1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG ôn tập SƠ CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

17 137 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 43,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Phân tích mqh giữa vật chất và ý thức? cho ví dụ? Đối với vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức tồn tại nhiều quan điểm đối lập nhau, chẳng hạn Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí của thượng đế”hoặc “ý niệm tuyệt đối” Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính của.

Trang 1

1 Phân tích mqh giữa vật chất và ý thức? cho ví dụ?

Đối với vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức tồn tại nhiều quan điểm đối lập nhau, chẳng hạn:

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí của thượng đế”hoặc “ý niệm tuyệt đối”…

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng…

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX từ những thành tựu của sự phát triển khoa học kĩ thuật, cùng với những phát minh mới trong khoa học tự nhiên con người

đã có những hiểu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn về thế giới tự nhiên Từ đó hình thành nên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà đại diện tiêu biểu là C.Mác, Ph Ăng ghen và sau đó là V.I Lênin

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph Ăng ghen, đồng thời tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên và xuất phát từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghiã duy tâm, V.I Lênin đã định nghĩa về vật chất như sau:

"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"

Qua đó, Lênin cho rằng:

- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được;

- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người;

- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất Vật chất mới là cái quyết định ý thức

Để làm sáng tỏ thêm về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa

duy vật biện chứng cũng chứng minh rằng bản chất của ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo;

ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Theo Các Mác ý thức

“chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”.

Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực Ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội trong đó thông qua quá trình lao động và sự xuất hiện của ngôn ngữ làm cho ý thức không còn là quá trình thu nhận thụ động mà là kết quả hoạt động chủ động của con người, qua đó ý thức mang tính sáng tạo

Như vậy, thông qua việc chứng minh về nguồn gốc, bản chất của vật chất

và ý thức chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định trong mối quan hệ giữa

Trang 2

vật chất và ý thức thì: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của

ý thức, quyết định sự hình thành của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người bởi lẽ ý thức cũng mang tính độc lập tương đối của nó, đồng thời sự phản ánh của ý thức đối với vật chất

là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động, máy móc vì vậy, con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình

Ví dụ về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

- Trong công nghiệp hàng không, thông qua quá trình nghiên cứu về khả năng bay lượn của loài chim, con người đã phát hiện ra được những nguyên lí của khí động học, qua đó họ đã sáng chế ra chiếc máy bay có thể bay đầu tiên vào ngày 17/12/1903 mang tên Flyer I và trải qua tiến trình lịch sử, thông qua những lần thử nghiệm cùng những nghiên cứu mới dần dần đã phát triển nên nền công nghiệp hàng không ngày nay với những chiếc máy bay to lớn, không ngừng được cải tiến, hiện đại và an toàn

- Trong quân sự, từ sự quan sát tính sát thương của móng vuốt động vật ăn thịt người nguyên thủy đã sáng chế ra những bộ cung tên đầu tiên để săn bắn thú đến những bộ cung tên có gắn lửa ở đầu mũi tên để tấn công vào thành trì hoặc doanh trại đối phương dần dần đã thay đổi, phát triển cùng với sự phát triên của khoa học kĩ thuật và khoa học công nghệ để có được những chiếc tên lửa hành trình hiện đại ngày nay như Tomahawk hoặc Brahmos với tính năng ưu việt có thể bay xa hàng nghìn cây số và có thể tự tìm mục tiêu cũng như tránh được hệ thống ra đa của đối phương

Hai ví dụ trên đây là minh chứng cho thấy mối quan hệ giữa vật chất và

ý thức Cụ thể, thông qua quá trình quan sát chim bay hoặc tác dụng, tính sát thương của móng vuốt động vật rồi đến cung tên Những hình ảnh khách quan này đã tác động trực tiếp đến não bộ của con người đưa đến việc hình thành ý thức một cách sáng tạo và từ ý thức sáng tạo đó đã tác động trở lại thế giới vật chất thông qua lao động, cải tiến hoặc có những phát minh mới Hơn nữa cũng thông qua quá trình này, não bộ con người dần dần cũng được cải biến, con người ngày càng trở nên thông minh hơn

Trang 3

Câu 2 Đ/C hãy phân tích các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội (tại đại hội XI)? Theo đ/c công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đang ở giai đoạn nào?

Vì sao?

Đại hội Đảng lần thứ XI (từ 12-19/1/2011) là kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là sự tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới để tiếp tục phát triển đất nước toàn diện và bền vững trong giai đoạn cách mạng mới

Sự phát triển quan điểm của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội trong văn kiện Đại hội XI thể hiện rõ ở 8 đặc trưng cơ bản có thể tóm tắt như sau:

1 Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

2 Do nhân dân lao động làm chủ;

3 Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

4 Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

5 Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

6 Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng

và giúp đỡ nhau cùng phát triển;

7 Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

8 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Những đặc trưng cơ bản của mô hình CNXH được đề ra trong văn kiện Đại hội XI (cương lĩnh 2011) chính là sự kế thừa, bổ sung và phát triển của những cương lĩnh tại các kì đại hội trước đó, tập trung chủ yếu ở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 (Đại hội VII) và Cương lĩnh 2006 (Đại hội X)

Những đặc trưng đó vừa thể hiện tính phổ biến theo học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, vừa thể hiện tính đặc thù dân tộc, có tính đến những đặc điểm của thời đại; có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Những đặc trưng này là những đặc trưng bản chất để nhận biết về chủ nghĩa xã hội và là những nét phác thảo cơ bản vê mô hình chủ nghĩa nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Từ những đặc trưng trên có thể thấy nhận thức mới của Đảng ta về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã thể hiện những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, Cương lĩnh 2011 đã bổ sung hai đặc trưng mới: (1) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và (2) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo Như vậy việc xác định vai trò làm chủ của xã hội xã hội chủ nghĩa là nhân

dân lao động Nhân dân lao động không chỉ có vị thế mà còn có năng lực để làm chủ xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, quần chúng nhân dân lao động được giải phóng và có điều kiện phát triển toàn diện Đối với đặc trưng đầu tiên này, so

với Cương lĩnh 2006 đã chuyển từ “dân chủ” lên trước “công bằng” trong đặc

Trang 4

trưng tổng quát, bởi vì, cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ, dân chủ là điều kiện, tiền đề của công bằng, văn minh Việc thực hiện đầy đủ những nội dung của đặc trưng này là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Bên cạnh đó việc bổ sung đặc trưng ''có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản'' thể hiện vị trí đặc biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa trong hệ thống chính trị của Việt Nam Nhà nước ấy thuộc về nhân dân, do nhân dân xây dựng nên và hướng tới phục vụ lợi ích của nhân dân, là cơ quan quyền lực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Mục tiêu căn bản của công cuộc đổi mới nói chung, của đổi mới chính trị và đổi mới hệ thống chính

trị nói riêng ở nước ta chính là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Thứ hai, lực lượng sản xuất phát triển cao là điều kiện, tiền đề để tăng

năng suất lao động, tạo cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên, để nhân dân lao động được hưởng những thành quả do sức lao động của mình đòi hỏi phải thực hiện chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu Bởi vì, đó là điều kiện để thực hiện những lợi ích kinh tế cơ bản Chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu là bản chất kinh tế của chủ nghĩa xã hội, là cơ sở bảo đảm cho nhân dân lao động làm chủ về kinh tế Ở đặc trưng này Đại hội XI đã sửa đổi, bổ sung và bỏ một số cụm từ chưa thích hợp tại văn kiện Đại hội X nhằm mở rộng nội hàm và cụ thể hóa hơn so với đặc trưng ở đại hội trước đó Điều này cho phép thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động sức mạnh của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, khi xác định xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đặt con người vào trung tâm của

sự phát triển Vì về bản chất, văn hóa là những hoạt động sáng tạo của con người hướng tới những giá trị nhân văn, nhân bản, là khát vọng hướng tới cái Chân, Thiện, Mỹ nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Nói tới văn hóa là nói tới con người, do vậy phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển chính là phát huy những năng lực, bản chất của con người Đó là cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển bền vững của đất nước

Thứ tư, cụm từ ''được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công” trong

đặc trưng thứ tư của Cương lĩnh 1991 (cụm từ “được giải phóng khỏi áp bức, bất công” ở đặc trưng thứ 5 của mô hình chủ nghĩa xã hội nêu trong Văn kiện Đại hội X) được Cương lĩnh 2011 lược bỏ và xác định là ''Con người có cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” Việc bổ sung cụm từ ''có điều kiện” là chính xác thể hiện trong chủ nghĩa xã hội sự phát triển của con người luôn được tạo điều kiện, đồng thời phải căn cứ vào trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

Thứ năm, Đảng ta coi xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, vì chỉ có đoàn kết chúng ta mới tập trung được con người với sức mạnh trí tuệ, sức sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, nhân cách cao đẹp,… vào quá trình phát triển đất nước

Trang 5

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính

và nguồn lực vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội còn hạn hẹp, trong khi đó nguồn lực con người Việt Nam lại vô cùng phong phú, nếu biết phát huy nó sẽ trở thành nguồn lực to lớn cho sự phát triển bền vững Đảng ta coi đoàn kết là chiến lược cách mạng vì mục tiêu chung của dân tộc chứ không nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng một giai cấp, tầng lớp nào Vì vậy, xây dựng khối đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị

Thứ sáu, đặc trưng về hợp tác quốc tế, Cương lĩnh 1991 xác định: “Có

quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới” Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) đã mở rộng thành “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” Như vậy, so với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) không dùng cụm từ nhân dân tất cả các nước mà dùng cụm từ các nước Đây là sự phát triển tư duy mới của Đảng về đối ngoại, phát huy truyền thống hòa hiếu, nhân ái, hữu nghị, hợp tác văn minh của nền ngoại giao Việt Nam Đảng ta dùng cụm từ các nước ở đây đã bao hàm

cả Nhà nước và nhân dân các nước trong đó, đồng thời là để chỉ các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, có điểm xuất phát về kinh tế, chính trị, xã hội không giống nhau, thậm chí mục tiêu tiến lên khác nhau nhưng vẫn có thể tìm thấy những tiếng nói chung trên nhiều vấn đề mà mỗi nước quan tâm, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, khai thác tốt nhất những yếu tố quốc tế thuận lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, khai thác tốt nhất những yếu tố quốc tế thuận lợi phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, chỉ rõ quan hệ ngoại giao của nước ta không chỉ là hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước mà còn bao gồm cả ngoại giao nhân dân, các đoàn thể, các hội, các doanh nghiệp với các đối tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, có thể khẳng định rằng, mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta được xác định ngày càng rõ hơn và ngày càng được hiện thực hóa trong cuộc sống Có thể thấy rằng, sự nhận thức về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là một quá trình, vừa là sự phản ánh, tổng kết kinh nghiệm vừa là quá trình vươn lên định hướng cho thực tiễn đổi mới Từ những phác thảo đầu tiên được thể hiện trong Cương lĩnh năm 1991, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu xây dựng gồm 6 đặc trưng Qua quá trình bổ sung, phát triển từ Đại hội VIII đến đại hội XI của Đảng, đặc biệt Đại hội X đã bổ sung vào mô hình chủ nghĩa xã hội thêm hai đặc trưng mới Đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với tám đặc trưng với một số nhận thức mới hơn so với tám đặc trưng ở Đại hội X đã đề ra

Theo đ/c công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đang ở giai đoạn nào? Vì sao?

Theo tôi, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đang ở thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của TBCN điều này đã được chỉ rõ trong các văn kiện đại hội Đảng trước đây Bởi lẽ toàn thế giới đã bước vào thời

Trang 6

kì quá độ từ CNTB lên CNXH Thực tiễn đã khẳng định CNTB hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp với lịch sử phát triển của xã hội loài người, sớm hay muộn cũng bị thay thế bởi một xã hội tốt hơn, ưu việt hơn đó là XHCN Cho dù hiện nay, CNTB vẫn đang có những thay đổi để thích nghi với tình hình mới nhưng vẫn không tránh khỏi bộc lộ những mâu thuẫn, đặc biệt là sự cách biệt về giàu nghèo, sự bất công về xã hội…Do vậy, qua tổng kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam nhằm xây dựng thành công XHCN mà giai đoạn đầu tiên chính là thời kì quá độ lên CNXH đó là sự lựa chọn mang tính lịch sử phù hợp với điều kiện đất nước và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân

Trang 7

Câu 3 Đ/C hãy phân tích các phương hướng đi lên CNXH ở nước ta (ĐH XI)?

Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) So với Cương lĩnh năm 1991 và Nghị quyết Đại hội

X, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã hoàn chỉnh và sắp xếp lại thứ tự các phương hướng cơ bản như sau:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

Phương hướng đầu tiên này đã nhìn nhận công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề cơ bản của việc phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Xem xét công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách toàn diện hơn: công nghiệp hóa gắn hiện đại hóa; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức, tức là phù hợp xu thế phát triển của nhân loại; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bảo vệ tài nguyên, môi trường

là phù hợp thực tế Việt Nam và kinh nghiệm của các nước đi trước đã thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là phù hợp thực tế Việt Nam

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ thực hiện nhất quán, lâu dài mô hình kinh tế này Những đặc trưng cơ bản của

mô hình kinh tế này đã được nêu ra và về đại thể là được chấp nhận trong toàn Đảng Đặc biệt, tại Đại hội XII của Đảng, những đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được nhận thức đầy đủ, đúng đắn, phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại hơn

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Nhận thức toàn diện hơn về xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như mối liên hệ giữa xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Tư duy lý luận về vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững được khẳng định, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa

là mục tiêu và động lực của phát triển Xây dựng và phát triển văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh của phát triển bền vững; làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là văn hóa nhân cách, văn hóa trong kinh tế, văn hóa trong chính trị; tư duy bước đầu về xây dựng hệ giá trị, chuẩn mực của văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế; đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu chính trị

Thực tiễn thực hiện phương hướng này cho thấy chúng ta đã nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ với tư cách

là quốc sách hàng đầu Đã gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công

Trang 8

bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển Chế độ phân phối

đã thể hiện được tinh thần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của Đảng

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội

Phương hướng này cho thấy tầm quan trọng của việc gắn kết nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quốc gia với nhiệm vụ giữ vững chế độ, bảo vệ Đảng, giữ vững

an toàn, trật tự xã hội, văn hóa cũng như gắn kết phương hướng bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia với với yêu cầu giữ vững an toàn, trật tự xã hội, bảo đảm cuộc sống của nhân dân Trên thực tế, phương hướng bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội luôn gắn với nhiệm vụ đối ngoại Nhận thức mềm dẻo, linh hoạt phù hợp thực tiễn về “đối tác” và “đối tượng” trong quốc phòng, an ninh được thay thế cho nhận thức cũ, cứng nhắc Gắn xây dựng đường lối quốc phòng, an ninh nhân dân với kiên quyết, kiên trì giữa vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết trong đối ngoại Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã được kiên trì, kiên định trong qúa trình thực hiện Cương lĩnh Từ “sẵn sàng là bạn” “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” chúng

ta đã chuyển thành công sang phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy,

là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” và “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” tức là công tác đối ngoại ngày càng toàn diện hơn “Đối ngoại nhân dân” đã được thay bằng “Ngoại giao nhân dân” Chúng ta luôn giữ vững nguyên tắc chiến lược, mềm dẻo trong sách lược bằng những biện pháp, hình thức linh hoạt, sáng tạo, tranh thủ điểm tương đồng, hạn chế bất đồng, giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất

Phương hướng này coi dân chủ xã hội chủ nghĩa như một phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội Gắn xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa với thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất Đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng trên cơ sở “cộng đồng Việt Nam” rộng hơn trước kia trên cơ sở các “dân tộc trong nước” Lấy điểm tương đồng

về mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

So với Cương lĩnh 1991, lần đầu tiên tính chất pháp quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong phương hướng xây dựng nhà nước ở Việt Nam Coi xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tất cả các mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp và xây dựng đội ngũ công chức là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trang 9

Khẳng định và kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn của cả dân tộc Cùng với xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức thì Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức Những luận điểm này phù hợp thực tiễn Việt Nam và được thực tiễn chứng minh là đúng đắn

Trang 10

Câu 4 Đ/C hãy cho biết ĐCS VN lãnh đạo thực hiện đẩy mạnh CNHHĐH, đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn hiện nay ntn?

Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời

kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”, với mục tiêu: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Công cuộc đổi mới đã tạo ra những tiền để mới, con đường, cách thức mới cho quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam Có thể khái quát những nhận thức mới của Đảng ta về tiền đề, về con đường công nghiệp hóa mới là:

- Công nghiệp hóa dựa vào nội lực là chính, trên cơ sở cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; giải phóng tối đa sức sản xuất, thực hiện Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân ‘dân, vì nhân dân

- Công nghiệp hóa gắn với thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan

hệ quốc tế, chủ động hội nhập với thế giới, tranh thủ mọi khả năng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa

- Công nghiệp hóa nhằm tăng trưởng và phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững; đồng thời tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững nền kinh

tế lại là điều kiện, là cơ sở để đẩy mạnh công nghiệp hóa Công nghiệp hóa dựa trên những ngành, những lĩnh vực có lợi thế, có điều kiện để ưu tiên đầu tư phát triển chứ không nhất thiết phải ưu tiên cho công nghiệp nặng , như trước đây

- Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các ngành, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế; của cả thành thị và nông thôn, của trung ương và địa phương

- Kết hợp vốn trong nước với vốn từ bên ngoài cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển giao công nghệ, tiếp nhận công nghệ hiện đại qua con đường thương mại và đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Đặc điểm của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như sau:

Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại

hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

Ngày đăng: 22/07/2022, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w