Kinh tế học quản lý áp dụng lý thuyết kinh tế vi mô - nghiên cứu về hành vi của các cá thể kinh tế riêng biệt - để giải quyết các vấn đề kinh doanh nhằm giúp những người ra quyết định bi
Trang 1CÔNG
ÊN
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế học quản lý là môn khoa học về vận dụng lý thuyết kinh tế
và các công cụ phân tích của khoa học ra quyết định quản lý để xem xét cách thức một tổ chức đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất Nói một cách khác, kinh tế học quản lý là môn khoa học sử dụng các phân tích kinh tế để ra các quyết định kinh doanh bao gồm việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm của tổ chức một cách tốt nhất
Giáo trình Kinh tế học quản lý được biên soạn dựa trên chương
trình môn học của Trường Đại học Thương mại và tham khảo các giáo trình khác trong và ngoài nước Giáo trình có kết cấu gồm các phần như: nội dung của môn học, các bài tập luyện tập, thực hành và thảo luận Sau mỗi chương của giáo trình đều có tóm lược nội dung của chương, các câu hỏi ôn tập, bài tập vận dụng và các thuật ngữ thông dụng trong kinh tế học quản lý Mục tiêu của giáo trình là nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp người đọc nắm vững lý thuyết và biết cách vận dụng lý thuyết vào các tình huống thực hành cụ thể trong thực tiễn kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Để hoàn thiện giáo trình, các tác giả đã tham khảo nhiều giáo trình
ở một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới Các tác giả tin rằng giáo trình Kinh tế học quản lý sẽ đặc biệt hữu ích cho các sinh viên Trường Đại học Thương mại và những người quan tâm nghiên cứu khoa học kinh tế học quản lý
Nội dung cụ thể của giáo trình được trình bày trong 6 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về kinh tế học quản lý
Chương 2: Ước lượng và dự báo cầu
Chương 3: Ước lượng sản lượng và chi phí sản xuất
Chương 4: Lựa chọn trong điều kiện rủi ro và bất định
Trang 4Chương 5: Quyết định của nhà quản lý trong các cấu trúc thị trường. Chương 6: Phương pháp và kỹ thuật ra quyết định tối đa hoá
lợi nhuận
Giáo trình này do PGS.TS Phan Thế Công và TS Phạm Thị Minh Uyên đồng chủ biên và các thành viên tham gia:
PGS.TS Phan Thế Công Biên soạn chính chương 1, 4, 5
và cấu trúc nội dung giáo trình
TS Phạm Thị Minh Uyên Biên soạn chính chương 2 và 6 ThS Ninh Thị Hoàng Lan Biên soạn chính chương 3
ThS Hồ Thị Mai Sương Tham gia chương 3 và chương 5 ThS Lương Nguyệt Ánh Tham gia chương 1 và chương 6 ThS Nguyễn Thị Quỳnh Hương Tham gia chương 3 và chương 5 ThS Nguyễn Thị Lệ Tham gia chương 2 và chương 4 ThS Nguyễn Ngọc Quỳnh Tham gia chương 1 và chương 4
TS Phùng Danh Thắng Tham gia chương 2 và chương 6 Các tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của Ban giám hiệu Trường Đại học Thương mại, Phòng Quản lý Khoa học, Hội đồng thẩm định giáo trình, Bộ môn Kinh tế học và các đồng nghiệp trong và ngoài trường Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng cuốn sách sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và phê bình của người đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong các lần tái bản sau Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Bộ môn Kinh tế học - Trường Đại học Thương mại - Hà Nội
ĐỒNG CHỦ BIÊN PGS TS Phan Thế Công
TS Phạm Thị Minh Uyên
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ 17
1.1 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1.2 Các nội dung nghiên cứu của kinh tế học quản lý 21
1.2 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ 28 1.2.1 Đo lường và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế 28
1.2.3 Phân tích cấu trúc thị trường và các quyết định quản lý 40
1.3 PHÂN TÍCH CẬN BIÊN CHO CÁC QUYẾT ĐỊNH TỐI ƯU 44 1.3.1 Cơ sở lý luận về phân tích cận biên 44 1.3.2 Tối ưu hóa trong phân tích cận biên 45
1.4.1 Ý nghĩa của các công cụ ước lượng và dự báo 51
1.4.3 Các kỹ thuật ước lượng và dự báo cơ bản 55
Trang 6CÂU HỎI ÔN TẬP 73
CHƯƠNG 2: ƯỚC LƯỢNG VÀ DỰ BÁO CẦU 78
2.1.2 Ước lượng cầu của ngành đối với hãng chấp nhận giá 87
2.2.2 Dự báo cầu sử dụng hàm cầu ước lượng 107
3.1 ƯỚC LƯỢNG SẢN LƯỢNG TRONG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN 123
3.1.2 Ước lượng sản lượng trong ngắn hạn 136
3.2 ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG NGẮN HẠN
3.2.2 Ước lượng hàm chi phí sản xuất trong ngắn hạn 162 3.2.3 Ước lượng hàm chi phí sản xuất trong dài hạn 168
Trang 74.2 ĐO LƯỜNG RỦI RO BẰNG PHÂN BỐ XÁC SUẤT 186
4.2.2 Giá trị kỳ vọng của một phân bố xác suất 188
4.3 RA QUYẾT ĐỊNH TRONG ĐIỀU KIỆN RỦI RO 190
4.3.2 Phân tích phương sai - giá trị trung bình 191
4.4 RA QUYẾT ĐỊNH TRONG ĐIỀU KIỆN BẤT ĐỊNH 197
4.4.3 Tiêu chí cực tiểu hóa giá trị hối tiếc tối đa 199
Trang 84.5.3 Gia tăng giá trị của thông tin 203
CHƯƠNG 5: QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ
TRONG CÁC CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 217
5.1 QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ TRONG THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
5.1.1 Quyết định của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn 217 5.1.2 Quyết định của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn 225 5.1.3 Ước lượng giá bán và chi phí của hãng cạnh tranh hoàn hảo
5.1.4 Lựa chọn đầu vào để tối đa hóa lợi nhuận 229
5.2 QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ TRONG THỊ TRƯỜNG
5.2.1 Các yếu tố xác định sức mạnh thị trường 232 5.2.2 Các quyết định của hãng trong ngắn hạn và dài hạn 238 5.2.3 Ước lượng hàm cầu và hàm chi phí của hãng độc quyền 242 5.2.4 Lựa chọn đầu vào để tối đa hóa lợi nhuận 245
5.3 QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ TRONG THỊ TRƯỜNG
5.3.1 Quyết định của các hãng trong ngắn hạn 246 5.3.2 Quyết định của các hãng trong dài hạn 248
Trang 95.4 QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ TRONG THỊ TRƯỜNG
CHƯƠNG 6: PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT
RA QUYẾT ĐỊNH TỐI ĐA HOÁ LỢI NHUẬN 298
6.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT HÃNG CÓ NHIỀU NHÀ MÁY 304
6.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT HÃNG BÁN
6.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT HÃNG BÁN NHIỀU LOẠI
6.4.2 Phân tích mô hình sản xuất nhiều loại sản phẩm 323
Trang 106.5 CHIẾN LƯỢC NGĂN CẢN SỰ GIA NHẬP CỦA HÃNG MỚI 329
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2 Kết quả hồi quy hàm cầu về vé máy bay của hãng Jetstar 98 Bảng 2.3 Kết quả hồi quy phi tuyến hàm cầu về dịch vụ của Jetstar 100
Bảng 2.5 Kết quả dự báo cầu theo mùa vụ - chu kỳ 105 Bảng 2.6 Kết quả dự báo cầu sử dụng nhiều biến giả 106 Bảng 2.7 Ước lượng hàm cầu về sữa Sunny Mama
Bảng 3.4 Kết quả ước lượng hồi quy hàm sản xuất 149 Bảng 3.5 Kết quả kiểm định Wald Test trong Eviews 150 Bảng 3.6 Các khoản chi phí của một cửa hàng sản xuất bánh mỳ 152 Bảng 3.7 Kết quả hồi quy ước lượng chi phí dài hạn 171 Bảng 4.1 Bảng phân bố xác suất của lợi nhuận từ đầu tư mã cổ phiếu
Bảng 4.2 Giá trị phương sai trong phân bố xác suất 190 Bảng 4.3 Phân bố xác suất về lợi nhuận của nhà đầu tư chứng khoán 191 Bảng 4.4 Lợi ích kỳ vọng đối với lợi nhuận của nhà quản lý thích rủi ro 195 Bảng 4.5 Lợi ích kỳ vọng đối với lợi nhuận của nhà quản lý ghét rủi ro 196
Trang 12Bảng 4.6 Lợi ích kỳ vọng đối với lợi nhuận của nhà quản lý trung lập
Bảng 4.7 Ma trận kết cục của ngân hàng khi thay đổi quy mô hoạt động
Bảng 4.8 Bảng ma trận hối tiếc tiềm năng của nhà quản lý ngân hàng 200
Bảng 4.11 Dự báo về thời tiết và lợi nhuận thu được của Nhà máy nước
Sông Đà nếu đóng cửa sông và tiến hành xây dựng vào
Bảng 5.5 Định giá của Alpha và Beta: Loại trừ liên tiếp
Bảng 5.6 Lợi thế của người đi đầu trong việc lựa chọn chiến lược
Bảng 5.7 Tình huống khó xử khi định giá
Bảng 6.1 Phân bổ doanh số giữa hai thị trường 313 Bảng 6.2 Định giá của A hạn chế B gia nhập 332
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa kinh tế học quản lý và các khoa học
Hình 1.1 Trạng thái cân bằng cung cầu trên thị trường 36
Hình 2.1 Các bước để ước lượng cầu bằng mô hình kinh tế lượng 81
Hình 2.4 Các bước để ước lượng cầu của ngành
Hình 2.5 Các bước ước lượng hàm cầu của hãng định giá 96 Hình 2.6 Đồ thị mô tả sự biến động của lượng cầu một sản phẩm
Hình 2.7 Số liệu thứ cấp về lượng cầu Rèm Romance (2016-2018) 102 Hình 2.8 Dữ liệu thứ cấp về lượng cầu về giấy dán tường
Hình 3.1 Đường tổng sản lượng, sản phẩm trung bình và sản phẩm
Hình 3.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên 130
Hình 3.8 Đồ thị các đường chi phí bình quân, chi phí biến đổi
bình quân và chi phí cố định bình quân 154
Trang 14Hình 3.9 Đồ thị đường chi phí cận biên MC 156 Hình 3.10 Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân 156 Hình 3.11 Xác định đường tổng chi phí trong dài hạn của doanh nghiệp 157 Hình 3.12 Mối quan hệ giữa đường LAC và LMC 159 Hình 3.13 Đường LAC và LMC trong các trường hợp hiệu suất kinh tế
Hình 3.14 Lựa chọn quy mô nhà máy trong dài hạn của doanh nghiệp 161 Hình 3.15 Đường LAC là đường bao của các đường ATC 161 Hình 3.16 Đường tổng chi phí bình quân bậc ba 164 Hình 3.17 Đường tổng chi phí biến đổi tuyến tính 165 Hình 3.18 Đường tổng chi phí biến đổi bậc hai 166 Hình 3.19 Chi phí sản xuất trong dài hạn thực tế và chi phí ước lượng 170 Hình 3.20 Mối quan hệ giữa sản lượng và tổng chi phí dài hạn 171 Hình 4.1 Phân bố xác suất cho lợi nhuận từ đầu tư mã cổ phiếu ABC 187 Hình 4.2 Mức độ rủi ro của các phân bố xác suất 189 Hình 4.3 Thái độ của nhà quản lý với rủi ro 193 Hình 5.1 Đường cầu của doanh nghiệp CTHH và thị trường CTHH 219 Hình 5.2 Quyết định sản lượng trong ngắn hạn
Hình 5.3 Lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH trong ngắn hạn 222 Hình 5.4 Quyết định sản lượng của doanh nghiệp CTHH khi thua lỗ 223 Hình 5.5 Đường cung trong ngắn hạn của doanh nghiệp CTHH 224 Hình 5.6 Lựa chọn sản lượng trong dài hạn của doanh nghiệp CTHH 226 Hình 5.7 Lựa chọn sản lượng tối ưu trong ngắn hạn
Hình 5.8 Hãng độc quyền bán thuần túy lựa chọn sản lượng
Hình 5.9 Lựa chọn sản lượng tối ưu trong dài hạn của hãng độc quyền 241
Trang 15Hình 5.10 Quyết định sản lượng tối ưu trong ngắn hạn
Hình 5.11 Quyết định sản lượng tối ưu trong dài hạn
Hình 5.12 Các hãng đặt giá tuần tự (Cây trò chơi) 261
Hình 5.14 Công ty Old có lợi thế của người đi đầu 263
Hình 5.16 Lợi ích và chi phí của sự lừa dối của hãng 274 Hình 5.17 Sự khuyến khích gian lận của Công ty Long 279 Hình 6.1 Các vấn đề thực tế của việc định giá cộng chi phí 300
Hình 6.3 Sản xuất với hai nhà máy tại Bình Minh 309
Hình 6.5 Tối đa hóa lợi nhuận trên hai thị trường 317 Hình 6.6 Phân bố phương tiện sản xuất tối đa hóa lợi nhuận 323
Hình 6.8 Hàng hóa bổ sung trong sản xuất tại công ty CTC 329
Trang 17Chương 1
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ
Thành công trong kinh doanh là mục tiêu mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hướng tới Để làm được điều đó, các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải nắm rõ được những cơ hội và thách thức mà thị trường đem lại Với nguồn lực hiện có, việc sắp xếp và sử dụng sao cho hiệu quả nhằm tạo ra những hàng hóa/dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, giành lấy thị phần trước đối thủ cạnh tranh đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Đứng trước những vấn đề đó, nhà quản lý sẽ đưa ra những quyết định như thế nào? Môn kinh tế học quản lý sẽ giúp trả lời được những câu hỏi trên Kinh tế học quản lý cung cấp các phương pháp phân tích logic, có hệ thống cho các quyết định kinh doanh thông qua việc phân tích những nguồn lực thị trường hình thành nên các quyết định hiện tại cũng như các quyết định lâu dài trong tương lai Kinh tế học quản lý áp dụng lý thuyết kinh tế vi mô - nghiên cứu về hành vi của các cá thể kinh tế riêng biệt - để giải quyết các vấn đề kinh doanh nhằm giúp những người ra quyết định biết cách sử dụng các phân tích kinh tế để đưa ra các quyết định nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp: tối đa hoá lợi nhuận Những ảnh hưởng ngày càng tăng của kinh tế vi mô và kinh tế tổ chức công nghiệp trong mọi lĩnh vực phân tích kinh doanh đã nêu bật được vai trò của kinh tế quản lý Nhiều trường đại học trên thế giới đã nhanh chóng đưa kinh tế quản lý như là một chủ đề cơ bản trong chương trình giảng dạy Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, chuyên ngành kinh tế , việc giảng dạy kinh tế học quản
lý là vô cùng khó khăn bởi nó bao gồm tất cả các chủ đề có giá trị trong chiến lược và tổ chức kinh doanh Do đó, để tiếp cận môn học kinh tế quản lý đòi hỏi sinh viên cần phải có nền tảng vững chắc về kinh tế vi
mô, xác suất - thống kê và tổ chức công nghiệp
Trang 18Nội dung của chương này sẽ giới thiệu tổng quan về kinh tế học quản lý với những vấn đề cơ bản, cung cấp phương pháp nghiên cứu môn học và các phân tích cận biên cho việc ra quyết định tối ưu và trình bày tổng quan về ước lượng và dự báo nhằm cung cấp những kiến thức nền tảng cần thiết phục vụ nghiên cứu chuyên sâu ở các chương sau
1.1 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ
1.1.1 Khái niệm và đối tượng nghiên cứu
Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu cách thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ Kinh tế học cũng nghiên cứu cách thức mà xã hội quản lý các nguồn tài nguyên (nguồn lực) khan hiếm của nó Mục đích của môn học này là nhằm giải thích cách thức các nền kinh tế vận động và cách tác nhân kinh tế tương tác với nhau Các nguyên tắc kinh tế được ứng dụng trong đời sống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí là trong ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngành khoa học khác
Kinh tế học vi mô là khoa học phân tích hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm chủ yếu là người tiêu dùng và người sản xuất - kinh doanh) thông qua phát triển một số khái niệm nền tảng và kỹ thuật tối ưu nhằm giải thích cách thức mà các nhà quản lý thường xuyên phải đưa ra quyết định trong kinh doanh Những quyết định từ việc lựa chọn mức độ sản xuất, quyết định số lượng đầu vào sản xuất nhằm tạo ra một mức sản lượng nhất định với tổng chi phí thấp nhất hay việc lựa chọn việc chi tiêu, phân bố sản xuất giữa hai hoặc nhiều nhà máy sản xuất ở những nơi khác nhau và ấn định mức giá tối đa hóa lợi nhuận cho các mặt hàng mà công ty kinh doanh Lĩnh vực kinh tế vi mô có thể cực kỳ hữu ích trong việc đưa ra các quyết định hoạt động này
Tiếp theo khái niệm quản lý (Management) được đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường
là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài
Trang 19nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, tri thức và giá trị vô hình) Trong đó,
nhiệm vụ cơ bản của quản lý bao gồm:
- Hoạch định: Xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau ) và lên các kế hoạch hành động
- Tổ chức: Sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để thực hiện kế hoạch
- Bố trí nhân lực: Phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng
cá nhân cho từng công việc thích hợp
- Lãnh đạo/động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho
tổ chức)
- Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra)
Các khái niệm trên giúp chỉ ra mối quan hệ giữa kinh tế học và việc
ra quyết định quản lý Thực tế cho thấy, chúng ta có thể kết hợp hai thuật
ngữ và xác định kinh tế học quản lý là khoa học về vận dụng lý thuyết
kinh tế (đặc biệt là kinh tế vi mô) và các công cụ phân tích để ra quyết định quản lý cho một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất Nói một cách khác, kinh tế học quản lý là khoa học sử dụng các phân tích kinh tế để ra các quyết định sản xuất - kinh doanh bao gồm cả việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm của tổ chức một cách tốt nhất và hiệu quả nhất
Kinh tế học quản lý là một trong những học phần quan trọng và hữu ích trong chương trình nghiên cứu thuộc các ngành kinh tế học và quản lý kinh tế - kinh doanh Khoa học này cung cấp nền tảng nghiên cứu cho các khóa học khác như tài chính, marketing, hoạt động nghiên cứu và kế toán quản trị và các môn khoa học có liên quan Trong cuốn sách này, kinh tế học quản lý được nhấn mạnh là khoa học về kinh tế vi
mô ứng dụng
Trang 20Mục tiêu của kinh tế học quản lý là áp dụng những kiến thức cơ bản trong kinh tế vi mô và tổ chức công nghiệp nhằm đưa ra các quyết định kinh doanh vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các quyết định chiến lược trong dài hạn của doanh nghiệp Khoa học kinh tế học quản lý giúp sinh viên trở thành kiến trúc sư về chiến thuật và chiến lược kinh doanh Khoa học kinh tế quản lý giúp sinh viên trở thành những nhà tiên phong trong hoạch định các chiến lược quan trọng mang tính sống còn của doanh nghiệp thay vì các nhà quản lý cấp trung - những người luôn đi theo những chiến lược của người khác
Kinh tế quản lý áp dụng các lý thuyết hữu ích nhất từ hai lĩnh vực liên quan đến kinh tế học - kinh tế vi mô và các công cụ phân tích của khoa học ra quyết định - để tạo ra một cách thức hợp lý nhằm phân tích các thực tiễn và các chiến thuật kinh doanh được thiết kế để có được lợi nhuận cao nhất và bảo vệ lợi nhuận này trong dài hạn
Các lý thuyết cho phép mọi người hiểu sâu hơn về các vấn đề phức tạp bằng cách sử dụng các giả định đơn giản để hiểu rõ sự nhầm lẫn, biến phức tạp thành sự đơn giản tương đối Bằng cách trừu tượng khỏi những yếu tố không liên quan, các nhà quản lý có thể sử dụng cách suy nghĩ kinh tế về các vấn đề kinh doanh để đưa ra dự đoán và giải thích hợp lý trong thực tiễn, mặc dù nó có thể bỏ qua nhiều đặc điểm thực tế
Sau khi loại bỏ các yếu tố không quan trọng và giữ lại các đặc điểm quan trọng nhất của thực tế, các lý thuyết kinh tế thường được xây dựng trên cơ sở các mô hình Khi đó, công cụ toán học và kinh tế lượng sẽ được sử dụng để xây dựng và ước lượng các mô hình khoa học nhằm mục tiêu xác định hành vi tối ưu của doanh nghiệp Kiến thức toán kinh
tế giúp biểu diễn các mô hình dưới dạng các phương trình dựa vào các lý thuyết kinh tế trong khi kinh tế lượng sử dụng các công cụ thống kê (đặc biệt là phân tích hồi quy) để ước lượng và dự đoán các mô hình kinh tế dựa vào các số liệu thực tế và lý thuyết kinh tế
Ví dụ, lý thuyết kinh tế học vi mô cho biết ngoài giá ảnh hưởng đến lượng cầu của một hàng hóa (QD) thì những yếu tố khác ngoài giá
sẽ khiến cầu thay đổi (thu nhập của người tiêu dùng (M), giá của hàng hóa có liên quan (PR), dân số (N), kỳ vọng về giá (Pe), thị hiếu )
Trang 21Loại bỏ những biến không thể lượng hóa (thị hiếu) và không thể định lượng chính xác (Pe), ta có thể xây dựng được mô hình hàm cầu tổng quát như sau:
QD = f (P, M, PR, N) Dựa vào số liệu thu thập về QD, P, M, PR, N đối với hàng hóa được nghiên cứu, bằng cách sử dụng phần mềm kinh tế lượng để phân tích số liệu, chúng ta có thể ước lượng được hàm cầu thực nghiệm và dự báo về cầu đối với mặt hàng đó trong tương lai Những số liệu quan trọng này giúp người quản lý đưa ra được quyết định hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận một cách hiệu quả nhất
Như vậy, lý thuyết vi mô là phần trọng tâm của kinh tế học quản lý,
các công cụ phân tích khoa học ra quyết định và công cụ định lượng
đóng vai trò bổ trợ cho việc ra quyết định quản lý
1.1.2 Các nội dung nghiên cứu của kinh tế học quản lý
Giáo trình Kinh tế học quản lý trang bị cho người học một nền tảng kiến thức vững chắc về kinh tế vi mô ứng dụng và giúp sinh viên có thể hiểu và ứng dụng lý thuyết kinh tế vi mô vào các quyết định quản lý của doanh nghiệp Bên cạnh đó, môn học còn giúp người học nâng cao kỹ năng sử dụng các phương pháp định lượng cho việc phân tích các quyết định hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp như: phân tích, ước lượng và
dự báo được cung - cầu, ước lượng sản xuất và chi phí sản xuất, quyết định sản lượng, chiến lược định giá, của các loại hình doanh nghiệp Nghiên cứu kinh tế học quản lý giúp người học có được thêm các loại thông tin và kỹ thuật tiên tiến trong việc đưa ra được các quyết định quản
lý hiệu quả hơn Nội dung cơ bản và chủ yếu của những vấn đề của kinh
tế học quản lý bao gồm:
- Thứ nhất, các khía cạnh cơ bản về phân tích cận biên cho các
quyết định tối ưu và tổng quan về ước lượng, dự báo
- Thứ hai, kinh tế học quản lý tập trung nghiên cứu các phương
pháp và kỹ thuật ước lượng và dự báo cầu
- Thứ ba, kinh tế học quản lý sẽ nghiên cứu các kỹ thuật để ước
lượng sản lượng và chi phí sản xuất trong ngắn hạn và dài hạn với các tình huống nghiên cứu thực tế
Trang 22ều kiện rủi r
o
nh tế học qờng cạnh trquyền và độ
nh tế học q
ng pháp phrường, mộtcủa một hã
1 Mối qua
và các kho
kinh tế họ
a học khácdụng, trong
n để phân ttính (sử dụ
g kê, kinh
c về tài chí(xem Sơ đồ
và thị trườ
n lý nghiên
đo lường rủ
ro và bất đ
quản lý nghranh hoàn h
ộc quyền nhquản lý nghhân tích mộ
t hãng có ãng mới
tế lượng vính) và phâ
ồ 1.1.)
à ờng
n cứu cách
ủi ro bằng định, từ đó
hiên cứu cáhảo, thị trưhóm
hiên cứu ph
ột hãng có nhiều sản
kinh tế họ kinh doanh
khá rộng, học quản lýdụng các uan hệ giữakhoa học qu
và khoa học
ân tích chi
thức phân phân bố xáđưa ra các
c quyết địnờng độc qu
hương phápnhiều nhà phẩm và c
c quản lý), phí - lợi íc
cứu
biệt rủi ro
ác suất, ra biện pháp
nh của nhà uyền thuần
p định giá máy, một chiến lược
uan hệ hai hoa học về nghiên cứu
số kinh tế
ân tích hồi phân tích
ch (kế toán
lý
Trang 23Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích thêm được các mối quan hệ giữa kinh tế học quản lý với các khoa học về tư duy chiến lược và về quản lý nguồn nhân lực Cách tiếp cận trong giáo trình này chủ yếu giúp người đọc có được liên kết giữa kinh tế học với các khoa học về kinh doanh, trong đó tập trung vào lý thuyết kinh tế vi
mô ứng dụng về hành vi của người tiêu dùng, của doanh nghiệp trong các cấu trúc thị trường
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.1.3.1 Phương pháp mô hình hóa
Các mô hình nghiên cứu trong kinh tế học được gọi chung là mô hình kinh tế được sử dụng để phân tích kinh tế đều có ba đặc điểm chung
là giả thiết “các yếu tố khác không đổi”, giả định rằng mọi quyết định kinh tế đều nhằm tối ưu hóa điều gì đó và phân biệt rõ ràng giữa những vấn đề “thực chứng” và “chuẩn tắc”
- Giả định “các yếu tố khác không đổi”
Giống như các môn khoa học khác, những mô hình sử dụng trong kinh tế học để mô tả những mối quan hệ kinh tế đã được đơn giản hóa Lấy mô hình cung cầu làm ví dụ để giải thích sự hình thành giá của thịt lợn trên thị trường Giá thịt lợn được giải thích bằng một số lượng nhỏ các biến số mang tính định lượng như giá hàng hóa thay thế - thịt bò, giá thức ăn gia súc và thu nhập của người tiêu dùng Mặc dù chúng ta đều biết rằng giá thịt lợn còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như thị hiếu của người tiêu dùng, dịch bệnh lở mồm long móng của gia súc, bệnh bò điên, chi phí quảng cáo,… Tất cả các nhân tố này đều ảnh hưởng đến giá của thịt lợn nhưng được coi là không thay đổi khi xây dựng mô hình Bằng cách đó, các nhà kinh tế chỉ tập trung vào nghiên cứu xem giá thịt
bò và thu nhập tác động như thế nào đến giá thịt lợn Cần nhấn mạnh rằng cách nhà kinh tế không giả định rằng các yếu tố khác không ảnh hưởng đến giá thịt lợn mà đúng hơn là những yếu tố đó được giả định không thay đổi trong giai đoạn nghiên cứu Những giả định “các yếu tố khác không đổi” được sử dụng trong mọi mô hình kinh tế
Mặc dù giả định các yếu tố khác không đổi được sử dụng rộng rãi trong tất cả các môn khoa học nhưng trong khoa học kinh tế khó khăn sẽ
Trang 24nhiều hơn các môn khoa học tự nhiên vì rằng việc thực hiện những thí nghiệm có kiểm soát trong khoa học kinh tế là khó khăn hơn nhiều Các nhà kinh tế buộc phải dựa vào nhiều phương pháp thống kê khác nhau để kiểm soát các yếu tố khác khi kiểm định lý thuyết Mặc dù các phương pháp thống kê này về nguyên lý cũng đáng tin cậy như các thí nghiệm có kiểm soát sử dụng bởi các nhà khoa học khác, nhưng thực tế nó làm nảy sinh nhiều vấn đề
- Các giả định tối ưu hóa
Hầu hết các mô hình kinh tế đều giả định rằng các thành viên kinh
tế theo đuổi mục tiêu của mình một cách hợp lý Ví dụ như các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, người tiêu dùng theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi ích và chính phủ theo đuổi mục tiêu tối đa hóa phúc lợi công cộng Mặc dù tất cả các giả định này đều còn bất động
ở mức độ nào đó, thì chúng đều được chấp nhận rộng rãi như một điểm khởi đầu thích hợp để phát triển mô hình kinh tế Ví dụ, mô hình doanh nghiệp giả định mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu chính Trong thực tế mô hình này đã quá đơn giản và bỏ qua các mục tiêu khác như tối
đa hóa doanh thu, quyền lực của người quản lý… cũng như mô hình giả định về cầu và chi phí của doanh nghiệp là biết trước Nhưng trong thực
tế, điều đó rất khó có thể xảy ra
- Phân biệt thực chứng và chuẩn tắc
Đặc điểm cuối cùng của mọi mô hình kinh tế là việc phân biệt giữa những vấn đề mang tính thực chứng và chuẩn tắc Cho đến nay, chúng ta chủ yếu mới bàn đến những lý thuyết kinh tế thực chứng Những lý thuyết nghiên cứu thế giới thực tế và lý thuyết kinh tế thực chứng tìm cách giải thích các hiện tượng kinh tế quan sát được Kinh tế học thực chứng tìm cách xác định các nguồn lực trong thực tế được phân bố như thế nào trong nền kinh tế Kinh tế thực chứng đưa ra quan điểm rõ ràng điều gì cần phải làm Theo các phân tích chuẩn tắc, các nhà kinh tế phát biểu về cách các nguồn lực cần phải được phân bố như thế nào
Phương pháp mô hình hóa trình bày các kiến trúc, nền tảng về các phương pháp mô hình hóa thông tin, tri thức, biểu diễn vấn đề và lời giải,
mô hình hóa hệ thống Sinh viên tiếp cận với các phương pháp mô hình
Trang 25hóa và biểu diễn vấn đề như mô hình hóa và biểu diễn dữ liệu, mô hình hóa và biểu diễn quan hệ, mô hình hóa và biểu diễn tiến trình, mô hình hóa và biểu diễn tri thức Người học sẽ làm quen với các công cụ để biểu diễn mô hình, các ngôn ngữ mô phỏng mô hình hóa, như biểu đồ, sơ đồ,
mô hình kinh tế đơn giản hóa thực tế bằng cách mô tả một vài khía cạnh quan trọng nhất và loại bỏ biến ít có liên quan hoặc mức độ ảnh hưởng thấp ra khỏi mô hình
Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo kết quả khi có sự thay đổi trong các biến số tác động Vì vậy, khi xây dựng mô hình cần thiết lập các giả thuyết kinh tế giúp mô tả mối quan hệ giữa các biến số mà sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân khiến cho biến số khác thay đổi theo Biến chịu sự tác động được gọi là biến phụ thuộc, biến tạo ra sự thay đổi của biến khác được gọi là biến giải thích Biến giải thích tác động tới biến phụ thuộc nhưng bản thân nó có thể cũng chịu sự tác động của biến khác nằm ngoài mô hình Bên cạnh đó, bằng cách mô tả vấn đề nghiên cứu thông qua mô hình đơn giản, ta có thể hiểu sâu hơn một vài khía cạnh quan trọng của vấn đề Các bước trong mô hình hóa bao gồm:
(1) Xây dựng mô hình nghiên cứu: Người nghiên cứu cần xác định
và xây dựng mô hình nghiên cứu cho vấn đề nghiên cứu
(2) Quan sát và thống kê số liệu: Để nghiên cứu được hành vi của
các cá thể trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, nhà quản lý cần phải quan sát và thu thập số liệu trong quá khứ về các biến số kinh tế như số lượng hàng hóa, giá bán, giá của hàng hóa có liên quan
(3) Kiểm định mô hình: Dự báo được đưa ra sẽ không thể đúng nếu
mô hình kinh tế được sử dụng không có ý nghĩa thống kê Do vậy, việc
Trang 26kiểm chứng lại giả thiết là không thể thiếu trong các phương pháp nghiên cứu của kinh tế học quản lý Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết đó sẽ được công nhận và ngược lại, giả thuyết sẽ bị bác bỏ Có hai vấn đề liên quan đến giải thích các số liệu kinh tế, bao gồm: Vấn đề liên quan đến giả định các yếu tố khác không đổi và vấn đề liên quan đến quan hệ nhân quả, trong đó:
- Giả định các yếu tố khác không thay đổi: Đây là một trong những
khó khăn lớn nhất của phân tích kinh tế, các giả thuyết kinh tế về mối quan
hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định Ceteris Paribus (thuật ngữ Latinh hàm nghĩa là giả định các nhân tố khác không thay đổi) trong mô
hình Giả định này cho phép nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa các biến số chính yếu trong mô hình Trong kinh tế học, muốn kiểm tra giả thuyết về các mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường phải sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê được thiết kế riêng cho trường hợp các yếu tố khác không thể cố định được
- Phân tích quan hệ nhân quả: Một lỗi thường gặp trong phân tích
kinh tế là đưa ra kết luận sai lầm về mối quan hệ nhân quả - sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi của biến số khác - chỉ bởi vì chúng có xu hướng xảy ra đồng thời Biến chịu sự tác động được gọi là biến phụ thuộc còn biến là nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi của biến số khác được gọi là biến độc lập Biến độc lập ảnh hưởng tới biến phụ thuộc nhưng bản thân nó có thể cũng chịu sự tác động của các biến
số khác ngoài mô hình Các phương pháp thống kê phức tạp cũng cần được sử dụng để xác định xem liệu sự thay đổi của một biến có thực sự là nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi của biến quan sát hay không
1.1.3.2 Phương pháp so sánh tĩnh
Theo phương pháp này, các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định Ceteris Paribus trong mô hình Trong nền kinh tế học nói chung và kinh tế học quản lý nói riêng, các biến số kinh tế như cung, cầu về hàng hóa hay dịch vụ nào đó,… luôn luôn thay đổi và chịu tác động đồng thời của rất nhiều yếu tố Do đó, muốn xem xét mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường sử dụng phương pháp so sánh tĩnh Theo phương pháp này, các
Trang 27giả thiết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định Ceteris Paribus trong mô hình Ceteris Paribus là thuật nhữ Latinh
có nghĩa là các yếu tố khác không thay đổi Ví dụ, khi xem xét cầu về đi lại bằng xe bus tại Hà Nội, giả định là thu nhập của người tiêu dùng, giá của các phương tiện khác như xe taxi, xe máy chở khách,… và một vài biến số khác như cơ sở hạ tầng giao thông, giá xăng,… là cố định Giả định này cho phép chúng ta tập trung vào mối quan hệ giữa hai biến số chính yếu đó là giá xe bus là lượng hành khách đi lại bằng xe bus
1.1.3.3 Phương pháp phân tích cận biên
Đây là phương pháp đặc thù của kinh tế học nói chung và kinh tế học quản lý nói riêng Nó cũng là phương pháp của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ sự lựa chọn nào cũng phải dựa trên sự so sánh giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra Phương pháp phân tích cận biên được
sử dụng để tìm ra điểm tối ưu (còn gọi là điểm cân bằng) của sự lựa chọn Theo phương pháp này, chúng ta phải so sánh lợi ích và chi phí tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng thêm Lợi ích chi phí đó được gọi là lợi ích cận biên và chi phí cận biên Phương pháp này còn được biết đến với tên gọi: phương pháp phân tích cận biên
Ra quyết định tối ưu là một kỹ năng cơ bản của tất cả các nhà quản
lý, đòi hỏi nhà quản lý phải phân tích lợi ích và chi phí để đưa ra quyết định tốt nhất có thể trong một tình huống nhất định Trong phần này, bạn
sẽ học được cách sử dụng một phương pháp khá đơn giản nhưng hữu hiệu trong việc tìm kiếm mức độ tối ưu của các hoạt động kinh doanh, hoặc bất cứ loại hoạt động nào như vậy Phương pháp phân tích này được các nhà kinh tế học gọi tên là “phân tích cận biên”, nó giúp hình thành nền tảng cho các học thuyết tối đa hoá lợi nhuận, sản xuất, lựa chọn yếu
tố đầu vào và thậm chí cả hành vi tiêu dùng Mục đích của việc sử dụng phân tích cận biên trong các quyết định kinh doanh là: Khi một nhà quản
lý tính toán xem có nên điều chỉnh một hoạt động kinh doanh lên hoặc xuống hay không để có thể đạt được giá trị tốt nhất, nhà quản lý cần dự đoán được sự điều chỉnh đó sẽ ảnh hưởng thế nào đến cả lợi nhuận mà doanh nghiệp nhận được lẫn những chi phí mà doanh nghiệp phải chịu từ
Trang 28hoạt động này Nếu việc điều chỉnh mức độ hoạt động kinh doanh có thể làm cho lợi nhuận tăng lên nhiều hơn so với mức tăng chi phí, hoặc làm cho chi phí giảm đi nhiều hơn so với mức giảm lợi nhuận thì lúc đó lợi nhuận ròng của doanh nghiệp từ hoạt động này sẽ tăng lên Trong điều kiện như vậy, nhà quản lý sẽ tiếp tục điều chỉnh mức hoạt động cho đến khi lợi nhuận ròng không thể tăng lên được nữa, có nghĩa là hoạt động này đã đạt đến giá trị tối ưu hay mức tối ưu Những lý luận này giúp hình thành logic cơ bản cho việc đưa ra những quyết định tối ưu Hiểu được logic này rất có ích cho các nhà quản lý vì họ có thể đưa ra những quyết định tốt hơn và tránh được những lỗi thông thường trong các quyết định kinh doanh
Phương pháp phân tích cận biên cho phép ta hiểu được bản chất tối
ưu của các quyết định kinh tế Khi đưa ra quyết định, mỗi tác nhân trong nền kinh tế đều theo đuổi các mục tiêu khác nhau Người tiêu dùng muốn tối đa hóa lợi ích từ việc sử dụng hàng hóa hay dịch vụ, doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận trong khi chính phủ muốn tối đa hóa phúc lợi công cộng Tuy nhiên, các mục tiêu trên đều gặp phải giới hạn về ngân sách, buộc các thành viên kinh tế phải đưa ra sự lựa chọn giữa chi phí và lợi ích đạt được Phân tích cận biên sẽ giúp chúng ta hiểu được cách thức
ra quyết định và lựa chọn của các thành viên kinh tế nêu trên
1.2 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ 1.2.1 Đo lường và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế
Lợi nhuận kinh tế là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội Nói cách ngắn gọn, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Lợi nhuận kế toán là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán Dưới góc độ của từng doanh nghiệp, lợi nhuận thường được xem như mục tiêu kinh tế cao
Trang 29nhất của các doanh nghiệp Tất nhiên trong thực tế, ở một số trường hợp, các doanh nghiệp có thể chỉ quan tâm đến doanh thu, quy mô sản xuất hay muốn giảm thiểu rủi ro Nhưng xét cho cùng, tất cả những mối quan tâm này thực chất đều hướng đến mục tiêu lợi nhuận trong dài hạn Chính vì thế, việc giả định là các doanh nghiệp hướng tới mục tiêu lợi nhuận vẫn là một giả định hợp lý
Dưới góc độ nền kinh tế, lợi nhuận kinh tế cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Một ngành có mức lợi nhuận lớn hơn mức lợi nhuận trung bình sẽ khiến cho các doanh nghiệp mới tìm cách gia nhập vào ngành để cũng đạt được lợi nhuận cao Ngược lại, trong dài hạn, nếu một ngành có mức lợi nhuận thấp hơn so với mức trung bình lại khiến các doanh nghiệp trong ngành tìm cách rút lui khỏi ngành đó để chuyển sang những ngành khác có mức lợi nhuận cao hơn Như vậy, lợi nhuận kinh tế chính là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phân bố nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế Lợi nhuận kinh tế dương còn được xem như phần thưởng cho sự đổi mới và hiệu quả, ngược lại lợi nhuận kinh tế âm lại như một hình thức phạt cho sự trì trệ và không hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng tạo động lực cho sự đổi mới và sản xuất hiệu quả và trong phân phối nguồn lực khan hiếm
Về công thức tính: Lợi nhuận là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định
Theo đó, công thức tính lợi nhuận được xác định như sau:
Trang 30Khi nghiên cứu về lợi nhuận, cần phân biệt rõ lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán Lợi nhuận kinh tế được định nghĩa là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí kinh tế, còn lợi nhuận kế toán là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí kế toán Trong đó, chi phí kế toán là chi phí hiện, được thể hiện trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhưng chi phí kinh tế được xác định bởi tổng của chi phí kế toán và chi phí cơ hội của việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp (chi phí ẩn) Như vậy, vì chi phí kinh tế luôn lớn hơn chi phí kế toán nên lợi nhuận kinh tế nhỏ hơn lợi nhuận kế toán Tuy nhiên, lợi nhuận kinh tế là chỉ tiêu phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của hãng Khi được sinh ra, lợi nhuận kinh tế sẽ thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp và góp phần tăng thêm sự giàu có cho chủ sở hữu Khi doanh thu không đủ để trả cho tổng chi phí, lợi nhuận kinh tế là âm, và khoản lỗ phải được trừ đi từ khối tài sản của chủ sở hữu Khi doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực được cung cấp bởi chủ sở hữu, chi phí ẩn không được khấu trừ từ tổng doanh thu và như vậy lợi nhuận kế toán trong các báo cáo tài chính sẽ phóng đại khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, việc các kế toán bỏ qua các chi phí ẩn đó trong báo cáo tài chính là trên cơ sở áp dụng các quy tắc kế toán, được chấp nhận bởi các nhà quản lý, các cổ đông, các cán bộ nhà nước có thẩm quyền và các nhà phân tích - những người có trách nhiệm quy đổi các thông tin trong báo cáo tài chính kế toán thành các đơn vị đo lường gần giống với lợi nhuận kinh tế Các chủ kinh doanh tất nhiên phải gánh chịu tất cả các chi phí của việc sử dụng các nguồn lực, cả chi phí hiện và chi phí ẩn, không cần biết những chi phí nào là chi phí có thể được khấu trừ cho mục đích kế toán Bởi vì, tất cả các chi phí đều quan trọng với chủ sở hữu, do đó việc tối đa hoá lợi nhuận kinh tế, chứ không phải lợi nhuận kế toán, mới là mục tiêu của chủ sở hữu doanh nghiệp Lợi nhuận kinh tế mới là nhân tố có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh, nên trong phần còn lại của chương này và các
chương sau, khi đề cập đến “lợi nhuận”, chúng tôi muốn nói đó là “lợi nhuận kinh tế”
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế số một và là động cơ hoạt động, là điều kiện tồn tại và phát triển của một hãng trên thị trường Lợi nhuận
Trang 31chính là tiền công trả cho năng lực điều hành và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù cho đến nay nguồn gốc của lợi nhuận vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi nhưng giả định mục tiêu của hãng là lựa chọn sản lượng và giá để tối đa hóa lợi nhuận được sử dụng phổ biến, mô
tả cho hành vi của hãng một cách chính xác và hợp lý Để xác định lợi nhuận tối đa, ta sử dụng phương pháp toán tối ưu như sau:
π = TR - TC
πmax khi dπ/dQ = dTR/dQ - dTC/dQ = 0 ↔ MR = MC
Đó chính là nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của một doanh nghiệp bất kỳ: sản xuất tại mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên (MR) bằng với chi phí cận biên (MC) và khi đó khoảng cách giữa hai đường tổng doanh thu và tổng chi phí là lớn nhất
1.2.2 Cung, cầu và cân bằng thị trường
1.2.2.1 Cầu về hàng hóa và dịch vụ
Trong kinh tế vi mô, chúng ta đã được tiếp cận theo khái niệm
“Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua muốn mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau, trong một khoảng thời gian nhất định (giả định các yếu tố khác không đổi)” Người tiêu dùng có xu
hướng gia tăng lượng hàng hóa được cầu khi giá của nó giảm xuống và ngược lại do ảnh hưởng của thu nhập và ảnh hưởng thay thế Lý thuyết cầu đóng một vai trò quan trọng giúp nhà quản lý có thể nhìn nhận chính xác các yếu tố tác động đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, từ
đó có thể đưa ra các quyết định quản lý phù hợp trong các chiến lược kích cầu, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Tùy thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau mà yếu tố tác động đến cầu sẽ khác nhau Sau đây là một số yếu tố tác động đến cầu phổ biến:
- Thu nhập của người tiêu dùng (M): Thu nhập thể hiện cho khả
năng mua của người tiêu dùng, nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định mua gì và mua bao nhiêu Tùy thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau mà tác động của thu nhập đến cầu hàng hóa đó có thể
không giống nhau Đối với hàng hóa thông thường và xa xỉ, thu nhập
tăng sẽ khiến người tiêu dùng tăng cầu đối với hàng hóa đó Có một số
Trang 32loại hàng hóa và dịch vụ mà khi các yếu tố khác không đổi, thu nhập tăng
sẽ khiến người tiêu dùng có cầu ít đi và khi thu nhập giảm sẽ khiến cầu
tăng lên Loại hàng hóa hay dịch vụ đó được gọi là hàng hóa thứ cấp Đối với hàng hóa thiết yếu, ảnh hưởng của thu nhập đến cầu hàng hóa này có thể theo tỷ lệ thuận hoặc tỷ lệ nghịch
- Giá của hàng hóa có liên quan trong tiêu dùng (P R ): Gồm hàng
hóa thay thế hoặc hàng hóa bổ sung Khi các yếu tố khác không đổi, giá của hàng hóa thay thế trong tiêu dùng (chè và cà phê, nước chanh và nước cam, ) tăng lên sẽ khiến cho cầu đối với hàng hóa đang xét tăng
lên và ngược lại Đối với hàng hóa bổ sung trong tiêu dùng (xăng và xe
máy, điện và các thiết bị điện, ), cầu đối với hàng hóa đang xét sẽ giảm
nếu hàng hóa bổ sung với nó trong tiêu dùng tăng giá lên và ngược lại
- Số lượng người tiêu dùng (N): Nhân tố này thể hiện được quy mô
thị trường của hãng, giúp xác định lượng tiêu dùng tiềm năng Thị trường
càng có nhiều người tiêu dùng thì cầu càng tăng và ngược lại
- Chính sách kinh tế của Chính phủ: Khi Chính phủ đánh thuế (T)
vào sản phẩm tiêu dùng thì cầu sẽ giảm, Chính phủ trợ cấp cho người
tiêu dùng thì cầu sẽ tăng
- Kỳ vọng về thu nhập và giá cả: Người tiêu dùng kỳ vọng giá trong tương lai (P e ) sẽ tăng thì cầu ở hiện tại sẽ có thể tăng lên, ngược lại,
nếu kỳ vọng giá giảm trong tương lai thì sẽ làm giảm cầu ở hiện tại Ta
có thể thấy rõ ảnh hưởng này qua hiện tượng tại các cây xăng tập trung rất đông người đổ xăng vào thời điểm trước khi xăng tăng giá theo thông báo của Chính phủ Nếu người tiêu dùng kỳ vọng trong tương lai thu
nhập tăng thì cầu ở hiện tại cũng tăng và ngược lại
- Thị hiếu, phong tục, tập quán, quảng cáo, mốt Thị hiếu chính là
sở thích của con người - đây là một trong hai yếu tố giúp hình thành cầu Tuy nhiên, thị hiếu thường khó quan sát, không thể lượng hóa được và tùy vào từng đối tượng khách hàng khác nhau thì thị hiếu có thể sẽ khác nhau do sự khác biệt trong tập quán tiêu dùng, tâm lý, lứa tuổi, giới tính, tôn giáo Thị hiếu có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng lớn bởi quảng cáo Người tiêu dùng thường sẵn sàng chi tiêu nhiều tiền để
Trang 33mua một sản phẩm đang là mốt trên thị trường và được quảng cáo nhiều Khi các yếu tố khác không đổi, thị hiếu của người tiêu dùng đối với hàng
hóa hoặc dịch vụ tăng lên sẽ làm cầu tăng và ngược lại
Như vậy, ngoài giá của bản thân hàng hóa, khi các yếu tố khác ngoài giá thay đổi cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi của lượng cầu Do đó, ta có thể viết được phương trình hàm cầu tổng quát có dạng:
Q D = f (P, M, P R , N, T, P e )
Dưới dạng hàm tuyến tính, ta có phương trình hàm cầu sau:
Q D = a + bP + cM + dP R + eN + fT + gP e
Các hệ số góc (b, c, d, e, f, g) phản ánh ảnh hưởng của các biến (P,
M, PR, N, T, Pe) đến lượng hàng hóa được tiêu dùng khi các yếu tố khác không đổi Khi hệ số góc của một biến nhất định mang giá trị dương (âm), lượng cầu tỷ lệ thuận (nghịch) với biến đó Tuy nhiên, hệ số góc của các biến trong phương trình hàm cầu chỉ có thể phán ánh rằng khi các nhân tố khác không đổi thì yếu tố được xét thay đổi 1 đơn vị sẽ làm lượng cầu thay đổi bao nhiêu đơn vị Do đó, trong quyết định kích cầu, khi cần xác định yếu tố nào có tác động lớn nhất đến cầu, nhà quản lý sẽ
sử dụng chỉ tiêu độ co dãn của cầu Độ co dãn của cầu đo lường % thay đổi của lượng cầu so với % thay đổi của yếu tố tác động đến nó Vì vậy,
nó không có đơn vị tính và là một chỉ tiêu phù hợp để so sánh tác động giữa các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa Trị tuyệt đối của độ co dãn của cầu theo yếu tố tác động nào lớn nhất thì yếu tố tác động đó ảnh hưởng lớn nhất đến cầu về sản phẩm
1.2.2.2 Cung về hàng hóa và dịch vụ
Trong kinh doanh, phản ứng của người mua đối với cầu sẽ ngược với phản ứng của người bán đối với cung khi có sự thay đổi về giá Các khái niệm liên quan về cung hàng hóa và dịch vụ đã được phân tích kỹ trong kinh tế học vi mô, như khái niệm về cung, lượng cung, luật cung,
các yếu tố tác động đến cung Cung (S) là số lượng hàng hóa hay dịch vụ
mà người bán muốn bán và có khả năng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (các nhân tố khác không đổi) Khi
giá thay đổi, lượng cung QS sẽ thay đổi cùng chiều với giá, tức số lượng
Trang 34hàng hóa được cung trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên và ngược lại (giả định các yếu tố khác không đổi) Để xác định cung thị trường, ta có thể cộng tổng mức cung của tất cả các hãng trong thị trường, do vậy, độ dốc của đường cung thị trường thường thoải hơn đường cung của từng hãng
Tùy thuộc vào từng hàng hóa hay dịch vụ khác nhau mà yếu tố tác động đến cung là không giống nhau Tuy nhiên, cung của các hàng hóa hay dịch vụ nhìn chung đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Tiến bộ công nghệ: Nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến làm tăng
năng suất, nhiều hàng hóa hơn được sản xuất ra khiến cung tăng và ngược lại Đây chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng hàng
hóa được sản xuất ra
- Giá của yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (chi phí sản xuất):
Tiền lương, tiền mua nguyên nhiên vật liệu, tiền thuê vốn Giá của yếu
tố đầu vào tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và do đó ảnh hưởng đến lượng hàng hóa mà hãng muốn bán ra trên thị trường Nếu giá của các yếu tố đầu vào thấp, chi phí sản xuất sẽ giảm khiến hãng có được khoản lợi nhuận cao hơn và do đó hãng sẽ muốn cung nhiều hàng hóa hơn trên thị trường Tuy nhiên, khi giá đầu vào tăng, lợi nhuận thu được
sẽ giảm khiến hãng giảm cung sản phẩm
- Số lượng nhà sản xuất trong ngành: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến số lượng hàng hóa được bán ra trên thị trường Số lượng nhà sản xuất trong ngành càng lớn thì số lượng hàng hóa được sản xuất càng
nhiều, cung của thị trường tăng lên và ngược lại
- Chính sách kinh tế của Chính phủ: Chính sách thuế, trợ cấp,
Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để điều tiết các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế Sản phẩm của hãng bị đánh thuế đồng nghĩa với chi phí tăng khiến hãng giảm cung Ngược lại, khi Chính phủ giảm thuế, miễn thuế hoặc trợ cấp sẽ khuyến khích sản xuất và làm
tăng cung
- Lãi suất: Lãi suất của khoản vay vốn ngân hàng chính là giá thuê
vốn mà hãng phải trả Nhà quản lý luôn mong muốn có được khoản vay
Trang 35với lãi suất thấp, giúp giảm chi phí mở rộng hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp, làm tăng cung trên thị trường
- Kỳ vọng về giá và thu nhập: Cũng giống như người tiêu dùng, nhà
sản xuất đưa ra quyết định cung ứng sản phẩm của mình dựa vào các kỳ vọng Ví dụ, nếu nhà sản xuất kỳ vọng rằng trong tương lai giá tăng thì
họ sẽ giảm mức cung ở hiện tại để tăng cung trong tương lai nhằm thu về
khoản lợi nhuận cao hơn khi bán ở mức giá cao trong tương lai
- Điều kiện về thời tiết và khí hậu: Yếu tố này ảnh hưởng mạnh mẽ
tới mức cung của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản Điều kiện thời tiết thuận lợi, được mùa thì cung mặt hàng nông sản tăng và ngược lại, mất mùa sẽ làm cung giảm Bên cạnh đó, yếu tố thời tiết và khí hậu cũng sẽ
ảnh hưởng tới nhiều mặt hàng khác như lĩnh vực may mặc
- Môi trường kinh doanh: Một môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ kích thích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh khiến cung tăng
Với sự tác động của các yếu tố trên, ta có thể xây dựng được hàm cung tổng quát có dạng:
Q S = g(P, P I , P R , T, P e , F)
Trong đó: QS: Lượng cung của một hàng hóa hay dịch vụ;
P: Giá của hàng hóa hoặc dịch vụ;
PI: Giá của các yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất;
PR: Giá của hàng hóa có liên quan trong sản xuất;
Trang 36ho nhu cầu sản lượng
ợng hàng hhái cân bằn
ận được khitrường cạn
i cùng một
u của doan
ng này
u tố nào khdẫn tới sự d
ay đổi) và luyển của cu
y đổi khác
ằng cung c
thái cân bằnường là mộtrên thị trưTác động hóa hay dị
ng, người mmua và ngườ
ân bằng cu
n bằng đượ
ức giá được ười mua phả
i không có
nh tranh homức giá ch
nh nghiệp c
hác ngoài gdịch chuyểnlàm thay đổung, cầu m
c nhau Tuy
cầu của thị
ng trên thị t
ột trạng tháường, tại đóqua lại giữịch vụ đượmua sẽ mu
ời bán cũng
ung cầu trê
ợc xác địnhxác định tạ
ải trả đồng
sự can thiệoàn hảo, cáhung của thcạnh tranh h
n thân hàng
ng hoặc cầu
n bằng của tợng cân bằn
hi giá của
một vai trò
ó khả năng
có sức ép cầu sẽ xác
án trên thị
t số lượng ược hết sản
g hóa đang
ầu (hoặc cả thị trường ằng trên thị chính bản
Trang 37thân hàng hóa đang xét thay đổi chỉ làm thay đổi lượng cung, lượng cầu
và do đó sẽ khiến thị trường xảy ra hiện tượng dư thừa (lượng cung lớn hơn lượng cầu) hoặc thiếu hụt (lượng cầu lớn hơn lượng cung)
1.2.2.4 Phân tích độ co dãn của cầu
a) Độ co dãn của cầu theo giá ( 𝐸 )
Độ co dãn của cầu theo giá là hệ số (tỷ lệ) giữa % thay đổi của lượng cầu so với % thay đổi trong giá của hàng hóa đó Nó đo lường mức
độ phản ứng của lượng cầu khi có sự thay đổi trong giá (giả định các yếu
𝐸 = %∆%∆ = ∆ : ∆ = ∙
Giá và lượng cầu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch nên giá trị của độ co dãn của cầu theo giá luôn không dương, do đó, để có thể phân loại độ co dãn của cầu theo giá, ta sử dụng trị tuyệt đối của giá trị này Khi đưa ra quyết định thay đổi giá nhằm tăng doanh thu cho doanh nghiệp, nhà quản
lý cần phải xác định chính xác độ co dãn của cầu theo giá tại đúng miền cầu doanh nghiệp đang kinh doanh Cụ thể:
- Tại miền cầu co dãn theo giá: |𝐸 | > 1
Khi hãng kinh doanh tại miền cầu co dãn, vì |𝐸 | > 1 hay |%∆𝑄| >
|%∆𝑃| nên khi hãng tăng giá 1% sẽ khiến lượng cầu giảm lớn hơn 1% làm tổng doanh thu TR = P.Q sẽ giảm Như vậy, khi kinh doanh tại miền cầu co dãn, muốn tăng tổng doanh thu, doanh nghiệp nên giảm giá
Trang 38- Tại miền cầu kém co dãn theo giá: |𝐸 | < 1
Tại miền cầu kém co dãn, |%∆𝑄| < |%∆𝑃| nên khi hãng tăng giá 1% chỉ làm giảm lượng cầu ở mức nhỏ hơn 1% khiến tổng doanh thu của hãng
sẽ tăng lên nhờ tác động của tăng giá Như vậy, khi kinh doanh tại miền cầu kém co dãn, muốn tăng tổng doanh thu, doanh nghiệp nên tăng giá
- Tại miền cầu co dãn đơn vị: |𝐸 | = 1
Tại miền cầu co dãn đơn vị, tổng doanh thu của doanh nghiệp đạt được là lớn nhất
Trong quyết định của mình, nhà quản lý cũng cần lưu ý rằng giá trị của độ co dãn của cầu theo giá có thể thay đổi theo thời gian nhưng cũng
có thể thay đổi do có sự tác động của sự sẵn có của hàng hóa thay thế hay
có sự biến động trong tỷ lệ thu nhập chi tiêu cho hàng hóa của người tiêu dùng Cầu hàng hóa trong dài hạn thường co dãn hơn so với trong ngắn hạn Tương tự, trong dài hạn khi thị trường xuất hiện ngày càng nhiều hàng hóa thay thế sẽ khiến cầu của hàng hóa càng co dãn Đối với tỷ lệ thu nhập chi tiêu cho hàng hóa, khi người tiêu dùng sử dụng phần thu nhập chi tiêu cho hàng hóa càng cao sẽ khiến cầu đối với hàng hóa đó
càng co dãn và ngược lại
b) Độ co dãn của cầu theo thu nhập ( 𝐸
Độ co dãn của cầu theo thu thập là hệ số (tỷ lệ) phản ánh % thay đổi của lượng cầu so % thay đổi trong thu nhập Hệ số này đo lường mức
độ phản ứng của người tiêu dùng về lượng cầu đối với sản phẩm khi có
sự thay đổi về thu nhập (giả định các yếu tố khác là không đổi) Dựa vào giá trị của độ co dãn của cầu theo thu nhập, khi đã biết được % thay đổi trong thu nhập của người tiêu dùng do sự biến động của nền kinh tế hay
do sự thay đổi trong chính sách tiền lương của Chính phủ, nhà quản lý sẽ xác định được % thay đổi về lượng cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp để có thể đưa ra được các phương án sản xuất và kinh doanh phù hợp với sự biến động đó Nhờ vậy, nhà quản lý có thể tránh được việc sản xuất với sản lượng lớn hơn mức cầu gây dư thừa, tồn đọng vốn kinh doanh hay có thể đón đầu trước sự gia tăng trong lượng cầu để có thể gia tăng lượng sản xuất nhằm thu về lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp
Trang 39Công thức tính:
𝐸 = %∆%∆ = ∆∆ ∙ = 𝑄 ∙ Tùy thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau mà ảnh hưởng của sự thay đổi thu nhập đến cầu sản phẩm là không giống nhau
- 𝐸 > 1 đối với hàng hóa xa xỉ, hàng hóa cao cấp;
- 0 < 𝐸 < 1 đối với hàng hóa thông thường;
- 𝐸 < 1 đối với hàng hóa thiết yếu;
- 𝐸 < 0 đối với hàng hóa thứ cấp
c) Độ co dãn của cầu theo giá chéo
Độ co dãn của cầu theo giá chéo là hệ số (tỷ lệ) giữa % thay đổi trong lượng cầu của hàng hóa này so với % thay đổi trong giá của hàng hóa kia Dựa vào độ co dãn của cầu theo giá chéo, khi biết được % thay đổi trong giá hàng hóa có liên quan, nhà quản lý sẽ xác định được chính xác % thay đổi trong lượng cầu hàng hóa của doanh nghiệp để có thể đưa
ra các phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp
Công thức tính:
𝐸 = %∆%∆ = ∆∆ ∙ = 𝑄 ∙ Khi doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường thay đổi chiến lược giá, sự tác động đến cầu sản phẩm của công ty là tỷ lệ thuận, do đó 𝐸
sẽ mang giá trị dương Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp bán hàng hóa bổ sung trong tiêu dùng đối với sản phẩm của công ty thay đổi giá, sự tác động đến cầu sản phẩm của công ty là tỷ lệ nghịch nên lúc này 𝐸 sẽ mang giá trị âm Đối với những hàng hóa độc lập với sản phẩm của công
ty, sẽ không có sự thay đổi nào trong cầu đối với sản phẩm của công ty khi giá hàng hóa độc lập thay đổi, khi đó 𝐸 sẽ bằng không
Như vậy, giá trị độ co dãn của cầu không chỉ giúp nhà quản lý đưa
ra được quyết định sản xuất, kinh doanh phù hợp khi xác định được % thay đổi lượng cầu sản phẩm của doanh nghiệp trước sự biến động của
Trang 40những yếu tố tác động mà còn giúp nhà quản lý xác định và so sánh mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến cầu trong chiến lược kích cầu, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
1.2.3 Phân tích cấu trúc thị trường và các quyết định quản lý
Quyết định của nhà quản lý sẽ không thể đạt được thành công như mong đợi nếu không biết các nguồn lực thị trường tác động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp như thế nào Một phần đặc biệt quan trọng trong các quyết định quản lý là quyết định về giá Cấu trúc thị trường của doanh nghiệp có thể hạn chế khả năng nhà quản lý tăng giá sản phẩm của hãng mà không làm mất đi một phần đáng kể hoặc có thể thậm chí là tất
cả doanh thu của hãng Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có khả năng định giá cho sản phẩm của mình Trong một số ngành kinh doanh, khi sản lượng của doanh nghiệp trong ngành chiếm một phần nhỏ tương đối trong tổng số hàng hoá sản xuất và bán ra thì giá hàng hoá
đó không được quyết định bởi một doanh nghiệp hoặc một nhà quản lý
mà được quyết định bởi những nguồn lực khách quan của thị trường - đó
là mức giá nơi cung và cầu giao nhau - giá cân bằng của thị trường Nếu nhà quản lý đặt giá sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn mức giá được quyết định bởi thị trường, lượng cầu sẽ bị sụt giảm và dẫn tới doanh số bán sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị mất vào tay các doanh nghiệp còn
lại trong ngành Trong tình huống đó, doanh nghiệp là một người chấp
nhận giá (price taker) và không thể định giá cho sản phẩm bán ra
Ngược với trường hợp các doanh nghiệp chấp nhận giá, nhà quản
lý của một hãng định giá (price maker) có thể định giá cho sản phẩm
mà không bị mất toàn bộ doanh số bán bởi vì sản phẩm có sự khác biệt
so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, hoặc có thể bởi vì trên thị trường mà sản phẩm được bán ra chỉ có một hoặc một vài người bán sản
phẩm đó Khi đó, ta có thể nói các doanh nghiệp định giá này là có sức
mạnh thị trường (market power)
Vậy thị trường là gì? Đó là tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ, các nguồn lực được sử dụng cho sản xuất Sự sắp xếp này có thể
là địa điểm hoặc thời gian nhưng cũng có thể là những thứ không phải là