để “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” (Lê Anh Xuân):
“…Mai mốt bên cửa rừng Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố Tiêu diệt kẻ thù chung…”
+ Hình ảnh “đất mẹ” thân thương: Đất mẹ mở rộng lòng mình để ôm các anh vào lòng và dệt nên truyền
thống của một dân tộc không bao giờ khất phục trước kẻ thù mà Nguyễn Đình Thi đã tự hào trong bài “Đất nước”:
“…Nước chúng ta!
Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về…”
+ Ý nghĩa của sự hi sinh: Cái chết của người lính Tây tiến năm xưa làm đoá hoa tự do luôn được nở, và rồi
quả độc lập được kết trái, chẳng thế mà trong bài “Mồ anh hoa nở” nhà thơ Thanh Hải có viết:
“…Mồ anh trên đồi cao Bông hồng nở và nở Hương thơm bay và bay”
*Câu 4: Hình ảnh dòng sông Mã
Ý 1: Nhân vật tiễn đưa
Tiễn biệt các anh về với đất mẹ, bên cạnh đồng đội của mình còn có một nhân vật nữa là dòng sông Mã “sông
Mã gầm lên khúc độc hành” Ai đã từng đọc thơ Quang Dũng dễ dàng nhận thấy sông Mã đã trở thành một ám ảnh nghệ thuật Trong bài thơ này, tác giả đã nhiều lần nhắc đến sông Mã, không phải ngẫu nhiên một buổi chiều mưa ở Phù Lưu Chanh, khi những kỉ niệm của một thời trận mạc ùa về trong tâm hồn mình, nốt nhạc đầu tiên ngân vang trong khúc độc hành ca của một thời ấy, Quang Dũng lại đến dòng sông Mã:
“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! ”
Và cùng không phải ngẫu nhiên ngày tiễn biệt Quang Dũng, người bạn thân trong bản điếu văn đã thốt lên rằng:
“Sông Mã gầm lên sông Mã ơi, Người yêu sông Mã đã qua đời”
Ý 2: Khúc tráng ca của dân tộc
Sông Mã đã thay mặt đất trời, nhân dân, đất nước gầm lên những khúc bi ai để tiễn biệt các anh về với đất mẹ
Đó là tiếng khóc trường tồn, bất tử cùng thời gian Chừng nào sông Mã còn thì dân tộc còn khóc thương những người chiến sĩ đã hi sinh Chính vì thế chúng ta hôm nay hiểu rằng vì sao có ngày lễ kỉ niệm 27/07 hàng năm,
để nhân dân Những người còn sống hôm nay thắp một nén hương lòng tưởng nhớ những người con đã ngã xuông vì đất mẹ thân yêu
=>Sự rung động của thơ ca bao giờ cũng được đo bằng nhịp đập của con tim Trích đoạn bình giảng tác động nhiều vào xúc cảm của bạn đọc đó là bức tượng đài của người lính Tây tiến - những con người đẹp như chân
lí sinh ra Bởi lẽ chính thời đại đã sinh ra những anh hùng; chính thời đại đã làm nên những tên tuổi Đoàn binh TT năm xưa góp phần viết nên huyền thoại của Việt Nam ở thế kỉ XX, đó là huyền thoại của những con người đáng quý, đáng yêu hơn một lần đi vào trong thơ:
“…Ôi Tổ quốc bốn nghìn năm sừng sững Lưng đeo gươm tay mềm mại vuốt hoa Trong và thực giữa đôi bờ suy tưởng
Mà hiên ngang, nhân ái, chan hoà…”
Trang 15Đoạn thơ khép lại, QD dựng lên bức tượng đài của người lính Tây tiến: oai phong, lẫm liệt khác hoàn toàn với hiện thực nhưng ẩn chứa bên trong là một tầm hồn khao khát yêu thương, là một trái tim biết căm thù quân xâm lược, một trái tim rực lửa anh hùng
Phân tích đoạn thơ cuối
VIỆT BẮC
Tố Hữu
Trang 16Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử Nhớ cuộc chia ly Lý Bạch với Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hoạc Cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngày mặn nồng,
thắm thiết Cuộc đưa tiễn người chinh phu ra trận trong Chinh phụ ngâm …Và đến văn học Việt Nam
hiện đại người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử của dân tộc giữa hai tập thể người đầy bịn rịn, lưu luyến, vấn vương Tất cả được ghi lại trong thước phim quay chậm mà Tố Hữu là người bấm máy Từng dòng thơ, từng con chữ đong đầy nhớ thương Để rồi hôm nay khi ngồi đọc lại Việt Bắc thì tất cả vẫn còn nóng hổi, vẹn nguyên vừa như mới hôm qua
=>Nhân sự kiện có tính chất thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu – một cán bộ của Đảng, một nhà thơ lớn của cách mạng đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc” vào tháng 10-1954 Bài thơ đã có vinh dự được lấy làm tên chung cho cả tập thơ “Việt Bắc”, một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp
b, Kết cấu bài thơ:
Một tác phẩm có cuốn hút độc giả hay không tác phẩm ấy cần phải có một kết cấu độc đáo Tố Hữu
đã xây dựng một kết cấu đặc biệt trong bài thơ Việt Bắc
- Diễn biến tâm trạng của tác giả được phân thân vào hai tuyến nhân vật trữ tình: Người đi và người ở Một bên cất lên lời hỏi thì một bên đáp lại khiến người đọc nhớ đến lối đối đáp giao duyên trong ca dao - dân ca Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bằng cả nỗi nhớ thương Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến
- Cách xưng hô “ta” – “mình” gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca, khiến cho cuộc chia tay giữa hai tập thể người như một cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn, vấn vương, thương nhớ như đôi lứa yêu nhau Lời hỏi đáp như lời thủ thỉ ân tình cứ ngọt ngào thấm sâu vào lòng kẻ ở người
- Đó là những đặc trưng về chất trữ tình chính trị, là đặc trưng về tính dân tộc, về màu sắc dân gian trong
thơ Tố Hữu Vì thế bài thơ vừa đem đến cho người đọc những nhận thức sâu sắc về niềm tự hào đối với cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta, lại vừa đem đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ mạnh mẽ Có thể thấy những đặc sắc này ngay từ những dòng thơ mở đầu của "Việt Bắc"
* Đại ý 8 câu thơ đầu:
Tám câu thơ đầu, bằng nghệ thuật tài hoa, Tố Hữu đã khắc họa khung cảnh chia ly nhưng thấm đẫm tình cảm của cả kẻ ở lẫn người đi
a, 4 câu thơ đầu – lời của người ở lại
“Mình về mình có nhớ ta Mười năm năm ấy thiết tha mặn nồng
“Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Ý 1: Vai trò của cấu tứ thơ đối đáp giao duyên trong bài thơ và đoạn thơ đầu:
Trang 17- Người ta đã có lý khi nói thơ Tố Hữu là thứ thơ "đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ", từ cảm xúc mãnh
liệt của trái tim mà thức nhận những chân lý sống, chân lý cách mạng Với ý tưởng trữ tình hoá sự kiện chính trị cũng như đời sống chính trị của đất nước, viết "Việt Bắc", Tố Hữu đã sáng tạo nên một cấu tứ rất độc đáo-khúc hát đối đáp trong cuộc chia tay giữa người ở và người về xuôi để khơi gợi những kỉ niệm
về những ngày kháng chiến gian khổ mà vẻ vang, rồi từ những kỉ niệm kia mà dựng lại quá trình trưởng thành của cuộc kháng chiến, dựng lên hình ảnh của nhân dân, của những người chiến sĩ, hình ảnh của Bác, của Đảng
- Vì thế ngay từ những câu thơ mở đầu ta đã thấy cuộc trò chuyện tâm tình, những câu hát đối đáp giữa
"mình" và "ta", song song, trùng phùng
Ý 2: Cách xưng hô “mình”, “ta”:
- Nguồn gốc:Tố Hữu đã sử dụng những cặp từ đối đáp “mình”, “ta” rất quen thuộc trong ca dao, dân ca
để cuộc chia tay trở nên đằm thắm như của đôi lứa yêu nhau Hai đại từ trên thường xuất hiện trong ca dao, dân ca để nói về tình yêu đôi lứa Bạn đọc yêu nền văn học nguyên sơ này hẳn còn nhớ những câu
ca chất chứa nặng ân tình:
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
- Vai trò của những chữ “mình”, “ta” trong đoạn thơ, bài thơ:
Những chữ "mình", "ta" từ câu thơ mở đầu cho tới những dòng thơ cuối cùng luôn luôn nhắc gợi những tình cảm mặn nồng, không bao giờ phai nhạt giữa Việt Bắc và cách mạng, kháng chiến Giữa hai tập thể người lúc này không còn đơn thuần là một cuộc chia tay chính trị, mà như cuộc chia ly đầy lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời của đôi lứa yêu nhau Càng mặn nồng bao nhiêu thì càng nhớ càng thương càng vấn vương lưu luyến
Ý 3: Ân tình của người ở lại nhắn gửi người ra đi (hai câu đầu):
Mình về mình có nhớ ta Mười năm năm ấy thiết tha mặn nồng
Trong cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, bịn rịn của Việt Bắc đối với người về xuôi, khúc hát chia tay đã được bắt đầu cất lên từ chính lòng người ở lại Tố Hữu như muốn nói lòng người Việt Bắc thuỷ chung với cách mạng biết nhường nào
- Điệp từ “mình”: Ngay từ câu thơ mở đầu, trong 6 tiếng đã có tới 2 tiếng "mình" thân thương Sự trở đi
trở lại tiếng gọi đối với "mình" như để nói lòng người Việt Bắc không nguôi nhớ người về xuôi, nhưng lại cũng như xoáy sâu vào ký ức của người về xuôi những kỉ niệm chan chứa nghĩa tình
- Cụm từ “mình về”: Như khẳng định một sự thật phũ phàng Mình đã về thật, và giờ đây chỉ còn lại
mình ta Sự chia ly bao giờ chẳng phũ phàng:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say
(Tống biệt hành – Thâm Tâm)
- Cách xếp đặt hai từ “mình” và “ta” trong câu thơ:
+ Từ “mình” đặt ở đầu thơ nhưng từ “ta” lại xếp mãi cuối câu như mở rộng không gian biệt ly xa cách
mình và ta trong phút chia xa
+ Giữa khoảng cách vời vợi của ta và mình vang vọng một câu hỏi tu từ xoáy sâu vào lòng cả kẻ ở lẫn
người đi “có nhớ” Người đọc liên tưởng đến câu hát ngọt ngào của bài “Ở hai đầu nỗi nhớ”: “Ở hai
đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn Ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn”
- Nghệ thuật sử dụng thanh điệu: Âm điệu của câu thơ chủ yếu được tạo bởi thanh bằng: "Mình về mình
có nhớ ta", với một chữ "ta" ở cuối làm cho tình cảm nhớ thương vừa lắng vào lòng người trong cuộc
chia tay lại vừa lan xa mênh mang
Trang 18- Kết cấu hai câu thơ mở đầu: Kết cấu của 2 câu thơ mở đầu là kết cấu của một câu hỏi tu từ, câu hỏi
khơi gợi những kỉ niệm thiết tha mặn nồng, câu hỏi bao trùm cả không gian của 15 năm ấy Câu hỏi thường có tác dụng khơi sâu vào lý trí của người nghe nhưng ở đây câu hỏi lại khơi gợi những kỉ niệm đầy xúc động của 15 năm cách mạng đã gắn bó với Việt Bắc để làm nên một Việt Nam dân chủ cộng hoà, bởi Tố Hữu đã sử dụng một thứ ngôn ngữ chan chứa cảm xúc Hỏi đấy mà đâu cần câu trả lời vì cả
người ở lẫn người đi đều thấy quá rõ tình cảm đậm sâu trong lòng mình
- Cụm từ chỉ thời gian 15 năm:
+ 15 năm không phải là một khoảng thời gian dài nhưng với một đời người là điều đáng nói Đặc biệt với
những người xa lạ, sống gắn bó cùng nhau 15 năm là một điều cần khắc cốt ghi tâm bởi những vò kí ức đầy ắp ân tình Bởi theo quan niệm sống của người phương Đông nói chung và lối sống duy tình của
người Việt nói riêng mà các cụ ta vẫn răn dạy “một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen” thì 15 năm quá
đủ để gắn bó sâu nặng
+ Những chữ "mười lăm năm ấy" gợi ta nhớ tới "cái thuở ban đầu" của tình yêu đã từng được nói tới
trong câu thơ của Lưu Trọng Lư:
"Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy Nghìn năm hồ dễ đã ai quên"
Người về làm sao có thể quên được mối tình đầu giữa cách mạng và Việt Bắc Cùng với sự khơi gợi
những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, những tình cảm "nghìn năm hồ dễ đã ai quên" 15 năm là khoảng thời
gian chủ tịch Hồ Chí Minh thân yêu của chúng ta trở về tổ quốc sau 30 năm bôn ba, mà nhà thơ Tố Hữu
còn ghi lại trong một hình ảnh thơ đẹp đẽ và trong trẻo đến vô cùng:
“Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
Khi về nước Người đã bắt tay vào xây dựng khu căn cứ địa cách mạng tại chiến khu Việt Bắc để làm thủ đô kháng chiến của dân tộc Cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc cứ thế đã cùng sống, cùng ăn,
cùng ở, cùng chiến đấu, gắn bó khăng khít và làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc “vang dội năm
châu, chấn động địa cầu” năm 1954 đáng nhớ Và rồi là một cuộc chia tay lịch sử
- Cách sử dụng từ ngữ chỉ tình cảm: câu thơ còn được tiếp tục bởi những chữ "thiết tha mặn nồng"
Một câu thơ viết về 15 năm của cách mạng nồng nàn, tha thiết và trữ tình biết bao
+ Từ láy “thiết tha”: cho thấy nỗi bâng khuâng, da diết trong tình cảm của người ở lại với người ra đi,
đầy vương vấn
+ “Mặn nồng”: như sự nồng ấm của tình cảm lứa đôi được Tố Hữu gửi trao cho hai tập thể cách mạng
để tình cảm ấy cứ lên hương, lên sắc, vương vấn mãi trong tâm hồn người ở và cả người đi
Ý 4: Ân tình của người ở lại nhắn gửi người ra đi (hai câu sau):
- Nội dung bao trùm: Vẫn là một câu hỏi mà người ở lại hướng tới người về xuôi, vẫn là một cách xưng
hô đầy tình tứ "mình" với "ta", nhưng ở 2 dòng thơ tiếp theo lại là câu hỏi bao trùm cả không gian của cuộc chia tay, không gian của những kỉ niệm qua suốt 15 năm ấy, không gian của cả đất nước, bao trùm
cả miền ngược lẫn miền xuôi, không gian của cây với núi, của sông với nguồn Một câu hỏi làm bâng khuâng cả đất trời trong buổi chia ly Dường như ở đâu trong cái thời điểm ấy sự hoà hợp giữa niềm vui
và nỗi nhớ, vì sự chia tay giữa "mình" với "ta" là một sự kiện lớn lao trong đời sống của đất nước
- Hình ảnh thơ:
+ Mượn hình ảnh trong ca dao: Cái đặc sắc của câu thơ không chỉ thể hiện qua kết cấu của câu hỏi, qua
từ ngữ xưng hô tình tứ mà còn qua những hình ảnh như được viết ra từ thể hứng thể phú, thể tỉ trong ca dao Đọc câu thơ
“Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn"
Ta ngỡ như câu ca dao:
"Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Hay:
“Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu"
Trang 19Thơ Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị mà vẫn thấm cái hồn của ca dao, dân ca Điều đó đã làm mềm hóa câu thơ, làm ngọt ngào thêm cho tình ý
+Hình ảnh “cây, núi”, “sông, nguồn”: Người đọc như được trở về không gian nơi núi rừng Việt Bắc
Nhưng cái tài của Tố Hữu là chỉ bằng những hình ảnh thơ tưởng như vô cùng giản dị mà đã vẽ được cả không gian hiện tại và tương lai, cả miền xuôi lẫn miền ngược và của cả kẻ ở lẫn người đi Một không gian mênh mang, bao trùm và trải dài miên man theo ân tình cách mạng Đồng thời cũng nhắn nhủ người đi: có về miền xuôi rồi thì nhìn sông hãy nhớ suối nguồn, nhìn cây thì nhớ núi rừng chiến khu
- Nghệ thuật ẩn dụ: Người ở lại đã khéo léo và tài tình biết bao khi nhắc nhở người ra đi có về miền xuôi
rồi thì hãy nhớ đến những kỉ niệm và những tháng ngày nơi đây Đặc biệt và không gian núi rừng Việt
Bắc thông qua hình ảnh thơ: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” Hình ảnh thơ này gợi người đọc
nhớ đến câu tục ngữ:
“Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Phải chăng người ở muốn khẳng định dù có đi đâu, về đâu hãy nhớ đến mảnh đất Việt Bắc, cái nôi của cách mạng làm nên chiến thắng, là cội nguồn của dân tộc
=> 4 câu thơ như một bài ca dao, chất trữ tình gắn liền với những băn khoăn, trăn trở của người
ở lại, của Việt Bắc thuỷ chung với cách mạng Tố Hữu đã chọn được cách nói để khơi nguồn cho cảm xúc, mạch thơ trong những câu mở đầu này cứ thế tuôn chảy suốt bài thơ
b, 4 câu thơ sau – lời của người ra đi
Nằm trong mạch hát đối đáp, Tố Hữu cũng dành 4 dòng thơ diễn tả tâm trạng người về xuôi, tạo nên
sự cân đối với 4 dòng thơ mở đầu, tạo nên sự tương xứng, hài hòa Ở 4 dòng thơ này như có sự nhớ thương
đáp lại những nhớ thương, “tha thiết” hô ứng với “thiết tha”, cái bịn rịn không nỡ rời
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
* Câu 1:
Ý1: Đại từ phiếm chỉ “ai”:
- Sự vay mượn trong ca dao: Trong ca dao đại từ phiếm chỉ “ai” được sử dụng với mật độ dày đặc và
mang một màu sắc của tình yêu nhưng sâu lắng thiết tha mà không tiện nói ra:
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai
Hay:
Buồn trông chênh chếch sao Mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ Buồn trông con nhện chăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Khi Tố Hữu sử dụng phiếm từ “ai” tạo nốt nhấn trong dòng thơ, để khắc sâu hình ảnh của người đi trong lòng người ở lại Người dân Việt Bắc hãy nhớ về người ra đi như nhớ một người tình trong mộng không thể chung lối, chung đường Chính vì thế nỗi nhớ ấy bâng khuâng, da diết biết bao
- Nội dung đại từ “ai” trong câu thơ: Nằm trong mạch cảm xúc như của tiếng hát giữa đôi lứa yêu nhau,
Tố Hữu buông một câu thơ rất tình tứ: "Tiếng ai tha thiết bên cồn" Chỉ một chữ "ai" thôi đủ làm say đắm lòng người Chữ "ai" đâu phải để hỏi vì muốn biết ai; chữ "ai" đâu cũng còn là đại từ phiếm chỉ để chỉ chung, chỉ một đối tượng không xác định bởi ở đây cả "ta" lẫn "mình" đang lên tiếng hát cho cuộc chia tay đầy lưu luyến này Chữ "ai" chỉ là một cách nói để làm tăng thêm tình cảm yêu thương, để câu nói trở nên tình tứ mà thôi
Ý2: Từ láy “tha thiết”: Lời người đi đáp lại nỗi băn khoăn của người ở, từ láy “thiết tha” của câu thơ
trên hô ứng với từ láy “tha thiết” trong câu thơ này Như một lời khẳng định keo sơn: tình cảm của người
ở lại giành cho người ra đi thiết tha bao nhiêu thì người ra đi cũng trào dâng niềm tha thiết bấy nhiêu Cho nên tình cảm đã sâu sắc lại thêm mặn nồng
=> Người đi không ngoảnh đầu nhìn lại chỉ nghe tiếng nói mà hình ảnh từng khuôn mặt thân quen
đã hiện về rõ nét, và theo đó cảm xúc cứ dâng lên vơi đầy
* Câu 2:
Ý1: Nghệ thuật sử dụng từ láy:
Trang 20- Ý chung: Người về xuôi trong nỗi niềm xúc động như mở rộng tâm hồn, mở rộng nỗi lòng của mình để
đón nhận cái thiết tha của những tình cảm thuỷ chung kia, để rồi bày tỏ tình cảm của mình Đó là trạng
thái "bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi" Những chữ "bâng khuâng", "bồn chồn" diễn tả rất chính
xác trạng thái tình cảm của người về xuôi
+ “Bâng khuâng”: chính là nỗi niềm thương nhớ đối với cảnh, đối với người, đối với cuộc sống đã trở
thành kỷ niệm của những ngày kháng chiến, những kỉ niệm còn vương vấn, còn dâng đầy trong tâm trí người về xuôi Bước chân về xuôi mà lòng dường như vẫn còn vấn vương với Việt Bắc với nỗi buồn chia
xa, với những nuối tiếc không thể giữ lại
+ "Bồn chồn": là một từ đã tâm trạng hóa bước đi của người về xuôi, những bước đi không nỡ rời mảnh
đất yêu thương qua 15 năm ấy Mỗi bước đi mỗi bước nhớ nhung, mỗi bước đi mỗi bước không yên bởi nỗi niềm thương nhớ
Ý2: Nghệ thuật đối:
- Cái vô hình của cảm xúc“bâng khuâng trong dạ” được hiện hình rõ nét qua bước chân đi đầy những
“bồn chồn” Nội tâm thể hiện qua ngoại hình, tâm tư bộc lộ qua hành động như một sự đồng nhất để thể
hiện chính xác và đầy đủ qua nghệ thuật đối mà nhà thơ sử dụng thật khéo léo
=>Hai từ láy chỉ tình cảm được đặt liên tiếp trong một câu thơ cho thấy sự lưu luyến, bịn rịn chứa chan cảm xúc Những tình cảm ấy như ngàn sợi tơ vương tình cảm vấn vít bước chân người đi khiến người đi như không cất nổi bước chân Tình cảm chân thành đã đủ sức nặng kéo chậm lại giây phút chia ly
* Câu 3: Hình ảnh áo chàm:
Ý 1: Nghệ thuật hoán dụ: Nhân dân các dân tộc VB thường mặc áo chàm, một loại vải do người dân tự dệt, tự nhuộm Nên màu áo này chính là biểu tượng riêng, đặc trưng cho người dân VB
Ý 2: Hình ảnh của cả nhân dân VB: Với câu thơ thứ 3 ở khổ thơ này, Tố Hữu đã bất ngờ làm hiện ra ý
nghĩa lịch sử của cuộc chia tay Bởi với những dòng thơ mở đâù trước đó, tiếng hát đối đáp như chỉ của
"mình" với "ta", của đôi lứa yêu nhau, đột nhiên cuộc chia tay ấy trở thành cuộc chia tay lớn của cả Việt
Bắc đối với người kháng chiến từ một hình ảnh hoán dụ: "Áo chàm đưa buổi phân ly" cả Việt Bắc như
"ngẩn ngơ" trong cuộc chia tay lịch sử ấy
Ý 3: Sự ẩn ý trong màu áo chàm: màu chàm là một màu rất bền chắc, không nhạt, không phai Thế nên
ca dao mới có câu thơ:
Bàn tay đã chót nhúng chàm Không xanh cũng nhuộm cho cam sự đời
Nên khi viết hình ảnh màu áo chàm phải chăng người đi khẳng định lại một lần nữa tình cảm của người đi giành cho VB như màu chàm bền chắc, son sắc mãi mãi không phai mờ Cái "ngẩn ngơ" của
Việt Bắc hiện ra ở những chữ "đưa buổi phân ly" đầy day dứt, nhớ thương không nỡ xa rời
* Câu 3: Câu thơ đặc biệt nhất trong đoạn thơ về nhịp thơ
Ý1: Ngắt nhịp lẻ: Thơ lục bát là thơ độc quyền của cách ngắt nhịp chẵn Bởi câu thơ lục bát vốn có kết
cấu của những nhịp chẵn đều đặn, mang cái dìu dặt của khúc hát chia tay, đã chuyển thành nhịp lẻ: 3/3/2 Nhưng câu thơ cuối đoạn này lại có sự bất thường trong nhịp thơ mà ta tạm gọi đó là sự đột biến nhịp thơ Vậy ẩn ý trong cách ngắt nhịp 3/3/2 này là gì
Ý 2: Tình cảm: Muốn hiểu được tình cảm trong lòng người đi ra sao có lẽ chúng ta cần hình dung toàn
khung cảnh chia tay trong tám câu thơ đầu Khi người ra đi cất bước lên đường trong buổi chia tay nhưng
là bước đi trong tư thế “người ra đi đầu không ngoảnh lại” nên ở câu thơ trên chỉ nghe thấy “tiếng ai tha
thiết bên cồn”, chỉ nghe thấy tiếng mà không thấy hình Nhưng vì tình cảm vương vấn quá, bước chân đi
mà không nỡ rời xa nên người đi đã ngoảnh lại, và bất giác nhận ra trên nền xanh của cây lá ngút ngàn
nơi núi rừng VB là màu áo chàm đưa tiễn buổi chia tay, “Áo chàm đưa buổi phân li” Thì đến câu thơ
này như một thước phim quay chậm, người ra đi không thể cất nổi bước chân, nên đành quay lại và ùa chạy tới, ôm chầm lấy hình bóng thân thương gắn bó bao ngày để rồi cái cầm tay trong giây phút chia ly nghẹn ngào không nói lên lời Phải chăng khi cảm xúc trào dâng đến đỉnh điểm thì mọi ngôn từ đều trở thành vô nghĩa, đều không thể diễn tả hết điều muốn nói Chỉ nhìn thôi, trong cái nhìn mà ánh mắt sẽ nói lên tất cả Và cũng bởi lẽ quá xúc động nghẹn ngào mà không thể thốt lên lời Nhịp thơ đứt quãng như những tiếng nấc đang thổn thức, nghẹn nơi lồng ngực của cả người tiễn lẫn người đi
Ý 3: Ý nghĩa: Nhịp điệu ấy gợi ta nhớ tới cảnh chia tay trong câu thơ "Bước đi một bước, giây giây lại
dừng" Sự thay đổi nhịp điệu của câu thơ còn làm cho đoạn thơ có sự đổi mới đối với cảm xúc của người
Trang 21đọc Câu thơ làm cho người đọc không rơi vào cái tiết tấu qúa đều đặn qua suốt 8 dòng thơ mà trở nên mòn, chán
=> Tám dòng thơ đầu như khúc hát chia tay đầy ân tình lưu luyến giữa người ở lại và người ra đi Thời gian như quay lại, không gian như mở ra và cái lắng sâu nhất trong tâm hồn bạn đọc là tình cảm tha thiết chứa chan, thủy chung son sắc giữa con người với con người Thế nên tám dòng thơ đầu cũng là những câu thơ mở ra cảm xúc chủ đạo cho toàn bài thơ, bởi cái cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến ấy sẽ miên man chảy trong những dòng thơ lục bát ngọt ngào với mình và ta
- Mỗi cặp 6-8 lại khơi gợi một kỷ niệm về những tháng ngày sâu nặng nghĩa tình của VB Và những câu 6 tiếp nối nhau đều là những câu hỏi như một sự khơi gợi nỗi nhớ đối với người về xuôi
* Điểm nổi bật của những câu thơ 6 tiếng:
Ý 1: Cách sử dụng từ “mình”:
- Thông qua nghệ thuật điệp ngữ:
+ Mỗi câu 6 lại hướng tới "mình", những chữ "mình" tiếp nối nhau như một điệp khúc của tình cảm
Với từ “mình” giữa người ở và người đi dường như không còn khoảng cách, không phải là hai chủ thể, hai đấy mà như một, mình là ta và ta cũng như mình Nếu vậy ta mới thấy hết cái nhớ thương, lưu luyện đến vô cùng của những con người đang đứng trong cuộc chia tay này Có khác nào:
Người đi một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn tôi hóa dại khờ
+ Khi cuộc chia tay diễn ra cũng là lúc nỗi lòng người ở lại trào dâng sự trống vắng, hẫng hụt, nên tiếng lòng cứ bật lên gọi mãi, gọi hoài, gọi rồi những vẫn chưa thỏa nên cứ đòi thương, đòi nhớ, đòi yêu qua điệp từ “mình” đầy thiết tha, sâu lắng
Ý 2: Cách sử dụng hai từ “về” và “đi”
- Nghĩa gốc: Bản thân hai từ đi và về là hai từ trái nghĩa nhau, nên với hình thức thì khi Tố Hữu sử dụng
chúng trong các câu thơ 6 tiếng như bản thân nghệ thuật tương phản, đối lập, như tạo nên sự hài hòa cân xứng
- Nghĩa trong câu thơ:
+ Ở trong văn cảnh này thì về cũng là đi, đi cũng là về Điều này đã làm nên sự thay đổi kì diệu trong ý
nghĩa của ngôn từ và trong cuộc chia tay Nếu người ra đi mà xa thực, thì sự trống trải, hẫng hụt trong lòng người ở lại sẽ mênh mông nhường nào? Nhưng nếu hiểu đi cũng là về thì sự trở lại, đoàn tụ, sum họp sẽ ấm áp biết bao? Đó là sự an ủi cho cả người ở và người đi trong cuộc chia ly này
+ Đi mà là về cũng như một sự ẩn ý đầy sâu xa 15 năm trước ai đã là người dân Việt Nam hẳn còn nhớ cuộc chia tay vĩ đại của người dân Hà Thành với thủ đô yêu dấu, thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống để đối phó với Thực dân Pháp mà nhà thơ Chính Hữu đã ghi lại trong bài thơ Ngày về:
Nhớ đêm ra đi đất trời như bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Ngày ra đi đau đớn biết bao thì nay ngày trở về lại hát vang khúc ca khải hoàn Ta đã chiến thắng, trở
về tiếp quản thủ đô, lấy lại những gì ta đã tạm quên suốt 15 năm kháng chiến Niềm hân hoan ấy hạnh phúc và viên mãn đến nhường nào Cách sử dụng ngôn từ thật tài tình Tố Hữu đã làm giảm chất sầu bi trong cuộc chia tay, đồng thời còn mở ra trong lòng những con người cách mạng, kháng chiến một niềm tin, niềm vui mới
Ý 3: Cách sử dụng câu hỏi tu từ “có nhớ”:
Chữ "mình", chữ "đi" bao giờ cũng kèm với chữ "nhớ", mới thấy người ở lại lưu luyến kẻ về xuôi biết bao Xuất hiện dưới hình thức một câu hỏi tu từ như một lời khẳng định cảm xúc nhớ thương, da diết, cháy bỏng và nỗi niềm nhạy cảm về sự trống vắng, buồn hiu quạnh, hoang sơ nơi núi rừng khi cán bộ cách mạng và bộ đội đã về xuôi nên người ở lại cứ đòi thương, đòi nhớ, đòi yêu và tự cho mình quyền
Trang 22nhắc nhở người ra đi phải luôn nhớ về những kỉ niệm đẹp dù đầy gian khổ đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng, đằm thắm mà ta và mình đã cùng nhau xây đắp suốt 15 năm
Ý 4: Cách sử dụng những cụm từ gợi nhắc kỉ niệm:
- Người ở lại nhắc đến “những ngày” của 15 năm khắng chiến ta và mình đã gắn bó, đồng cam cộng khổ
cùng xây dựng chiến khu VB, cùng nhau làm nên cuộc cách mạng thắng lợi
- Hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là một nét vẽ hiện thực trong bức tranh về thiên
nhiên VB Những khó khăn, khắc nghiệt của mảnh đất núi rừng nơi đây: Mây phủ quanh năm và sương
mù giăng mắc Dù khó khăn đấy nhung cũng làm nên sự mênh manh hư ảo trong dòng hoài niệm về VB mỗi khi người ra đi nhớ lại khung cảnh nơi đây
- Hình ảnh “chiến khu”: Nơi Bác Hồ thân yêu của chúng ta đã chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng
bao gồm 6 tỉnh độc lập: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà giang, Lạng Sơn Nơi ấy trong 15 năm cách mạng chính là thủ đô thứ hai, căn cứ đầu não chứa toàn bộ cơ quan trung ương của Đảng, chính quyền cách mạng, nơi gắn kết nhân dân và cán bộ cách mạng, nơi tình quân dân thể hiện thắm thiết nhất
- Hình ảnh “rừng núi”: Không gian VB với những cánh rừng già đại ngàn hiện lên trong kí ức của người
về xuôi Những cánh rừng làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc bởi “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
nên thử hỏi làm sao người ra đi không nhớ không thương
- Hình ảnh những ngôi nhà thân thương, đơn sơ nhưng thắm đượm ân tình đã nuôi dưỡng che giấu cán
bộ, bộ đội
- Không gian “núi non” trập trùng nơi chiến khu VB cũng là một hình ảnh khắc ghi trong tiềm thức của
người ra đi
Ý 5: Câu 6 đặc biệt nhất đoạn thơ
* Sự thay đổi ý nghĩa từ mình
- "Mình đi mình có nhớ mình" Một câu thơ sáu tiếng mà tác giả sử dụng đến 3 từ mình, điều mà chúng
ta chưa hề gặp trong ca dao Nhưng điều đáng nói hơn là từ mình ở đây lại biến ảo vô cùng về ý và tình Nếu như người đọc băn khoăn liệu cả 3 từ mình này có chung một ý nghĩa hay không? Đi tìm đáp số cho câu trả lời trên chúng ta sẽ cùng giả thiết những nội hàm khái niệm của nó
- Từ mình đầu tiên và thứ hai lại một lần nữa vang lên để khẳng định sự thật là người đi đã đi rồi, đã chia tay nhân dân VB về xuôi
- Đến từ mình thứ ba thì ý nghĩa đã có sự thay đổi Chúng ta có thể hiểu mình ở đây là người ở lại nhưng đồng thời cũng là người ra đi: Người ở lại nhắn nhủ nhẹ nhàng: mình có đi, có về xuôi liệu còn nhớ nhân dân VB đã gắn bó ân tình bao ngày tháng, cũng là lời nhắc khéo mình có về thủ đô, chốn phồn hoa đô hội thì cũng đừng quên những ngày tháng gian khổ nơi chiến khu mà mình đã gồng mình, quân và dân cùng gánh vác nhiệm vụ của cuộc kháng chiến, kỉ niệm đó của mình luôn hiển hiện hình bóng ta, nhó đến mình
là cùng nhớ về ta trong năm tháng đó Mà như chính nhà thơ đã nói rõ ý tình trong một cặp lục bát ở phần thứ hai của bài thơ:
Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng
=> Nếu hiểu theo hai ý trên thì từ mình đã có sự biến ảo về ý nghĩa: Mình cũng là ta, ta cũng như mình, mình và ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai Và người đọc thấy được sự gắn bó keo sơn, thủy chung son sắt, trước sau như một của ta với mình, dẫu có xa mặt mà không cách lòng
*Nghệ thuật điệp
- Từ mình được điệp lại ba lần trong một câu thơ 6 tiếng cho thấy nỗi nhớ của nhân dân VB, những người
ở lại với người ra đi như trào dâng như những lớp sóng lòng, khôn nguôi Biết mình đi nhưng vẫn nhắc, vẫn nhớ, vẫn bật lên những tiếng gọi lưu luyến, bịn rịn, nhớ thương
- Một lần nữa khẳng định tình cảm keo sơn giữa hai thập thể người, quấn quýt không rời
* Điểm nổi bật của những câu thơ 8 tiếng:
-Đại ý:
+ Nếu những câu thơ 6 tiếng có cấu trúc lặp lại tương tự nhau như lời nhắn nhủ của người ở lại với người
ra đi, hỏi đấy nhưng đâu cần câu trả lời Thì những câu thơ 8 tiếng đủ sức nặng để trải lòng, để người ở
lại nhắc về những kỉ niệm mà ta với mình đã gắn bó suốt 15 năm Đó cũng là bức tranh tái hiện chân thực
cuộc sống, chiến đấu của quân dân VB trong cuộc khắng chiến chống Pháp của dân tộc
Trang 23+ Những câu thơ 8 tiếng có kết cấu nhịp rất giống nhau:4/4 đều đặn tạo âm hưởng hài hòa, réo rắt, du
dương như tiếng lòng bâng khuâng tha thiết của người ở lại với người ra đi
Ý1: Câu 8 thứ nhất
"Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù"
Thiên nhiên VB hiện lên với những nét đặc trưng rất riêng
- Nét dữ dội, hùng vĩ: Nhà thơ khắc họa thiên nhiên bằng hình ảnh “mưa nguồn”, gợi những trận mưa
rừng xối xả, dữ dội, mạnh mẽ tạo nên những “suối lũ” để tăng thêm uy linh cho thiên nhiên VB: vừa
hùng vĩ, vừa dữ dội Đó cũng là tác giả gián tiếp khắc họa những khó khăn gian khổ của quân và dân VB phải đương đầu và trải qua trong cuộc chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc
- Nét thơ mộng, trữ tình: Thiên nhiên VB không chỉ hùng vĩ mà còn toát lên vẻ đẹp đầy thơ mộng và
trữ tình Với hai nét vẽ mây và sương mù mà không gian VB thêm hư ảo Hãy hình dung trước mắt chúng
ta là bạt ngàn một không gian núi rừng bao la, hùng vĩ mây núi cây rừng cứ thấp thoáng ẩn hiện, sương mây thì trắng, cây lá thì xanh Người đọc như mãn nhãn với hình ảnh thi trung hữu họa này của tác giả Đẹp như chốn bồng lai
Ý2: Câu 8 thứ hai
"Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai"
- Cuộc sống vật chất: Cuộc sống chiến đấu của quân dân VB được tái hiện chân thực qua hình ảnh thơ
“miếng cơm chấm muối” đã đủ để thấy cái khó khăn gian khổ, đói nghèo của nhân dân VB nói riêng và
nhân dân cả nước nói chung trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tôi còn nhớ một câu thơ đau đớn của những kiếp nghèo trong kháng chiến:
Xưa con khóc đòi cơm chấm muối
Mẹ tìm đâu ra muối con ăn
Đó cũng là một khó khăn, trở ngại cho quân và dân VB Một miếng cơm chấm muối nhưng vẫn sẻ chia cùng nhau, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi để tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc Đó chính là sức mạnh giúp quân ta có được quyết tâm: Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng
- Cuộc sống tình thần: Gánh nặng lớn nhất quân và dân VB mang trên vai đó chính là mối căm thù giặc
sâu sắc mối thù nặng vai Nghệ thuật ẩn dụ chuyến đổi cảm giác đã cho người đọc phần nào cảm nhận
được nỗi căm thù ấy Vốn chỉ có thể cảm nhận bằng cảm giác nhưng qua cách diễn đạt của Tố Hữu người đọc như đang cùng quân dân VB chung vai vào gánh một mối thù giang sơn là nỗi căm hờn quân giặc đã xéo gót giày xâm lược, chà đạp lên quyền sống, quyền tự do, dân chủ của nhân dân, dân tộc ta Bao nhiêu con người là bấy nhiêu mối thù, bao ngày giặc tàn phá quê hương là bấy nhiêu ngày đau thương tang tóc Nên mối thù ấy ngày một lớn lên, nó hiện hữu và đang đè nặng trên vai, đòi hỏi quân dân cùng đồng lòng, chung sức đập tan mối căm hờn đó
- Nghệ thuật đối lập, tương phản: Hai vế thơ tương xứng 4/4, với nghệ thuật đối rất chỉnh Nếu cuộc
sống vật chất của cuộc chiến đấu thiếu thốn, gian khổ bao nhiêu thì nỗi căm hờn với quân thù trong lòng đầy ắp bấy nhiêu Khó khăn, gian khổ không làm nguôi ngoai quyết tâm đánh giặc của quân và dân ta, ngược lại nó còn thôi thúc quân dân VB một lòng, một dạ chung tay chung sức đánh đuổi kẻ thù Sự thiếu thốn về vật chất lại làm tăng thêm sức mạnh tinh thần Bạn đọc hôm nay có lẽ đã tìm ra một chân lí thật giản đơn về sức mạnh của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc, điều làm nên chiến thắng lẫy lừng của nhân dân ta mà ngay cả các nước đế quốc, thực dân đến tận ngày hôm nay vẫn không thể hiểu vì sao đất nước Việt Nam nhỏ bé, nhân dân Việt Nam đói nghèo mà lại có thể đánh bại những đế quốc hùng cường nhất thế giới Thật đáng trân trọng và tự hào biết bao truyền thống của dân tộc ta
Ý3: Câu 8 thứ ba
- Thiên nhiên VB: Đọc câu thơ "Trám bùi để rụng, măng mai để già" , người đọc đơn thuần tưởng Tố
Hữu miêu tả nét thiên nhiên đặc trưng của núi rừng VB, nhưng tìm vào sâu trong ý tình câu thơ ta như cảm thấy nỗi ngậm ngùi, nhớ thương
+ Thiên nhiên VB: Trên những cánh rừng đại ngàn VB thường mọc hai loại cây: trám và măng mai
Những cây trám thân gỗ đại thụ, làm tăng thêm vẻ uy nghi cho núi rừng VB Còn những vàn măng mai bạt ngàn với màu xanh của loài cây họ tre trúc này như tăng thêm sức sống cho cây rừng nơi đây Đây còn là hai thực phẩm chính mà núi rừng đã ban tặng cho quân dân VB Vị trám muối mặn mòi nồng ấm
ân tình mà người dân VB giành cho bộ đội Cây măng mai, ngọt bùi mà người dân VB đã mất bao công sức tìm, đào và chế biến trở thành những món ăn thiết yếu cho cuộc sống chiến đấu nơi đây Mà như chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi lại:
Trang 24Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
=> Miêu tả thiên nhiên nhưng Tố Hữu cũng gián tiếp phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân VB: thiếu thốn, gian khổ mọi đường Đồng thồi cũng cho thấy tình cảm, sự chăm sóc quan tâm của nhân dân
VB với cán bộ, bộ đội Họ chăm lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho bộ đội Với cuộc sống thiếu thốn đủ đường nhưng người dân VB đã tìm mọi cách khắc phục để đảm bảo điều kiện, sức khỏe cho bộ đội ta chiến đấu, chiến thắng kẻ thù
+ Tình cảm của người VB: Nhà thơ miêu tả một sự thật của thiên nhiên là khi cán bộ, bộ đội cùng ở với
nhân dân thì người đông như kiến, bao nhiêu trám, măng của núi rừng cũng là chưa đủ nuôi quân bởi
trong bài Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Phạm Tiến Duật có viết “hết rau rừng em có lấy măng
không” Thì giờ đây khi bộ đội về xuôi, những trái trám bùi không có người ăn, những búp măng non,
ngọt không có người lấy nên mới có khung cảnh trám rụng, măng già Miêu tả cái dư thừa của vật chất trong thiên nhiên mà nói được cái thiếu thốn vô cùng trong tình cảm của người ở lại khi người ra đi đã về xuôi Cái ngút ngàn của rừng trám, vàn măng vốn vô tình nhưng trong câu thơ của Tố Hữu lại bỗng trở nên có hồn Một nỗi nhớ vô tận, vô cùng của người dân VB với người ra đi sau cách nói đầy ẩn ý Người
đi dù đã đi thật nhưng nhân dân VB mỗi khi lên rừng nhìn thấy trám rụng, ra nương thấy măng mai già thì nỗi nhớ lại trào dâng Khi nào trám hết, măng tàn thì người VB mới nguôi nỗi nhớ thương Một cách diễn đạt sâu nặng nghĩa tình
Ý4: Câu 8 thứ tư
"Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son"
- Cuộc sống vật chất: Thể hiện chân thực qua hình ảnh những ngôi nhà “hắt hiu lau xám” Những ngôi
nhà nghèo khó, giản đơn của nhân dân VB dựng vội trong cuộc kháng chiến để lấy chỗ ở, chỗ nuôi giấu cán bộ, bộ đội Ngôi nhà tranh, vách nứa và lợp bằng cỏ lau đã phản ánh phần nào cuộc sống đầy rẫy những khó khăn, thiếu thốn của quân và dân ta
- Cuộc sống tinh thần: Điều ghi lại dấu ấn trong cả lòng người ở và người đi chính là tấm “lòng son”
thắm thiết Tấm lòng ấy là tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân như cá với nước, mặn nồng như tình yêu lứa đôi của ta với mình Nhưng chưa đủ, tình cảm ấy mãi mãi không phai nhòa, thủy chung, trước sau như một của những con người từng vào sinh ra tử cùng nhau, những con người sẵn sàng ngã xuống cho tổ quốc thân yêu, sự gắn bó máu thịt vô điều kiện
- Nghệ thuật đối lập, tương phản: Hai vế câu thơ đối nhau rất chỉnh tạo ra một thế cân bằng cho người
đọc, cũng như chính nhân vật trữ tình trong bài thơ Cuộc sống vật chất tuy thiếu thốn mọi bề nhưng đổi lại là tình cảm dạt dào Đó là sợi tơ vô hình gắn kết quân và dân trong cuộc kháng chiến
- Từ láy “hắt hiu”: Sự hiu quạnh, trống vắng của nhân dân VB để nói hết được có lẽ không còn ngôn từ
nào đạt hơn khi tác giả chọn từ láy hắt hiu Nếu ngày trước quân dân cùng nhau gắn bó, sống và chiến đấu thì chiến khu VB đông vui, nhộn nhịp với không khí khẩn trương, thần tốc Nhưng nay khi bộ đội về xuôi
thì còn đâu khung cảnh “xóm dưới làng trên, cơm nắm, cơm đùm ríu rít theo nhau”, nên sự trống trải vô
cùng mà người ra đi để cho người ở lại là sự hiu hắt đến vắng lặng trong những ngôi nhà tranh mà thủa nào sớm tối có nhau
Ý5: Câu 8 thứ năm
- Tác giả đã tái hiện thời gian của cuộc kháng chiến mà quân và dân VB đã trải qua: “Nhớ khi kháng Nhật,
thủa còn Việt Minh” Quãng thời gian suốt từ mùa xuân năm 1941 khi Bác Hồ thân yêu về nước, dựng
căn cứ địa cách mạng trên chiến khu VB, cho đến tận chiến thắng lịch sử của trận Điện Biên Phủ hào hùng Trong khoảng thời gian dài suốt 15 năm ấy nhà thơ Tố Hữu không nói toàn bộ lịch sử mà chọn những mốc son quan trọng
+ Thời kì kháng Nhật là một bước ngoặt đầy khó khăn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta Khi thực
dân Pháp còn chưa ra khỏi bờ cõi nước ta, nhưng trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa phát xít trên thế giới, Pháp đã hèn hạ mở cửa nước ta, quỳ gối rước Nhật vào, trong vòng 5 năm từ 1940-1945 chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật, để nhân dân ta chịu cảnh một cổ ba tròng: Trên một thửa ruộng bọn phong kiến, địa chủ bắt nộp tô, bọn thực dân bắt đóng thuế, phát xít thì bắt nhổ lúa trồng đay Đẩy nhân dân ta rơi vào nạn đói khiến hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói Đó là thời kì đầy đau thương của dân tộc Nhưng nhân dân cũng đã vượt qua, đập tan chủ nghĩa phát xít, đuổi cổ bọn thực dân lấy lại nền độc lập của dân tộc
+ Việt Minh: Việt Nam độc lập đồng minh, còn gọi là Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh, là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập vào ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể
Trang 25dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập " Và kết quả là nhân dân và cách mạng đã giành được thắng lợi Thủa còn Việt Minh là một thủa hào hùng, vàng son của dân tộc một đi không trở lại nhưng cả quân và dân VB mãi khắc ghi trong tim như một khúc tráng ca về độc lập, tự do
=> Câu thơ tái hiện lại giai đoạn lịch sử khó khăn nhất của dân tộc, nhưng nhân ta đã kiên cường vượt qua bằng chính sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc Giờ đây nhìn lại không chỉ là kỉ niệm mà còn là niềm
tự hào của dân tộc
Ý6: Câu 8 thứ sáu
- Lịch sử tái hiện: Câu thơ 8 cuối cùng như thước phim tài liệu quay chậm về cuộc kháng chiến chống
Pháp của dân tộc Bao chiến thắng lẫy lừng làm vang tên bao địa danh, bao di tích lịch sử mà muôn đời
vẫn còn là niềm tự hào vô bờ bến của nhân dân ta: "Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa"
- Nghệ thuật đảo ngữ: Nếu bạn đọc chú ý thì sẽ thấy câu thơ này tác giả đã tách những cụm từ đã tương
đối cố định, đó là "Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" ra như một sự sáng tạo độc đáo của riêng mình
Viết như Tố Hữu trong câu thơ này người đọc như đang ngấm dần một phong vị của ca dao, dân ca nơi đồng bằng Bắc Bộ Với không gian vốn đã quen thuộc từ ngàn đời: Cây đa, bến nước, sân đình
Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Hay:
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Phải chăng chính nỗi nhớ thương, quyến luyến đã nâng bước chân, đưa tầm hồn của người ở lại theo bước chân người ra đi về xuôi cho thỏa nỗi nhớ mong
=> Nét đặc sắc trong câu 8 này là ở chỗ tiết tấu rất giàu nhạc điệu của nghệ thuật đối Tố Hữu đã sử dụng
nghệ thuật đối một cách triệt để qua tất cả các câu 8 ở đây, nghệ thuật đối làm cho nhạc điệu của đoạn thơ trở nên réo rắt và tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc đối với từng kỉ niệm Cả tiểu đối và trường
đối đều được sử dụng hiệu quả Đó là lối đối giữa các vế câu với nhau như: "Miếng cơm chấm muối /mối
thù nặng vai" để làm nổi bật sự đồng tâm nhất trí giữa nhân dân và cách mạng Khó khăn lại càng làm
chồng chất mối thù đối với thực dân phát xít Đó cũng là sự tương phản giữa cuộc sống gian khổ và lòng
người qua những hình ảnh đối chọi nhau "Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son" Đó là những vế đối làm nổi bật nỗi buồn của VB đối với cuộc chia tay "Trám bùi để rụng, măng mai để già" Nghệ thuật đối vốn
rất quen thuộc trong ca dao, tục ngữ, nhưng với Tố Hữu, nghệ thuật đối đã có những sáng tạo Ở đây không chỉ có sự tương phản mà còn có sự bổ sung của các vế đối Có lối đối giữa các vế trong một câu
nhưng lại cũng có những tiểu đối, lối đối ngay trong một vế câu như "mưa nguồn / suối lũ" rồi "những
mây / cùng mù"; lại có những biến thể lồng chéo tạo nên các vế đối như trong trường hợp "Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa" Đoạn thơ vì thế rất giàu nhạc điệu, một thứ nhạc điệu được tạo nên từ tiết
tấu của câu thơ
3 KB
Thơ Tố Hữu với "Việt Bắc", đặc trưng trữ tình không chỉ hiện ra từ những câu thơ lục bát vốn mang âm điệu tha thiết mà còn thể hiện ở cấu tứ, ở ngôn ngữ luôn luôn tràn đầy cảm xúc Vì thế khúc hát mở đầu cho "Việt Bắc", khúc hát về cuộc chia tay lớn gắn liền với đời sống chính trị của dân tộc, khúc hoài niệm
về những tháng ngày cách mạng mà vẫn có sức lay động tình cảm của người đọc, làm rung động trái tim mỗi con người Việt Nam ở thời điểm tràn đầy sung sướng và hạnh phúc kia Với đoạn thơ mở đầu này,
ta cũng đã thấy "Việt Bắc" của Tố Hữu rất giàu chất dân tộc, chất dân gian, giàu nhạc tính
Phân tích 22 câu thơ tiếp
“Ta với mình…đều đều suối xa”
* Nhận xét chung:
Đoạn thơ là lời nhắn nhủ tâm tình của người ra đi gửi cho người ở lại Người ra đi thể hiện nỗi nhớ niềm thương đến cảnh và người VB, những kỉ niệm đã cùng nhân dân nơi đây gắn bó 15 năm đầy ân tình,
ân nghĩa Là câu trả lời thỏa mãn nỗi băn khoăn trong lòng người ở, như khúc hát đối đáp đầy sâu nặng
a, Bốn câu thơ đầu
Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Trang 26Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu
*Câu 1: Ta với mình, mình với ta
-Ý 1 Nghệ thuật điệp: Một câu thơ 6 tiếng mà tác giả đã để lặp lại hai lần mỗi từ mình, ta cho thấy sự
xoắn xuýt, quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt
- Ý 2 Liên từ “với”: Nếu chúng ta vô tình coi liên từ “với” như một từ có chức năng liên kết thì có thể
thay vào đó bằng liên từ “và” nhưng ý nghĩa lại thay đổi hoàn toàn, đồng thời tạo sắc thái tình cảm hoàn toàn khác Từ và chỉ đơn thuần là mối quan hệ tương tác qua lại giữa ta – mình Nhưng chỉ thay bằng liên
từ “với” thì hai chủ thể ta – mình lại có sự gắn kết lạ thường bền chặt, keo sơn
-Ý 3 Cách ngắt nhịp: Câu thơ ngắt nhịp 3/3 tạo thành hai vế thơ đăng đối, rất chỉnh Phải chăng dụng ý
nhà thơ muốn gửi gắm là những tình cảm đậm sâu của ta với mình Nếu như trong đoạn thơ trên, người
ở lại đã nói lên tiếng lòng đầy vương vấn, nhớ thương của mình khi người ra đi về xuôi thì bằng nhịp thơ cân chỉnh trong câu lục này người đi đã nhẹ nhàng gửi gắm một thông điệp: Mình nhớ ta như thế nào thì
ta cũng nhớ mình như thế khi chia xa Lòng mình như nào thì lòng ta như thế Cứ gửi trao tình cảm sẽ nhận lại yêu thương, đó là quy luật riêng, lý lẽ riêng của trái tim con người, một điều giản dị mà chính Tố Hữu đã nhắc đến trong một bài thơ khác của mình:
Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau
-Ý4 Cách vận dụng sáng tạo ca dao: Trong ca dao từng nói:
Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai
Tố Hữu đã mượn tình cảm lứa đôi để diễn tả tình cảm cách mạng khăng khít bền chặt
*Câu 2: Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
- Ý 1 Nhịp thơ : Cách ngắt nhịp 2/2/2/2 đều đặn, không có biến tấu như một lời khẳng định chắc nịch về
tình cảm sắc son không đổi thay, thủy chung, trước sau như một
-Ý 2 : Từ láy « đinh ninh » : Bản thân từ láy này dùng để chỉ một tình cảm đã qua, một lời hứa đã nói
luôn khắc ghi trong tim, có thể nói là « khắc cốt ghi tâm » lúc nào cũng mang nặng trong lòng, không phai nhạt, không nguôi ngoai Đó cũng chính là tình cảm của người ra đi muốn nói với người ở lại : Dù có xa nhau đi chăng nữa nhưng những kỉ niệm ta với mình đã có suốt 15 năm qua thì không có bao giờ ta quên
Kỉ niệm ấy không chỉ thường trực trong lòng mà còn nóng bỏng, thôi thúc ta sống tốt hơn, trân trọng hơn những gì ta với mình đã cùng vun đắp, dựng xây ngày hôm qua, những điều ta với mình đã đánh đổi bằng
mồ hôi, nước mắt và bằng cả máu xương, mạng sống của mình
*Câu 3: Mình đi mình lại nhớ mình
(Giống câu « Mình đi mình có nhớ mình Chỉ khác đây là câu trả lời, khẳng định một lấn nữa tình cảm: mình lại nhớ, mình sao thì ta cũng vậy)
-Ý1 : Chữ "lại": thanh trắc ở âm vực trầm nhất cho thấy câu trả lời vừa là lời khẳng định, vừa là một
nguyện thề thiêng liêng với người ở lại, với nhân dân VB và với chính mình
- Ý2 : Gắn với câu hỏi "Mình đi mình có nhớ mình" : Đó là sự vận dụng sáng tạo cấu trúc hỏi đáp của
ca dao như :
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Không chỉ có một vế đơn độc- vế hỏi vừa như nêu băn khoăn, vừa khẳng định lòng thuỷ chung của bên đợi mà còn có vế đáp để nói rõ sự chung thuỷ sắt son của người ra đi
*Câu 4: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu
- Ý 1 Cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: Đó là cách so sánh đòn bẩy mà trong ca dao đã xuất hiện
rất nhiều để thể hiện sự tương đồng, thậm chí là cao hơn
Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
-Ý 2 Cách so sánh : Suối nguồn có bao giờ ngừng chảy, tuy nhỏ, chỉ rí rách nhưng là vô cùng, vô tận
Thế nên mới có câu ca :
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Trang 27Hình ảnh « nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu » đã diễn tả được nghĩa tình cách mạng là vô tận,
như suối nguồn không bao giờ vơi cạn Một lần nữa khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng, với quê hương kháng chiến của người cán bộ vê xuôi
-Ý3 Dấu chấm lửng : Cuối câu thơ kết thúc bằng dấu chấm lửng như khẳng định lại tình cảm bất tận,
như suối nguồn VB mãi tuôn chảy ngàn đời
=> Bốn câu thơ là câu trả lời của người ra đi, giải tỏa mọi nỗi băn khoăn trong lòng người ở lại Nhớ bao nhiêu, thì thương bấy nhiêu, tình càng dày thì nghĩa càng sâu, không gì có thể làm thay đổi, nhạt phai tình cảm ấy Chính lời giải đáp đó đã mở ra bao kỉ niệm trong cảm xúc của người ra đi Và cứ thế hình ảnh về thiên nhiên, con người và cuộc kháng chiến ùa về, tuôn chảy trong tâm trí của người ra đi, tràn ra trong
18 dòng thơ lục bát tiếp theo
b, Mười tám câu thơ tiếp theo
- Khái quát: Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như một, người ra đi nhớ về VB đầy ắp đầy kỉ niệm
Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ, tình cảm kẻ đi với người ở tươi
mới bấy nhiêu Cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình nổi sắc
* 6 câu thơ đầu Nhớ khung cảnh Việt Bắc thanh bình:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Ý1 Hình ảnh so sánh như nhớ người yêu : Câu thơ sáu tiếng lặp lại hai từ nhớ cho thấy nỗi nhớ cảnh
và người VB đang trào dâng trong lòng người ra đi, không thể không bật lên thành lời Và để diễn tả nỗi nhớ ấy Tố Hữu đã chọn biện pháp nghệ thuật so sánh để người ở lại có thể hiểu được nỗi lòng của mình Nỗi nhớ nào cũng cồn cào, da diết, cháy bỏng Nhưng nếu ai đó đã từng trải nghiệm thì nỗi nhớ thường trực, đau đáu nhất, đốt cháy tâm can con người nhất thì đó là nỗi nhớ trong tình yêu Trong ca dao đã từng nói về nỗi nhớ :
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than
Hay nỗi nhớ người yêu của Xuân Quỳnh :
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Và nhà thơ đã không ngần ngại mà so sánh nỗi nhớ về VB của người ra đi như nỗi nhớ người yêu, thể
hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm Cách so sánh này mới lạ sáng tạo, chỉ với "như nhớ người yêu"
mà người đọc có thể thấy hết được tình cảm của người ra đi đối với cảnh và người VB
Ý 2: Hình ảnh thơ gợi cảm đầy thi vị:
- Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương:
+ Trăng lên đầu núi: Có lẽ không có hình ảnh nào thi vị hơn khi tác giả gắn nỗi nhớ người yêu với hình
ảnh ánh trăng lấp ló, chênh chếch, nghiêng nghiêng nơi đầu núi Ánh trăng là một biểu tượng quen thuộc với tình yêu của ca dao:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Và trong truyện Kiều Nguyễn Du cũng tả:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song
Nhưng hơn thế nữa vầng trăng còn là một biểu tượng cho hòa bình, sự dịu êm Không phải ngẫu nhiên
mà tác giả chọn hình ảnh này như một khát khao, hay chớp lấy một khoảnh khắc yên bình hiếm hoi của chiến khu trong cuộc kháng chiến oanh liệt Càng hiếm hoi thì càng phải nâng niu, trân trọng và đấu tranh giành được nó Hình ảnh thơ bỗng ngọt ngào và sâu sắc ý tình
+ Nắng chiều lưng nương: Một khung cảnh lao động bình dị của buổi chiều nơi chiến khu Sau những
giây phút khẩn trương phục vụ cho cuộc kháng chiến thì thời gian ngắn ngủi buổi chiều muộn, quân và dân cùng lên nương lao động sản xuất để phục vụ cho cuộc kháng chiến Thời gian ấy cũng là lúc thảnh thơi, là lúc ta và mình bên nhau để thấu hiểu và gắn bó
Trang 28=> Hình ảnh thơ trọn vẹn không gian và thời gian một ngày, đẹp như một bức tranh được phối đều những gam màu nóng lạnh, sáng tối vừa tạo nên vẻ đẹp dịu nhẹ lại vừa ấm áp
- Nhớ từng bản khói cùng sương Hình ảnh những bản làng chìm trong màn sương giăng và thấp thoáng
trong khói lam chiều sao mà thân thương đối với mỗi con người đất Việt Đó là biểu tượng hoài cổ trong thơ xưa khơi dậy niềm nhớ quê hương:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Phải chăng VB là quê hương thứ hai để rồi khi về xuôi cán bộ, bộ đội sẽ nhớ mãi không quên
- Sớm khuya bếp lửa người thương đi về:
+ Hình ảnh bếp lửa hồng: Những bếp lửa hồng được đặt giữa những gian nhà của đồng bào dân tộc như
chính linh hồn của con người nơi đây
+ Hình ảnh người thương: Bếp lửa ấy vương vấn bóng dáng đi về của người thương Độc giả tự băn
khoăn người thương được nhắc đến ở đây là ai? Có thể là một người em gái dân tộc nào đó đã để thương
để nhớ cho những anh chàng lính chiến, nên nỗi nhớ gửi về là nỗi nhớ cho đôi lứa yêu nhau Nhưng cũng
có thể là bóng dáng thân thuộc của bất cứ người dân VB nào đã gắn bó cùng bộ đội suốt 15 năm, giờ đây chia xa ắt hẳn phải để thương để nhớ trong lòng người ra đi
+ Kết hợp hai hình ảnh: Sự gắn kết hình ảnh người thương và bếp lửa hồng cho thấy tình cảm nồng ấm
của người ra đi với nhân dân VB
- Nhớ từng rừng nứa bờ tre: Những rừng vầu, tre, nứa là đặc trưng nơi núi rừng VB, rừng che bộ đội,
rừng vây quân thù Ăn, ở, sinh hoạt, chiến đấu đều trong rừng nên có thể nói sự gắn kết không hề nhỏ, chính vì thế khi đi xa mới thấy nhớ thương
-Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy:
+ Những con suối nào đã từng băng qua khi đánh giặc, những con suối ầm ào thác lũ chặn quân thù,
những con suối hiền hòa cho bộ đội tắm mát, những mạch nguồn trong vắt để lấy nước uống…tất cả cùng lúc hiện về, ùa đầy trong nỗi nhớ của người ra đi về VB thân thương mà oai hùng
+ Cụm từ “vơi đầy” cho thấy nỗi trong lòng người ra đi đã cố được nén xuống cho vơi, cho nhẹ lòng
nhưng lại cứ dâng lên, cứ đầy ắp dập dềnh những con sóng nhớ thương
=> Tất cả những hình ảnh trên như vẽ ra một VB trong yên bình của tình yêu và nỗi nhớ đồng thời gợi những nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóa tha thiết, mãnh liệt trong lòng người đi
Ý 3: Chiều kích của nỗi nhớ: Nỗi nhớ trải dài theo thời gian: sớm, chiều, đêm, ngày; trải rộng khắp
không gian: bản làng, núi rừng, sông suối cho thấy một nỗi nhớ thường trực, da diết, rộng lớn, mênh mang
* 12 câu thơ sau Nhớ khung cảnh Việt Bắc trong kháng chiến:
Ý1: Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ nhưng đậm đà tình nghĩa:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
- Cuộc sống vật chất: Người đi nhớ về những ngày khó khăn gian khổ tuy thiếu thốn mọi đường
+ Bữa ăn hàng ngày thật hiếm hoi mới có được bát cơm, chủ yếu là ăn khoai,ăn sắn Nhưng đâu phải lúc nào khoai sắn cũng đầy đủ, thế nên mới có cảnh:
Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bộ đội ta chỉ có củ sắn lùi nướng vội trong bếp để chia nhau cùng ăn cho qua cơn đói
+ Giấc ngủ hàng đêm trong rừng sâu để chống chọi với những ngày đông tháng giá nơi núi cao lạnh lẽo
đó là tấm chăn làm từ vỏ cây sui đập dập, chẳng đủ ấm đâu nhưng quân dân vẫn cùng nhường nhau tấm chăn hẹp ấy
- Cuộc sống tình cảm: Những hình ảnh mới đọc lên người đọc ngỡ tưởng là hình ảnh tượng trưng nhưng
đâu phải Đó chính là hiện thực trần trụi, gian khó của cuộc chiến đấu: "Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa,
chăn sui đắp cùng"
+ Cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng": diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân
Việt Bắc và cán bộ cách mạng Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ sắn", "bát cơm", "chăn sui" mà
người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp
Trang 29=>Sự sẻ chia của tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân đã góp thêm sức mạnh cho nhân dân ta đánh thắng kẻ thù Cao hơn cả là tinh thần đoàn kết dân tộc, tình hữu ái giai cấp luôn thấp thoáng
ẩn hiện trong những vần thơ
Ý2: Nhân dân VB hết lòng cho cuộc chiến:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Chỉ bằng hai câu thơ thôi mà cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp và tình nghĩa chan hòa:
+ Thiên nhiên VB: Có lẽ hình ảnh này được nhà thơ chụp lấy trong một khoảnh khắc ngắn ngủi của cái
nắng trưa hè lúc đúng ngọ, khi mặt trời nắng gắt và chói chang nhất, với một không gian thoáng đãng mênh mông trên nương rẫy cao Cái vàng chói của nắng hè với màu vàng óng của những bắp ngô già đã bóc áo, phơi khô dười nắng như vàng hơn, làm cái nắng đã chói chang lại thêm rực vàng Một không gian lớn lao, kì vĩ và có phần lung linh
+ Con người VB: Trên nền không gian kì vĩ, khoáng đạt ấy là nền để con người VB xuất hiện Không
phải một anh hùng lao động hay chiến đấu mà là hình ảnh giản dị, quen thuộc thậm chí là quá đỗi thân thương: Người mẹ địu con lên rẫy Nhưng chính khung cảnh ấy đã làm cho người mẹ bình dị kia đẹp lung linh như một huyền thoại Hình ảnh thơ này không phải chỉ lần đầu xuất hiện trong thơ TH mà nó còn
được nhắc tên và hát mãi trong Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ của nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ dội Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng vừa địu con vừa bẻ từng bắp ngô gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi
Ý3: Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc:
Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến Việt Bắc
- Nhớ lớp học i tờ: Một không khí, một tinh thần của một thời đi không trở lại Nếu ai đó lật giở lại những
trang sử của dân tộc sẽ thấy bất ngờ khi một dân tộc có đến 90% dân số mù chữ nhanh chóng được xóa
mù bởi phong trào Bình dân học vụ rộng khắp, học mọi lúc, mọi nơi, người biết nhiều dạy người biết ít, người biết ít dạy người chưa biết Những lớp học râm ran tiếng i tờ không chỉ là ý thức tự vươn lên của mỗi người dân VB mà còn là tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc
- Nhớ những giờ liên hoan: Sống, lao động, chiến đấu nhưng quân và dân VB không thể quên được
những món ăn tinh thần, đó là nguồn động lực vô cùng cần thiết để nhân dân ta có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách và chiến thắng mọi kẻ thù Những buổi sinh hoạt, liên hoan văn nghệ tập thể như chất keo gắn kết tình quân dân, đồng bào, đồng chí diễn ra quây quần bên đống lửa trại dựng giữa cánh đồng Người đọc như nhìn thấy những cái nắm tay thật chặt, những điệu nhảy, điệu múa, những tiếng ca rộn rã theo nhịp chân đung đưa, tất cả toát lên một không khí tưng bừng của đêm hội liên hoan văn nghệ để mai này khi xa rồi, người về xuôi không khỏi xốn xang khi nhớ về kỉ niệm đó
- Nhớ những ngày tháng cơ quan: Nghệ thuật tương phản đối lập: Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn nhưng với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom” của một thời oai hùng đã làm cho những khó khăn đó
Trang 30bỗng chốc vơi đi chỉ còn lại những thanh thản, bình yên trong lòng, chút bình yên của người chủ động trong cuộc chiến đấu vẫn còn trường kì kia
- Nhớ những âm thanh quen thuộc của cuộc sống núi rừng VB:
+ Âm thanh "tiếng mõ rừng chiều": Tiếng mõ quen thuộc mỗi buổi chiều theo đàn trâu thong thả về
nhà sao bình dị, thân thương đến thế
+ Tiếng"chày đêm nện cối đều đều suối xa": là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc Những chiếc cối giã
gạo chạy bằng sức nước cứ đều đặn, miệt mài chảy, giã, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng và gợi nhớ một thời đã qua Đó là những âm thanh bí ẩn, thiêng liêng và huyền diệu nơi núi rừng VB, đã thấm sâu vào trái tim nhà thơ, để giờ đây khi chia xa đã thăng hoa thành những câu thơ ngân nga rung động lòng người
Phân tích 10 câu thơ tiếp Bức tranh tứ bình của VB
Y1: Kết cấu hô ứng của cặp lục bát: Câu sáu dùng để hỏi, nhưng hỏi đấy mà đâu cần câu trả lời, câu
tám đã nói lên nỗi lòng như một câu trả lời đầy thỏa mãn Lối hô ứng vay mượn của ca dao được TH khai thác triệt để Nói lòng ta cũng là nói hộ lòng mình, bởi từ trên người đọc đã biết: Ta với mình tuy hai mà một, mình với ta tuy một mà hai
Ý 2: Hình ảnh đối xứng: Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người Hoa là vẻ đẹp tinh
tuý nhất của thiên nhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương xứng với con người là hoa của đất Bởi vậy đoạn thơ được cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người Nói đến hoa hiển hiện hình người, nói đến người lại lấp lóa bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bức tranh thơ Nên bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc
b Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc:
Ý1: Hình ảnh thiên nhiên:
- Hình ảnh thơ: Như được chắt lọc qua con mắt tinh tế của thi nhân: rừng xanh và hoa chuối đỏ
+ Rừng xanh: Hình ảnh thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh
của rừng già Cái màu xanh ngằn ngắt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá Cái màu xanh chứa chất bao sức mạnh bí ẩn "Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng" Màu xanh núi rừng Việt Bắc:
Rừng giăng thành lũy thép dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
+ Hoa chuối đỏ: Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời Cái màu "đỏ tươi" - gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tịn mùi hương
Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng
- Nghệ thuật hội họa trong thơ:
+ Pha màu: Cặp lục bát này chính là một bức tranh tứ bình về mùa đông Mà không có sức mạnh nào
tạo nên sức sống cho bức họa bằng màu sắc Tố Hữu đã thể hiện tài năng của mình bằng sự tinh tế của một họa sĩ tài ba khi phối màu cho bức tranh của mình Gam màu xanh mát lạnh chỉ làm tăng thêm cái băng giá của mùa đông, nên để gieo vào một hơi ấm tác giả đã chọn một gam màu nóng sáng, đó là màu
đỏ tươi của hoa chuối rừng Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa,vừa cổ điển vừa hiện đại
Trang 31+ Hiệu ứng:
➢ Sự pha màu đó làm cho bức tranh thêm hài hòa về màu sắc
➢ Không chỉ vậy mà nó còn gián tiếp miêu tả được khí hậu khắc nghiệt của núi rừng nơi đây Bởi chỉ có ai từng sống ở rừng lâu năm mới hiểu được tường tận nét thiên nhiên độc đáo này: Trời phải lạnh thì hoa chuối rừng mới nở và càng lạnh thì hoa chuối càng có sắc đỏ tươi
➢ Hai chữ "đỏ tươi" không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừng xanh đại ngàn, lấp lóa một niềm tin rất thật, rất đẹp
➢ Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn xua tan cái lạnh giá của mùa đông, làm ấm cả không gian, ấm cả lòng người
Nên mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nay vẫn sáng bừng trong kí ức
Ý2: Hình ảnh con người: "Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng"
Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững chãi, tự tin
- Vị thế, tư thế: Con người đứng trên đỉnh “đèo cao” có tác dụng làm tôn lên tư thế, tầm vóc hào hùng
đứng trên thiên nhiên hòa vào vũ trụ mênh mông bao la, làm chủ cuộc sống Đây là một quan niệm nghệ thuật khá độc đáo thường thấy trong thơ TH là khi viết về con người, dù là quân hay dân đều ở thế chủ động và đi lên phía trước Nếu là bộ đội thì ở vị trí cao nhất định:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo
Nếu là dân công thì:
Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
Và người dân lao động ở đây là vị thế trên đỉnh đèo cao Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng, đứng trên đỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi
rừng, tự do " Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta" Đấy là cái tư thế làm chủ đầy
kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang
- Công việc : Con người xuất hiện trong câu thơ là người lao động bình dị : đi phát nương, làm rẫy, đi lên
rừng hái củi, tìm măng góp công sức nhỏ bé của mình cho cuộc chiến đấu
- Khoảnh khắc xuất hiện : Nhà thơ TH đã rất tinh tế khi nắm bắt được khoảnh khắc giao thoa kì diệu
giữa thiên nhiên và con người Những thép dao để trần được mài sáng loáng gài nơi thắt lưng được ánh nắng hiếm hoi của mùa đông chiếu vào tạo nên sự phản quang kì lạ, tỏa ra thứ ánh nắng lung linh, lấp
lánh, chói lóa không gian thể hiện qua từ có thần « ánh » Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng
lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh Con người như một tụ điểm của ánh sáng Con người
ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc
=> Câu thơ thể hiện thái độ bao yêu thương, trân trọng, ca ngợi nhân dân lao động của nhà thơ TH Cứ nơi nào có con người lao động thì nơi đó tỏa ánh hào quang lấp lánh Cái lạnh giá của mùa đông cũng phút chốc được xua tan chỉ còn lại cảm giác ấm áp, vui tươi của lao động
c Nỗi nhớ mùa xuân Việt Bắc:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ý1: Hình ảnh thiên nhiên:
- Cụm từ chỉ thời gian « ngày xuân » : Nhà thơ không viết là mùa xuân mà là ngày xuân đầy tinh tế
Đó là thái độ ngỡ ngàng, trầm trồ trước vẻ đẹp lộng lẫy của đất trời vạn vật khi vào xuân cứ diễn ra, thay đổi qua từng giây, từng phút, từng ngày để tác giả phải chớp lấy, chọn lấy một hình ảnh có thần nhất vẽ nên bức tranh mùa xuân nơi núi rừng VB
- Hình ảnh đặc trưng của mùa xuân « mơ nở trắng rừng » :
+ Sự chuyển gam màu, kéo theo chuyển dịch thời gian : Cùng với sự chuyển mùa, mùa đông sang
mùa xuân, là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang
xuân Ngày xuân mơ nở trắng rừng trắng cả không gian "trắng rừng", trắng cả thời gian "ngày xuân"
Không phải là một bông hoa mơ, một cây mơ mà nhất loạt cả rừng mơ bung nở hoa trắng để mênh mông khắp nứi rừng VB ngập tràn một sắc trắng tinh khôi, tinh khiết như cái man mác, dịu nhẹ, ngọt ngào của
Trang 32mùa xuân đầu tiên trên núi rừng VB, đồng thời là hình ảnh đáng nhớ, đầy vấn vương lưu luyến khi phải chia xa đất và người nơi đây
+ Ý nghĩa sắc màu: Màu trắng của hoa mơ khởi đầu cho một năm mới cũng như ao ước và khát vọng
đổi thay của nhân dân nơi đây Cuộc sống nô lệ sẽ thay bằng cuộc sống tràn ngập của hòa bình, tự do Ước muốn giản dị nhưng mãnh liệt như sắc trắng của hoa mơ, nhẹ nhàng nhưng không thể nhạt phai
|+ Liên hệ: Hình ảnh này khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào
trường ca Theo chân Bác gợi tả mùa xuân rất đặc trưng của Việt Bắc:
Ôi sáng xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ
Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi
+ Động từ “nở”: Là một động từ mạnh, diễn tả sức sống đang xôn xao, rạo rực, mãnh liệt của những cây
mơ rừng VB hay cũng chính là sức sống bất diệt của nhân dân nơi đây mỗi độ xuân về
Ý2: Hình ảnh con người:
Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thể không nhớ đến con người Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầm lặng mà cần mẫn tài hoa:
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
- Mùa xuân đáng nhớ:
+ Bình thường: Trong dân gian từ ngàn xưa cho đến nay luôn cho rằng mùa xuân là mùa của các lễ hội
thế nên mới có câu ca “tháng giêng là tháng ăn chơi” Điều này lại càng đúng hơn trên những vùng núi rừng chiến khu, nơi của các lễ hội như: Ném còn, hát lượn, hát si, lễ hội lồng tồng (xuống đồng)
+ Sự bất thường: Trong những năm tháng mùa xuân khi đất nước có chiến tranh, quê hương còn bóng
giặc thì dù mùa xuân nhưng nhân dân VB đã quên đi niềm vui riêng để miệt mài với, say mê với công việc, với cuộc kháng chiến: đan nón Chính sự bất thường này đã làm nên mùa xuân đáng nhớ nơi chiến khu
- Phẩm chất con người lao động: Hai chữ "chuốt từng" gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như
bao yêu thương đợi chờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón Câu thơ như
ca ngợi sự khéo léo và tài hoa của con người nơi đây, cũng như con người Việt Nam:
Tay người như có phép tiên Tranh tre nứa lá cũng dệt nghìn bài thơ
Cảnh thì mơ mộng, tình thì đượm nồng
- Tình cảm của con người: Hành động lao động vô cùng giản dị, bình thường ấy nhưng ẩn sâu bên trong
là những tình cảm thiêng liêng của người dân VB giành cho cán bộ và bộ đội Một chiếc mũ nan, một vành nón lá nhưng chứa đựng trong đó bao ân tình thắm thiết, mặn nồng Và bao chiến sĩ đã đội những chiếc mũ ấy để vượt qua mưa bom, bão đạn của cuộc chiến đấu, hơn thế nữa chiếc mũ ấy đã trở thành người bạn trên đoạn đường hành quân trùng điệp:
Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
=> Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy Tài tình như thế thật hiếm thấy
d Nỗi nhớ mùa hè Việt Bắc:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Ý1: Hình ảnh thiên nhiên:
- Nét đặc sắc trong bức tranh mùa hè : Nếu như trong bức tranh của hai mùa đông và xuân người đọc
chỉ được mãn nhãn với những đường nét và màu sắc thì đến bức tranh mùa hè tác giả đã đánh thức giác quan mới trong cảm nhận của người đọc Thính giác choàng tỉnh bởi âm thanh rộn rã, tưng bừng của tiếng
ve
- Âm thanh : Tiếng ve là âm thanh đặc trưng của mùa hè nơi núi rừng đại ngàn Tiếng ve cũng là dấu
hiệu báo mùa hè đến Nếu ai đã từng sống trên miền núi rừng sơn cước thì chắc hẳn không quên âm thanh rộn rã này Chỉ cần một chú ve đầu đàn tấu lên khúc nhạc là có một dàn hòa tấu độc hành của mùa hạ, không ngừng, không ngớt
Trang 33- Màu sắc : Động từ "đổ" là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè Chữ đổ
được dùng thật chính xác, tinh tế Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng ả thêm Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ
- Nghệ thuật ẩn dụ chuyến đổi cảm giác : Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu -
ấn tượng của thính giác đã đem lại ấn tượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây: Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo
Ý2: Hình ảnh con người:
- Nhân vật trung tâm của bức tranh: Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng,
lãng mạn: "Cô em gái hái măng một mình" nghe ngọt ngào thân thương trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả
một không gian đầy hương sắc Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng ấy còn được tô đậm ở hai chữ "một mình" nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến thương của tác giả Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa đầy ngọt ngào và vương vấn
- Công việc “hái măng”: Một việc tưởng như giản đơn nhưng lại tình nghĩa vô cùng bởi cô đang góp
công sức nhỏ bé của mình cho cuộc cách mạng Bàn tay thoăn thoắt hái măng kia chính là tình yêu giành cho bộ đội Lấy măng để nuôi quân vì đây là nguồn thực phẩm chính của quân dân ta
- Nghệ thuật sử dụng thanh điệu và điệp phụ âm đầu: Hai thanh trắc liên tiếp “gái-hái” và ba phụ âm
“m”: măng, một, mình liên tiếp xuất hiện khiến người đọc rơi vào một trạng thái đồng cảm cao độ cùng
với tác giả và nhân vật trữ tình ở đây Người đọc như tận mắt nhìn thấy cô em gái bé nhỏ đang đưa bàn tay nhanh thoăn thoắt hái những búp măng non, và bàn chân bước nhanh nhẹn hết vàn rừng này đến vàn rừng khác Không chỉ có vậy mà khi bàn chân đưa, bàn tay hái thì cô còn cất lên tiếng hát rộn ràng theo nhịp lao động.Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả
e Nỗi nhớ mùa thu Việt Bắc:
"Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyên trong thời điểm chia tay giã bạn Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa trăng lung linh huyền
ảo
Ý1: Hình ảnh thiên nhiên:
- Trăng thu:
+ Để miêu tả về mùa thu có lẽ mấy ai không chọn ánh trăng thu Bởi lẽ trong bốn mùa thì trăng mùa thu
trong nhất, sáng và êm dịu nhất Chính hình ảnh thơ này đã tạo cho bức trang thu một màu sắc cổ điển + Ánh trăng còn là một biểu tượng của hòa bình chiếu rọi khắp núi rừng bao la, khiến ta cảm nhận như ánh sáng của hòa bình mát dịu đang tràn ngập khắp chiến khu Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó
là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:
Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu
Ấy tin thắng trận liên khu báo về
Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát
- Rừng thu: Tố Hữu cũng không chọn cách diễn đạt mùa thu mà là rừng thu, với dụng ý nghệ thuật đã lộ
rõ khi miêu tả ánh trăng thu trong khu rừng đại ngàn, rừng già VB để tạo nên bức tranh mùa thu hoàn mĩ