1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu công tác quản lý chất thải rắn và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trên địa bàn thị trấn tứ kỳ, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương

52 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Công Tác Quản Lý Chất Thải Rắn Và Đề Xuất Biện Pháp Quản Lý Phù Hợp Trên Địa Bàn Thị Trấn Tứ Kỳ, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương
Trường học Trường Đại Học Hải Dương
Chuyên ngành Quản Lý Môi Trường
Thể loại Đề Án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • + Tìm hiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Tứ Kỳ

  • + Tìm hiểu hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ

  • + Tìm hiểu ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe con người

  • + Tìm hiểu tình hình phát sinh chất thải rắn tại các cơ sở trên địa bàn nghiên cứu: Nguồn phát sinh, thành phần, lượng chất thải rắn.

  • CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐƠN VỊ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

    • Chất thải rắn là gì? Khái niệm chất thải rắn, định nghĩa chất thải rắn

    • Chất thải rắn công nghiệp là gì?

    • Chất thải rắn sinh hoạt là gì

    • Chất thải rắn thông thường?

    • Chất thải rắn nguy hại là gì?

    • Chất thải rắn đô thị là gì?

    • Chất thải rắn y tế là gì?

    • Phân loại chất thải rắn, thành phần của chất thải rắn, Theo quy định hiện nay, chất thải rắn sinh hoạt thông thường nên được phân loại như thế nào?

    • 1. Phân loại theo nguồn gốc phát sinh

      • – Chất thải rắn đô thị:

      • – Chất thải rắn nông nghiệp:

      • – Chất thải rắn sinh hoạt:

      • – Chất thải rắn công nghiệp:

    • 2. Phân loại theo thành phần hóa học

    • 3. Phân loại theo tính chất độc hại

    • 4. Phân loại theo công nghệ xử lý hoặc khả năng tái chế

    • Tính chất cơ bản của chất thải rắn

    • Khối lượng riêng của chất thải rắn

    • Độ ẩm của chất thải rắn

    • Nhiệt trị của chất thải rắn

    • Ô nhiễm chất thải rắn

    • Quản lý chất thải rắn đúng cách

    • Quy trình xử lý chất thải rắn

    • Các phương pháp xử lý chất thải rắn

      • Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp nhiệt (đốt)

      • Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp sinh học

      • Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp tái chế chất thải rắn

    • Tái chế chất thải rắn, các phương pháp xử lý chất thải rắn.

    • Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp nhiệt

    • Quy trình xử ký chất thải rắn

    • 1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của phòng Tài nguyên – Môi trường

      • 1.1.1. Vị trí, chức năng

      • 1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn

      • 1.1.3. Về biên chế

      • 1.1.4. Cơ cấu tổ chức

      • 1.1.5. Nguyên tắc làm việc

    • 1.2. Các dự án của đơn vị.

  • CHƯƠNG II: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN

    • 2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Tứ Kỳ

    • 2.2. Khái quát về hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ

    • 2.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe con người

    • 2.4 Tìm hiểu nguồn gốc phát sinh chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

    • 2.6. Đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý CTR phù hợp trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

LÝ THUYẾT B TỔNG QUAN 1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của phòng Tài nguyên – Môi trường

Chất thải rắn là gì? Khái niệm chất thải rắn, định nghĩa chất thải rắn

Chất thải rắn là những chất thải ở dạng rắn được phát sinh từ các hoạt động sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, sinh hoạt hàng ngày và nhiều hoạt động khác Các ví dụ về chất thải rắn bao gồm vỏ chai, hộp nhựa, cao su, giấy, thủy tinh, kim loại như sắt, nhôm, đồng, kẽm, giấy báo, rác từ sân vườn, đồ đạc đã qua sử dụng, bì nhựa, và rác sinh hoạt Tất cả những vật liệu này đều là những gì con người thải ra môi trường.

Chất thải rắn công nghiệp là gì?

Chất thải rắn công nghiệp thông thường bao gồm các loại phế phẩm và phế liệu phát sinh từ hoạt động sản xuất trong các ngành như gia công cơ khí, dệt nhuộm, luyện kim, xi mạ, chăn nuôi, và sản xuất lương thực thực phẩm Chất thải công nghiệp có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm dạng rắn, lỏng và khí.

Chất thải công nghiệp được hiểu là các chất thải phát sinh ra từ các hoạt động sản xuất của các nhà máy, công ty, xí nghiệp

Chất thải rắn sinh hoạt là gì

Chất thải rắn sinh hoạt là các loại rác thải phát sinh từ hoạt động hàng ngày của con người, bao gồm vỏ chia, vỏ hộp, ống nước, vật tư ốc vít, cũng như các đồ dùng như nồi, chảo, dao và máy cưa Những chất thải này bao gồm cả thành phần vô cơ và hữu cơ, phản ánh sự đa dạng trong quá trình tiêu dùng và sinh hoạt.

Khách hàng thường tìm kiếm thông tin về chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm các câu hỏi như: chất thải rắn sinh hoạt gồm những gì, cách gọi tiếng Anh của chúng, các nhóm phân loại, sự khác biệt giữa chất thải rắn sinh hoạt thông thường và nông thôn, cũng như số loại và nguồn gốc của chất thải rắn sinh hoạt Bài viết này hy vọng sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết để giải đáp thắc mắc của bạn đọc.

Chất thải rắn thông thường?

Chất thải rắn công nghiệp thông thường là các loại phế phẩm phát sinh từ hoạt động sản xuất và kinh doanh Những loại chất thải này bao gồm sắt thép phế liệu, nhôm, đồng và các vật liệu thừa khác Việc quản lý và xử lý chất thải rắn này là rất quan trọng để bảo vệ môi trường và tái chế tài nguyên.

Chất thải rắn nguy hại là gì?

Chất thải rắn nguy hại có thể là kim tiêm, máy móc phóng xạ, đồ điện hạt nhân, đầu đạn, kim loại chì, niken, mạch điện tử…

Chất thải rắn nguy hại

Chất thải rắn đô thị là gì?

Chất thải rắn đô thị là các phế phẩm từ khu vực đô thị được thải ra môi trường mà người tạo ra không yêu cầu bồi thường khi vứt bỏ Đây là trách nhiệm của thành phố trong việc thu dọn Nguồn gốc của chất thải rắn đô thị bao gồm: chất thải sinh hoạt từ khu dân cư, phế thải từ khu thương mại, cơ quan, bệnh viện, trường học, hoạt động nông nghiệp, công trình xây dựng, nhà máy xử lý và các dịch vụ công cộng.

Chất thải rắn đô thị

Chất thải rắn y tế là gì?

Chất thải rắn y tế bao gồm các loại phế thải như kim bông, găm kim, và vật tư y tế bị thải loại sau khi sử dụng Những chất thải này rất độc hại và có nguy cơ lây lan bệnh tật, do đó cần được xử lý cẩn thận Việc giao cho các cơ quan chuyên trách xử lý chất thải nguy hại là điều cần thiết để đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng.

Chất thải rắn y tế là loại rác thải nguy hại khó xử lý

Chất thải rắn y tế nguy hại là một vấn đề quan trọng cần được quản lý đúng cách Chất thải rắn y tế bao gồm nhiều loại, trong đó có chất thải rắn y tế thông thường và các nhóm chất thải khác nhau Tại Hà Nội, việc xử lý chất thải rắn trong y tế cần được chú trọng để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng Quản lý chất thải rắn y tế hiệu quả không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn giảm thiểu rủi ro cho người dân Bên cạnh đó, việc phân loại rác thành rác vô cơ, rác hữu cơ và rác tái chế cũng đóng vai trò quan trọng trong quy trình này.

Chất thải rắn được phân loại thành nhiều loại khác nhau, bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại Thành phần chính của chất thải rắn sinh hoạt thường gồm thực phẩm thừa, bao bì, giấy và nhựa Theo quy định hiện nay, chất thải rắn sinh hoạt thông thường cần được phân loại rõ ràng để đảm bảo quá trình thu gom và xử lý hiệu quả, nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Việc phân loại đúng cách không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo điều kiện cho việc tái chế và sử dụng lại các vật liệu.

Trước khi phân loại chất thải rắn, cần xác định nguồn gốc phát sinh từ hoạt động thải loại của con người, điều này dẫn đến sự đa dạng của chất thải rắn.

Chất thải rắn có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm nguồn gốc phát sinh, thành phần hóa học, tính chất độc hại, và khả năng xử lý cũng như tái chế Hiện nay, nhiều người vẫn thắc mắc về ô nhiễm chất thải rắn, cũng như các khái niệm như chất thải rắn đô thị và chất thải rắn xây dựng Các diễn đàn thường xuyên cung cấp thông tin cụ thể để giải đáp những câu hỏi này.

1 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh

Phân loại chất thải rắn

Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động của con người, chất thải rắn được tạo ra và chuyển giao cho các công ty mua phế liệu sẽ được phân loại thành nhiều loại khác nhau.

– Chất thải rắn đô thị: là loại rác thải rắn, chất thải từ cơ quan, hộ gia đình, chợ, trường học…

– Chất thải rắn nông nghiệp:

Chất thải rắn nông nghiệp, đó chính là rơm rạ, trấu, bao bì, lõi ngô, bao bì thuốc bảo vệ thực vật…

– Chất thải rắn sinh hoạt:

Là tất cả các loại chất thải từ đồ ăn thauwf, thức uống, chai lọ, rác sinh hoạt…

– Chất thải rắn công nghiệp:

Rác thải công nghiệp là chất thải phát sinh từ các xí nghiệp, khu công nghiệp và nhà máy, bao gồm phế liệu như sắt thép, kim loại, nhựa, cao su, giấy và thủy tinh.

Chất thải rắn công nghiệp

2 Phân loại theo thành phần hóa học

Chất thải rắn hữu cơ: bao gồm các chất thải từ thực phẩm, rau củ quả, chất thải chế biến thức ăn, phế thải nông nghiệp

3 Phân loại theo tính chất độc hại

Chất thải rắn thông thường: bao gồm giấy, vải, thủy tinh…

Chất thải rắn nguy hại: bao gồm các loại chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải y tế nguy hại, chất thải nông nghiệp nguy hại…

4 Phân loại theo công nghệ xử lý hoặc khả năng tái chế

Chất phải phân hủy sinh học và phân thải khó phân hủy sinh học,

Chất thải cháy được và chất thải không cháy được,

Chất thải tái chế được: các loại kim loại: inox, sắt, nhôm, chì, niken, thiếc, gang, cao su, giấy, gỗ…

Chất thải rắn công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn

Tính chất cơ bản của chất thải rắn

Khi thiết kế công nghệ xử lý chất thải rắn, các kỹ sư cần xem xét các yếu tố như kích thước trung bình, tỷ trọng, độ ẩm và độ xốp Đặc biệt, trong công nghệ nhiệt phân, các tính chất quan trọng khác như nhiệt trị, độ tro, nhiệt dung riêng và độ cháy cũng được chú trọng để đảm bảo hiệu quả xử lý.

Khối lượng riêng của chất thải rắn

Khối lượng riêng của chất thải rắn được xác định là khối lượng của các vật chất trên một đơn vị thể tích (kg/m3) và có thể thay đổi tùy thuộc vào trạng thái của chúng, bao gồm chất thải đổ đống có nén hoặc chưa nén Độ ẩm của chất thải rắn được tính bằng tỷ lệ phần trăm hơi nước trong một đơn vị khối lượng chất thải, thường được tính toán theo công thức cụ thể.

Trong đó: xw – độ ẩm, %; mr – là khối lượng chất thải rắn trước khi sấy, kg; ms – là khối lượng chất thải rắn sau khi sấy, kg.

Nhiệt trị của chất thải rắn

PHÂN TÍCH ĐỐI TƯỢNG MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Tứ Kỳ

Thị trấn Tứ Kỳ, tọa lạc tại trung tâm huyện Tứ Kỳ, cách Thành phố Hải Dương 18km, Thành phố Hải Phòng 35km và thị xã Thái Bình 40km, nằm dọc theo đường 191.

- Phía Bắc giáp xã Đông Kỳ, Tây Kỳ

- Phía Nam giáp xã Minh Đức

- Phía Đông giáp xã Văn Tố

- Phía Tây giáp xã Quang Phục.

(Nguồn: Bản đồ trực tuyến đô thị huyện Tứ Kỳ) b.Điều kiện tự nhiên

Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng :

- Cao độ ruộng trung bình: +1,2m { 1,7m

- Cao độ dân cư hiện trạng: +2,5m { +2,7m

- Cao đọ tìm đường 191 tại khu vực: +2,9 { +3,1m Độ dốc nền trung bình 0,1% - 0,4%

Hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Khí hậu huyện Tứ Kỳ, thuộc tỉnh Hải Dương, đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa miền Bắc, với hai mùa chính là mùa mưa vào hè và mùa khô vào đông Ngoài ra, còn có hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu.

Nhiệt độ trung bình của tỉnh Hải Dương trong năm 2015 đạt 23,0°C, với mức cao nhất vào tháng 6 và tháng 7 là 29,5°C và 29,6°C, trong khi nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là 15,5°C vào tháng 1 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014).

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí của khu vực Hải Dương khá cao, theo kết quả quan trắc của

Theo số liệu từ Trạm khí tượng thủy văn Hải Dương, độ ẩm trung bình năm 2011 đạt 81% Trong mùa hanh khô, tháng 1 và tháng 12 có độ ẩm trung bình thấp nhất là 77,2%, trong khi tháng 4 ghi nhận độ ẩm trung bình cao nhất với 86,5% (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2011)

Mưa đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch không khí và pha loãng chất thải lỏng Tại khu vực Hải Dương, đặc biệt là huyện Tứ Kỳ, mùa mưa thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 80 - 85% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Theo Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014, tổng lượng mưa năm 2011 đạt 1.593 mm.

- Nắng và bức xạ: Chế độ nắng liên quan chặt chẽ đến chế độ bức xạ và tình trạng mây.

Vào tháng 3, khu vực trải qua tổng lượng bức xạ thấp nhất trong năm với bầu trời u ám và nhiều mây, dẫn đến số giờ nắng ít nhất Tuy nhiên, sang tháng 4, thời tiết ấm áp hơn và số giờ nắng bắt đầu tăng lên, cải thiện điều kiện ánh sáng cho khu vực.

+ Tổng giờ nắng của các tháng năm 2011 là 1.239 giờ.

+ Tháng có giờ nắng trung bình lớn nhất (tháng 8): 195 giờ.

+ Tháng có giờ nắng trung bình thấp nhất (tháng 1): 5 giờ (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014).

- Chế độ gió: Tại khu vực dự án chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng

11 năm trước đến tháng 3 năm sau và chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 9.

+ Vận tốc gió trung bình trong năm: 1,9 m/s.

+ Vận tốc gió trung bình tháng lớn nhất (tháng 5): 3,0 m/s.

+ Vận tốc gió trung bình tháng bé nhất (tháng 10): 2,4 m/s (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014).

Khí hậu khu vực dự án thuộc đồng bằng Bắc Bộ, với đặc điểm nóng ẩm và lượng mưa dồi dào, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gió mùa.

Huyện Tứ Kỳ nằm trong khu vực được bao bọc bởi hệ thống sông Thái Bình, nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chế độ thuỷ văn của con sông này Chế độ dòng chảy của sông Thái Bình được phân chia thành hai mùa rõ rệt, tạo nên đặc điểm nổi bật cho địa phương.

Mùa cạn diễn ra từ cuối tháng 10 năm trước đến giữa tháng 5 năm sau, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều với một lần nước lên và một lần nước xuống mỗi ngày Trong những ngày triều mãn, có thể xuất hiện hai đỉnh và một chân hoặc hai chân và một đỉnh triều Thủy triều trong những ngày triều cường khá mạnh, với dòng chảy ngược khi nước lên, và biên độ triều trung bình trong ngày dao động từ 70-100 cm.

Mùa lũ thường diễn ra từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 10, với khả năng bắt đầu sớm hơn trong một số năm Mức nước trong mùa này thay đổi tùy thuộc vào lượng nước từ thượng nguồn, dẫn đến hiện tượng triều bị phá vỡ và không có dòng chảy ngược Biên độ mực nước trong năm thường khá lớn, ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực.

Theo số liệu điều tra năm 2015, dân số khu vực quy hoạch có khoảng 15.400 người Tỉ lệ tăng dân số trung bình khu vực: 0,9%

Lao động chiếm 52,51% trên tổng số lao động: 7.886 người Trong đó:

- Lao động nông nghiệp: 4.320 người

- Lao động tiểu thủ công nghiệp: 2.210 người

- Lao động thương nghiệp, dịch vụ: 1.186 người

- Lao động dư thừa: 150 người

Tổng diện tích đất đai trong khu vực quy hoạch: 729,39ha

Trong đó: Đất thị trấn Tứ Kỳ là thôn La Tỉnh và An Nhân, thôn Vạn, thôn La Giang là 48,2ha

Diện tích đất bình quân là 66,9m²/người, chủ yếu là đất ở tại các làng xóm và một số trục phố chính của thị trấn Ngoài ra, khu vực thị trấn còn có 2,0ha đất nghĩa địa phân bố rải rác.

Qũy đất còn khai thác trong khu vực quy hoạch: 508,57ha

Thu nhập bình quân 4,8 triệu đồng/người

Tổng thu nhập của thị trấn năm 2010 đạt: 30,12 tỷ đồng Trong đó:

- Thu từ nông nghiệp : 9,15 tỷ đồng chiếm 30,4%

- Thu từ tiểu thủ công nghiệp : 9,32 tỷ đồng chiếm 30,94%

- Thu từ dịch vụ : 14,05 tỷ đồng chiếm 38,66%

- Nộp ngân sách nhà nước : 542.204.389 đồng

Trong những năm gần đây, khối ngành dịch vụ đã phát triển mạnh mẽ, chiếm tỷ trọng lớn 38,66% trong cơ cấu GDP của khu vực Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành này đạt 12% mỗi năm.

Mạng lưới chợ và cơ sở thương mại tập trung chủ yếu ở trục trung tâm của thị trấn ( ven đường 191).

Buôn bán đường dài là một lợi thế nổi bật của thị trấn, nhờ vào tuyến đường 10 kết nối thuận lợi với các vùng kinh tế phía Đông Nam, bao gồm Hải Phòng và Thái Bình.

Khu vực chợ yên không chỉ là chợ thị trấn mà còn là chợ vùng của huyện và vùng lân cận.

Bến bãi sông Vạn là điểm tập kết nguyên vật liệu, hàng hóa khá sầm uất.

Các dịch vụ công cộng, dịch vụ kĩ thuật phát triển: Nhiều tổ chức tín dụng ngân hàng thành lập, hệ thống dịch vụ thông tin phát triển mạnh.

 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần đây đang phát triển nhanh chiếm tỷ trọng 30,94% tổng GDP

Trong thị trấn hiện có gần 20 cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, chủ yếu tập trung vào ngành cơ khí, mộc và nghề truyền thống như mây, tre đan Những ngành nghề này không chỉ thu hút đông đảo lao động địa phương mà còn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của khu vực.

Trung tâm y tế Tứ Kỳ có diện tích: 18.641m 2 tổng số 127 cán bộ y tế, ngoài ra khu vực còn có một số cơ sở y tế tư nhân hoạt động

Cơ sở được đầu tư xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ở các tuyến.

Cơ sở có diện tích đất đảm bảo quy mô cho cấp huyện, vị trí xây dựng hiện tại đã phù hợp.

Khu vực thị trấn hiện có 5 trường :

- Trường THPT có diện tích: 10.500m 2

- Trường THCS Phan Bội Châu: 2.150m 2

- Trung tâm giáo dục thường xuyên: 2.144m 2

Các cơ sở giáo dục đã được xây dựng kiên cố song quy mô chưa đáp ứng giai đoạn sau.

- Đường bộ: Tuyến đường 191 cắt qua thị trấn, mặt đường rải nhựa rộng 6m, đoạn qua thị trấn hiện rộng 9m, lưu không hai bên 6 – 10m

Đường thủy sông Vạn chảy qua thị trấn có chiều dài 4,2km, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật sông cấp III với chiều rộng tối thiểu 100m và chiều sâu tối thiểu 2,5m Mực nước lớn nhất đạt +3,1m, cho phép thuyền và xà lan 400 tấn lưu thông Bến sông hai bên có tổng chiều dài 500m, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thông đường thủy.

- Trục đường trung tâm thị trấn xây dựng quy mô 24m dài 420m, mặt đường rải nhựa đã xây dựng bờ lốc hè và hệ thống thoát nước.

- Các tuyến đường liên xã có 9 tuyến dài tổng 5,4km trong đó 2,29km là đường đã cấp phối, 3,11km đường đất

- Các tuyến đường thôn: 16 tuyến tổng chiều dài 7,38km

Khái quát về hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ

Giống như nhiều địa phương khác trên cả nước, sự phát triển kinh tế - văn hóa tại địa phương cũng đi kèm với những vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng.

Rác thải đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là đối với người dân tại khu vực thị trấn Theo ước tính từ tổ vệ sinh môi trường, mỗi người dân thải ra khoảng 0,4-0,5 kg rác mỗi ngày Với dân số 15.400 người, tổng lượng rác thải phát sinh hàng ngày tại thị trấn lên tới con số đáng kể, gây ra nhiều lo ngại cho cộng đồng.

7700 kg rác thải cần được xử lý, thu gom.

Việc thu gom rác thải hiện nay chưa được chú trọng, nhiều khu vực thiếu đơn vị chuyên trách, dẫn đến tỷ lệ thu gom chỉ đạt khoảng 40 - 55% Mặc dù một số nơi đã áp dụng biện pháp thu gom rác thải sinh hoạt, nhưng quy mô còn hạn chế và phương tiện thu gom vẫn thô sơ Kết quả là rác thải vẫn tràn ngập khắp nơi, gây ảnh hưởng đến môi trường sống.

Theo báo cáo từ tổ vệ sinh môi trường, ý thức của người dân vẫn còn kém, dẫn đến lượng rác thu gom chỉ đạt 50% Hiện tại, người dân chủ yếu tự xử lý rác bằng cách chôn hố, đốt hoặc vứt bừa bãi ra sông, ao, hồ.

Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe con người

a Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường

Khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng lớn từ nhiệt độ không khí và có sự thay đổi theo mùa, với lượng khí thải cao hơn vào mùa hè so với mùa đông Khoảng 30% khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát ra môi trường mà không cần tác động, trong khi việc vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn (CTR) cũng gây ra mùi khó chịu do phân hủy các chất hữu cơ Ngoài việc chôn lấp, xử lý CTR bằng phương pháp tiêu hủy cũng góp phần gây ô nhiễm không khí, với việc đốt rác tạo ra khói, tro bụi và mùi khó chịu.

Chất thải rắn (CTR) không được xử lý đúng cách có thể gây ô nhiễm môi trường nước khi bị thải vào kênh, rạch, sông, hồ, ao Điều này không chỉ làm tắc nghẽn dòng chảy mà còn giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí, dẫn đến sự suy giảm nồng độ oxy hòa tan (DO) trong nước Ngoài ra, sự phân hủy của chất thải rắn hữu cơ trong nước tạo ra mùi hôi thối và gây phú dưỡng, làm suy giảm chất lượng thủy sinh vật Hơn nữa, quá trình phân hủy CTR và các chất ô nhiễm khác còn khiến nước chuyển sang màu đen và phát ra mùi khó chịu.

Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp và bê-tông, có khả năng tồn tại lâu dài trong đất, gây ra mối nguy hiểm tiềm tàng cho môi trường Những vật liệu này rất khó phân hủy, dẫn đến tích tụ và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái.

Các kim loại nặng tích lũy trong đất và xâm nhập vào cơ thể qua chuỗi thức ăn và nước uống, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người Chất thải từ các sản phẩm như chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, và các ngành công nghiệp như sản xuất pin, thuộc da, và hóa chất có khả năng ô nhiễm đất ở mức độ lớn, làm gia tăng rủi ro cho sức khỏe cộng đồng.

Quản lý và xử lý CTR không hợp lý gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, đặc biệt là đối với cư dân sống gần các khu vực làng nghề, khu công nghiệp và bãi chôn lấp chất thải.

Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có nguy cơ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản và đau xương khớp cao hơn so với các khu vực khác.

Các thành phần chất thải rắn nguy hiểm bao gồm kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm, mô tế bào động vật và nguồn nước Những chất này tồn tại lâu dài trong môi trường, gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho con người như vô sinh, dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, dẫn đến các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư, và có thể di truyền di tật sang thế hệ thứ ba.

Tìm hiểu nguồn gốc phát sinh chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sinh hoạt tại khu dân cư

Với sự phát triển kinh tế và nhu cầu ngày càng cao của đời sống, lượng chất thải rắn sinh hoạt ngày càng gia tăng Chất thải này có thành phần phức tạp, phát sinh từ nhiều nguồn như hộ gia đình, cơ sở kinh doanh, trường học và cơ quan Trong đó, chất thải rắn từ hộ gia đình, quán ăn, chợ và các cơ sở kinh doanh chiếm tỉ trọng lớn nhất.

Dọc các tuyến đường, nhiều bãi vật liệu xây dựng, cửa hàng ăn uống và quán sửa chữa tập trung, dẫn đến sự đa dạng trong thành phần chất thải rắn Các loại chất thải bao gồm thực phẩm thừa, túi nilon, bao bì và các chất vô cơ như gạch ngói vỡ từ các cửa hàng kinh doanh vật liệu.

Chất thải rắn từ các khu vực dân cư tập trung, đặc biệt là trong ngõ không nằm trên trục đường chính, chủ yếu bao gồm chất hữu cơ như thức ăn thừa, vỏ hoa quả và lá cây Bên cạnh đó, còn có các hợp chất vô cơ như thủy tinh, túi nilon và tro xỉ từ quá trình đun nấu.

Chất thải rắn từ các cơ quan như trường học chủ yếu bao gồm giấy báo, đồ nhựa và thực phẩm thừa từ bữa trưa Những loại chất thải này có thành phần đơn giản và không gây ảnh hưởng lớn đến môi trường.

Rác thải rắn từ chợ phát sinh với khối lượng lớn, chủ yếu gồm chất hữu cơ như rau quả và thực phẩm hư hỏng, cùng với bao bì và rác sinh hoạt Thành phần phức tạp này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra mùi hôi thối, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh mầm bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất thải rắn, đặc biệt là trong công tác thu gom rác Mỗi loại nguồn phát sinh sẽ yêu cầu những biện pháp thu gom phù hợp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý chất thải.

 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động công nghiệp

Lượng chất thải rắn công nghiệp thấp hơn so với chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm cả chất thải không nguy hại và nguy hại, với chất thải nguy hại có khả năng dễ cháy nổ, độc tính cao và tính ăn mòn Khối lượng và thành phần chất thải rắn công nghiệp thay đổi tùy thuộc vào loại hình sản xuất của từng công ty hoặc cơ sở Chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ thường chứa đến 85% thành phần vô cơ, khó phân hủy sinh học Tại thị trấn Tứ Kỳ, các loại chất thải rắn công nghiệp chủ yếu bao gồm phế liệu kim loại, bìa các-tông, xốp, gỗ, nhiên liệu sản xuất và phế liệu xây dựng.

Ngành sản xuất vật liệu xây dựng tạo ra một lượng chất thải đáng kể, chủ yếu là bụi và phế thải không được xử lý đúng cách, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Việc đổ phế thải bừa bãi không chỉ làm mất vệ sinh tại nơi sản xuất mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ sở sản xuất khác trong khu công nghiệp.

 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động y tế

CTR của bệnh viện phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hoạt động khám chữa bệnh, phẫu thuật, điều trị, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, cũng như các nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và cán bộ công nhân viên, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe con người.

CTR y tế bao gồm nhiều thành phần quan trọng như bông băng, gạc, kim tiêm, túi nhựa, dao mổ, phim chụp X-quang, dược phẩm, bệnh phẩm, ống thủy tinh, lọ, găng tay cao su và khăn giấy.

Việc phân loại chất thải và xác định nguồn thải của bệnh viện được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 2.1 Phân loại chất thải và xác định nguồn thải tại bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ

Chất thải không sắc nhọn

Từ phòng mổ: các cơ quan, bộ phận cơ thể nạn nhân sau khi phẫu thuật, bột bó có dính máu bệnh nhân.

Băng gạt hay bất cứ dụng cụ nào có dính máu, đờm nước bọt của bệnh nhân.

Các vật sắc nhọn và các vật bị gẫy, vỡ có dính máu trong khi mổ, các vật liệu sử dụng trong quá trình khám chữa bệnh

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ, 2015) b Khối lượng, thành phần phát sinh

 Chất thải rắn sinh hoạt

Căn cứ vào việc tiến hành điều tra, và thu thập số liệu lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày được thống kê trong bảng sau:

Bảng 2.2: Khối lượng, thành phần và tỷ lệ CTR sinh hoạt phát sinh

Thành phần Khối lượng (kg) Tỷ lệ (%)

1 Chất hữu cơ: thức ăn thừa, cọng rau, vỏ quả,…

2 Plastic: chai lọ, hộp, túi, nilon,… 5,00 4,60

7 Kim loại: vỏ hộp, sợi kim loại,… 0 0

8 Thủy tinh: chai lọ, mảnh vỡ,… 5,00 4,60

10 Chất trơ: đất đá, cát, gạch vụn,… 9,30 8,55

11 Cành cây, gỗ, lá cây,… 1,20 1,10

13 Chất thải nguy hại: vỏ hộp sơn, bóng đèn hỏng, ác quy,…

(Nguồn: Báo cáo kết quả phân tích, lấy mẫu theo mạng lưới các điểm quan trắc tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện Tứ Kỳ năm 2015)

Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn có thành phần đa dạng, chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân huỷ, túi nilon, vỏ đồ hộp, thuỷ tinh và kim loại Chất hữu cơ dễ phân huỷ chiếm tỷ lệ cao nhất, lên đến 65,07%, bao gồm thức ăn thừa, rau củ, vỏ quả và lá cây Đây là lợi thế lớn, vì các chất hữu cơ này có thể được tái sử dụng làm nguyên liệu trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt qua biện pháp sinh học hoặc làm cơ sở cho các dự án sản xuất phân bón tại địa phương.

 Chất thải rắn công nghiệp

Tại các cơ sở chế biến gỗ, quá trình sản xuất có thể gây ô nhiễm môi trường do phát sinh bụi và mùn cưa Trong khi đó, các cơ sở chế biến thực phẩm nhỏ, hoạt động quy mô gia đình, thường tạo ra lượng chất thải rắn chủ yếu là các sản phẩm hữu cơ dễ phân hủy như men bã, chất hữu cơ, vỏ quả và củ Những chất thải này có khả năng gây ô nhiễm cao do chứa nhiều thành phần hữu cơ và phân hủy nhanh chóng.

Bảng 2.3 Nguồn CTRCN phát sinh tại thị trấn Tứ Kỳ

T Ngành công nghiệp Số cơ sở khảo sát Thành phần chất thải rắn

1 Chế biến gỗ 12 Gỗ vụn, mẩu gỗ, gỗ loại,….

Thực phẩm thừa, thiu, thối

Sản xuất vật liệu xây dựng 6

Gạch, sỏi, đá, ngói vụn

Cơ khí, gia công chế tạo các sản phẩm kim loại 7

Phế liệu kim loại, sắt thép thừa, nhiên liệu trong sản xuất

(Nguồn: Báo cáo kết quả phân tích, lấy mẫu theo mạng lưới các điểm quan trắc tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện Tứ Kỳ năm 2015)

CTRCN chủ yếu phát sinh từ ngành chế biến gỗ và cơ khí, với lượng chất thải lớn từ sản xuất vật liệu xây dựng Mặc dù không nhiều chất thải rắn nguy hại, nhưng bụi và phế thải đổ bừa bãi gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất khác trong cụm công nghiệp Tại các cơ sở chế biến gỗ, bụi và mùn cưa phát sinh trong quá trình chế biến có thể gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, các cơ sở chế biến thực phẩm nhỏ, hoạt động ở quy mô gia đình, cũng tạo ra lượng CTR chủ yếu là các sản phẩm hữu cơ dễ phân hủy như men bã, vỏ quả, củ, có khả năng gây ô nhiễm cao do chứa nhiều chất hữu cơ và phân hủy nhanh.

Theo thống kê của bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ năm 2014, lượng CTRYT nguy hại phát sinh trong bệnh viện là 612kg/tháng

Bảng 2.5 Khối lượng CTRYT nguy hại

Bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, các loại ống tiêm 115

Chất thải bị tấm máu, thấm dịch của cơ thể

Bệnh phẩm và dụng cụ dính bệnh phẩm

4 Các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người phát sinh 90 trong quá trình khám chữa bệnh

Thuỷ ngân( nhiệt kế, huyết áp), chất thải từ hoạt động nha khoa 7

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ, 2015)

Khối lượng phát sinh các chất thải y tế (CTRYT) rất khác nhau, với chất thải bị thấm máu và dịch cơ thể chiếm tỷ lệ lớn nhất do tính chất băng bó và hạn chế tiếp xúc với môi trường bên ngoài Các loại bơm kim tiêm và vật sắc nhọn phát sinh ít hơn nhưng lại có tính chất nguy hiểm hơn, vì chúng tiếp xúc trực tiếp với máu và có khả năng gây sát thương cao cho người thu gom Trong khi đó, thủy ngân phát sinh với khối lượng ít nhất, thường được chứa trong vật liệu thủy tinh an toàn, nhưng nếu vỡ ra sẽ gây nguy hiểm nghiêm trọng cho sức khỏe con người.

Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

a Công tác qaunr lý chất thải rắn

 Chất thải rắn sinh hoạt

Hiện nay, tất cả các khu dân cư trên địa bàn thị trấn đều đã thành lập các tổ dọn vệ sinh, được quản lý trực tiếp bởi hội phụ nữ.

Mỗi tổ dọn vệ sinh môi trường gồm 3 người có nhiệm vụ thu gom rác thải từ các hộ gia đình và trường học Quá trình thu gom chủ yếu diễn ra bằng phương pháp thủ công, sử dụng xe đẩy tay, chổi và xẻng, kết hợp với xe vận chuyển để chuyển rác thải đến bãi rác tập trung.

Riêng khu vực dân cư dọc bên trục đường chính và các khối cơ quan của huyện sẽ có tổ vệ sinh riêng

- Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt

Hằng ngày, công nhân vệ sinh thu gom rác thải rắn sinh hoạt từ các xóm, trường học và cơ sở sản xuất kinh doanh trong khu vực bằng xe đẩy tay, sau đó vận chuyển đến bãi rác.

Thời gian thu gom rác thải tại các khu dân cư diễn ra hàng ngày, với các công nhân vệ sinh bắt đầu công việc từ 7h sáng Họ sẽ đẩy xe đến từng xóm để thu gom rác thải, đảm bảo môi trường sống luôn sạch sẽ và gọn gàng.

+ Cơ sở vật chất và nguồn nhân lực thu gom rác thải Số trang thiết bị của được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.6 Cơ sở vật chất phục vụ công tác thu gom vận chuyển rác.

(Nguồn: Tổ vệ sinh môi trường thị trấn Tứ Kỳ)

Hiện nay, cơ sở vật chất phục vụ công tác thu gom rác bao gồm 1 xe tải, 4 xe gom rác đẩy tay, 4 cào rác, 8 xảo, 4 xẻng xúc và 8 chổi rễ Đội ngũ nhân lực cho hoạt động này gồm 10 người, tất cả đã được trang bị khẩu trang, găng tay và quần áo lao động đầy đủ.

Công tác thu gom rác của công nhân vệ sinh chủ yếu diễn ra dọc các trục đường chính, bắt đầu bằng việc đẩy xe và công cụ đến khu vực phụ trách Trong quá trình thu gom, công nhân phân loại các vật liệu tái chế như túi nilon, chai, lọ thủy tinh Khi các xe gom rác đầy, chúng sẽ được đưa đến các điểm tập kết Các hộ gia đình ven đường cần tập trung rác trước cửa, trong khi những hộ ở sâu trong ngõ phải mang rác ra điểm tập trung để được thu gom Hiện tại, hiệu suất thu gom rác tại địa phương đạt 65%.

Rác thải không được thu gom tại các ngõ xóm, ao hồ và kênh mương gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến mỹ quan và sức khỏe cộng đồng Do đó, công tác thu gom rác thải tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn.

Tại các cơ quan hành chính, trường học, xí nghiệp,…tổ vệ sinh cho xe chở rác tới tận nơi để thu gom.

CTR ở khu vực chợ Yên của thị trấn sẽ được ban quản lý chợ thu gom đưa ra điểm tập kết chung gần đó.

Chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và vận chuyển bởi công nhân vệ sinh đến các điểm tập kết tạm thời Tại đây, rác thải từ xe đẩy tay và bãi tập kết sẽ được chuyển lên xe ô tô để đưa về bãi rác.

Công tác thu gom và vận chuyển rác thải hiện vẫn chưa đạt hiệu quả cao, nguyên nhân chủ yếu là do không thu gom hết khối lượng rác thải phát sinh.

+ Thiết bị, phương tiện thu gom chất thải sinh hoạt trong thị trấn vẫn chưa đáp ứng đủ cho công tác thu gom

+ Kỹ thuật còn thô sơ, lạc hậu

+ Kinh phí đầu tư phương tiện, trang bị hỗ trợ hạn chế

+ Do ý thức người dân chưa ca

- Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Hiện tại, thị trấn chưa có nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), dẫn đến việc tất cả lượng rác thải đều được thu gom và vận chuyển về bãi rác hở có diện tích khoảng 2000m² Tại đây, rác thải không được phân loại và đổ thành từng đống, gây ra mùi hôi khó chịu và không đảm bảo vệ sinh môi trường Bãi rác này đã được UBND tỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng, với các biện pháp như đào đắp, xây bờ bao và lớp chống thấm bên dưới nhằm hạn chế tác động đến nguồn nước ngầm.

Tại bãi rác thị trấn Tứ Kỳ, quy trình xử lý rác thải chủ yếu bao gồm phun hóa chất khử trùng và rải thuốc diệt ruồi để giảm thiểu mùi hôi và sự xuất hiện của ruồi nhặng Sau một thời gian tự phân hủy, rác thải được đốt bằng lửa hoặc dầu, sau đó lớp rác mới được đổ lên trên Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ mang tính tạm thời và không đủ để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường khi khối lượng chất thải rắn (CTR) ngày càng gia tăng Ở những khu vực không có bãi rác tập trung, người dân thường tự xử lý rác bằng cách chôn lấp, đốt bỏ hoặc thải ra sông.

Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay chủ yếu là chôn lấp và đốt, gây ô nhiễm không khí do mùi hôi và khói bụi Vấn đề này đang trở thành một trong những thách thức môi trường cấp bách cần được giải quyết tại thị trấn.

 Chất thải rắn công nghiệp

Hiện trạng phân loại chất thải rắn công nghiệp tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn thị trấn hiện nay còn yếu kém, đặc biệt là ở các cơ sở quy mô nhỏ Chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn không tái chế và chất thải rắn nguy hại thường bị tập trung và đổ thải bừa bãi tại các khu vực đất trống gần cơ sở, dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.

Hiện nay, thị trấn chưa có bãi tập kết chất thải rắn công nghiệp và không có đơn vị nào thu gom, xử lý chất thải này Tỷ lệ thu gom và phân loại chất thải rắn công nghiệp còn thấp, chỉ một số doanh nghiệp ký hợp đồng với công ty môi trường Các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, như xưởng thủ công nghiệp và chế biến thực phẩm, thường không phân loại chất thải mà chỉ thu gom và đổ chung với chất thải sinh hoạt tại bãi rác.

Công tác thu gom chất thải chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến tình trạng vứt bỏ bừa bãi Đối với chất thải rắn công nghiệp như xỉ than, nguyên vật liệu thừa và sành sứ, việc tận thu để sản xuất, xây dựng đường giao thông hoặc bán phế liệu là rất cần thiết.

Đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý CTR phù hợp trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

a Giải pháp về cơ chế chính sách

Quản lý chất thải rắn từ nguồn là rất quan trọng, đặc biệt đối với các chất thải nguy hại Việc đăng ký chất thải giúp xác định phương tiện thu gom, vận chuyển và tính toán chi phí cho từng loại chất thải Đối với chất thải nguy hại, phí thu gom và vận chuyển cần cao hơn so với chất thải sinh hoạt để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quản lý.

Việc cụ thể hóa các văn bản dưới luật và thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc thi hành luật là rất cần thiết cho công tác quản lý chất thải rắn tại thị trấn Tứ Kỳ.

Khuyến khích thành lập doanh nghiệp tư nhân và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với các chính sách ưu đãi như miễn giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức và cho vay lãi suất thấp nhằm thúc đẩy việc thu gom triệt để chất thải rắn tại thành phố.

Để nâng cao nhận thức về môi trường cho nhân dân thị trấn Tứ Kỳ, cần thực hiện giáo dục và động viên từ các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp và các cấp chính quyền Việc tuyên truyền cần được đẩy mạnh qua các phương tiện truyền thông đại chúng, từ cấp tỉnh đến cơ sở Nội dung tuyên truyền không chỉ tập trung vào các vấn đề môi trường chung mà còn cung cấp kiến thức về chất thải rắn, tác động của chúng đến ô nhiễm môi trường, cũng như các phương pháp giảm thiểu ô nhiễm Đồng thời, cần phổ biến cho người dân hiểu rõ về luật bảo vệ môi trường và các quy định liên quan.

Quản lý chất thải rắn cần được tích hợp vào chương trình giảng dạy môi trường trong khuôn khổ giáo dục hiện hành Đặc biệt, các giải pháp kinh tế liên quan đến chất thải cũng cần được chú trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường.

Chất thải rắn cần được phân loại ngay từ nguồn phát sinh, bao gồm chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp, bệnh viện Chất thải sinh hoạt được chia thành hai loại: phế thải có thể tái sử dụng như giấy, nilon, nhựa, kim loại, chai lọ, vỏ đồ hộp và các loại chất thải còn lại Đối với chất thải công nghiệp và bệnh viện, cần tách riêng các phế thải nguy hại như kim loại nặng, hóa chất độc hại, bông băng, thuốc quá hạn và kim tiêm Việc phân loại chất thải không chỉ giúp tăng tỷ lệ tái sinh mà còn giảm khối lượng chất thải cần vận chuyển và xử lý.

Khuyến khích các cơ sở sản xuất giảm thiểu chất thải thông qua áp dụng các công cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" nhằm ngăn ngừa tác động xấu của chất thải rắn tới môi trường Các công cụ khuyến khích kinh tế này có thể bao gồm nhiều hình thức khác nhau để thúc đẩy sự bền vững.

Thuế nguyên liệu là loại thuế áp dụng cho nguyên liệu sử dụng trong sản xuất, đặc biệt là bao bì và vỏ hộp Mức thuế này được xác định dựa trên tác động môi trường của quá trình sản xuất và tiêu thụ bao bì, đồng thời xem xét tỷ lệ tái chế và tái sử dụng của chúng.

Phí sản phẩm là loại thuế đầu ra áp dụng cho thành phẩm cuối cùng trong quá trình sản xuất, liên quan đến tác động ô nhiễm từ chất thải Các sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu tái chế hoàn toàn hoặc một phần sẽ được miễn hoặc giảm thuế, nhằm khuyến khích việc bảo vệ môi trường.

Phí xả thải chất thải được xác định dựa trên khối lượng hoặc thể tích chất thải, nhằm khuyến khích các chủ nguồn thải phân loại chất thải trước khi thải bỏ Theo hợp đồng thỏa thuận, phế liệu có khả năng tái chế sẽ được thu mua lại.

Cần tổ chức lại công tác thu gom rác thải, hợp thức hóa việc thu gom phế liệu tái sinh và đưa các cơ sở tái chế vào quy hoạch để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý rác thải.

Việc hoà nhập phụ nữ vào hệ thống quản lý chất thải rắn là cần thiết, bởi họ đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này Phụ nữ không chỉ có khả năng trung chuyển chất thải từ nhà bếp ra phố mà còn tham gia vào quá trình tái sinh chất thải Họ cũng góp mặt trong các quyết định liên quan đến việc tiếp nhận công nghệ mới trong thu gom chất thải rắn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của phụ nữ ở đô thị Sự hoà nhập này sẽ nâng cao mức độ tái sinh rác của phụ nữ, đặc biệt là những người thu dọn rác và buôn đồng nát.

Cần tăng cường công tác mua bán nguyên vật liệu từ thu hồi tái chế nhằm nâng cao lợi nhuận và giảm thiểu việc nhặt rác tại bãi rác Việc áp dụng biện pháp tái chế ngay từ đầu khi đưa vào bãi rác không chỉ giúp bảo vệ mỹ quan môi trường mà còn mang lại sức khỏe tốt cho cộng đồng.

Hỗ trợ tài chính cho giai đoạn đầu của hoạt động tuyên truyền phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải là rất cần thiết Điều này bao gồm việc cung cấp các vật tư cần thiết như xe chở, nhà chế biến, và tiền công cho lao động, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý rác thải.

- Sự đóng góp và trách nhiệm của người dân, các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và kinh phí xử lý môi trường. d Giải pháp về công nghệ

Hiện nay, công nghệ xử lý rác thải đang phát triển mạnh mẽ, phản ánh sự phức tạp trong thành phần và tính chất của nguồn rác thải Sự gia tăng khối lượng rác thải, bao gồm cả chất hữu cơ và vô cơ, đòi hỏi việc áp dụng các phương pháp xử lý phù hợp để đảm bảo hiệu quả và bền vững.

- Đối với rác thải hữu cơ: Những thực phẩm thừa như lá cây, rau, củ, quả,… có thể áp dụng các biện pháp sau:

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Do tính chất đặc thù của phòng tài nguyên môi trường, trong quá trình thực tập, em chỉ được tham gia vào các hoạt động được cán bộ phòng chỉ đạo cho phép.

1 Về kiến thức và kĩ năng bản thân thu được

- Hiểu được các văn bản bản pháp luật, các quy định tại phòng tài nguyên môi trường của huyện

Có khả năng quan sát và thu thập dữ liệu cần thiết khi thực địa tại các cơ sở trong huyện, cùng với sự hỗ trợ của cán bộ phòng tài nguyên và môi trường.

- Có hiểu biết về nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng, cách thu gom chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ

Để sinh viên có cơ hội tham gia nhiều hoạt động và công việc tại phòng tài nguyên môi trường, thời gian thực tập cần được kéo dài hơn.

2 Cần mạnh dạn và chủ động hơn trong công việc

Ngày đăng: 22/11/2021, 19:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam năm 2014 Khác
2. Bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ, Báo cáo hiện trạng môi trường Bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ năm 2015 Khác
3.Võ Đức Thắng, Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý chất thải rắn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Luận thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2009 Khác
4.Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia, Tổng luận về Công nghệ Xử lý Chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam Khác
5. Phòng TN & MT, Báo cáo kết quả phân tích, lấy mẫu tại các điểm quan trắc tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện Tứ Kỳ năm 2015 Khác
6. Phòng TN&MT huyện Tứ Kỳ, Báo cáo Kết quả điều tra chất thải rắn đô thị và công nghiệp trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ, năm 2015 Khác
7. UBND thị trấn Tứ Kỳ, Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội thị trấn Tứ Kỳ các năm 2014,2015 Khác
8. UBND thị trấn Tứ Kỳ, Báo cáo hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ năm 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w