1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng trường hợp nghiên cứu tại TP HCM

174 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM NGUYỄN THỊ HÀ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ RỦI RO CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ĐI DU LỊCH CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành Mã ngành 8810103 TP HCM 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM NGUYỄN THỊ HÀ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ RỦI RO CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ĐI DU LỊCH CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU.

Trang 1

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ RỦI RO CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ĐI DU LỊCH CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành

Mã ngành: 8810103

TP HCM - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ RỦI RO CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ĐI DU LỊCH CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN QUYẾT THẮNG

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 09 tháng 09 năm 2021

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

1 PGS.TS Nguyễn Phú Tụ Chủ tịch

2 TS Nguyễn Thành Long Phản biện 1

3 TS Trương Quang Dũng Phản biện 2

4 TS Bùi Hồng Đăng Ủy viên

5 TS Trần Văn Thông Ủy viên, Thư ký

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV

Trang 4

TP HCM, ngày … tháng … năm 2021

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : Nguyễn Thị Hà Giới tính : Nữ

Ngày, tháng, năm sinh : 12/08/1987 Nơi sinh : Thanh Hóa Chuyên ngành : Quản trị dịch vụ du lịch và Lữ hành MSHV : 1841890028

I Tên đề tài:

Nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi

du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh

II Nhiệm vụ và nội dung:

- Xác định các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du

lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đo lường, kiểm định yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý

định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh và

xây dựng mô hình nghiên cứu

- Đề xuất hàm ý quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro của ngành hàng không trong

hoạt động du lịch

III Ngày giao nhiệm vụ : 6/2020

IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ : 12/2020

V Cán bộ hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng: Trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng tri ân đến Ban giám hiệu, cùng các thầy cô Viện Đào tạo sau Đại học, Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành của Trường Đại học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức nền tảng, cũng như kiến thức chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành và các kỹ năng, vốn sống quý báu… Là nhân tố quan trọng giúp tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và thực hiện thành công luận văn này

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng, là người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi nghiên cứu, tiếp cận những kiến thức, góp ý và cho tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn các cấp lãnh đạo, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu, thảo luận và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành tốt hơn đề tài nghiên cứu của mình

Để có được kết quả như ngày hôm nay, không thể không nhắc đến và tri ân sâu sắc đến gia đình của mình Nơi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và tạo niềm tin cho tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống, góp phần quan trọng cho tôi hoàn thành khóa học./

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng: Trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 06 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố

Hồ Chí Minh Đo lường, kiểm định yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh và xây dựng mô hình nghiên cứu Trên cơ sở đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro của ngành hàng không trong hoạt động du lịch

Phương pháp nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Mô hình nghiên cứu xác định gồm 5 yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại

thành phố Hồ Chí Minh: Rủi ro tài chính, Rủi ro an toàn, Rủi ro cảm xúc, Rủi ro

chất lượng dịch vụ, Rủi ro sự cố bất ngờ Trong nghiên cứu định tính được thực

hiện nhằm điều chỉnh, bổ sung biến quan sát cho các thang đo Trong phân tích định lượng thực hiện thống kê mô tả, kiểm định chất lượng thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy, kiểm định Spearman Số mẫu khảo sát nhân viên văn phòng tại TP Hồ Chí Minh là 218 thông qua bảng câu hỏi chi tiết với 5 mức độ Phần mềm dùng phần tích dữ liệu thống kê là SPSS 22.0

Kết quả đạt được là phân loại được các yếu tố yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh trong đó có 5 yếu tố rủi ro thực sự ảnh hưởng đến ý định đi

du lịch của nhân viên văn phòng Tuy nhiên trên thực tế thì một số yếu tố rủi ro khác ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu

Trang 8

ABSTRACT

The study is about "the risk factors of aviation industry affecting the officers’ the traveling intentions by plane in Ho Chi Minh city was conducted in Ho Chi Minh city from June 2020 to December 2020

The study aim is to determine the risk factors of the aviation industry affecting the officers’ the traveling intentions by plane, in the case of the Ho Chi Minh City Measuring and testing the risk factors of the aviation industry affecting the officers’ the traveling intentions by plane, the case in Ho Chi Minh City, and building a research model On that basis, it proposes to build a business strategy to minimize the risks of the aviation industry in tourism

The study used both the quality and quantity method The research model identifies 5 risk factors of the aviation industry affecting affecting the officers’ the

traveling intentions by plane, case in Ho Chi Minh City: Financial risk, Safety risk,

Emotional risk, service quality risk, unexpected risk In qualitative research is done

to adjust and supplement the observed variables for the scales In qualitative research conducted to adjust and supplement observed variables for scales In the quantitative analysis of descriptive statistics, scale quality testing, EFA discovery factor analysis, regression analysis, Spearman test The number of samples surveyed

by the officers in Ho Chi Minh City was 218 through detailed questionnaires with 5 levels Software using statistical data analysis is SPSS 22.0

The result is a classification of the risk factors of the aviation industry affecting the officers’ the traveling intentions by plane in the case in Ho Chi Minh City, which the remaining 5 factors really affect the officers' traveling intentions However, in fact, some other risk factors affecting the officers' intention to travel by plane, the case in Ho Chi Minh City has not been included in the study model

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

MỤC LỤC v

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Tổng quan lý thuyết về du lịch và khách du lịch 7

2.1.1 Tổng quan về du lịch 7

2.1.1.1 Một số khái niệm về du lịch 7

2.1.1.2 Khái niệm về điểm đến du lịch 8

2.1.2 Tổng quan về khách du lịch 9

Trang 10

2.1.2.1 Khái niệm về khách du lịch 9

2.1.2.2 Phân loại khách du lịch 10

2.2 Ý định đi du lịch 11

2.3 Lý thuyết về nhu cầu du lịch 13

2.4 Lý thuyết về rủi ro 17

2.4.1 Khái niệm về rủi ro 17

2.4.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh du lịch 20

2.4.2.1 Phân loại theo phương pháp quản trị rủi ro truyền thống 21

2.4.2.2 Phân loại theo nguồn gốc rủi ro 21

2.4.2.3 Phân loại theo môi trường tác động 22

2.4.2.4 Phân loại theo đối tượng rủi ro 22

2.4.2.5 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động 22

2.4.2.6 Phân loại theo tính chất của rủi ro 23

2.4.3 Rủi ro của ngành hàng không 23

2.4.4 Mối quan hệ giữa du lịch và hàng không 25

2.5 Một số mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

2.5.1 Nghiên cứu ngoài nước 26

2.5.2 Nghiên cứu trong nước 33

2.6 Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 40

2.6.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40

2.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu 41

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Quy trình nghiên cứu 50

3.2 Phương pháp nghiên cứu 50

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 50

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 51

3.2.3 Tổng thể và mẫu nghiên cứu 51

3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 52

Trang 11

3.3 Xây dựng thang đo 53

3.3.1 Thang đo đối với yếu tố rủi ro tài chính 53

3.3.2 Thang đo đối với yếu tố rủi ro an toàn 55

3.3.3 Thang đo đối với yếu tố rủi ro cảm xúc 57

3.3.4 Thang đo đối với yếu tố rủi ro chất lượng dịch vụ 58

3.3.5 Thang đo đối với yếu tố rủi ro sự cố bất ngờ 60

3.3.6 Thang đo đối với ý định đi du lịch bằng đường hàng không 62

3.4 Thiết kế mẫu và Thu thập dữ liệu 63

3.4.1 Thiết kế mẫu 63

3.4.1.1 Địa điểm nghiên cứu 63

3.4.1.2 Đối tượng nghiên cứu 64

3.4.1.3 Độ tuổi nghiên cứu 64

3.4.2 Công cụ thu thập dữ liệu 65

3.4.3 Công cụ xử lý dữ liệu 66

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 67

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 68

4.2 Tổng quan về nhân viên văn phòng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 70

4.3 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 72

4.4 Kiểm định thang đo nghiên cứu 74

4.4.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 74

4.4.2 Kiểm định độ giá trị của thang đo (EFA) 77

4.4.3 Phân tích tương quan và hồi quy 82

4.4.3.1 Phân tích tương quan (Pearson) 82

4.4.3.2 Phân tích hồi quy 84

4.4.3.3 Kiểm tra một số vi phạm giả thiết hồi quy 88

4.4.4 Phân tích phương sai anova 91

4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 96 4.5.1 Về các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định

Trang 12

đi du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp nghiên cứu tại

thành phố Hồ Chí Minh 96

4.5.2 Mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc 96

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 98

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 99

5.2 Đề xuất các hàm ý quản trị 100

5.2.1 Rủi ro tài chính 100

5.2.2 Rủi ro an toàn 102

5.2.3 Rủi ro cảm xúc 104

5.2.4 Rủi ro chất lượng dịch vụ 106

5.2.5 Rủi ro sự cố bất ngờ 109

5.3 Một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 110

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 13

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

ANOVA Phân tích phương sai Analysis of Variance

EFA Phân tích nhân tố khám phá Exploratory Factor

Analysis

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Ho Chi Minh City

KMO Hệ số kiểm định sự tương hợp của mẫu Kaiser Mayer Olkin

Sig Mức ý nghĩa quan sát Observed significance

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG

ảng 3.1:Tiến độ thực hiện phương pháp nghiên cứu 50

ảng 3-2: Thang đo về rủi ro tài chính 54

ảng 3-3: Thang đo về rủi ro an toàn 56

ảng 3-4: Thang đo về rủi ro cảm xúc 57

ảng 3-5: Thang đo rủi ro chất lượng dịch vụ 60

ảng 3-6: Thang đo rủi ro sự cố bất ngờ 62

ảng 3-7: Thang đo ý định đi du lịch bằng đường hàng không 63

ảng 3-8: Các mức độ đo trong bảng câu hỏi 66

ảng 4-1: Thống kê mô tả mẫu 72

ảng 4-2:Hệ số Cronbach’s Alpha cho thang đo của mô hình 75

ảng 4-3:Kiểm tra KMO và Bartlett biến độc lập 77

ảng 4-4: Tổng phương sai giải thích biến độc lập 78

ảng 4-5:Ma trận xoay nhân tố - biến độc lập 79

ảng 4-6:Kiểm tra KMO và Bartlett biến phụ thuộc 80

ảng 4-7: Tổng phương sai giải thích biến phụ thuộc 81

ảng 4-8:Ma trận xoay nhân tố - biến phụ thuộc 81

ảng 4-9:Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo 82

ảng 4-10: Ma trận tương quan 83

ảng 4-11: Chỉ tiêu đánh giá sự phù hợp của mô hình 84

ảng 4-12:Kiểm định độ phù hợp của mô hình 85

ảng 4-13: Bảng thông số thống kê của từng biến trong mô hình hồi quy 86

ảng 4-14: Bảng kết quả kiểm định các giả thuyết mô hình 87

ảng 4-15: Thống kê Levene – khác biệt hãng hàng không 91

ảng 4-16: Phân tích Anova - khác biệt hãng hàng không 92

ảng 4-17: Thống kê khác biệt giới tính 93

ảng 4-18: Phân tích khác biệt giới tính 94

ảng 4-19: Thống kê Levene – khác biệt trình độ học vấn 94

Trang 15

ảng 4-20: Phân tích Anova - khác biệt trình độ học vấn 94 ảng 4-21: Thống kê Levene – khác biệt thu nhập 95 ảng 4-22: Phân tích Anova – khác biệt thu nhập 95 Bảng 5.1: Kết quả thống kê giá trị trung bình của thang đo “Rủi ro tài chính” 101 Bảng 5.2: Tóm tắt nội dung hàm ý quản trị về rủi ro tài chính 102 Bảng 5.3: Kết quả thống kê giá trị trung bình của thang đo “Rủi ro an toàn” 103 Bảng 5.4: Tóm tắt nội dung hàm ý quản trị về rủi ro an toàn 104 Bảng 5.5: Kết quả thống kê giá trị trung bình của thang đo “Rủi ro cảm xúc” 105 Bảng 5.6: Tóm tắt nội dung hàm ý quản trị về rủi ro cảm xúc 106 Bảng 5.7: Kết quả thống kê giá trị trung bình của thang đo “Rủi ro chất lượng dịch vụ” 107 Bảng 5.8: Tóm tắt nội dung hàm ý quản trị về rủi ro chất lượng dịch vụ 108 Bảng 5.9: Kết quả thống kê giá trị trung bình của thang đo “Rủi ro sự cố bất ngờ” 109 Bảng 5.10: Tóm tắt nội dung hàm ý quản trị về rủi ro sự cố bất ngờ 110

Trang 16

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố rủi ro tác động đến ý định đi du lịch

bằng đường hàng không 27

Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu nhận thức rủi ro được kết hợp trong kinh nghiệm lựa chọn chuyến bay 30

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến xu hướng lựa chọn dịch vụ hàng không 33

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định bằng phương tiện vận tải hàng không của nhân viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh 34

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu các yếu tố của điểm đến du lịch tác động đến ý định quay trở lại của du khách tại Cần Thơ 35

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua tour trực tuyến của nhân viên văn phòng tại TP Hồ Chí Minh 36

Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ chặng bay Rạch Giá – TP Hồ Chí Minh của công ty Bay dịch vụ hàng không (VASCO) 37

Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu văn hóa và chất lượng của dịch vụ hàng không 38

Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu đề xuất 41

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu đề tài 49

Hình 4-1: Đồ thị phân tán Scatter Plot 89

Hình 4-2: Biểu đồ tần số Histogram 90

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Đời sống con người càng phát triển kéo theo yêu cầu về chất lượng cuộc sống của mỗi người không ngừng thay đổi, trong đó nhu cầu về du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếu và quan trọng của con người Từ đó ngành du lịch không ngừng phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Số lượng khách đến tham quan du lịch không ngừng tăng trong những năm qua Theo thống kê (Tổng cục du lịch, 2019) thì năm 2019 tổng thu từ du lịch đạt 755.000 tỷ đồng Đóng góp khoảng 9% GDP cho quốc gia Số lượt khách đến Việt Nam du lịch bằng đường hàng không năm 2019 là 14.377.509 lượt khách, cao hơn các phương tiện vận chuyển đường biển có 264.115 lượt khách và đường bộ có 3.366.967 lượt khách Các phương tiện vận chuyển ngày càng phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cho ngành du lịch phát triển tốt hơn

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố dẫn đầu cả nước về tình hình kinh tế Bởi vậy các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển mạnh mẽ Theo (Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 2019, (2020)) thì TP.HCM có khoảng 9 triệu dân, với số lượng người dân đông đúc cũng là thị trường du lịch đầy tiềm năng Không chỉ số lượt khách đến tham quan tại thành phố Hồ Chí Minh đông, mà số lượt khách du lịch là người dân tại đây tham gia du lịch có số lượng rất lớn ở đủ mọi ngành nghề trong xã hội Trong đó đối tượng nhân viên văn phòng chiếm số lượng khá lớn, là đối tượng đi du lịch thường xuyên vào các thời điểm trong năm do thu nhập ổn định, có trình độ hiểu biết cao

Du lịch nếu muốn thành công thì không thể không có sự trợ giúp của các phương tiện vận chuyển hành khách Nhu cầu du lịch càng tăng cao thì cũng góp phần cho các phương tiện vận chuyển hoạt động tốt Trong mỗi chuyến đi du lịch, bất kỳ đối tượng khách du lịch nào cũng lo lắng đến các phương tiện vận chuyển trong chuyến đi du lịch của mình, những lo lắng này ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của họ rất lớn Trong đó có đối tượng khách là nhân viên văn phòng Bởi vậy

Trang 18

các phương tiện vận chuyển làm tốt công tác của mình sẽ tạo điều kiện kinh doanh phát triển

Trong các phương tiện vận chuyển được khách hàng lựa chọn nhiều nhất là đường hàng không, đây là ngành có tiềm năng phát triển rất tốt Thế nhưng ngành hàng không đang phải đối mặt với một số rủi ro khó kiểm soát với quy mô ảnh hưởng lớn, đó là rủi ro giá nhiên liệu bay ảnh hưởng mạnh đối với các hãng vận tải hàng không nói chung, do tính biến động bất định và tỷ trọng chính chiếm khoảng 35% cơ cấu chi phí hoạt động của hãng Tiếp theo là rủi ro bất ổn chính trị - xã hội tác động lên tính an toàn cùng tâm lý của hành khách hàng không, bên cạnh đó thị trường du lịch là động lực cho ngành hàng không rất nhạy cảm với những bất ổn chính trị - xã hội của quốc gia đó Tiếp đến là rủi ro tỷ giá ảnh hưởng nhiều hơn tới những hãng hàng không vay nợ để tài trợ đội tàu bay thông qua nghiệp vụ thuê tài chính, ngoài ra các nhóm chi phí chính như nhiên liệu bay, chi phí sở hữu máy bay được thanh toán bằng USD Hãng hàng không đang đứng trước các thách thức lớn

đó là các hãng hàng không trong khu vực thâm nhập thị trường Việt Nam, tốc độ tăng trưởng hành khách nội địa chậm lại, cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực cần phát triển đồng bộ Bởi vậy để có thể hoàn thiện nâng cao phát triển hoạt động kinh doanh thì các hàng hàng không cần có những biện pháp hạn chế các rủi ro, thách thức

Nhận thấy được sự cần thiết của việc nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của du khách nên tôi quyết định chọn

đề tài “Nghiên cứu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định

đi du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chung là xác định các yếu tố rủi

ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng:

trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, xác định các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý

định đi du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp tại thành phố Hồ Chí Minh

Thứ hai, đo lường, kiểm định yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng

đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp tại thành phố Hồ Chí

Minh và xây dựng mô hình nghiên cứu

Thứ ba, đề xuất hàm ý quản trị nhằm gia tăng ý định đi du lịch bằng đường

hàng không của nhân viên văn phòng: trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí

Minh

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng

đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng: trường hợp nghiên cứu tại thành phố

Hồ Chí Minh

Đối tượng khảo sát: nhân viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được lấy từ năm 2015 đến năm 2019;

dữ liệu sơ cấp được điều tra từ tháng 07 đến tháng 12 năm 2020

- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên phạm vi thành

phố Hồ Chí Minh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng

Phương pháp nghiên cứu định tính:

Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách phỏng vấn đối tượng nhân viên văn phòng tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh có ý định đi du lịch bằng phương tiện hàng không và chuyên gia là các cán bộ quản lý cấp trung, quản

lý cấp cơ sở, đang làm việc tại các văn phòng lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhằm xác định các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch Đồng thời thẩm định lại các câu hỏi trong bảng câu hỏi phỏng vấn thông qua

Trang 20

quá trình phỏng vấn thử Mục đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ sung thang đo của các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi

du lịch của nhân viên viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Là phương pháp nghiên cứu chính thức sử dụng kỹ thuật phỏng vấn nhân viên văn phòng về các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi

du lịch của bản thân họ tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua bảng câu hỏi chi tiết

Mô hình sử dụng thang đo Likert 5 điểm với lựa chọn số 1 nghĩa là “hoàn toàn không đồng ý”, lựa chọn số 2 là “không đồng ý”, lựa chọn số 3 nghĩa là “bình thường”, lựa chọn số 4 là “đồng ý”, lựa chọn số 5 là “hoàn toàn đồng ý”, Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS Thang đo được đánh giá kiểm định bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tương quan được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

ro để thu hút đối tượng khách hàng là nhân viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng phương tiện vận chuyển này khi đi du lịch, khi ngành hàng không phát triển mạnh mẽ thì ngành du lịch nhờ vậy không ngừng thu hút khách du lịch, góp phần phát triển kinh tế đất nước Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc xây dựng những công cụ đo lường các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 21

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục… Luận văn có 05 chương, gồm:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Nội dung chương này giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa (thực tiễn và khoa học) và bố cục của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Nội dung chương này trình bày các lý thuyết về du lịch, ý định đi du lịch, nhu cầu du lịch, lý thuyết về rủi ro theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Từ đó làm

cơ sở cho xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng và mã hóa thang đo để đo lường khái niệm nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu và các kiểm định Đồng thời tác giả cũng thảo luận về các biến nghiên cứu theo kết quả có đối chiếu với các nghiên cứu tương tự và thực tiễn tại doanh nghiệp

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Nội dung chương này sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị, nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu mới cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 22

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã trình bày lý do của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài, cũng như mục tiêu mà nghiên cứu này sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu này cũng đã được trình bày Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mục đích chương này là nhằm giới thiệu các yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng đến ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng, trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, các mô hình rủi ro, một số định nghĩa tìm hiểu về các yếu tố rủi ro, mối liên hệ giữa ngành du lịch và ngành hàng không trong việc đi

du lịch bằng phương tiện này của du khách Vì thế, chương 2 bao gồm các phần chính sau đây: Ý định đi du lịch của nhân viên văn phòng; Những yếu tố rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng tới ý định đi du lịch; Các mô hình về rủi ro; Một số định nghĩa khác về rủi ro của ngành hàng không ảnh hưởng ý định đi du lịch

1963, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa rằng, du lịch là tổng hợp các mối quan

hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Và nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Trong khi đó, tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) lại nhấn mạnh vào thời gian

và mục đích của chuyến đi, UNWTO cho rằng du lịch bao gồm những hoạt động của con người đi đến và lưu trú tại một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên) của họ trong thời gian liên tục không quá một năm nhằm mục đích nghỉ ngơi, kinh doanh, và các mục đích khác Quan điểm này cũng được đồng tình

Trang 24

trong Luật Du lịch Việt Nam (2006): Du lịch là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy, nhìn từ góc độ thay đổi không gian của du khách, du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay làm việc; nhìn từ góc độ kinh tế thì du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có thể hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

2.1.1.2 Khái niệm về điểm đến du lịch

Theo các định nghĩa về du lịch thì du lịch là một hoạt động có hướng đích không gian Người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú của mình để đến nơi khác – một địa điểm cụ thể để thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ

Có nhiều khái niệm khác nhau về điểm đến, định nghĩa phổ biến nhất về điểm đến chính là sự tổng hợp của niềm tin, ý tưởng và hiển thị mà một người có một đích đến (Crompton (1979) Ngoài ra còn có định nghĩa của Chon (1992) và aloglou & ringmerg (1997): Trước khi mọi người đi đến một điểm đến đã dự định, du khách sẽ liên tưởng đến các hình ảnh và tập hợp những kỳ vọng dựa trên kinh nghiệm trước đây, truyền miệng, báo cáo báo chí, quảng cáo và niềm tin phổ biến của bản thân và các mối quan hệ xung quanh Ở một góc độ khác, định nghĩa của Millman & Pizam (1995) được trích dẫn bởi Tasci & Kozak (2006) xác định hình ảnh điểm đến như là tổng của các thuộc tính liên quan đến kinh nghiệm du lịch trong khi Buhalis (2000) gọi nó là một tập hợp các kỳ vọng và nhận thức về một tiềm năng du khách đã xác định đó là một điểm đến Như vậy, hình ảnh của điểm đến là nhận thức cá nhân đối với các đặc tính của điểm đến (Coshall (2000), được trích dẫn trong Tasci & Kozak, 2006, p 304) có thể bị ảnh hưởng bởi thông tin quảng cáo từ các điểm đến, phương tiện truyền thông cũng như nhiều yếu tố khác (Tasci & Kozak, 2006) Nhìn chung, các khái niệm về hình ảnh điểm đến có một số

Trang 25

khác biệt và mỗi tác giả có một nhận định riêng như theo Crompton đó là sự tổng hợp của niềm tin, ý tưởng Theo Millam và Pizam, đó là sự tổng hợp các thuộc tính liên quan đến kinh nghiệm du lịch, trong khi Chơn, aloglou & ringmerg và Buhalis thì cho rằng đó là sự tập hợp các kỳ vọng dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức cá nhân

Về khái niệm điểm đến du lịch, các nhà nghiên cứu của Việt Nam lại có một

cách nhìn nhận khác Thứ nhất, điểm đến du lịch được xem là nơi tập trung một loạt

các tài nguyên về tự nhiên, nhân văn, kinh tế - xã hội hay một công trình riêng biệt

phục vụ cho du lịch Thứ hai, điểm du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn

và các loại động thực vật; là kết quả sáng tạo do con người xây dựng nên như bảo

tàng, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật hay những nơi nghỉ mát Thứ ba, khái niệm

điểm đến du lịch được tóm tắt như định nghĩa của UNWTO: Một điểm đến du lịch

là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Điểm đến du lịch bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm

du lịch trong thời gian một ngày; nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn

2.1.2 Tổng quan về khách du lịch

2.1.2.1 Khái niệm về khách du lịch

Khái niệm về khách du lịch được định nghĩa ở Điều 10, chương 4, Luật Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến Việc xác định ai

là du khách có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây, chúng ta cần phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan, và lữ khách dựa vào các tiêu thức như mục đích, thời gian và không gian của chuyến đi Tuy nhiên, khách du lịch vẫn phải có đủ các đặc điểm mà UNWTO đã quy định: Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên; không đi

du lịch với mục đích làm kinh tế và khoảng cách tối thiểu từ nơi ở đến các điểm du lịch phải từ 30 dặm trở lên theo quan niệm hay quy định của từng nước

Trang 26

2.1.2.2 Phân loại khách du lịch

Để phân loại khách du lịch, yếu tố quốc tịch là đặc điểm được dùng để nhận dạng nhiều nhất Theo đó, khách du lịch được chia thành hai loại là khách du lịch nội địa và khách du lịch nước ngoài UNWTO đã đưa ra nhận định về khách du lịch nội địa như sau: Khách du lịch nội địa là những người cư trú trong nước, không kể quốc tịch, thăm viếng một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất 24 giờ cho một mục đích nào đó ngoài mục đích hành nghề kiếm tiền tại nơi viếng thăm Dựa trên cơ sở này, Luật Du lịch Việt Nam đã quy định tại Điều 20, chương IV như sau: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Về khách du lịch nước ngoài, Uỷ ban thống kê của Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa tại Hội nghị của Liên hiệp quốc về Du lịch tại Rome năm 1963 như sau: Khách du lịch nước ngoài là người thăm viếng một nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kì lý do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm

Bên cạnh đó, “Tuyên bố Lahaye về du lịch” vào năm 1989 của Hội nghị liên minh Quốc tế về Du lịch cũng nói rằng khách du lịch nước ngoài là những người trên đường đi thăm, ghé thăm một quốc gia khác quốc gia cư trú thường xuyên với mục đích tham quan, giải trí, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian không quá ba tháng, nếu trên ba tháng phải có giấy phép gia hạn và không được làm bất cứ việc gì

để nhận thù lao do ý muốn của khách hoặc là do ý muốn của nước sở tại Sau khi kết thúc chuyến đi phải trở về nước của mình, rời khỏi nước sở tại, hoặc đến một nước thứ ba Tuy nhiên, Luật Du lịch Việt Nam ra ngày 01/01/2006 đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch nước ngoài tại Việt Nam như sau: Khách du lịch nước ngoài

là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Theo quan điểm này cũng có thể phân khách du lịch nước ngoài thành hai loại: Khách du lịch nước ngoài đến (Inbound tourist): là những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia

Khách du lịch nước ngoài ra nước ngoài (Outbound tourist): là những người

Trang 27

đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

du khách quay lại viếng thăm Sabah ên cạnh việc nghiên cứu ý định quay lại của

du khách về một điểm đến cụ thể, một số nghiên cứu gần đây về ý định quay lại đi sâu hơn vào phân tích các đối tương khách hay các loại hình và sản phẩm du lịch cụ thể như: Gani & c.s (2019) nghiên cứu về ý định quay trở lại của du khách để tham quan du lịch Hồi giáo tại Malaysia Mục tiêu của nghiên cứu là khám phá trải nghiệm của khách du lịch về các điểm tham quan Hồi giáo mang tính biểu tượng

Trang 28

như Nhà thờ Hồi giáo Quốc gia và Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo, được mệnh danh

là điểm tham quan không thể bỏ qua trong thành phố tại Malaysia Kết quả cho thấy

sự thoát ly (escapism), giải trí và thẩm mỹ là những trải nghiệm ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của du khách

Đối với trong nước cũng có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, cụ thể: Hồ Huy Tựu & Trần Thị Ái Cẩm (2012) đã kiểm định các ảnh hưởng gián tiếp thông qua sự hài lòng đến ý định quay lại và truyền miệng tích cực của du khách quốc tế đối với Nha Trang của các nhân tố môi trường, văn hóa và xã hội, ẩm thực, vui chơi giải trí, cơ sở vật chất và xu hướng tìm kiếm sự khác biệt của du khách Dựa vào

201 mẫu điều tra du khách quốc tế, đánh giá độ tin cậy và giá trị của các thang đo, dùng phương pháp phân tích CFA, SEM, kết quả chỉ ra rằng: ngoại trừ hai nhân tố vui chơi giải trí và cơ sở vật chất tác động không đáng kể đến sự hài lòng, các nhân

tố còn lại đều có ảnh hưởng dương gián tiếp đến ý định quay lại và truyền miệng tích cực thông qua sự hài lòng Huỳnh Nhựt Phương & Nguyễn Thúy An (2017) đã

đi sâu phân tích các yếu tố thuộc điểm đến du lịch tác động đến ý định quay lại của

du khách Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn 150 du khách nội địa và quốc

tế đến du lịch ở thành phố Cần Thơ Qua việc sử dụng các phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), nghiên cứu đã chỉ ra được mối quan hệ thuận chiều giữa thái độ của du khách và ý định quay lại của họ, trong khi đó thái độ của du khách bị tác động tiêu cực bởi các tệ nạn liên quan đến giá cả và tệ nạn về an toàn, an ninh tại điểm đến du lịch Đây là nghiên cứu có tình thực tiễn cao; tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này nằm ở số lượng mẫu điều tra chưa nhiều Ngoài các nghiên cứu trên còn một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác liên quan đến ý định quay lại điểm đến du lịch như nghiên cứu của Bùi Thị Tám & Mai Lệ Quyên (2012), Hồ Lê Thu Trang & Phạm Thị Kim Loan (2012)…

Đối với ngành du lịch ngày nay, việc để khách hàng hình thành ý định đi du lịch cũng là điều thực sự quan trọng quyết định đến việc phát triển ngành du lịch

Trang 29

Trước khi ra quyết định đi du lịch, khách du lịch sẽ hình thành ý định đi du lịch Những ý định của khách hàng là cơ sở để khách có tiếp tục quyết định sử dụng các dịch vụ du lịch hay không Cũng có thể xảy ra trường hợp khách sẽ hình thành quyết định đi, sau đó mới có ý định lựa chọn dịch vụ du lịch nào cho phù hợp trong chuyến đi, bởi vậy giữa ý định và quyết định đi du lịch đan xen hỗ trợ lẫn nhau

Ý định đi du lịch của con người ngày nay đang phát triển nhanh, lý do đời sống của người dân được nâng cao, nhất là khu vực tại thành phố Hồ Chí Minh, thêm vào đó là các nguyên nhân như đi du lịch trở thành phổ biến, số thành viên trong gia đình ít, khả năng thanh toán cao, phí tổn du lịch giảm dần, trình độ dân trí được nâng cao, đô thị hóa, thời gian nhàn rỗi nhiều, mối quan hệ thân thiện, hòa bình giữa các quốc gia, Du lịch là tiêu chuẩn trong cuộc sống và các xu hướng du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch trách nhiệm, du lịch tín ngưỡng …phát triển nhanh trong thời gian qua

Bởi vậy, đối với ngành hàng không, để khách du lịch hình thành ý định đi du lịch bằng đường hàng không, ngoài việc giữ vững niềm tin cho khách hàng, cần có rất nhiều biện pháp để có thêm sự tin tưởng của khách hàng, giúp cho khách khi có

ý định đi du lịch thì lựa chọn đầu tiên là phương tiện vận chuyển này

2.3 Lý thuyết về nhu cầu du lịch

Ngày nay nhu cầu về du lịch phát triển mạnh mẽ, không chỉ là ước mơ của mỗi người như trước đây, du lịch trở thành nhu cầu thiết yếu của mỗi người trong cuộc đời của họ Nhu cầu du lịch được hiểu là những mong muốn của họ được đi đến những nơi khác so với nơi ở thường xuyên của họ để tận hưởng, trải nghiệm, sử dụng dịch vụ ở những địa điểm đó Nhờ những chuyến đi này, con người được giảm

đi những lo âu muộn phiền, đem lại niềm vui, tinh thần lạc quan vui vẻ cho mỗi người sau mỗi chuyến đi

Nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt, không giống những nhu cầu thiết yếu khác của con người như ăn, mặc, đi lại, giao tiếp…cần thiết trong cuộc sống của con người, mà nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt Đối với nhu cầu du lịch, đây

Trang 30

là nhu cầu con người mong muốn trong chuyến đi họ phải có như ăn uống, lưu trú, giải trí, tham quan…

Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại)

và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức, giao tiếp) Nhu cầu du lịch là sự đòi hỏi về các hàng hoá, dịch vụ du lịch mà con người cần được thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình

Là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức, giao tiếp)

Nhu cầu du lịch là sự đòi hỏi về các hàng hoá, dịch vụ du lịch mà con người cần được thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình

Cũng căn cứ vào thứ bậc của nhu cầu con người, theo lý thuyết của tiến sĩ tâm lý Maxlâu (trường phái tâm lý học nhân văn) nhu cầu của con người được phân theo 5 thứ bậc cơ bản, theo thứ tự từ thấp đến cao:

- Nhu cầu sinh lý cơ bản ( ăn uống, trú ẩn, đi lại, tình dục….)

- Nhu cầu an toàn ( nhu cầu được che chở, trật tự, ổn định…)

- Nhu cầu về quan hệ xã hội (được tham gia các hoạt động xã hội, được trở thành thành viên của nhóm xã hội nào đó…)

- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ (uy tín, thành công, sự tự khẳng định…)

- Nhu cầu tự thể hiện, phát huy bản ngả và thành đạt

Tầm quan trọng của nhu cầu theo trình tự từ mức độ thấp đến mức độ cao, các nhu cầu của mức độ thấp được thoả mãn trước khi các nhu cầu ở mức độ cao phát sinh

Xét một cách cụ thể thì nhu cầu du lịch bao hàm cả năm mức độ nói trên, như vậy nhu cầu du lịch mang tính tổng hợp, đa dạng nó bao gồm cả nhu cầu sinh lý (như nhu cầu vận chuyển, lưu trú ăn uống…) và nhu cầu tinh thần (nghỉ ngơi, tham quan giải trí, nhu cầu tự khẳng định) của con người

Trang 31

Tuy nhiên xét một cách khái quát, nhu cầu du lịch ở một thứ bậc cao vì nó phụ thuộc vào nhu cầu đặc trưng (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định…) của khách Nhu cầu đặc trưng là nhu cầu cơ bản cho phối các loại nhu cầu khác Ngay cả nhu cầu thiết yếu (nhu cầu sinh lý) của khách du lịch cũng phụ thuộc vào nhu cầu đặc trưng (nhu cầu tinh thần) của họ

Các loại nhu cầu du lịch:

- Nhu cầu vận chuyển:

Nhu cầu vận chuyển là những đòi hỏi tất yếu về các phương tiện, dịch vụ vận chuyển mà khách cần được thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình

Nhu cầu vận chuyển trong du lịch được hiểu là sự di chuyển từ nơi ở thường xuyên tới điểm du lịch nào đó và ngược lại, sự di chuyển ở nơi du lịch trong thời gian du lịch của du khách

Đối tượng thoả mãn nhu cầu này đầu tiên phải đề cập đến chính là các phương tiện vận chuyển như: máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả, ôtô, xe máy, xích lô, xe đạp…Do chất lượng về cơ sở hạ tầng cũng như về phương tiện và dịch vụ vận chuyển ở nước ta còn có những hạn chế nhất định, vì vậy khi tổ chức vận chuyển cho khách du lịch (đặc biệt là khách du lịch quốc tế, vì họ có những yêu cầu đòi hỏi cao hơn) cần chú ý đến điều kiện tự nhiên, địa hình, chất lượng, mức độ an toàn của phương tiện, tính chính xác và chuẩn mực trong phục vụ của lái xe và hướng dẫn viên du lịch

Bên cạnh các phương tiện vận chuyển, có thể xem các dịch vụ vận chuyển cũng là đối tượng đáp ứng nhu cầu vận chuyển của khách như: các hãng hàng không, đường sắt, đường thuỷ, các công ty vận chuyển, công ty lữ hành, công ty du lịch…

- Nhu cầu lưu trú:

Nhu cầu lưu trú là những đòi hỏi về các sản phẩm dịch vụ lưu trú ăn uống mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình Đây là nhu cầu thiết yếu của du khách

Trang 32

Đối tượng thoả mãn nhu cầu lưu trú, chính là hệ thống các cơ sở lưu trú như: khách sạn, nhà nghỉ, làng du lịch resort (khu nghỉ dưỡng tổng hợp) tàu du lịch, bãi cắm trại, caravan (lưu trú trên toa xe di động), bungalow (nhà nghỉ giải trí), homestay (nhà dân cho khách thuê ở cùng)…

- Nhu cầu ăn uống:

Đây cũng là nhu cầu thiết yếu của du khách Nhu cầu ăn uống là những đòi hỏi về các hàng hoá, dịch vụ ăn uống mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến

du lịch của mình

Đối tượng thoả mãn nhu cầu ăn uống gồm hai bộ phận cơ bản :

- Các dịch vụ phục vụ ăn uống như : Các nhà hàng, quán rượu, khách sạn, quán ăn bình dân

- Các sản phẩm ăn uống

- Nhu cầu tham quan và giải trí:

Là sự đòi hỏi về các đối tượng tham quan giải trí … mà khách cần thoả mãn

để thực hiện chuyến du lịch của mình

Nhu cầu tham quan giải trí chính là nhu cầu đặc trưng của khách du lịch, nó

có ảnh hưởng trực tiếp đến các loại nhu cầu khác Về bản chất đây chính là nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của con người

Các đối tượng thoả mãn nhu cầu này chính là các tài nguyên du lịch như:

- Các điểm du lịch, với điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, các tài nguyên du lịch, điều kiện văn hoá - xã hội và những nét độc đáo của nó (một số điểm du lịch nổi tiếng ở Việt Nam như : Hạ Long, Các à, Nha Trang, Vũng Tàu

- Các vườn quốc gia, công viên, rừng, núi, biển…

- Các công trình kiến trúc mang tính văn hoá, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng

- Những tài nguyên du lịch nhân văn như: phong tục tập quán, truyền thống, các lễ hội, các trò chơi dân gian…

- Các khu vui chơi giải trí, nhà hàng - quán bar, sàn nhảy, các khu phố, viện bảo tàng, hội chợ, triễn lãm, rạp chiếu bóng , nhà hát…

Trang 33

Một trong những tính độc đáo, hấp dẫn, quyến rũ của sản phẩm du lịch chính

do các đối tượng này tạo nên

- Những nhu cầu khác:

Trong thực tế cuộc sống, nhu cầu con người là vô hạn Quá trình đi du lịch tất yếu phát sinh các nhu cầu khác và để thỏa mãn các nhu cầu đó, các dịch vụ tương ứng nảy sinh

Các nhu cầu - dịch vụ:

- Nhu cầu mua hàng - bán hàng lưu niệm, hàng đặc sản, hàng tiêu dùng…

- Nhu cầu thông tin - dịch vụ thông tin liên lạc

- Nhu cầu giặt là, sấy gội, y tế… - dịch vụ giặt là, làm đẹp, y tế

- Khi tiến hành dịch vụ này nhà kinh doanh du lịch phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Thuận tiện, tổ chức hợp lý không làm mất thời gian của du khách

- Chất lượng của hàng hóa cao; giá cả rõ ràng, công khai

- Có các hoạt động liên doanh, liên kết với các ngành sản xuất để đảm bảo cung ứng đầy đủ các hàng hóa, đặc biệt hàng lưu niệm, đồng thời tổ chức hoạt động bán phục vụ tại nơi du lịch

2.4 Lý thuyết về rủi ro

2.4.1 Khái niệm về rủi ro

Theo mỗi thời gian, mỗi tác giả thì khái niệm về rủi ro có sự khác nhau Khái niệm về rủi ro là khái niệm phổ biến và hầu như mỗi người đều có thể biết về phạm trù này

Nói đến khái niệm về rủi ro, hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về rủi

ro Mỗi một tác giả lại đưa ra những định nghĩa khác nhau Theo AllanWillett thì:

“Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của một số học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell

Trang 34

Trong một nghiên cứu của JohnHaynes, và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của IrvingPfeffer thì rủi ro là: “khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”

Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H Knight khi ông cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được” Cuốn Kinh tế học hiện đại của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng

có đề cập đến quan điểm này

Qua các khái niệm về rủi ro, chúng ta thấy rủi ro có các tính chất quan trọng: Một là: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra Đó là những sự kiện mà người ta không lường trước một cách chắc chắn Mọi rủi ro đều là bất ngờ, cho dù mức độ bất ngờ

có thể khác nhau Nếu như người ta không nhận dạng, không thể dự đoán được loại rủi ro thì khi rủi ro xảy ra nó hoàn toàn bất ngờ đối với con người Nếu khoa học nhận dạng, dự báo phát triển, giúp con người dự đoán chính xác được những rủi ro

sẽ xảy ra thì đặc tính bất ngờ của rủi ro không còn nữa và rủi ro trở thành những sự kiện bất lợi ngoài mong muốn Ngày nay khoa học đã giúp cho con người dự báo khá chính xác nhiều loại rủi ro, nhờ đó con người có thể làm giảm đi tính bất ngờ của rủi ro Hai là: Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất Một khi rủi ro đã xảy ra là

để lại hậu quả cho con người, mặc dù nó có thể nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng Nhiều khi, hậu quả của rủi ro không đáng kể hoặc không nhận thấy nên dễ dàng bị

bỏ qua

Nói đến rủi ro, ai cũng nghĩ đến việc không tốt xảy ra Rủi ro có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, không ngoại trừ bất cứ một ai Một tổ chức, một cá nhân, một công

ty nhỏ hay một tập đoàn lớn đều có thể gặp rủi ro Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi nơi,

từ những nơi được xem là an toàn nhất cho đến những nơi, những chỗ mà không một ai ngờ tới

Hiện chưa có định nghĩa thống nhất nào về rủi ro, mỗi truờng phái, mỗi cá nhân đều đưa ra những định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, nhìn nhận rủi ro có 2 xu hướng: xu huớng thụ động và xu huớng chủ động

Theo xu huớng thụ động (cách nhìn truyền thống): Rủi ro là sự không may,

Trang 35

là nguy hiểm, là mất mát, là tổn thất, là kết quả không mong đợi… Trong Từ điển tiếng Việt thì: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”; “Rủi ro (rủi)

là sự không may” Theo các từ điển tiếng Anh thì: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại,…”; Rủi ro là sự bất trắc, gây mất mát, hư hại”;

“Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn, hoặc điều không chắc chắn”… Trong kinh doanh: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”; “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy

ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”… (Đoàn Thị Hồng Vân, 2009) Tóm lại, theo xu hướng thụ động thì rủi ro là điều xảy ra ngoài mong muốn của con người, tổ chức; rủi ro mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm đến con người, đến các tổ chức, đến xã hội

Trong thực tế, thường phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn khác nhau và ngày càng gia tăng Xã hội càng phát triển, những rủi ro mới sẽ xuất hiện và ngày càng phức tạp hơn Con người ngày càng quan tâm đến rủi ro nhằm tìm kiếm các biện pháp hạn chế

Theo xu hướng chủ động thì rủi ro được khái niệm khác với xu hướng thụ

động Frank Knight cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”; còn theo Allan Willett thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi”; còn Irving Preffer thì xác định “Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”; “Rủi ro là giá trị và kết quả

mà hiện thời chưa biết đến” Các tác giả C Arthur William, Jr Micheak, L Smith

đã viết trong cuốn Risk management and insurance: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn

ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào có một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước (Trương Quốc Dũng, 2019)

Trong Hướng dẫn chính thức để quản lý khủng hoảng trong ngành Du lịch

Trang 36

của trung tâm quốc tế APEC về du lịch bền vững thì một trong các thuật ngữ được

sử dụng là “rủi ro là cơ hội mà một điều gì đó xảy ra có tác động lên các đối tượng

Du lịch Queensland (2009) mô tả: rủi ro là cơ hội của một điều gì đó không mong muốn xảy ra, không chắc chắn gây nguy cơ Nó được đo bằng xác suất của nó xảy ra và của chi phí của các kết quả nếu nguy cơ dự kiến xảy ra

Kuratko và Welsch (2001) thì xác định rủi ro là "mức độ không chắc chắn và khả năng mất mát tiềm ẩn có thể liên quan đến các kết quả từ một hành vi nhất định hoặc tập hợp đó"

G K Shaw (2010), “Mô hình quản lý rủi ro cho ngành du lịch ở Nam Phi” cho rằng rủi ro trong ngành du lịch có thể được định nghĩa là sự kiện có thể xảy ra của một sự kiện đã biết hoặc chưa biết có thể có ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đối với doanh nghiệp, điểm đến hoặc quốc gia Tuy nhiên, không phải tất cả các rủi

ro đều xử lý, tùy thuộc vào tần suất xuất hiện và tác động của nó, người điều hành một doanh nghiệp cụ thể phải quyết định có nên thực hiện hành động giảm nhẹ hoặc không có hành động và có chấp nhận rủi ro hay không Rủi ro từ mức trung bình đến cao sẽ đòi hỏi phải có hành động để giảm thiểu tác động bất lợi đối với doanh nghiệp hoặc ngành Mặt khác, nếu hiệu quả là không đáng kể, rủi ro có thể được chấp nhận Cần phải nhận ra rằng không phải mọi rủi ro của cường độ cao đều có tác động tiêu cực, tùy thuộc vào nguy cơ xảy ra ở trong nước hay quốc tế

Theo Ông Trương Quốc Dũng, qua các khái niệm trên, có thể đưa khái niệm

về rủi ro trong kinh doanh du lịch như sau: “Rủi ro trong kinh doanh du lịch là những bất trắc có thể đo lường được, có thể gây ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi các cơ hội trong kinh doanh, nhưng cũng có thể đem lại những cơ hội mới trong kinh doanh du lịch” (Trương Quốc Dũng, 2019)

2.4.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh du lịch

Theo GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân (2009), để phân loại rủi ro cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: phân loại theo quản trị rủi ro truyền thống, phân loại theo nguồn gốc của rủi ro, phân loại theo môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

du lịch, phân loại theo đối tượng rủi ro, phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh

Trang 37

doanh của doanh nghiệp du lịch

2.4.2.1 Phân loại theo phương pháp quản trị rủi ro truyền thống

Rủi ro từ thảm họa: Đây là loại rủi ro mang tính khách quan mà doanh

nghiệp du lịch không thể tác động vào Nhóm rủi ro này phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nơi có các hoạt động du lịch xảy ra (điểm đến du lịch) và nơi xuất phát của khách du lịch Nhóm rủi ro này có thể kể ra như: Động đất, núi lửa, sóng thần, chiến tranh, hỏa hoạn, lũ lụt

Rủi ro tài chính: Nhóm rủi ro này mặc dù cũng xảy ra do khách quan trong

hoạt động kinh doanh, tuy nhiên cũng mang tính chủ quan đối với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhóm rủi ro này là các khoản nợ xấu, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cổ phiếu biến động

Rủi ro tác nghiệp: Đây là nhóm rủi ro chủ yếu do chủ quan của con người

trong doanh nghiệp du lịch Nhóm rủi ro này là: trang thiết bị, hệ thống máy móc hư hỏng, nhân viên chểnh mảng, quy trình hoạt động không đồng bộ

Rủi ro chiến lược: Chiến lược có vai trò quyết định trong sự thành bại của

một công ty, một tổ chức Chiến lược sai dẫn đến công ty, tổ chức đó đối diện với nguy cơ thất bại Các loại rủi ro chiến lược như: rủi ro dự án kinh doanh thất bại, rủi

ro thương hiệu, rủi ro do doanh nghiệp hoạt động đình trệ, doanh nghiệp không tăng trưởng, nhân sự không có động lực làm việc, rủi ro từ khách hàng, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng thay đổi mà doanh nghiệp không đáp ứng kịp, khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác

2.4.2.2 Phân loại theo nguồn gốc rủi ro

Rủi ro do môi trường thiên nhiên: Nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên

nhiên như động đất, lũ lụt, bão, sóng thần, lở đất, núi lửa, biến đổi khí hậu… gây ra

Rủi ro do môi trường văn hóa, xã hội: Rủi ro do môi trường văn hóa, xã

hội là những rủi ro về thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, các chuẩn mực giá trị, cấu trúc xã hội, các hành vi của con người của dân tộc hay nhóm người dẫn đến những hành vi, thái độ, hành xử không phù hợp và gây ra những thiệt hại, mất mát trong kinh doanh

Trang 38

Rủi ro do môi trường chính trị: Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần một

môi trường chính trị ổn định để kinh doanh Môi trường chính trị ảnh hưởng lớn đến đường lối kinh doanh của doanh nghiệp Khi có những chính sách mới ra đời, có thể

sẽ làm đảo lộn các kế hoạch kinh doanh của một doanh nghiệp

Rủi ro do môi trường kinh tế: Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường

kinh tế như: tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát, suy thoái, khủng hoảng kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch

2.4.2.3 Phân loại theo môi trường tác động

Rủi ro do môi trường bên trong doanh nghiệp du lịch: Đây là những rủi

ro phát sinh trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp và có thể phân loại theo các lĩnh vực như Quản trị, Marketing, Tài chính, Kế toán, Tổ chức sản xuất, Nghiên cứu phát triển, Hệ thống thông tin

Rủi ro do môi trường bên ngoài doanh nghiệp du lịch: Môi trường kinh

doanh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động của doanh nghiệp về cơ bản phải tuân theo môi trường kinh doanh bên ngoài và chịu sự tác động của các yếu tố này Môi trường bên ngoài doanh nghiệp du lịch có thể phân làm hai loại sau:

Môi trường vĩ mô: gồm các yếu tố liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, pháp luật

Môi trường vi mô: gồm các yếu tố liên quan đến khách hàng, các nhà cung

ứng dịch vụ, các đối thủ cạnh tranh

2.4.2.4 Phân loại theo đối tượng rủi ro

Rủi ro về tài sản: Những rủi ro liên quan đến tài sản của doanh nghiệp bao

gồm tài sản hữu hình và vô hình

Rủi ro về nhân lực: Những rủi ro liên quan đến con người trong doanh

Trang 39

Rủi ro trong kinh doanh lữ hành: Gồm các rủi ro phát sinh trong quá trình

kinh doanh lữ hành

Rủi ro trong kinh doanh lưu trú du lịch: Gồm các rủi ro phát sinh trong

kinh doanh khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, các cơ sơ lưu trú du lịch khác

Rủi ro trong kinh doanh tại khu du lịch, điểm du lịch: Gồm các rủi ro phát

sinh trong tham quan du lịch và các dịch vụ liên quan tại khu du lịch, điểm du lịch

Rủi ro trong kinh doanh vận chuyển du lịch: Gồm các rủi ro phát sinh

trong kinh doanh vận chuyển khách du lịch bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không và các phương tiện vận chuyển khách du lịch khác

Rủi ro trong kinh doanh ăn uống: gồm các rủi ro phát sinh trong kinh

doanh ăn uống tại nhà hàng, khu du lịch, khách sạn, các cơ sở cung cấp thực phẩm

2.4.2.6 Phân loại theo tính chất của rủi ro

Có thể chia rủi ro thành hai loại: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy

Rủi ro suy đoán: Loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro

đầu cơ Đây là rủi ro liên quan đến khả năng thành bại của hoạt động của hoạt động kinh doanh, đầu cơ, đầu tư

Rủi ro thuần túy: Là những rủi ro chỉ có thể dẫn đến những thiệt hại, mất

mát mà không có cơ hội kiếm lời Rủi ro thuần túy xảy ra thì không ai có thể tận dụng thành cơ hội của mình

2.4.3 Rủi ro của ngành hàng không

Suốt hơn một thập kỷ qua, ngành hàng không đã đem lại cho con người rất nhiều lợi ích trong việc vận chuyển Đây là ngành mà con người luôn ưu tiên lựa chọn khi có ý định muốn di chuyển dù bất kỳ mục đích nào như đi du lịch hay kinh doanh…

Thế nhưng đối diện với sự kỳ vọng rất nhiều của khách hàng, thì vấn đề ngành hàng không cần quan tâm đó là rủi ro Những thông tin về các thảm họa lịch sử của ngành hàng không thế giới đã tác động đến tâm lý của hàng tỷ khách hàng tiềm

Trang 40

năng của ngành Mặc dù trong thời gian qua, mức độ an toàn hàng không đã được cải thiện đáng kể với tỷ lệ tử vong nhỏ hơn 2 người trên 100 triệu hành khách Trong 60 năm qua, số vụ tai nạn hàng không đã giảm rõ rệt nhờ tiến bộ về công nghệ và chất lượng đào tạo trong ngành Thống kê cho thấy xác suất tử vong do đi

xe đạp (1 trên 340.000) hoặc bị sét đánh (1 trên 10,5 triệu) còn cao hơn nguy cơ tử vong do tai nạn máy bay tại Hoa Kỳ (1 trên 29 triệu)

Hầu hết các rủi ro hàng không giảm thiểu phần lớn là do mức độ an toàn của động cơ được nâng cao, hầu hết nguy cơ hỏng hóc động cơ đã được các nhà sản xuất loại trừ Các rủi ro lớn nhất hiện nay trong ngành hàng không đều có nguồn gốc từ con người, chẳng hạn: sự mệt mỏi của phi công, chất lượng huấn luyện bay, công tác quản lý tổ bay và các yếu tố khác Xấp xỉ 70% tai nạn chết người trong các chuyến bay thương mại xuất phát từ lỗi của con người, cho dù công nghệ hàng không ngày càng tân tiến Sự mệt mỏi của tổ bay chiếm tới 15% - 20% nguyên nhân các vụ tai nạn, vì vậy một loạt giải pháp sẽ tiếp tục được sử dụng nhằm nâng cao mức độ an toàn bay

Về khiếu nại bảo hiểm hàng không, các vụ rơi máy bay gây ra tổn thất lớn nhất: 1,36 triệu USD (chiếm 23%), tiếp đó là rủi ro do cất cánh và hạ cánh (18%) và các sự cố kỹ thuật (16%) Các tai nạn xảy ra tại sân bay khiến ngành hàng không tổn thất xấp xỉ 10 tỷ USD mỗi năm, trong đó lỗi do truyền đạt thông tin là nguyên nhân chính của hầu hết tai nạn

áo cáo phân tích 10 năm giai đoạn 2003 - 2012 cho thấy trong số các vụ tai nạn, 57% xảy ra trong lúc máy bay giảm độ cao và hạ cánh, 24% xảy ra khi cất cánh

và tăng dần độ cao, chỉ có 9% xảy ra khi bay ở chế độ tự động

Theo Báo cáo của ngành vận tải hàng không của tạp chí MBS (2019), Ngành vận tải hàng không Việt Nam đang có tiềm năng tăng trưởng rất lớn, tuy nhiên cũng đang đối mặt với những rủi ro khó kiểm soát với quy mô ảnh hưởng lớn:

Rủi ro giá nhiên liệu bay ảnh hưởng mạnh đối với các hãng vận tải hàng

không nói chung, do tính biến động bất định và tỷ trọng chính chiếm khoảng 35%

cơ cấu chi phí hoạt động của hãng;

Ngày đăng: 19/07/2022, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w