Đề tài: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA THEN CỦA DÂN TỘC TÀY – NÙNG HIỆN NAY. I – MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài. 1. Tình hình nghiên cứu đề tài. 2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài. Mục đích. Nhiệm vụ. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu. 6. Đóng góp mới của đề tài. 7. Ý nghĩa của đề tài. Về mặt lý luận. Về mặt thực tiễn. 8. Kết cấu. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương, 8tiết II. NỘI DUNG. Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng ở nước ta hiện nay. 1.1 . Khái niệm văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng. 1.2 . Nguồn gốc, nội dung và giá trị của văn hóa Then dân tộc Tày Nùng. 1.3 . Những nội dung cơ bản của bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng ở nước ta hiện nay. Chương 2 . Cơ sở thực tiễn 2.1 . Thực trạng và nguyên nhân của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc vùng núi Phía Bắc và văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng. 2.3 Tính tất yếu phải bảo tồn , phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng. Chương 3. Các giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng. 3.1 . Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ,ban ngành liên quan trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong Then của dân tộc Tày Nùng. 3.2 . Khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân , tạo môi trường sinh hoạt thuận lợi cho văn hóa Then của dân tộc Tày Nùng phát huy giá trị. 3.3 . Tôn vinh nghệ nhân, người có công, tâm huyết lưu giữ. Tăng cường giáo dục cho thế hệ trẻ biết hát Then, đàn Tính là việc làm cấp thiết để bảo tồn và phát huy giá trị “báu vật” này của người Tày Nùng. III. KẾT LUẬN. IV. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO. (chi tiết tải về...)
Trang 1đã dành cho em sự quan tâm chu đáo, sự hướng dẫn tận tình và những chỉ bảo quý báu trong quá trình làm khóa luận.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Nghệ nhân Nông Trọng Quyết (Then Quyết – huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn), em La Thị Ánh (Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Kạn), các bạn trong câu lạc bộ hát Then – Đàn Tính Hà Nội
và các cụ cao niên đang sinh sống tại xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu, thu thập tài liệu về Then.
Với khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, thời gian có hạn và kiếm thức còn hạn chế nhưng bằng sự nỗ lực hết mình, cùng với sự ủng hộ giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, bạn bè, người thân và gia đình, em đã hoàn thành khóa luận đúng thời hạn Song không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên
La Văn Thuận
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của đề tài 6
7 Ý nghĩa của đề tài 6
8 Kết cấu 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA THEN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở TỈNH BẮC KẠN HIỆN NAY 8
1.1.Khái niệm văn hóa Then của dân tộc Tày 8
1.2.Nguồn gốc, nội dung và giá trị của văn hóa Then dân tộc Tày 14
1.3.Những nội dung cơ bản của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày hiện nay 52
Tiểu kết chương 1 56
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA THEN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở BẮC KẠN HIỆN NAY 59
2.1 Thực trạng và nguyên nhân của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn 59
2.2 Tính tất yếu phải bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn 66
Tiểu kết chương 2 70
Trang 3Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
VĂN HÓA THEN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở BẮC KẠN HIỆN NAY 72
3.1 Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, ban nghành liên quan trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong Then của dân tộc Tày 72
3.2 Khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, tạo môi trường sinh hoạt thuận lợi cho văn hóa Then của dân tộc Tày phát huy giá trị 76
3.3 Tôn vinh nghệ nhân, người có công, tâm huyết lưu giữ Tăng cường giáo dục cho thế hệ trẻ biết hát Then, đàn Tính là việc làm cấp thiết để bảo tồn và phát huy giá trị “báu vật” này của người Tày 80
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc mộtsắc thái riêng, cho nên văn hóa Việt Nam là một thực thể thống nhất trong sự đadạng Ngoài văn hóa Việt-Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hóađặc sắc khác như Tày-Nùng, Thái, Chàm, Hoa-Ngái, Môn-Khmer, H’Mông-Dao…đặc biệt văn hóa Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phíaBắc vẫn giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một cộngđồng người gắn bó với rừng núi tự nhiên
Từ bao đời nay, các dân tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đã sáng tạo
ra một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian rất đặc sắc và có sức lan tỏa lớn, đó làThen Then vừa là một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tâm linh, vừa là mộtloại hình âm nhạc dân gian mà nội dung của nó phản ánh mọi khía cạnh của đờisống, từ niềm vui nỗi buồn đến những ước vọng, hoài bão nhằm hướng tới nhữngđiều bình an, tốt đẹp cho cuộc sống
Hát Then là một loại hình diễn xướng tiêu biểu mang đậm bản sắc vănhóa của dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc, đặc biệt là văn hóaThencủa người Tày tỉnh Bắc Kạn
Văn hóa Then của người Tày ở Bắc Kạn vừa mang những nét tương đồngvới văn hóa Then ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái…lạivừa có những nét riêng mang đặc trưng vùng miền Then gắn với đời sống tâmlinh và tín ngưỡng của người Tày, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của cộngđồng người Tày
Hát Then, đàn Tính là linh hồn cho các lễ nghi, hội hè như: Then giải hạn,
Then khai rượi, Then kỳ yên, Then cứu bệnh, Cầu mát, Lẩu pụt (Then lẩu), Then
thượng thọ, Then hợp hôn…"Then" theo tiếng đồng bào dân tộc Tày - Nùng làThiên tức là Trời, vì thế hiểu theo ngôn ngữ dân tộc thì điệu hát Then được coi
Trang 5là điệu hát thần tiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng thuậtlại một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điều gì đó.
Hát Then gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần và tâm linh của đồng bàodân tộc bởi nó xuất phát từ tín ngưỡng về một thế giới thần bí, nơi có nhữngnhân vật và sức mạnh diệu kỳ như: Bụt, Giàng, Trời Chỉ có những ông Then,
bà Then mới có đủ sức mạnh và bản lĩnh cũng như khả năng đến được thế giới
đó Khi những ông Then, bà Then này dâng lên Mường Trời những sản vật củacon người thì họ hát Lúc đầu hát Then chỉ có một người, tay đệm đàn, miệnghát, chân xóc nhạc Chính lời hát bài hát Then, hòa trong nhịp đàn tính dìu dặt,cùng tiếng đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc sẽ đưa ông Then, bà Then đếnvới Mường Trời Do vậy, người hát Then trong dịp lễ, tết là những người đạidiện cho cộng đồng, cho người dân giao tiếp với thần linh để cầu xin mùa màngbội thu, tươi tốt, đời sống ấm no, hạnh phúc
Trong điều kiện hiện nay, do tác động của cơ chế thị trường và quá trìnhhội nhập, một số nét bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc như: trangphục, nếp sống văn hoá - văn nghệ dân gian, phong tục tập quán đang dần bị maimột Trong khi đó, văn hoá truyền thống của các dân tộc chưa được kiểm kê,đánh giá đầy đủ; Công tác bảo tồn, trùng tu, quản lý và phát huy giá trị văn hoátruyền thống chưa được quan tâm đúng mức; Cơ sở vật chất và phương tiệnphục vụ hoạt động văn hoá cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cònthiếu thốn; Việc thể chế hoá các văn bản quản lý, một số cơ chế chính sách tronglĩnh vực văn hoá còn nhiều bất cập; Lực lượng cán bộ làm công tác sáng tác,nghiên cứu khoa học còn thiếu; Mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân các dântộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp…Hiện nay, Then của dân tộc Tày ởBắc Kạn đang được sở văn hóa tỉnh đầu tư nghiên cứu phục dựng, tuy nhiên vẫncòn nhiều hạn chế, nguyên nhân một phần là bởi nghệ nhân biết làn điệu Then
cổ không còn nhiều, trong khi đó giới trẻ cũng không mặn mà với Then, dẫn đếnmột thực trạng là những làn điệu trong văn hóa Then của đồng bào Tày tỉnh Bắc
Trang 6Kạn đang dần bị pha tạp, mai một và thậm chí là đứng trên nguy cơ bị thấttruyền.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa Then của dân tộc Tày ở Bắc
Kạn và thực trạng bảo tồn văn hóa Then, em chọn đề tài: Vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
Nhằm làm rõ những giá trị của văn hóa Then của người Tày tỉnh Bắc Kạn, từ đónêu ra vấn đề bức thiết cần phải bảo tồn và phát huy những giá trị đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa
Then của dân tộc Tày, Nùng như: Cuốn “Lời hát Then” của nhà sưu tầm
Dương Kim Bội do Sở Văn Hóa Thông Tin Việt Bắc xuất bản năm 1975 đãgiới thiệu tương đối đầy đủ về hát Then: nguồn gốc, mối quan hệ của Thenvới Mo, Tào, chức năng lề lối hát Then và những nhận xét về văn bản Then.Cuốn sách giới thiệu nguyên văn lời hát Then bằng tiếng Tày được sưu tầm ởvùng Thất Khê – Tràng Định – Lạng Sơn theo phiên âm chữ Quốc ngữ vàlược dịch một số đoạn ra tiếng Việt
Bài “Bước đầu tìm hiểu những yếu tố hiện thực sinh hoạt và tín ngưỡng, nghi lễ trong quá trình hình thành Then” của tác giả Lê Chí Quế in trong tạp chí
Văn học số 4 xuất bản năm 1976 đã phân tích những yếu tố hiện thực sinh hoạt
và tín ngưỡng trong nội dung lời ca và nghệ thuật diễn xướng Then, cùng với vaitrò trong đời sống tinh thần của người Tày, Nùng
Cuốn “mấy vấn đề về Then Việt Bắc” được nhà xuất bản văn hóa dân tộcxuất bản năm 1978 là kết quả của “Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm, nghiên cứu
về Then” tháng 12/1975 được tổ chức tại Sở Văn Hóa Thông Tin khu tự trị ViệtBắc Cuốn sách tập hợp những báo cáo, tham luận, nghiên cứu về Then của cácnhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu tổnghợp về Then, một loại hình diễn xướng dân gian phổ biến ở các tỉnh phía ĐôngBắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang) Cuốn sách đã đề
Trang 7cập tới nhiều vấn đề của Then như nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật, giá trị vănhóa cũng như vai trò của Then trong đời sống các dân tộc Việt Bắc.
Nhìn chung hơn nửa thế kỷ qua, Then Tày đã được nhiều học giả quantâm nghiên cứu
Nếu xem xét từ góc độ mục đích: Những nghiên cứu về Then Tày có thểđược chia thành hai mảng chính:
- Nghiên cứu Then Tày để tìm hiểu các giá trị nghệ thuật dân gian
- Nghiên cứu Then Tày để hiểu biết về tín ngưỡng
* Nghiên cứu Then tìm hiểu các giá trị nghệ thuật dân gian
Xu hướng này xuất hiện rất sớm từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XX
Các công trình thuộc mảng nghiên cứu này bao gồm: Lời hát Then (1978); Những yếu tố dân ca - ca dao trong lời Then (Tày, Nùng) của tác giả Dương Kim Bội (Tạp chí dân tộc học, số 2/1978, tr 14 – 21); Âm nhạc Tày của Hoàng Tuấn (NXB Văn hóa dân tộc, H, 1993); Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày -Nùng của Nông Thị Nhình (NXB Văn hóa dân tộc, H, 2000); Then Tày của Nguyễn Thị Yên (NXB Văn hóa dân tộc, H, 2000); Nghi lễ then giải hạn (hắt khoăn) của người Tày (2004) của tác giả Nguyễn Thị Hoa; Một số vấn đề về Then Việt Bắc (1978) của nhiều tác giả v.v đã có những nhận
xét đánh giá về giá trị tinh thần, giá trị nghệ thuật của lời hát Then, múa Then
Những công trình nghiên cứu Then Tày theo xu hướng này đều khẳngđịnh Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp bao gồm: Lời hát, âm nhạc, múa
và trang trí Then Những nghiên cứu theo hướng này giúp hiểu sâu hơn về nghệthuật Then; đồng thời giúp lý giải được tầm quan trọng của Then trong đời sốngtâm linh của các dân tộc Tày, Nùng
* Xu hướng nghiên cứu Then để hiểu biết về tín ngưỡng
Xu hướng nghiên cứu này xuất hiện có phần muộn hơn so với xu hướngtrên Bắt nguồn của xu hướng nghiên cứu này gắn liền với chủ trương đổi mới
tư duy trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, văn hóa Các nghiên
cứu thuộc dạng này bao gồm: Hát Then một hình thức âm nhạc, lễ nghi của
Trang 8đồng bào Tày, Nùng Việt Bắc của Nguyễn Hữu Thu (Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 2/1994); Những người diễn xướng Then: nghệ thuật hát dân ca và thầy Shaman của tác giả Nguyễn Thị Hiền (Tạp chí văn hóa số 5/200, tr 74 - 83); Then của người Tày, Nùng với tín ngưỡng văn hóa dân gian của Hà Đình Thành (Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 5/2000, tr 35- 39); Khảo sát đối tượng thờ cúng trong Then của Nguyễn Thị Yên (Thông báo văn hóa dân gian, 2001, NXB ĐHQG, H, tr 1013 - 1030); Then - một hình thức Shaman của dân tộc Tày ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (Tạp chí văn hóa dân gian số 3/2002); Shaman giáo trong Then của người Tày của Nguyễn Thị Yên (Tạp chí Nguồn
sáng, số 1/2004, tr 3 – 140)
Các nghiên cứu trên đều tiếp cận Then từ góc độ văn hóa Chúng cho tathấy một bức tranh khái quát về Then, ở khía cạnh tín ngưỡng, và chúng gópphần nhận thức đúng hơn về bản chất của Then Then là một loại hình văn nghệdân gian, đồng thời cũng là một hoạt động shaman giáo Then ở đây được sửdụng như một công cụ chủ chốt để hành nghề tín ngưỡng
Bên cạnh đó công tác sưu tầm cũng đã có một số bài viết trong các tạp chí
như: Tình hình văn bản và một số suy nghĩ về bài ca “Khảm Hải” của Vi Hồng (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 3 năm 1992), “Then bách điểu” của Phương
Bằng(Tạp chí Dân tộc học số 4 năm 1990)…là những bài viết được tác giả sưutầm khá công phu về lời ca của các bài Then và phân tích nội dung cơ bản củacác bài Then đó
Như vậy, với tư cách là loại hình diễn xướng văn hóa dân gian từ lâuThen đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu Nhiều văn bản Then đãđược sưu tầm và công bố, vốn tư liệu đó đã thực sự trở thành tài sản văn hóa dântộc có giá trị và rất hữu ích cho công tác nghiên cứu văn hóa dân gian các dântộc thiểu số
Những công trình nghiên cứu nêu trên phần lớn tập trung chú ý khai thácphương thức diễn xướng, nghệ thuật biểu diễn, chức năng nghi lễ của hát Thennhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về các giá trị văn hóa trong Then và
Trang 9vấn đề bảo tồn phát huy giá trị văn hóaThen của đồng bào dân tộc Tày tỉnh BắcKạn trước thực trạng văn hóa Then đang ngày càng mai một hiện nay.
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về văn hóa dân tộcTày nói chung, văn hóa Then nói riêng đề ra những giải pháp cụ thể nhằm bảotồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn trước ảnhhưởng của những nền văn hóa du nhập hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của văn hóa Then dân tộc Tày
- Phân tích thực trạng bảo tồn, gìn giữ văn hóa Then của dân tộc Tày ởBắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa Then của dân tộc Tày ở Bắc Kạn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: văn hóa Then của dân tộcTày ở tỉnh Bắc Kạn
5 Phương pháp nghiên cứu
Duy vật biện chứng, phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, thống kê xãhội trong đó phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê xã hội
là chủ đạo, bên cạnh đó em cũng sử dụng kết hợp thêm phương pháp điền dã
6 Đóng góp mới của đề tài
Qua đề tài này, sẽ làm rõ giá trị nhân văn trong văn hóa Then của đồngbào dân tộc Tày, đồng thời nêu ra thực trạng bảo tồn, gìn giữ những giá trị vănhóa Then của đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Kạn hiện nay Từ đó sẽ nêu ra nhữnggiải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị trong văn hóa dân tộcTày nói chung và văn hóa Then nói riêng
7 Ý nghĩa của đề tài
Trang 10Đề tài: “Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của dân tộc Tày
ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay” mang ý nghĩa:
Về mặt lý luận: Hát Then là nét văn hóa độc đáo có ý nghĩa quan trọngtrong đời sống tinh thần của đồng bào Tày Các bài hát Then thường là để gọihồn vía, cầu sức khỏe, chữa bệnh, đuổi tà ma…nhưng chủ yếu được diễn xướng
có ca hát, âm nhạc, nhảy múa trước bàn thờ Then nên có nhiều người gọi là nghi
lễ Then Tày Đây là một loại hình văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của dân tộc Tày,thường có mặt trong các nghi lễ cầu mùa, cấp sắc Thông qua đề tài sẽ làm rõhơn giá trị ẩn sâu trong văn hóa Then của đồng bào Tày
Về mặt thực tiễn: đề tài sẽ góp phần nêu ra thực trạng và giải pháp nhằmbảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Then của đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Kạn
8 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Đề tài kết cấu thành 3chương 8 tiết
Trang 11
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA THEN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở TỈNH BẮC KẠN HIỆN NAY.
1.1 Khái niệm văn hóa Then của dân tộc Tày
Tày là tên gọi đã có từ lâu đời để chỉ chung nhiều dân tộc thuộc nhóm
Thái - Choang ở Trung Quốc và Đông Nam Á Theo các nhà dân tộc học thì têngọi này có từ cuối thiên niên kỉ thứ I sau công nguyên
Ở Việt Nam, người Tày là cư dân bản địa cư trú chủ yếu ở vùng Việt Bắc.
Những cứ liệu lịch sử cho thấy tổ tiên của người Tày thuộc nhóm Âu Việt (TâyÂu) trong khối Bách Việt, ngay từ thiên niên kỉ cuối cùng trước công nguyên làchủ nhân trên vùng đất rộng lớn từ miền Nam Trung Quốc kéo dài xuống toàn
bộ phía đông bắc Việt Nam Âu Việt liên minh với Lạc Việt tạo nên vương quốc
Âu Lạc, đây là mô hình nhà nước đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào cuối thế kỉthứ III trước công nguyên mà thủ lĩnh người Tày cổ là Thục Phán An DươngVương [16; 3] Đồng thời truyền thuyết của người Tày, Nùng (được coi như dãsử) Cẩu Chùa Cheng Vùa được Lã Văn Lô[15] công bố năm 1963 cũng cho thấynhiều tình tiết gần gũi với cổ sử Việt Nam Điều này chứng minh địa bàn ngườiTày cổ giai đoạn này đã mở rộng xuống vùng Kinh Bắc, nhiều nhóm Âu Việtcùng hòa nhập vào nhóm Lạc Việt làm cơ sở hình thành tộc Việt hiện đại
Các nhà nghiên cứu cũng đã dự đoán rằng trong lịch sử xa xưa đã từng cómột bộ phận người Tày cổ ở miền thượng du Bắc Bộ hòa đồng vào cộng đồngngười tiền Việt, còn một bộ phận người Tày cổ ở miền núi phía bắc đã trở thànhngười Tày hiện nay
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía bắc giáptỉnh Cao Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh TháiNguyên và phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang Bắc Kạn là nơi cư trú của nhiều dân
Trang 12tộc khác nhau như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa…trong đó người Tày có sốlượng lớn hơn cả, chiếm khoảng 54% dân số toàn tỉnh.
Khi bàn về lịch sử dân tộc Tày ở Bắc Kạn, trong cuốn “Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn” các nhà nghiên cứu Hà Văn Viễn,
Lương Văn Bảo, Lâm Xuân Đình, Triệu Kim Văn, Bàn Tuấn Năng, TS PhạmThị Uyên, Hoàng Thị Lan đã cho rằng: vào khoảng nửa cuối thế kỉ III trướccông nguyên đã có một bộ phận của khối Nguyên Tày – Thái ở Bắc Việt Namtiến xuống vùng châu thổ sông Hồng cùng một số tộc người khác sáng tạo ranền văn minh Việt cổ thời đại Hùng Vương Trong điều kiện đó họ đã chuyểnhóa thành người Lạc Việt, chủ nhân của nước Văn Lang Trong khi đó các bộlạc Tày cổ ở miền núi Việt Bắc vẫn phát triển theo truyền thống của mình, lịch
sử gọi là người Âu Việt hay Tây Âu, tổ tiên trực tiếp của các dân tộc Tày –Nùng, Choang hiện nay
Trong cuốn “Văn hóa Tày – Nùng”, các tác giả Lã Văn Lô – Hà Văn Thư,
đã thống kê vai trò và hoạt động của người Tày, Nùng trong tiến trình lịch sửViệt Nam Theo đó, từ những năm 40 đầu công nguyên, các tộc người Tày,Nùng đã tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng Đến thế kỉ thứ VI, Lý Bí khởi nghĩalật đổ ách thống trị của nhà Lương, lập nên nước Vạn Xuân Vào thế kỉ thứ VIII,Phùng Hưng khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đường, đều được ngườiLạo giúp đỡ giành thắng lợi Thế kỉ thứ XI, Lý Thường Kiệt đã huy động tới
5000 quân thuộc các dân tộc Tày, Nùng Trong cuộc kháng chiến chống quânMông – Nguyên thế kỉ thứ XIII nhân dân các dân tộc Tày, Nùng cũng đã gópphần không nhỏ vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
Tổng kết những nghiên cứu trên, có thể thấy ở Bắc Kạn hiện nay về nguồn
gốc lịch sử người Tày gồm ba bộ phận vừa cố kết vừa hòa hợp tạo thành:
Thứ nhất, là bộ phận người Tày bản địa từ thời nguyên thủy.
Thứ hai, là bộ phận người Tày gốc kinh ở miền xuôi lên.
Thứ ba, là bộ phận Tày – Nùng từ Quảng Tây (Trung Quốc) đến lập nghiệp ở đất Bắc Kạn.
Trang 13Như vậy, trong quá trình hình thành, người Tày ở Bắc Kạn đã luôn phảiđấu tranh chống các lực lượng của thiên nhiên và giặc từ bên ngoài để bảo tồncuộc sống Người Tày ở Bắc Kạn tuy có nhiều nguồn gốc hình thành khách nhaunhưng họ đã sớm tự nguyện hòa hợp, cố kết lại với nhau thành một khối đoànkết, thống nhất cùng nhau xây dựng cuộc sống.
Người Tày ở Bắc Kạn có tập quán định canh định cư Họ chủ yếu sản xuấtnông nghiệp trồng trọt lúa nước và gieo trồng lúa nương làm nghề chính Ở BắcKạn, ruộng đất canh tác tuy không nhiều và không màu mỡ như ở đồng bằngnhưng ngoài ruộng vườn, nhân dân còn có nhiều đồng cỏ, nương rẫy có thể tậndụng để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu, cây ăn quả và chăn nuôi giasúc, gia cầm Nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp đã tồn tại lâu dài trong xã hộiBắc Kạn
Ngoài nông nghiệp, ở Bắc Kạn còn có sự tồn tại của các nghề thủ công giađình như nghề dệt vải, đan lát, nghề mộc, nghề rèn…tuy nhiên tất cả chỉ đềumang tính tự cung, tự cấp chứ không phát triển trước đây, người Tày tự túc đồmay mặc bằng cách trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm, thêu dệt thổ cẩm Hiệnnay thì nhu cầu may mặc đã được đáp ứng bởi những sản phẩm công nghiệp.Bên cạnh đó, Bắc Kạn cũng có nguồn tài nguyên rừng và khoáng sản Đây cũngchính là những cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh.Điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng đến sinh hoạt và tâm hồn của người Tày ởBắc Kạn, tạo thành tính thật thà, chất phác, hiếu khách, chăm chỉ lao động Tất
cả những văn hóa đó đã được chuyển tải trong thơ, ca, nhạc…làm nên nét vănhóa đặc sắc của dân tộc Tày ở Bắc Kạn Với những điều kiện tự nhiên như vậy
đã đưa đến việc hình thành văn hóa truyền thống vật chất và tinh thần của ngườiTày ở Bắc Kạn
Về văn hóa vật chất, do sinh sống chủ yếu trong các thung lung nơi córuộng để canh tác, có sông suối để đánh bắt cá nên nơi đây cũng chính là nhữngnơi cung cấp cho người Tày nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào Cơ cấu bữa
ăn của họ chủ yếu là gạo, cá, tôm, rau, quả, thịt…
Trang 14Trang phục của người Tày thường có màu sắc chàm đen và kết hợp vớitrang sức vàng bạc Phụ nữ Tày thường chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân cóthắt lưng, đeo vòng cổ, tay, chân bằng bạc Nam giới trang phục bao gồm có loại
áp bốn thân và áo dài năm thân, quần và giày vải
Nhà ở của người Tày thường là nhà sàn và nhà đất, nhưng đặc trưng cănnhà truyền thống của người Tày là nhà sàn Nhà sàn theo kết cấu khung cột,vách ngăn có tác dụng ngăn không gian giữa các gian nhà Nguyên liệu để xâydựng nhà sàn là những nguyên liệu sẵn có như: gỗ, tre,đất, đá…trong mỗi ngôinhà sàn của người Tày thường có 3 thế hệ cùng chung sống Do đó trong mộtkhông gian có hạn của ngôi nhà, qua cách sắp đặt nơi ngủ, nơi tiếp khách, nơicất giữ vật dụng, nơi thờ cúng đều thể hiện quan hệ gia đình giữa người già vàngười trẻ, giữa nam và nữ, giữa các thế hệ trong gia đình Từ đó đã hình thànhcác phong tục, nghi lễ mang đậm tinh thần văn hóa dân tộc [14; 42]
Văn hóa tinh thần của người Tày thể hiện qua các phong tục và lễ hội của
họ Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh và linh hồn đã hình thành nên đặctrưng tín ngưỡng, phong tục và lễ hội của người Tày Quan niệm người sống cólinh hồn (khoăn), người chết thì thành ma (phi) từ đó đã hình thành nhiều hìnhthức tín ngưỡng khác nhau của dân tộc này như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,thờ bà mụ (mẻ Bióc), thờ thổ thần Trong tín ngưỡng của người Tày đặc biệtphải nhắc tới các thầy cúng: Then, Mo, Pụt, Tào họ là những người thực hànhcác nghi lễ tín ngưỡng và có vai trò lớn trong đời sống tâm linh của người dân
Có thể thấy rằng, các đặc điểm của điều kiện tự nhiên, xã hội, của sản xuất nôngnghiệp đã tác động và phản ánh rõ nét trong những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡngtrên của người Tày Đó là các hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ,thờ các vị thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, gắn với bản mệnh của làng bản.Các tín ngưỡng nghề nghiệp chủ yếu là nghề nông, chăn nuôi, săn bắn, các nghi
lễ liên quan đến vòng đời của con người như sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, machay… Các tín ngưỡng và các nghi lễ trên được các cá nhân, cộng đồng gia tộc
và cả bản thực hiện Các nghi lễ tín ngưỡng này cũng được thực hành gắn với tự
Trang 15nhiên như ngoài ruộng, trên rừng…Và đều được thực hiện bởi các thầy cúng:Then, Pụt, Tào.
Dân tộc Tày có kho tàng văn hóa dân khá phong phú với nhiều thể loạinhư: Tự sự dân gian, thơ ca dân gian, truyện cổ, truyện thơ nội dung của dòngvăn học dân gian này phản ánh cuộc sống sản xuất, chiến đấu dung cảm, bền bỉcủa đồng bào ở vùng rừng núi Bên cạnh đó, còn có các làn điệu dân ca đặctrưng như: Sli, Lượn, Lượn cọi, Lượn slương, Phong slư là những điệu hát giaoduyên của người Tày Các loại dân ca trong nghi lễ Then, Mo, Pụt, quan lang,đồng dao…là điệu hát nghi lễ khi các thầy cúng thực hiện nghi lễ tín ngưỡng Ởnội dung của bài này, chỉ nghiên cứu trong phạm vi các nghi lễ diễn xướng Then–hình thức văn hóa tín ngưỡng dân gian của người Tày
Then là một hình thức văn hóa tín ngưỡng đặc trưng của dân tộc Tày Theo
tác giả Nguyễn Thị Yên thì về bản chất, cả Mo, Pụt, Tào và Then đều là hìnhthức Shaman giáo, chịu ảnh hưởng của Đạo giáo
Then là từ vừa dùng để chỉ một loại thầy cúng (ông Then, bà Then) vừa chỉmột loại nghi lễ, một loại tín ngưỡng tôn giáo Then còn là hình thức Shamangiáo thể hiện qua việc nhập hồn, xuất hồn Trong đó, nhập hồn thần linh vàothân xác của ông Then, bà Then là chủ yếu để cầu an, chữa bệnh, giải hạn, bóitoán và để cấp sắc nâng cấp cho bản thân các ông Then, bà Then
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hiền cho rằng: đây là một nghi lễ tôngiáo được diễn xướng bằng hình thức hát, hát có kèm theo nhạc và nhảy múa,ngoài ra còn có những biểu tượng tôn giáo mang tính tượng trưng và nhiều yếu
tố sân khấu dân gian [10; 74]
Cho đến nay, khái niệm về Then còn mang nhiều ý kiến khác nhau song đại
đa số đều khẳng định, Then có một số đặc trưng thống nhất sau đây:
Một là, Then là tên gọi một hình thức nghi lễ có sử dụng nhạc cụ (đàn tính,
chùm xóc nhạc bằng đồng) và những khúc hát thờ cúng Then (hay còn gọi làhát Then) là các hình thức dân ca của người Tày thường được biểu diễn trongnhững dịp lễ trọng đại của làng xã (hội Lồng Tồng – lễ xuống đồng, lễ hội Nàng
Trang 16Hai – lễ hội Nàng Trăng…) hay trong gia đình (lễ cầu an, giải hạn, đám ma, đámcưới, cầu hoa…) Then còn là từ dùng để chỉ những người làm nghề cúng báitheo dạng nghi lễ này (bà Then, ông Then).
Hai là, Then là tiên (sliên), là con trời Then giữ mối liên hệ trần gian với
Ngọc Hoàng và Long Vương Khi làm Then, đại diện cho người trời giúp ngườitrần gian, mong được sự tốt lành và có điều thiện cứu giúp Người Tày – Nùng
quan niệm thế giới tâm linh Then là một thế giới đa thần, trong đó có thần mặt
đất, trên trời và dưới đất Thần trên trời là Ngọc Hoàng có quyền uy hơn cả, chiphối đời sống muôn loài dưới đất Có thể ban bình yên hay bất hạnh Người tatin Then giữ vai trò quan trọng trung gian giữa thế giới thần linh và con người.Thông qua Then con người có thể giao tiếp với thần linh, bày tỏ nguyện vọngvới thần linh và cũng thông qua Then thần linh giúp con người thực hiện nguyệnvọng đó Mỗi khi thực hiện cuộc hành trình từ mặt đất lên đến mường trời, Then
và đội quân dùng lời hát, tiếng đàn diễn tả cuộc hành trình của mình - cuộc hànhtrình phải vượt qua nhiều cửa ải khó khăn như: cửa thổ công, cửa thành hoàng,cửa táo quân, cửa tổ tiên Như vậy, người làm Then thuộc “dòng dõi” thần tiên,
là người của trời Họ là những người giữ mối liên hệ giữa trần gian với NgọcHoàng và Long Vương Họ là những người biết nghi lễ cúng bái Khi làm Then
họ đại diện cho người trần gian gặp người của mường Trời để cầu xin thần linhcho trần gian được mọi sự tốt lành, tai qua nạn khỏi…
Theo đa số người làm Then thì Then là trời, là Tiên Tiên là để chỉ ngườiphụ nữ, cho nên đa số người làm Then đều là phụ nữ Họ được gọi là Slao Sliên,còn nam giới làm Then được gọi là Báo Sliên hay Dàng Khi làm Then họ sẽmặc quần áo như nữ, coi như mượn diện mạo của người nữ
Có nhiều nơi phân biệt hai khái niệm Then và Pụt Tuy nhiên, một số vùngtrong đó có cả Pụt và Then đều được gọi chung là Then bởi cả hai hình thức nàyđều sử dụng đàn tính và chùm xóc nhạc
Then đem đến cho con người niềm tin Nó đáp ứng nhu cầu tinh thần củacon người cho dù đó là niềm tin hão huyền, phi lý song nó vẫn là cứu cánh cho
Trang 17cuộc sống, là hạt nhân của mọi quan hệ với sự tồn tại và ổn định của cộng đồng,
xã hội, cá nhân
Then còn là thầy thuốc chữa bệnh, người nghệ sĩ dân gian của bản làng.Then đem đến liệu thuốc tinh thần, thực hiện hành động tín ngưỡng cụ thể đểgiải tỏa tâm lý người bệnh Với tư cách người nghệ sĩ, Then được nhiều ngườimến mộ, là người giỏi thơ văn, biết đàn hát, biết múa các điệu múa, điệu dân vũcủa dân tộc Trong buổi lễ Then, không khí thiêng liêng, huyễn hoặc cuốn hútngười nghe, người xem bằng nghệ thuật của mình Người làm Then là một nhạc
sĩ, một nhạc công,vừa đánh đàn, vừa hát, đôi khi kiêm xóc nhạc, vũ công biểudiễn trước đám đông
Từ sự hiểu biết về dân tộc Tày và khái niệm về Then đã nêu ra ở trên, ta có
thể định nghĩa khái quát về văn hóa Then của dân tộc Tày như sau: Văn hóaThen của dân tộc Tày là hình thức văn hóa nghi lễ thờ cúng thần linh, tổ tiên củadân tộc Tày, trong đó có sử dụng nhiều làn điệu hát hò với các nhạc cụ đàn tính
và xóc nhạc là chủ yếu
1.2 Nguồn gốc, nội dung và giá trị của văn hóa Then dân tộc Tày
Then là một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng dân gian đã có từ lâu đời trongđời sống văn hóa tinh thần của người Tày Người ta khó có thể xác định đượcmột cách chính xác nguồn gốc của Then Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứuvăn hóa dân gian thì có một số ý kiến xung quanh nguồn gốc của Then như sau:Trong Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm, nghiên cứu về Then (12/1975)được tổ chức tại Sở Văn hóa Thông tin Khu Tự trị Việt Bắc, phần lớn các nhànghiên cứu sưu tầm có mặt trong Hội nghị đều thống nhất với ý kiến của hai ông
Bế Văn Phủng (1567-1637) và Nông Quỳnh Văn (1565-1640) cho rằng Then có
từ thời Lê, Mạc ( cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII) Ý kiến này dựa vào truyềnthuyết dân gian và một văn bản văn vần chép tay chữ Nôm sưu tầm được ở Đức
Long – Hòa An tên là Phá tề tể ôn có nói tới nguồn gốc của Then.
Trong cuốn “Then Tày và những khúc hát”, nhà nghiên cứu văn hóa dângian Hoàng Triều Ân sau khi phân tích một số bài Then cổ của người Tày và
Trang 18chứng minh rằng người Tày có truyền thuyết Cẩu chùa cheng vùa (chín chúa
tranh vua) đã đi đến kết luận: Cây đàn tính và lời hát Then lúc đầu là của dângian, về sau được chuyển vào cung đình với sự tham gia của giới tri thức mà trởnên hoàn thiện và bài bản hơn Khi triều đình nhà Mạc tan rã, Then theo cácnghệ nhân trở về với dân gian và tồn tại cho đến ngày nay
Một số nhà nghiên cứu nghệ thuật khác như Dương Sách và Hoa Cươngđều cho rằng Then và cây đàn tính của dân tộc Tày đã có từ rất lâu đời
Nhạc sĩ Hoa Cương trong bài Nghệ thuật hát Then và hát Dàng Cao Bằng
in trong cuốn Văn hóa dân gian Cao Bằng đã chia sự phát triển của Then thành
các giai đoạn:
Giai đoạn đầu: được lấy mốc từ năm 1598 trở về trước (khi nhà Mạc lên
Cao Bằng) Đây là giai đoạn Then bước đầu hình thành về tiết tấu, giai điệu vàlời Then còn đơn giản, hầu như chưa thoát khỏi âm thanh, ngôn ngữ bìnhthường, dần dần các yếu tố như sinh hoạt, tập quán, ngôn ngữ được phát triển,đưa Then đến mức hoàn thiện hơn
Giai đoạn thứ hai: từ năm 1598 đến năm 1945, là thời kì âm nhạc chưa
phát triển Hát Then đạt tới trình độ điêu luyện là nhờ vào tầng lớp tri thức vàcác nghệ nhân dân gian, trong đó phải kể đến hai vị quan trong triều nhà Mạc là
Tư Thiên quản nhạc Bế Văn Phủng và Vua Ca Đáng Nông Quỳnh Văn đã lập rahai phường hát Then (nữ) và hát Dàng(nam)
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1945 trở lại đây, ngoài dòng Then nghi lễ còn
xuất hiện những bài Then mới, những bài Then này được sáng tác mang đậmtính chuyên nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật củaquần chúng nhân dân
Như vậy, nhìn qua góc độ dân gian cũng như qua các cuộc hội thảo, ta dễcông nhận một thực tế là: âm nhạc cùng nhạc cụ đã xuất hiện từ trong lao độngtập thể của người Tày, ở đây chính là Then
Then ngày càng được phát triển rộng rãi và được yêu thích ở nhiều lứa tuổikhác nhau, họ yêu thích Then không phải ở sự mê tín mà bởi những lời ca, điệu
Trang 19hát Then đã quen thuộc, gần gũi với cuộc sống, với tâm tư tình cảm của họ Họthích ở tiếng đàn tính lúc thì êm ái, dịu mát, thanh thản, khi thì vui tươi, tưngbừng, rộn ràng, sôi nổi cùng tiếng nhạc xóc và còn có những lúc man mác hơibuồn tùy theo từng đoạn hát khác nhau của Then Không những thế họ còn thích
ở những điệu múa Then trong các nghi lễ khác nhau, khi hát Then người hátthường sử dụng các loại nhạc cụ như : tính tẩu, nhạc xóc, chuông…trong đó tínhtẩu và xóc là nhạc cụ phổ biến thông dụng nhất, không thể thiếu trong các buổilàm Then
Đàn tính hay còn gọi là tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ởmột số dân tộc miền núi tại Việt Nam như người Thái, Tày, Nùng… Trong tiếng
Thái, tính có nghĩa là đàn, còn tẩu là bầu (quả bầu), dịch ra tiếng Việt, tính tẩu
có nghĩa là đàn bầu Tuy nhiên để khỏi nhầm lẫn với đàn bầu của người miền
xuôi, nhiều người gọi tính tẩu là đàn tính,đây là cách gọi tắt của đàn tính tẩu.
Khi đệm hát, tính tẩu thường chơi giai điệu của lời ca Trong nhạc múa tính tẩu
có những bài bản riêng Những câu chuyện về sự ra đời đàn Tính lưu truyềnkhắp mọi nơi trong cộng đồng người Tày như: Pụt Luông- Bụt lớn sai con gáidạy cho loài người biết lượn, làm đàn Tính Chuyện ông Bế Văn Phụng chế tácđàn Tính phục vụ nhà Mạc trên Cao Bằng Chuyện về chàng Xiên Câm, vì nhànghèo đã 30 tuổi mà chưa lấy được vợ nên mới nghĩ cách làm ra đàn để giải sầu,chàng đã lấy lá cây Dâu từ trên trời về nuôi tằm, xe sợi tạo dây đàn, trồng câyBầu lấy quả Bầu chế thành bầu đàn, cán đàn sừng đàn làm từ cây khảo hương vàcây lý, những loài cây có hương thơm mọc khắp nơi, ra hoa đẹp nở suốt bốnmùa Lúc đầu đàn có 12 dây, âm thanh quá hay khiến muôn vật mê mẩn màchết, Bụt bèn bắt Xiên Câm cắt bớt 9 dây nên từ đó đàn tính chỉ có 3 dây [20;347] Các truyền thuyết trên là niềm tự hào của người Tày
Tính tẩu có những bộ phận chính được làm từ những vật liệu dễ kiếm tìmnhư bầu khô, gỗ vông, gỗ dâu, tơ…
Bầu vang (bộ phận tăng âm): Làm bằng nửa quả bầu khô (cắt ngang) Để
có độ vang, âm sắc chuẩn người ta thường chọn quả bầu tròn và dày đều để làm
Trang 20bầu vang Mặt đàn thường làm bằng gỗ cây ngô đồng xẻ mỏng khoảng 3mm.Trên mặt đàn có khoét 2 lỗ hình hoa thị để thoát âm.
Cần đàn: bằng gỗ, thường là gỗ dâu hay gỗ thừng mực, nhẹ và thẳng Cần đàn dài khoảng 9 nắm tay của người chơi đàn, “Soong căm tẩu,cẩu căm gàn”.
Phần dưới của cần đàn xuyên qua bầu vang, còn phần trên là đầu đàn uốn conghình lưỡi liềm hoặc đầu rồng, đầu phượng…Mặt cần đàn trơn, không có phím,không có phím như đàn tam Hốc luồn dây có 2 hoặc 3 trục dây
Dây đàn: trước đây dây đàn được se bằng tơ tằm lấy sáp ong vuốt nhẵn,
kêu trơn và gọn tiếng mà lâu hỏng, ngày nay người ta thường dùng dây nilon.Tính tẩu có 2 loại dây và 3 loại dây tùy theo từng vùng và chức năng âm nhạc.Loại có 3 dây thường do người Tày sử dụng Họ thêm một dây trầm giữa hai dâykia Âm thanh của dây trầm thấp hơn dây cao 1 quãng tám đúng Loại 3 dây
được gọi là tính then thường dùng trong nghi lễ Then để phân biệt với loại 2 dây
Tính tẩu có âm sắc êm dịu, thanh thoát Khi phát ra âm cao nó gần giốngvới tiếng đàn tam Khi xuất ra âm trầm nó cho người nghe cảm giác hơi mờ ảo.Người diễn không dùng que khảy mà chỉ khảy bằng ngón tay trỏ của tay phải.Ngón cái và giữa giữ cần đàn nơi sát bầu đàn Khi đánh phải đặt bầu đàn lên đùiphải, dùng ngón cái của bàn tay trái đỡ phần lưng cần đàn, các ngón tay còn lạidùng bấm dây Tay phải, ngón cái và ngón 3,4,5 cầm ở chỗ tiếp giáp giữa bầuđàn và cần đàn, dùng ngón trỏ tay phải để gẩy đàn theo 2 chiều Khi gẩy lên âmphát ra bởi phần thịt của đầu ngón tay tạo ra âm sắc dịu dàng, mềm mại, còn khigẩy xuống có phần ảnh hưởng của móng tay nên âm sắc cứng, thô và có phần
Trang 21hơi đanh Khi trình diễn hai âm đó được trộn đan xen vào với nhau nên có một
âm sắc độc đáo, đặc biệt
Tính Then là loại đàn có tính năng động, linh hoạt trong diễn tấu Nó có thểdiễn tấu được bài nhạc đàn, nhạc đệm cho hát, đệm cho múa với các giai điệu2,3 bè Tùy theo tình cảm giai điệu của bài hát múa, đàn, các nghệ nhân còntrình diễn với nhiều sáng tạo phong phú khác nhau như: ở những đoạn nhộn nhịphoặc tương đối tự do, các ngón bấm của tay trái có thể dùng búng, vuốt Cácngón 3,4,5 tay phải có thể dùng đập vào mặt đàn tạo ra những âm tiết như tiếngtrống đệm, tiếng gõ giữ nhịp Tính chất của tính Then nổi bật là tính trữ tình,chất phác, hồn nhiên, vui tươi và những suy tư trong cuộc sống của đồng bàoTày, Nùng Tuy vẻ bề ngoài không có sức hào nhoáng, cầu kì nhưng là cây đànphù hợp với kĩ thuật tinh tế như trượt, vuốt, láy rền, vê…
Ngựa đàn, là một miếng gỗ nhỏ hình thang, chiều cao khoảng 1- 1,4 cm,chiều dài khoảng 3- 4 cm Phía dưới ngựa luôn được đục khoét hình tròn hoặchình chữ M tạo cho ngựa luôn áp sát xuống mặt đàn, tránh được tiếng rè Điểmđặt ngựa là chính giữa mặt đàn tạo sự cân đối, nên tạo sự chấn rung tốt
Còn chùm xóc nhạc là một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, được cấu tạo lànhững quả nhạc nhỏ hình tròn, bằng đồng, trên quả nhạc có khe hở Phươngpháp kích âm là gõ chùm xóc nhạc xuống một miếng vải vuông được đặt trênsàn nhà hay gắn vào tay, vào cơ thể người biểu diễn để khi diễn cơ thể rung lắc,chùm xóc nhạc cũng rung theo và phát ra âm thanh Chùm xóc nhạc có nhiều tên
gọi khác nhau như mạ, sáu mạc, miac Tùy từng địa phương mà chùm xóc nhạc
cũng có sự khác nhau về kích cỡ, âm điệu của chùm xóc nhạc phát ra cũng phụthuộc vào kích thước to hay nhỏ Chùm xóc nhạc to thường có âm sắc đanh vàchói hơn, chùm nhiều quả nhạc sẽ có âm lượng lớn hơn
Cấu tạo của chùm xóc nhạc đơn giản, thường gồm nhiều vòng tròn bằngkim loại bằng đồng hoặc đồng pha bạc lồng vào nhau, xâu thành từng chuỗi, xenvào đó ghép thêm những quả nhạc nhỏ rồi ghép nhiều chuỗi dài này vào vớinhau bằng một vòng tròn nhỏ để cầm hoặc ngoắc vào ngón chân cái khi sử
Trang 22dụng Chùm nhạc mỗi vùng có những hình dáng khác nhau Nhiều vùng phầntiếp giáp còn có trang trí một miếng đồng hình tròn, đúc đặc hoặc dát mỏng chỉ
để hở đủ cho vòng tròn luồn qua Miếng đồng này vừa tạo dáng đẹp cho chùmxóc nhạc vừa đồng thời để tay cầm có độ tỳ chắc chắn khi xóc nhạc Chùm nhạcngày xưa được làm bằng chất đồng pha với bạc nên tạo ra âm thanh trong trẻo,đặc biệt nhờ vào miếng vải vuông thêu hoa văn lót ở dưới làm cho những vòngtròn của chùm nhạc khi giao thoa lên xuống không trực tiếp chạm vào mặt bằng,
do đó bỏ được tạp âm, tạo âm hưởng hài hòa với âm gảy của tính then
Nghệ nhân sử dụng chùm xóc nhạc theo nhiều cách khác nhau Thứ nhất làngoắc chùm nhạc vào ngón trỏ, hoặc ngón thứ ba rồi gõ chùm nhạc xuốngmiếng vải vuông thêu hình thổ cẩm được đặt trên mặt sàn hoặc mặt đất nơi gầnngười làm Then ngồi Thứ hai là người nghệ nhân Then vừa hát vừa ngoắc chùmnhạc xóc vào ngón chân cái rồi ngồi theo tư thế xếp chân, dùng bàn chân đưa lênđưa xuống gõ chùm xóc xuống mặt sàn theo nhịp đàn Thứ ba là khi múa, nghệnhân có thể cầm chùm nhạc vừa múa vừa lắc, rung hoặc đập vào vai tạo ra âmthanh với nhiều âm sắc khác nhau Chùm xóc nhạc có khả năng diễn tấu linhhoạt, làm chức năng đệm cùng tính với Then, đó là những đoạn mà Then và độiquân Then đi ngựa, tiếng chùm xóc nhạc vang lên cho Then và người nghe mộtcảm giác tiếng nhạc phát ra từ những quả nhạc trên cổ con ngựa đang chạy, gợicho người nghe một hình ảnh Then và đội quân Then lên đường rất oai nghiêm,khí thế trên lưng ngựa với cả một đoàn người ngựa hộ tống, phục dịch Cũng cóđoạn Then dùng xóc nhạc đệm riêng cho hát Song cũng có đoạn trong các đại lễThen có tới 4, 5 bộ xóc nhạc hòa cùng một lúc với tính và hát Ngoài chức năngđệm, chùm xóc nhạc còn là đạo cụ gây nhiều hứng thú cho múa trong diễnxướng Then, đăc biệt ở những đoạn như Chèo lừa, Khảm hải…chùm xóc nhạcthật sự gây hiệu quả về âm lượng, âm sắc, giữ vững nhịp cho múa
Tiếng của đàn tính, của chùm xóc nhạc hòa quyện cùng tiếng hát của thầyThen sẽ tạo nên một làn điệu Then say đắm, quyến rũ lòng người, lầm cho ngườinghe Then không thể nào quên được
Trang 23Ngoài ra, các vật khác không thể thiếu trong diễn xướng Then như:
- Quả trứng, chim én là vật thiêng đóng vai trò dẫn hồn Then.
- Bằng sắc và ấn của Ngọc Hoàng cấp để Then vào các cửa thần linh.
- Quạt phép (quạt trời): giúp Then tạo nhiều động tác biến hoá như bay
bổng trên mây, xuống âm phủ, đi dưới nước
- Gương dùng trừ tà, soi sáng đường Then đi.
- Chuông, được sử dụng rất ít trong Then song lại là nhạc cụ quan trọngtrong nghi lễ diễn xướng Then, nó thường được các ông bà Then sử dụng ngay
từ đầu cuộc Then hoặc đầu của một chương đoạn mang tính nghi lễ, cầu cúngtrước bàn thờ, gõ chuông để báo hiệu, thông báo một nghi lễ quan trọng với sựtrang nghiêm kính cẩn
Người Tày đa số thích và say mê Then và nhiều người cũng muốn làmnghề Then Nhưng không phải ai muốn làm nghề Then đều có thể làm được.Những người làm nghề Then muốn chính thức được hành nghề phải làm đại lễcấp sắc Cứ 3 năm hoặc 5 năm làm lễ cấp sắc một lần, tùy theo kinh tế của từngngười Người nào vì khó khăn không làm được đại lễ cấp sắc thì phải làm tiểu lễ
để cúng khất Cứ mỗi lần cấp sắc thì số dải ở tua mũ Then cũng tăng lên theothứ bậc của Then và lúc đó quyền điều binh khiển tướng cũng lớn hơn Nhữngngười làm Then có thể chia làm 3 loại :
Loại Then nỗi dõi: tức là dòng dõi đã có người làm Then, nay người đó đã
qua đời phải có người nỗi dõi, nếu không làm thì người trong gia đình hay gặphoạn nạn, bệnh tật Trong nhà ngoài bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa còn có bànthờ Then được đặt ở gian bên cạnh được che kín bằng các tấm màn, bướctrướng Người nỗi dõi phải học làm Then với ông sư phụ hoặc bà sư mẫu nào
đó Đến khi có thể thì chuẩn bị một đại lễ cấp sắc để được hành nghề [13; 48]
Loại thứ hai: là loại Then ở “lục mệnh”, con “ma Then” bắt phải làm.
Tiếng Tày gọi là “Vít théc” “Vít théc” không phải do dòng dõi làm then mà đó
là do một hoàn cảnh đặc biệt phải làm Hoàn cảnh đó khi người họ trở nênkhông bình thường, cười hát suốt ngày Có người nhảy xuống sông, xuống suối
Trang 24ngâm nước, hoặc chạy vào rừng sâu, trèo lên cây cao, vách núi đá…làm nhữngviệc mà người bình thường khó làm được Có khi họ bỏ nhà ra đi vài ngày rồichạy đến quỳ lạy trước bàn thờ của một ông hay bà Then nào đó để xin làmThen và khất chuẩn bị lễ vật vào đại lễ cấp sắc làm Then.
Loại thứ ba: là loại Then sống hay còn gọi là “Vít đíp” Họ là những người
thích hát Then, thường hay theo Then, giúp trong các đám Then Họ biết làmThen như những người chuyên nghiệp nhưng không mê tín Họ không thờ maThen và cũng không ai mời họ đi làm Then bao giờ Trong các buổi làm Then
họ có thể thay ông hay bà Then làm từng đoạn, từng việc Loại Then này cũngkhông nhiều [13; 49]
Then có nhiều hình thức diễn xướng, sinh hoạt khá phong phú Tùy theophong tục tập quán của từng vùng, miền mà sự phong phú có mức độ khác nhau
Theo ý kiến của ông Nông Văn Hoàn trong bài Bước đầu nghiên cứu về Then Việt
Bắc in trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc đã chia Then thành 7 hình thức:
Một là Then cầu mong: Then được làm trong các lễ cầu mong yên lành,
hạnh phúc, cầu sinh con đẻ cái, sống lâu…chẳng hạn then Kì yên, Giải hạn, Cầuthọ, Nối số Loạt Then này thường được làm vào đầu xuân hàng năm
Hai là Then chữa bệnh: Loại Then này thường mang tính chất mê tín Nhà
có người ốm đau người ta cho đó là do bị tà ma quấy nhiễu nên mời Then vềcúng lễ để đuổi tà ma đi, tìm vía người ốm về Đồng bào cũng tin rằng, người
ốm là do vía bỏ đi lang thang không biết đường về Ốm nặng hay nhẹ là do vía
bỏ đi ít hay nhiều, nếu không tìm được vía về thì người ốm sẽ không qua khỏi.Khi làm lễ, nếu vía bị mất ở đâu (mỏ nước, bến sông, nơi miếu thần, rừng núi…)thì thầy Then sẽ mang theo lễ vật đến đó để chuộc về cho người ốm Nếu hồnvía bị giam tại ngục thì phải làm lễ phá ngục cứu hồn vía về [13; 49]
Ba là Then bói toán: Có hai hình thức bói toán Thứ nhất là bói xem người
ốm do con mà gì quấy rối, đo hồn vía thất lạc nơi đâu để cúng cho đúng Nhàngười ốm cần mang một cái áo của người ốm, một bát gạo đến nhờ Then bói
Trang 25Thứ hai là bói về số phận, đường tình duyên, hoặc khi mất trâu, mất bò người tacũng làm Then để bói tìm Khi bói có đặt hương nến hẳn hoi [13; 50].
Bốn là Then tống tiễn: Nhà có người chết, sau khi chôn cất xong, chọn
được ngày lành, người ta đón thầy Then về tiễn hồn người chết ra khỏi nhà đểkhông quấy rầy người sống
Năm là Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng: Loại Then này thường được tổ
chức vào đầu năm, đầu vụ để cầu mong cho mùa màng tươi tốt Loại này cònmột hình thức nữa là mời “nàng Hai” tức “nàng Trăng”, người ta quan niệm trênmặt trăng có nàng tiên ở Thường vào đêm rằm hoặc những đêm trung thu, thanhniên nam nữ mời ông Then hoặc bà Then đến cùng quây quần ngoài sân, ngoàisàn Ở đó có đặt một mâm hương, khói nghi ngút, Then hát trước, thanh niênnam nữ hát theo sau mời “nàng Hai” xuống trần gian cùng họ hát cầu mùa Sau
đó bên nữ trở thành người “nàng Hai”, bên nam trở thành “người trần gian”
Sáu là Then vui mừng, chúc tụng ca ngợi: Loại này hầu như không nhuốm
màu sắc mê tín, thường được tổ chức vào những dịp như mừng nhà mới, đámcưới, sinh con đầu lòng Vào những dịp như vậy, người ta đều mời Then đếnhát vui, chúc tụng Những bài hát của họ phần lớn là ứng tác cho phù hợp vớiyêu cầu và hoàn cảnh của gia chủ (tất nhiên là sẽ có sẵn những bài mẫu) Đốitượng giao lưu ở đây là giữa người với người chứ không phải người với ma.Then vui mừng, chúc tụng thường diễn ra ở những gia đình có kinh tế khá giả,
có địa vị trong xã hội nhưng những người tham gia đã biết lồng vào đó nội dung,tình cảm, tâm hồn lành mạnh làm cho loại hình này mang tính quần chúng kháđậm [13; 50]
Bảy là Then trung lễ, đại lễ cấp sắc: Những người làm Then cứ ba hoặc năm
năm lại phải làm lễ cấp sắc một lần Có những người vì hoàn cảnh kinh tế khókhăn không chuẩn bị được đại lễ thì phải làm trung lễ để khất đại lễ sẽ khao quânbinh (binh mã Then) Đại lễ cấp sắc là đỉnh cao, là sự tập trung của nghệ thuậtThen Người muốn cấp sắc phải chuẩn bị vật chất trong vài năm mới làm được
Trang 26Diễn xướng Then, trong đó nhạc- hát- múa là động cơ bên trong nảy sinh không gian thiêng, giúp Then thăng, hoá, xuất, nhập trên đường (tàng) đi Nếu như hầu đồng của người Việt là hiện tượng nhập hồn thì hành trạng Then Tày biến đổi theo hướng ngược lại, nghĩa là thoát hồn X.A Tôcarev cho rằng có hai hình thức giao tiếp với thần linh:…hoặc thần linh nhập vào người thầy pháp (hay vào trống của thầy), hoặc ngược lại, hồn thầy pháp chu du lên xứ sở thần linh [39; 330]…Quá trình thoát xác xảy ra lúc Then ngồi bỗng rùng mình mấy
cái, tay cầm chùm xóc nhạc rung rung rồi rơi vào trạng thái estasy- ảo giác ngâyngất GSTS Võ Quang Trọng cũng nhận xét: “hầu đồng của người Việt và Thencủa người Tày là hiện tượng con người tự thôi miên để đưa mình vào trạng thái
ảo giác đặc biệt” [29; 44]
Cùng với đàn Tính, chùm xóc nhạc thì hát Then là môi trường để Thenmúa các động tác khi thoát hồn Trên toàn bộ 5 tỉnh Việt Bắc mỗi vùng đều sửdụng hệ thống làn điệu riêng:
- Lạng Sơn: Giải hạn, Cáp tơ hồng, Tiển cổm, Pây sử.
- Cao Bằng: Pây Sử, Kỳ Yên, Cái cấu cầu Bjoóc, Hỉn ẻn.
- Tuyên Quang: Lẩu luông.
- Hà Giang: toàn bộ các làn điệu trong Lẩu Then.
- Bắc Kạn: kẻn Bjoóc, Khảm hải, Kỳ yên, Cái cấu cầu hoa, Hỉn ẻn, Bách điểu.
Âm nhạc dân gian Tày Bắc Kạn nổi bật các điệu lượn thương, nàng ới,lượn cọi, nhưng hát Then luôn chiếm vị trí đặc biệt, được người dân yêu thích
Như trình bày ở trên, Bắc Kạn có các điệu: kẻn bioóc, khảm hải (vượt biển), kỳ yên (yên lành), cái cấu cầu hoa (bắc cầu xin hoa), hỉn ẻn (én mùa xuân), bách điểu (một trăm loài chim) Mỗi điệu sử dụng vào mục đích làm lễ khác nhau.
Dưới đây là nội dung một số điệu Then và giá trị của nó:
Điệu Then Cái cấu cầu hoa ( Bắc cầu xin hoa):
Người Tày quan niệm, vợ chồng sống lâu với nhau mà không có con hoặchữu sinh vô dưỡng là do số phận, cho nên phải đến nhà thầy Tào, Then, Pụt để xem
Trang 27số, khi đi người ta đem theo một bơ gạo và vài đồng bạc đến gặp Slây (thầy) xem
số mệnh Nếu số rơi vào một trong 36 cung hạn hoặc phải làm lễ cầu hoa
Trong khi lễ giải hạn được tổ chức vào bất kì thời gian nào trong năm thì lễbắc cầu xin hoa được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân và mùa thu ( ngườiTày quan niệm, muốn xin hoa thì phải tổ chức vào những mùa này thì mớithiêng) Một buổi lễ bắc cầu xin hoa diễn ra trong khoảng 10-12 tiếng Nếu lễđược tổ chức vào ban ngày thì thường được bắt đầu từ 9h sáng, kết thúc vàolúc 9-10h đêm, còn nếu tổ chức vào thì thường bắt đầu từ lúc 16h và kết thúcvào lúc 5-6h sáng
Về không gian, khác với lễ giải hạn và lễ kì yên chỉ được tổ chức ở trongnhà, lễ bắc cầu xin hoa được tổ chức tại những không gian rộng lớn hơn Đầutiên, lễ được tiến hành ở ngoài đồng ruộng – nơi ngã ba đường Trong lễ này giađình chọc tiết lợn, cắt tiết gà, vịt tại đấy Một mặt để nghênh đón vía đứa trẻ vềtrần gian, mặt khác họ lấy tiết gà, vịt hoặc lợn trộn với gạo, muối đem rắc xungquanh với ý trừ tà ma, để đứa trẻ về trần gian được bình yên Phần lễ thứ hai, sau
khi đón được “hoa”, thầy Then làm lễ rước “hoa” về nhà, lúc này nghi lễ mới
được tổ chức trong nhà Nếu gia đình không tiện đường hoặc tiện đồng thì nghi
lễ sẽ được tổ chức ở cả ngoài sân và trong nhà
Một lễ bắc cầu xin hoa nếu được thực hiện đầy đủ sẽ bao gồm 2 bước chính
đó là chuẩn bị lễ và tiến hành lễ, trong đó:
- Chuẩn bị lễ: gia chủ sẽ tổ chức đi đón thầy, khi đi đón thầy, thường sẽmang đến nhà thầy một chai rượu cổ quấn giấy đỏ, một nải chuối, một đĩa bánhdầy và một thẻ hương Gia chủ đặt lễ lên bàn thờ của thầy Then và thắp hươngtrình báo với tổ tiên, xin tổ tiên phù hộ cho thầy đi làm lễ được thuận lợi
- Sau khi đã đón thầy về nhà mình, gia chủ sẽ sắp 4 mâm cúng: mâm Slây,mâm Khoăn, mâm Giải và mâm nhà Hoa
Mâm Slây bao gồm: 4 bát gạo có ngọn, trong đó có 3 bát dàn hàng ngang,
một bát đặt vuông góc với 3 bát kia về phái tay trái cuả thầy Then, trong bát đặt
vuông góc này có để 1 cái ấn bằng đồng gọi là tam bảo, trên bề mặt ấn có khắc
Trang 28hình chữ nho nổi Ấn được coi là vật tín của Ngọc Hoàng giao cho Then làm vật
thông hành khi đi qua các cổng trên trời Đôi xính cảo – bộ gieo quẻ âm dương (
giống như đồng xu của người kinh dưới xuôi) gồm 2 gỗ hoặc tre được tách đôi
từ gỗ hoặc tre Khi gieo quẻ, thầy Then chập 2 miếng vào với nhau rồi buôngxuống, nếu cả 2 cùng xấp hoặc cùng ngửa nghĩa là thần linh đã đồng ý Ngoàicác thứ trên, mâm của thầy Then còn có một ít lá bưởi để giải uế và 5 chén rượu
Mâm Khoăn ( mâm hồn vía) gồm : 1 bát gạo có ngọn, trên bàn đặt 1 quả
trứng gà ( quả trứng tượng trưng cho con gà tinh khiết để gọi hồn vía về) Một
hình nộm bằng giấy có lọng che gọi là mào làng hoặc lục vần có nhiệm vụ đi
tìm hồn vía Vì phải đi xa nên hình nộm này có lọng che mưa, che nắng Ngoài
ra mâm khoăn còn có hoa quả luộc cùng bánh trái, hoa quả, rượu
Mâm Giải : mâm này gồm 1 thủ lợn ( hoặc miếng thịt lợn luộc), 1 con gà
luộc, bánh trái, hoa quả…
Mâm nhà Hoa : thường do nhà ngoại mang đến, được để riêng một góc.
Gồm 1 nhà hoa 2 tầng làm bằng giấy màu Tầng trên đựng hoa, tầng dưới đựngquần áo, tiền bạc ,vòng xuyến…tất cả đều được cắt bằng giấy màu Nhà Hoacuối buổi lễ sẽ được hóa để tạ ơn Mẹ Hoa Bên cạnh ngôi nhà là một bịch gạonhỏ ( gạo vía), hai cái thuyền bằng bẹ chuối (lừa hen, lừa héo) tượng trưng chocon thuyền trở lễ vật lên trời, trên thuyền chở đầy tiền, vàng Một mâm lễ gồm 1ống hương, 2 bát xôi đăm đeng ( xôi có 2 màu đỏ và đen), 1 con gà luộc, 1miếng thịt lợn luộc cùng hoa quả , bánh kẹo, bên cạnh là 1 con gà sống, 1 convịt sống
Ngoài các mâm lễ này, gia đình làm lễ còn chuẩn bị 1 đôi cầu khoăn ( cầu
vía) làm bằng 2 mảnh gỗ dài 40cm, rộng khoảng 5cm có dùi ở 2 đầu, cắt mộtmiếng vải chàm trắng và đen to bằng miệng chén rồi xuyên qua đó hai cái đinhbằng tre 2 đoạn vải trắng này tượng trưng cho cầu nối từ bên dương sang bên
âm để vận chuyển lễ vật lên tạ ơn Hoa Vương Thánh Mẫu và để rước hoa vềnhà, lên bàn thờ tổ tiên, lập bát hương Mẻ Biooc Lễ này cũng không thể thiếu 1
Trang 29chiếc vợt nhỏ, 1 con chó đen nhỏ nhốt trong lồng, một chiếc vòng bạc, ba đồngsáu tiền hoặc bảy đồng hai ( gọi là tiền xui- trút bỏ điềm gở).
Tất cả lễ vật được chuẩn bị trong buổi lễ cầu hoa đều rất gần gũi với đờisống con người, từ đồ ăn, thức uống, quần áo,cày bừa, trâu, bò, lợn, gà…phản
ánh cuộc sống sinh hoạt của người Tày xưa Trong Then cái cấu cầu hoa, những
lễ vật này mang tính tượng trưng dâng cúng tổ tiên, thần linh với hai lý do: thứnhất, nó biểu hiện cho lòng biết ơn, tôn kính tổ tiên và thần linh; thứ hai, là donỗi lo thất lễ, lo bị ma dữ và hồn ma lang thang quấy nhiễu Theo tín ngưỡngcủa người Tày, họ tin rằng thần thánh sẽ nhận lễ vật và nhận những mong ướccuẩ gia đình thông qua thầy Then Vì thế, trong ngôi nhà Hoa người ta luôn sắm
đủ mọi lễ vật dâng Mẹ Hoa với mong ước: Mẹ Hoa sẽ nhận được nó như sự lýgiải cuộc sống nơi mặt đất luôn sung túc, luôn chờ đón những đứa con, Mẹ Hoa
sẽ yên tâm mà phân hoa cho gia chủ
- Tiến hành làm lễ, một buổi làm lễ cái cấu cầu hoa được tiến hành tuần tự
với các bước như sau:
Bước thứ nhất: Slây trình báo với tổ tiên, thánh thần, gia chủ về chức danh,
lý do của buổi lễ
Bước thứ hai (gọi hương): trong các lễ cúng thần thánh, cây hương là sứ
giả thay mặt người bên dương trình bày với các thánh thần, tổ tiên bên âm về lý
do thỉnh cầu Để lên được thiên đình, đến nơi Thánh Mẫu, Then phải vượt quanhiều chặng: cửa Thổ Công, cửa Thành Hoàng, cửa Thành Lâm, cửa Tiên Tổ,cửa Nam Tào vào cửa Hoa Vương Thánh Mẫu trình tấu nguyện vọng, rồi quânbinh Then hành trình trở về mặt đất lại đi các cửa trên Chúa Then về đến nhà,dừng binh, dừng ngựa, chuyển sang mục mời ban
Bước thứ ba: Mời ban và tổ tiên cùng các thánh thần.
Các ban được thầy Then mời đến dự lễ cầu hoa gồm có: Quan Đẳm ( tổtiên), Hoa Vương Thánh Mẫu ( Mẻ Biooc), các nàng trồng hoa, các tướng, cácquan hạn, quan xung, quan khắc, táo quân… Để biết các ban về dự lễ đủ hay
chưa, thầy Then dùng đôi xính cảo đánh âm dương, nếu cả 2 đều sấp hoặc cùng
ngửa có nghĩa là các ban đã đến đầy đủ
Bước thứ tư: Tạ tông đường.
Trang 30Đoạn này thầy Then chỉ đọc lời ca theo vần thất ngôn, âm điệu đọc cungkính, không đàn, không xóc nhạc, nội dung mục này là hai họ tông đường, cầumong phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, sinh con đẻ cái…
Bước thứ năm: Tạ nguyệt lão.
Mục này được làm với mục đích tạ ơn, ông tơ, bà nguyệt đã se duyên cho
vợ chồng, và cầu mong nguyệt lão sẽ cho tình vợ chồng thắm thiết, bền lâu,sinh con đàn cháu đống, đủ trai, đủ gái
Bước thứ sáu: Mừng cầu hoa kết tự.
Mục này mừng hai họ có con trai con gái kết duyên, chúc đôi bên làm ănthịnh vượng, mừng con cháu sinh con đẻ cái đông đúc
Bước thứ bảy: Chép lễ.
Chép lễ là điểm chép là điểm chép các lễ vật để đưa lên cống tiến các thánhthần gồm: kim ngân vàng bạc, cây mệnh, áo quần, hoa quả, gà vịt…những lễ vậtnày được phân cho các phu khuân vác lên thiên đình Sau khi chép lễ đầy đủ,
thầy Then hát bài Nghênh lễ tân kiều Trong lễ cầu hoa bao giờ cũng có hoa, hoa
này được hai cô gái thanh tân hái rất cẩn thận, nhẹ nhàng để dâng lên ThánhMẫu làm cho vườn hoa của mẹ thêm đủ loài rực rỡ, để mẹ tiếp tục phân hoaxuống trần gian
Bước thứ tám: Quát lệ ( phóng lễ).
Sau khi chép lễ, gom lễ phân thành từng loại, quân Then chuyển lễ vật lênthiên đình Cuộc hành trình dâng lễ lên thiên đình trải qua tám chặng đường giannan, trèo qua từng cửa, quân Then đến nộp lễ, nộp tiền âm
Trong khi chuyển lễ lên đến từng cửa cung, nếu mệnh người rơi vào hạnnào thì phải làm lễ giải hạn phá thương, phá xung, phá khắc tại đó
Bước thứ chín: Vào cung Thánh Mẫu cầu hoa kết tự.
Thánh Mẫu là mẹ phân hoa xuống trần gian đồng thời trông nom trẻ conđến lúc 12 tuổi Vào cung Thánh Mẫu, Then trình bày với Thánh Mẫu lý do, cầuxin Thánh Mẫu ban hoa vàng, hoa bạc Để biết Thánh Mẫu có đồng ý phân hoa
hay không, thầy Then lại dùng đôi xính cảo đánh âm dương
Trang 31Bước thứ mười: Bắc cầu thiên.
Cầu thiên được bắc để đưa Then lên gặp Thánh Mẫu và đón hoa về trần gian
Bước thứ mười một: Bắc cầu địa.
Quân Then về tới nhà, thầy Then lại bắc cầu địa Cầu địa được bắc ngoàiđường, người ta dựng một cái lều nhỏ ở ngoài cánh đồng, gần lối đi lại, trong lềubày năm mâm cỗ Phía ngoài lều trên lối đi đào một hố nhỏ, cạnh đó đặt hai câycầu mệnh Đầu cầu đặt một mâm cỗ gồm thủ lợn, gà luộc, rượu, một con gàtrống, một con vịt sống, một bát tiết tươi, một con chó đen nhỏ, hai cành hoagiấy, một vòng bạc, một thanh gươm, một khúc chuối nhỏ, ba đồng sáu tiềnchân hương
Bước thứ mười hai: Giải khắc môn.
Bước này được làm khi hai vợ chồng có mệnh khắc nhau Thủ tục như sau:Đặt một mâm hương trước cửa buồng hai vợ chồng, gồm gạo, rượu, hoa quả…Then trình bày với tổ tiên và các thánh thần, quan về việc xin hoa và xin giảikhuông, giải khắc để vợ chồng được hòa hợp, sinh nam, sinh nữ được vẹn toàn
Bước thứ mười ba: Lập bàn thờ Mẹ Biooc ( bàn thờ bà Mụ).
Sau khi đưa hoa quả, cầu địa về nhà, thầy Then làm thủ tục đưa mâm nhàhoa lên bàn thờ tổ tiên
Một chiếc cầu bằng vải trắng và vải chàm được trải bắc từ mâm nhà hoalên bàn thờ, phía dưới đặt một chậu nước, một bên có con gà sống, một bên cócon vịt sống Người ta đưa bát hương Mẹ Biooc theo cầu âm đặt phía ngoài cùngbên trái bàn thờ tổ tiên, hai cành hoa được cắm vào bát hương Bàn thờ MẹBiooc được thờ cúng đến khi trẻ 12 tuổi
Bước mười bốn: Đâm rưởng ( kết thúc lễ).
Đây là bữa tiệc khao quân nhà Then để tạ ơn các quan, các tướng, tổ tiên,thần thánh trên thiên đình đã giúp Then hoàn thành cuộc lễ
Bước thứ mười lăm: Roọng khoăn ( thu hồn vía).
Trong khi hành lễ, hồn vía của những người tham gia vào cuộc lễ xiêu tán
đi nhiều nơi nên khi làm lễ xong thầy Then phải thu hồn vía mọi người về nhập
Trang 32vào thể xác, vì theo quan niệm của người Tày, hồn vía không trở về thì conngười sẽ mệt mỏi, ốm yếu.
Bước thứ mười sáu: Kết thúc lễ.
Sau khi làm xong lễ bắc cầu xin hoa, mâm lễ cúng được đưa ra ngoài cửa
để cúng thần trông coi gia súc và các tà quỷ bên ngoài, sau đó cúng thổ công
Bước cuối cùng: Tiễn thầy Then.
Kết thúc lễ, số gạo, tiền trong mâm thầy Then cùng với nửa mâm cỗ cúng
và một con gà sống được gia chủ đưa đến nhà cho thầy Then
Then Cái cấu cầu hoa ( Bắc cầu xin hoa) là bản trường ca bằng thơ miêu tả
cuộc hành trình của quân binh nhà Then mang lễ vật từ hạ giới lên thiên đìnhgặp Hoa Vương Thánh Mẫu xin ban hoa ( ban con) cho những cặp vợ chồngdưới trần gian
Lời Then tả cảnh quân binh Then trèo đèo, vượt núi, qua biển lên thiênđình cầu hoa Cuộc hành trình rầm rập, hùng hậu như thự, như ảo, qua bao cảnhthiên nhiên kì thú tươi đẹp với hoa thơm cỏ biếc, những cánh đồng chim baymỏi cánh, đến những miền phú quý phong lưu, đến những nơi có những nàngtiên ngồi dệt vải trên mặt nước…
Nội dung, lời Then Cái cấu cầu hoa mang ý nghĩa, giá trị trong đời sống
tinh thần của đồng bào dân tộc Tày, Nùng nói chung và đồng bào dân tộc Tàyvùng Bắc Kạn nói riêng :
Thứ nhất, lời Then là bức tranh chân thực về cuộc sống lao động của
người Tày trong quá khứ.
Ra đời trong dân gian, gắn với cuộc sống sinh hoạt tín ngưỡng dân gian nên
lời Then Cái cấu cầu hoa là sự phản ánh cuộc sống của đồng bào Tày ở miền
núi Trong hành trình Then mang lễ vật lên mường trời có thể thấy cuộc sốngsinh hoạt lao động sản xuất của người Tày hiện lên rất quen thuộc Đó là hìnhảnh bản làng người Tày vói những dãy núi trước nhà, sau bản, với dòng sôngtrong xanh:
Một dòng nước về bản
Trang 33Một nhánh nước về làng
Núi Huyền Đức sau bản
Núi Huyền Nhan sau nhà.
Đó là bản làng bình yên với những cánh đồng, bờ ao, đặc biệt là những mỏnước nhỏ - hình ảnh chỉ có ở những bản làng miền núi:
Qua bờ ruộng bên hồ gió lộng Qua bờ ao gió nồm
Qua khỏi dãy núi dằng dặc
Mỏ nước nhỏ để uống
Mỏ nước lớn để tắm
Mỏ nước dành riêng cho bếp núc.
Tác giả Vi Hồng đã nhận xét trong Thử tìm hiểu cảm xúc cội nguồn của Then-Mấy vấn đề về Then Việt Bắc : “Then là sự lộn ngược giữa cõi âm và cõi
dương, cái xã hội trong Then chính là một phiên bản của xã hội thực, là xã hội
của người Tày, Nùng xa xưa” Cuộc sống, khung cảnh ở mường trời chẳng khác
gì mường người Đó là hình ảnh phản chiếu xã hội của người Tày, cũng có cảnhvật, núi rừng, chim muông, sông ngòi Điều này được thể hiện qua lời Then
Cái cấu cầu hoa:
Qua lên chợ Tam Quang
Rẽ qua đường Hàng Phố Hàng Phố mười hai đường Tam Quang mười hai đỉnh
Lễ vật mà Then mang lên cúng tiến mường trời cũng là sản vật của nềnkinh tế tiểu nông tự cung tự cấp :
Biên lấy bình rượu ngọt Chép lấy thúng gạo trắng Có con gà trống thiến Con vịt già, mẹ vịt bầu, thủ lợn to Mõm lợn rộng, miếng thịt vai
Trang 34Tuy mang yếu tố thần linh siêu nhiên song Then vẫn gần gũi với đời
sống con người Vì vậy, cảnh vật ở lời Then Cái cấu cầu hoa có cả yếu tố
hiện thực và hư ảo lẫn lộn Cái hư ảo trong Then chẳng qua là một biến dạngcủa thực tại Hành trình lên trời của Then phải đi qua những nơi gian nan,lên thác, xuống ghềnh, đường đi khúc khuỷu, núi rừng âm u, rậm rạp, hoangvắng, đá nhọn lởm chởm:
Trẩy đến chốn sơn dã vắng người Mường sơn lâm vắng vẻ
Vượt qua suối đá nhọn xạc chân cứa cẳng.
Then còn phải đi qua vùng hạn hán, núi lửa:
Ba năm hạn không nắng Tám năm hạn chẳng mưa
Bò đi chăn phải về Trâu đi bừa phải bỏ Nước cạn trơ ghềnh Nước khô trơ cát.
Ra đời trong xã hội đã phân chia giai cấp, cũng như các loại hình văn hóadân gian khác, toàn bộ hệ thống lời hát Then cầu hoa là hình ảnh về con người
và cảnh vật trước đây Then cầu hoa mượn màn khói hương để nhận xét, phêphán cái xã hội thực, lời Then cầu hoa đã phản ánh rất chân thực xã hội đầy ápbức bất công Then hát kể về xã hội hiện thực nơi Then đang tồn tại chứ khôngphải kể về cõi âm, hay cõi trời xa xôi nào đó, lời Then là câu chuyện thực tả vềcảnh vật nơi mường người chứ không phải cảnh tiên nơi mường trời Then tảcuộc hành trình lên trời, những chính là cuộc sống trần thế Phần lớn các chươngđoạn trong lời Then miêu tả cuộc hành trình của âm binh và âm hồn nô lệ mang
lễ vật lên thiên đình cống tiễn Ngọc Hoàng, Những vật cống lễ thật quý nào là:thúng tiền âm, rá vàng bạc, mâm đủ vuông, vải đủ khổ , thật là nhiều, nhưng lạicủa một nhà, một bản, một xã cụ thể Đó hẳn là hình ảnh của sự cống nạp, bóclột trong xã hội cũ
Trang 35Qua lời Then, bộ mặt thật của xã hội phong kiến vói những tệ nạn thamquan ô lại, ăn của đút lót của chốn quan trường, phần nào cũng được thể hiện.Quân binh nhà Then qua chặng nào, cửa nào cũng phải hối lộ tiền qua đường,tiền vào cửa quan:
Đi đường chẳng đi không Bước lộ chẳng bước dưng Hãy lấy tiền họ nông mãi lộ Tiền vào nộp mười ngựa, năm quan.
Phương thức bóc lột của chế độ chiếm hữu nô lệ in trong Then khá đậm, đó
là chế độ cống nạp và phục dịch bằng lao động Đoàn quân Then theo đủ hạngngười, từ vua chúa, quan tướng cho tới quân lính, nông hầu không ở đâu màmối quan hệ giữa người với người lại của một xã hội lại được thu gọn và bộc lộtrực tiếp, điển hình như trong đoàn người này
Thế giới trong lời Then bắc cầu xin hoa là thế giới của cuộc sống hiện thực
mà ở đó người nghe gặp những cảnh đời như họ đang sống, cũng như nhữngcảnh ngang trái bất công, cũng có những người giàu, kẻ nghèo Đọc các chươngđoạn Then ta thấy hiện lên cuộc sống lao động cực nhọc của những con ngườilao động nghèo khổ Phải chăng những em bé trong chợ Tam Quang, nhữngngười nô lệ phải lên rừng tìm gỗ quý, những người phu vất vả, gian nan, tất cả làhiện thân của những con người nghèo khổ trong cuộc đời thực ở xã hội ngườiTày trước kia
Như vậy, xét về nội dung, lời văn trong Then bắc cầu xin hoa chứa đựng
trong đó những thông điệp của một thời quá khứ “Then phản ánh hiện thực xã hội một cách quanh co, ẩn dấu hiện thực cuộc sống được thông qua Then bằng con đường hương khói, bằng thế giới khác, nhưng thực ra nó là cuộc sống của con người Trong Then mối quan hệ giữa nội dung hiện thực và tín ngưỡng có gắn bó chặt chẽ với nhau, tín ngưỡng là cái áo khoác ngoài cho yếu tố hiện thực bên trong được bộc lộ một cách dễ dàng” [26; 45] Qua lời Then, trong cái hư
vô đã có cái thực, trong cái xa xăm đã có cái gần gũi Dù Then có nói về cõi hư
Trang 36vô nhưng vẫn hướng về cuộc đời thực Bằng những lời ca dài với nội dungphong phú, kèm theo âm thanh dìu dặt, tha thiết của cây đàn tính, tiếng nhạc xócrộn ràng của Then bắc cầu xin hoa hấp dẫn người nghe đến kì lạ.
Thứ hai, Lời Then là những ý niệm thiêng liêng vào thế giới siêu nhiên
của người Tày.
Qua lời Then nói chung và Then cầu hoa nói riêng, ta thấy nhận thức về thếgiới và quan niệm về cuộc sống của người Tày được phản ánh khá rõ NgườiTày cho rằng thế giới được cấu trúc theo ba tầng, gồm mường trời, mườngngười và mường địa ngục
Tầng cao gọi là mường trời ( người Thái gọi là mường then) Đó là thế giới
tốt lành, hạnh phúc giống như quan niệm về cõi niết bàn của Phật giáo – nơikhông còn kiếp khổ ải trầm luân Bằng tình cảm tha thiết với cảnh với người củamiền núi, bằng tinh thần lạc quan sâu sắc cùng trí tưởng tượng bay bổng, ngườiTày đã đưa toàn bộ thế giới trần gian lên mường trời và lý tưởng hóa nó Dân giannói đến mường trời là nói đến vẻ đẹp lý tưởng, ở đấy mọi người sống trong thanhbình, hạnh phúc Mọi thứ ở mường người đã đẹp thì trên mường trời còn đẹp vàthanh cao hơn Qua lời miêu tả của Then, trên trời cũng có ruộng vườn, chợ búa,hoa thơm, cỏ lạ, mọi thứ đều rực rỡ đẹp đẽ lạ thường đến ngất ngây lòng người.Mường trời trong lời Then bắc cầu xin hoa là nơi Hoa Vương Thánh Mẫu sốngcùng các nàng tiên giữa một vườn hoa lớn trên hòn đảo ngoài biển khơi:
Hoa vàng bạc tỏa sáng thanh tân Bách hoa nở mùa xuân thơm ngát.
Cho nên trong lễ, ở phần bắc cầu xin hoa, đầu cầu bao giờ cũng có một con
gà sống và một con vịt sống tượng trưng cho việc vịt cõng gà đưa Then ra đảogặp Hoa Vương Thánh Mẫu xin hoa cho trần gian
Tầng giữa là mường người ( thế giới con người) Đó là cuộc sống trần gian,
có đau khổ có sung sướng Phật giáo gọi là “bể khổ trầm luân” – nơi con ngườisống gửi, thác lại trở về mường trời Ở mường con người gặp khổ đau, vận hạnthì phải nhờ Then lên mường trời kêu với Ngọc Hoàng xin giải vận hạn Ở
Trang 37mường người, vợ chồng lấy nhau mà không sinh con thì phải làm lễ nhờ Thenlên mường trời gặp Thánh Mẫu xin hoa:
Chắp tay xin nụ với Thánh Chụm tay xin hoa với mẹ Tích Đế mẹ phân về Tích Ca liền đưa lại Thánh Mẫu trao hoa bông vàng bạc.
Tầng dưới là mường địa ngục, là thủy phủ có biển rộng sông dài với ghềnh thác nguy hiểm và ma quái quỷ dữ Phật giáo gọi là âm ti địa ngục.
Xuất phát từ quan niệm có ba tầng thế giới, người Tày quan niệm, cuộcsống con nguời không phải do chính họ định đoạt mà phụ thuộc vào thế giớisiêu nhiên (cõi trời, cõi ma)
Trong Then các hiện tượng tự nhiên được giải thích theo quan niệm thô sơcủa người Tày xưa Cũng như người Kinh, nguời Tày rất coi trọng tín ngưỡngthờ Mẫu Trong ý niệm của người Tày xưa, trên mường trời có vị thần rất quantrọng, vị thần trông coi việc sinh sản, ban phát sự sống cho con người, quyếtđịnh sự có mặt của mỗi người trên trần gian – Mẻ Biooc
Tín ngưỡng thờ Mẻ Biooc có cội nguồn xa xưa trong tâm linh người Tày,những người sống phụ thuộc vào nông nghiệp, trong đó hai yếu tố quan trọngnhất là đất và nước Họ cho rằng đất và nước thuộc phạm trù âm, kết hợp nhau tạonên mọi nguồn sống của con người Các vị thần đất, thần nước đều được coi là
nữ thần – người mẹ của cõi nhân gian hay còn gọi là mẹ đất, mẹ nước và trongthực tế chế độ mẫu hệ tồn tại khá lâu trong sinh hoạt cộng đồng của người Tày.Trong lời ca Then cầu hoa, hình tượng Mẻ Biooc được nhân cách hóa một cách
cụ thể sinh động gần gũi với trí tưởng tượng của dân gian Mẹ là người ban hoaban nụ, mẹ là người coi sóc con trẻ, mẹ là mẹ tối cao Hoa Vương Thánh Mẫu:
Chắp tay lạy các mẹ trên cung
Mẹ phân hoa thành chùm
Mẹ phân hoa từng bông
Trang 38Mẹ trông tã trông địu
Mẹ trông chăn trông áo Cửu thiên vệ phòng Hoa Vương Thánh Mẫu.
Chính vì thế họ tin rằng các cặp vợ chồng mới cưới, vợ chồng muộn mằncon cái hay hữu sinh vô dưỡng đều là do Mẹ Hoa ở mường trời chưa ban hoaban nụ Muốn có con đàn cháu đống, muốn con cái khỏe mạnh như sóc nhưnhím người ta phải nhờ Then lên mường trời gặp Thánh Mẫu xin mẹ ban hoaban nụ Họ tin rằng chỉ có Then với khả năng đặc biệt mới gặp được ThánhMẫu, thỉnh cầu ước nguyện với mẹ
Người Tày yêu Then và mê Then có lẽ vì họ mê những đoạn mô tả cuộcsống lao động, những chi tiết phù hợp với đạo đức tình cảm của mình Nhưngđồng bào mê Then còn vì qua Then họ tìm thấy mối đồng cảm giữa con ngườivới thế giới thần linh để họ cầu xin các đấng thần linh những điều may mắn tốtđẹp cho cuộc sống, mà trong lễ bắc cầu xin hoa, đó là niềm tin Hoa VươngThánh Mẫu sẽ bạ phát cho mỗi gia đình dưới trần gian đàn con cháu đông đúckhỏe mạnh
Thứ ba, lời Then chứa đựng những ước mơ về cuộc sống hạnh phúc, yên
vui no đủ của người Tày.
Bằng những khúc ca dài với nội dung phong phú và âm thanh dìu dặt thathiết của cây đàn tính cùng tiếng nhạc xóc rộn ràng, Then hấp dẫn người ngheđến kì lạ Trong một buổi Then, người ta thấy không khí huyền bí nhưng khôngđáng sợ, Then làm cho người nghe, người xem thấy vui và hay không chỉ bởiđộng tác múa, lời hát, màu sắc mũ áo mà còn bởi nội dung hiện thực sâu sắc.Đặc trưng nổi bật của Then là đặc trưng tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa dângian Nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín trong Then ta sẽ thấy Then chính là một
loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian.“Do mang tính chất hư hư thực thực, khi ở cõi trần, khi ở cõi ma, khiến con người nửa tỉnh nửa mê, nhập thế đó mà lại siêu thoát đó Tính chất này quy định Then với tư cách là sáng tạo nghệ thuật, nó vừa mang tính hiện thực lại vừa có tính lãng mạn” [17; 263].
Trang 39Chính vì vậy, bên cạnh yếu tố hiện thực, nội dung lời hát Then còn manglại cho con người niềm vui, niềm an ủi trong cuộc sống gặp muôn vàn tủi nhục.Lời Then chắp cánh cho người đôi cánh ước mơ, xoa dịu nỗi đau ở đời, ở đóThen không chỉ miêu tả cảnh sinh hoạt của người xưa mà còn bày tỏ những ước
mơ, khát vọng của họ về một cuộc sống tốt đẹp Yếu tố hiện thực và lãng mạntrong Then phù hợp với tâm lý và tình cảm của người Tày trong quá khứ Mộtmặt họ tin vào khả năng lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống trần thế, mặtkhác những ảo ảnh ở cõi trời, cõi ma tuy không đem lại cho họ thức ăn nướcuống cụ thể nhưng lại tạo ra cho họ cái bóng để hi vọng và tự xoa dịu những nỗikhổ hiện tại, để họ gửi gắm những ước mơ, khát vọng Trong thực tế, sống dướichế độ đầy bất công, người lao động bị khinh rẻ, bóc lột, cuộc sống vất vả khốnkhó thì ước mơ về cuộc sống bình yên, tốt đẹp, hạnh phúc là ước mơ chính đángcủa con người Những ước mơ đó đã nâng đỡ người lao động trong cuộc sống để
họ còn thấy nghĩa lý của cuộc sống hiện thực khổ đau Nhưng ước đó không thểnào đạt được trong hiện thực của xã hội cũ, cho nên người Tày xưa đã gửi gắmước mơ của mình vào lời Then Vì thế lời Then nói chung, lời Then cầu hoa nóiriêng đâu chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống, đâu chỉ thể hiện những buổi sinhhoạt của người Tày xưa, mà còn phản ánh những khát vọng của họ về một cuộcsống yên vui no đủ
Cuộc sống hạnh phúc, yên vui là niềm mong ước của con người từ ngànđời nay Nếu trong những câu chuyện cổ tích, để thực hiện ước mơ ấy người xưa
đã phải mượn đến những vật thần kì như: viên ngọc ước, tấm thảm bay, đôi giàythần kì thì trong lời Then bắc cầu xin hoa, người Tày mượn khói hương cùngvới tiếng đàn, tiếng nhạc đem mơ ước của người trần gian tới các đấng thần linh.Ước nguyện lớn nhất là ước nguyện về một gia đình đông đúc, con đàn cháuđống khỏe mạnh bình an:
Nhờ trạng về bắc cầu thiên cung Báo tổ tiên quyền sang chức cả Ngày đêm ngồi an tọa trợ phù cho con cháu
Trang 40Ở nơi thế dương cho mọi người khỏe mạnh bình an
Về bắc cầu thiên cung cầu phúc Cầu được hoa phúc đức kim ngần Kính nhờ lạy tổ tông phù trợ.
Then bắc cầu xin hoa thể hiện một ước mơ, một khát vọng mong cho mọinhà có con trai con gái, kết hôn sẽ sinh nam sản nữ, con cháu đầy nhà, xinh đẹpnhư hoa, học hành giỏi giang, cuộc sống sung túc ấm no, gia đình thịnh vượng:
Gà vịt đầy chuồng kêu toang toác Râm ran như phượng hạc long quy Đất nhà vượng ngàn năm phong phú Vượng sinh nam sản nữ đẹp xinh Học hành giỏi người ngoan khôn khéo.
Bức tranh gia đình này đã bày tỏ sâu sắc và sinh động nhất khát vọng, ước
mơ tha thiết của dân Tày xưa
Then đã thể hiện rõ tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm tin, niềm hi vọngcủa nhân dân về cuộc sống tốt đẹp,ấm no, bình yên Then đã thể hiện một cáchbay bổng và lãng mạn những ước mơ, khát vọng của nhân dân vươn tới mộtngày mai hạnh phúc Then đã góp phần tạo nên cuộc sống tinh thần vui tươi,lành mạnh cho người Tày từ bao đời nay
Thứ tư, Lời Then thể hiện khát vọng có con và đề cao giá trị con người
trong quan niệm của người Tày.
Cũng như người Kinh, đa số người Tày vẫn tin rằng con người có số phận,
vì thế họ cho rằng những cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc sinh ra nhưng khó nuôi
là do số mệnh rơi vào những cung cô rần, cô sáu ( cung cô độc) hay cung tiệt tự ( không có con) hoặc cung slam phạ đeng ( tam thiên hồng ), chất phạ đeng
( thất thiên hồng) Khi những cặp vợ chồng có số mệnh rơi vào những cung này
sẽ hiếm muộn, khó khăn về đường con cái cho nên phải mời thầy Then về nhàlàm lễ cầu xin Mẻ Biooc ban hoa
Người Tày rất coi trọng con cái, nếu người Kinh có nhiều nghi lễ gắn với