Bài viết Tuân thủ dùng thuốc của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 220 người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi năm 2021 nhằm mô tả thực trạng tuân thủ điều trị dùng thuốc trên nhóm đối tượng này.
Trang 1TUÂN THỦ DÙNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG CƠ SỞ NGỌC HỒI NĂM 2021
Nguyễn Thị Thu Hà 1 *, Phạm Hoàng Anh 2 , Nguyễn Trọng Hưng 3 , Kiều Thị Hoa 1
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Viện kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế, Hà Nội
3 Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Hà Nội
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 220 người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi năm 2021 nhằm mô tả thực trạng tuân thủ điều trị dùng thuốc trên nhóm đối tượng này Kết quả cho thấy 87,7% người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tuân thủ dùng thuốc Trong tổng số 64 đối tượng quên thuốc có 71,9% đối tượng quên uống thuốc; 4,7% đối tượng quên thuốc tiêm; 23,4% đối tượng quên cả thuốc uống và thuốc tiêm Lý do chính khiến đối tượng quên thuốc uống là: do bận và quên Duy nhất chỉ có 1 đối tượng bỏ thuốc vì chuyển sang dùng thực phẩm chức năng Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị cần tăng cường hướng dẫn và
tư vấn cụ thể về tuân thủ điều trị cho người bệnh đái tháo đường
Từ khóa: Đái tháo đường týp 2; tuân thủ dùng thuốc; Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi
*Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Địa chỉ: Trường Đại học Y Hà Nội
Điện thoại: 0939 110 889
Email: hanguyenhmu89@gmail.com
Ngày nhận bài: 15/07/2021 Ngày phản biện: 23/07/2021 Ngày đăng bài: 30/09/2021
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn
chuyển hóa có tốc độ gia tăng nhanh trên toàn
thế giới và đang trở thành một trong những
thách thức sức khỏe cộng đồng quan trọng nhất
với tất cả các quốc gia [1] Theo Liên đoàn Đái
tháo đường quốc tế (IDF), năm 2000 toàn thế
giới có 151 triệu người trong độ tuổi từ 20 - 79
bị ĐTĐ (chiếm 4,6% dân số) nhưng đến năm
2019 toàn thế giới đã có 463 triệu người bị ĐTĐ
(chiếm 9,3% dân số), trong đó chiếm trên 90%
là ĐTĐ týp 2 Đây là nguyên nhân gây ra cái
chết của 4,2 triệu người trên toàn thế giới, tiêu
tốn 760 tỉ đô la cho việc chăm sóc và điều trị
bệnh [2] Tại Việt Nam, theo ước tính của Bộ Y
tế, đối với người tuổi từ 20 - 79, bệnh ĐTĐ sẽ
tăng khoảng 78,5% trong giai đoạn 2017 - 2045
từ 3,53 triệu người mắc ĐTĐ năm 2017 tăng
lên 6,3 triệu người mắc ĐTĐ năm 2045 [3]
Hiện nay, yếu tố quyết định trong công tác điều
trị ĐTĐ là sự tuân thủ của người bệnh (NB) trong đó, việc tuân thủ dùng thuốc là một trong
4 yếu tố cốt lõi Người bệnh cần tuân thủ chế
độ điều trị dùng thuốc đều đặn suốt đời, đúng thuốc, đúng giờ, đúng liều lượng Theo khuyến cáo của WHO, NB mắc bệnh mạn tính được coi là tuân thủ điều trị thuốc khi phải thực hiện được ít nhất 90% phác đồ điều trị trong vòng 1 tháng Vì vậy, NB ĐTĐ được coi là không tuân thủ điều trị nếu số lần quên thuốc (uống/tiêm)
> 3 lần/tháng [4] Việc nghiên cứu về tuân thủ của NB sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp thông tin cho các cán bộ y tế có thể nâng cao hiệu quả điều trị đái tháo đường
Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường cả trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên với Bệnh viện Nội tiết Trung ương là cơ sở đầu ngành trong lĩnh vực Nội tiết - chuyển hóa, Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi đang
DOI: https://doi.org/10.51403/0868-2836/2021/417
Trang 2khám và điều trị ngoại trú cho khoảng 400 người
bệnh ĐTĐ týp 2 mỗi ngày thì tại đây vẫn chưa
có nghiên cứu nào về vấn đề này được thực hiện
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm
mục tiêu mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc
của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị
ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội
tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi năm 2021
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường
týp 2 đang được điều trị ngoại trú từ 6 tháng
trở lên tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội
tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi trong thời gian
nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh không
đồng ý tham gia nghiên cứu, có biến chứng
nặng hoặc có rối loạn ý thức
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết
Trung ương cơ sở Ngọc Hồi từ 01/11/2020
-31/05/2021 (Thời gian thu thập số liệu: từ
04/01/2021 - 31/03/2021)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính 1
tỷ lệ:
n = Z2
(1 - /2)
p (1 - p)
d2
Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu; p: tỷ lệ
tuân thủ điều trị ĐTĐ týp 2, chọn p = 0,86 (dựa
theo nghiên cứu thử trên 50 người bệnh ĐTĐ
týp 2 tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết
tra không hợp lệ, vì vậy cỡ mẫu nghiên cứu là
220 người bệnh
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: Lựa chọn tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn trong khoảng thời gian nghiên cứu cho đến khi đủ 220 bệnh nhân
2.6 Biến số nghiên cứu
Nhóm biến số về đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới, trình độ học vấn, BMI)
Nhóm biến số về tuân thủ điều trị: Tuân thủ dùng thuốc được đánh giá dựa trên việc uống thuốc/tiêm thuốc đầy đủ của bệnh nhân Vì vậy, nhóm biến số sẽ bao gồm: Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc, số lần quên thuốc/tháng, loại thuốc bị quên, lý do quên thuốc
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
Nghiên cứu viên trực tại Khoa, tiếp cận và mời bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đến khám tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi định lượng
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, làm sạch và phân tích bằng phần mềm Stata15 Các thống kê mô tả sẽ được thực hiện thông qua việc tính toán tần số,
tỷ lệ phần trăm
Tiêu chí đánh giá: Nếu bệnh nhân quên uống/ tiêm thuốc ≤ 3 lần/tháng thì được coi là tuân thủ điều trị và quên uống/tiêm thuốc > 3 lần/tháng được coi là không tuân thủ điều trị [4]
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện dựa trên Quyết định 616/QĐ-ĐHYHN phê duyệt đề tài cơ sở của trường Đại học Y Hà Nội và sự đồng ý của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Ngọc Hồi
Trang 3III KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong 220 đối tượng nghiên cứu, có 124
người bệnh ở nhóm tuổi ≥ 60 tuổi, chiếm
56,4%, cao hơn tỷ lệ người bệnh nhóm tuổi <
60 tuổi (43,6%); tỷ lệ người bệnh là nữ (55%)
cao hơn nam (45%); có 70,9% người bệnh có
trình độ từ trung học phổ thông trở lên, còn lại
có trình độ dưới trung học cơ sở (29,1%); đa
số người bệnh sống cùng người thân, chiếm 97,3%, chỉ có 6 người bệnh sống một mình, chiếm 2,7% Đa số người bệnh có thời gian điều trị bệnh trên 5 năm, chiếm 53,6%, 46,4%
NB có thời gian điều trị dưới 5 năm; có 59,5 % không mắc biến chứng, 30,9% mắc biến chứng, 9,5% không biết biến chứng
3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị dùng thuốc của đối tượng
Kết quả cho thấy về thực hành dùng thuốc,
có 29,1% người bệnh (NB) sử dụng thuốc viên,
14,1% NB sử dụng thuốc tiêm và 56,8% NB
sử dụng cả thuốc uống và thuốc tiêm; 70,4%
NB thực hành dùng thuốc đúng theo đơn của
bác sỹ, 29,1% NB dùng thuốc theo đơn nhưng thỉnh thoảng quên, chỉ có 1 NB chiếm 0,5%
bỏ thuốc; đa số đối tượng sử dụng thuốc 2 lần/ ngày với thuốc viên là 60,3% và thuốc tiêm là 61,6%
Bảng 1 Thực hành dùng thuốc của đối tượng nghiên cứu (n = 220)
Chế độ dùng thuốc của đối tượng nghiên cứu trong tháng qua (n = 220)
Sử dụng thuốc viên (n = 189)
Sử dụng thuốc tiêm insulin (n = 156)
Thực hành dùng thuốc trong tháng vừa qua (n = 220)
Trang 4Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số NB quên
thuốc uống 71,9%, quên thuốc tiêm 4,7%, và
quên cả hai là 23,4%; 52,5% NB quên uống
thuốc ≤ 3 lần/tháng, 47,5% NB quên uống thuốc
> 3 lần/tháng và 83,3% NB quên tiêm thuốc ≤ 3 lần/tháng, 16,7% NB quên tiêm > 3 lần/tháng
Bảng 2 Thực trạng quên thuốc của đối tượng
Bảng 3 Lí do và cách xử trí khi quên thuốc
Loại thuốc quên (n = 64)
Số lượng thuốc viên bị quên (n = 61)
Quên sử dụng thuốc tiêm (n = 18)
Lý do quên uống thuốc (n = 61)
Xử trí khi quên uống thuốc (n = 61)
Lý do quên tiêm thuốc (n = 18)
Xử trí khi quên tiêm thuốc (n = 18)
Trang 5Kết quả hình 1 cho thấy tỷ lệ người bệnh
ĐTĐ tuân thủ dùng thuốc chiếm 87,7%, tỷ lệ
không tuân thủ là 12,3%
IV BÀN LUẬN
Trong tổng số 220 đối tượng tham gia
nghiên cứu đa số có trình độ từ THPT trở lên
chiếm 70,9%, đa số đối tượng nghiên cứu
(ĐTNC) trên 60 tuổi chiếm 54,6%, tỷ lệ nữ giới
tham gia nghiên cứu là 55% Có 39,5% NB có
chỉ số BMI ≥ 25, tức là có 39,5% số NB được
chẩn đoán béo phì độ 1 trở lên, 97,3% NB sống
cùng người thân
Qua phân tích chúng tôi nhận thấy tỷ lệ NB
tuân thủ dùng thuốc rất cao 87,7% (Hình 1)
Kết quả nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu
của Lý Chí Thành với tỷ lệ tuân thủ thuốc là
71,2% và nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang
với tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc 78,1% [5, 6]
Kết quả này thể hiện NB đã nhận thức được
tầm quan trọng của việc tuân thủ dùng thuốc
Tuy nhiên vẫn còn 12,3% NB chưa tuân thủ
điều trị dùng thuốc đặt ra vấn đề cán bộ y tế cần
tăng cường công tác tư vấn dùng thuốc cho NB
Tỷ lệ NB sử dụng thuốc viên trong tháng
qua là 29,1%, thuốc tiêm là 14,1%, và sử dụng
cả 2 loại là 56,8%, kết quả này cao hơn so với
nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh với tỷ lệ
NB sử dụng cả 2 loại thuốc là 5% [7] Tỷ lệ
quên thuốc viên (71,9%) nhiều hơn quên thuốc
tiêm (4,7%), tỷ lệ này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Đỗ Hồng Thanh (2018) [8] và Nguyễn Thanh Hà (2013) [9]
Mặc dù tỷ lệ tuân thủ thuốc là khá cao nhưng vẫn còn khá nhiều NB quên uống thuốc cụ thể
là 61 người quên thuốc viên và 18 người quên thuốc tiêm Lý do quên uống và tiêm do bận chiếm tỷ lệ khá cao là 54,1% và 72,2% (Bảng 3) Kết quả này của chúng tôi không phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Hồng Thanh (2018) khi
lý do quên thuốc ở nghiên cứu này chủ yếu
do chủ quan của NB (quên) chiếm 59,3% và 62,2% [8] Có sự khác biệt này có thể là do đối tượng quên thuốc trong nghiên cứu của chúng tôi đa phần còn đang đi làm nên bận là lý do chính, còn nghiên cứu của Đỗ Hồng Thanh
có tỷ lệ cán bộ về hưu chiếm 74,7% nên lý do quên thuốc là quên [8] Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ NB quên thuốc uống
và thuốc tiêm do ý thức chủ quan của họ cũng chiếm tỷ lệ khá cao là 42,7% và 22,2% (Bảng 3) Nghiên cứu chúng tôi chỉ ra chỉ có 1 NB bỏ thuốc viên tuy nhiên kết quả này cũng cho thấy đối tượng này có hiểu biết về bệnh đái tháo đường còn chưa đúng, cán bộ y tế cần cung cấp thêm thông tin về bệnh đái tháo đường và tuyên truyền cho NB dùng thuốc đúng, đủ liều theo chỉ định đồng thời phối hợp với người nhà hướng dẫn NB cài đặt chế độ hẹn giờ để nhắc nhở NB uống thuốc
Một số hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi, đó là phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang nên chỉ đánh giá được tuân thủ điều trị dùng thuốc tại một thời điểm ngắn trong thời
Hình 1 Thực trạng tuân thủ thuốc của đối tượng nghiên cứu (n = 220)
Trang 6gian điều trị của bệnh nhân trong khi đó bệnh
nhân dùng thuốc cả đời nên con số này có thể
thay đổi theo thời gian Việc đánh giá thực
hành tuân thủ dùng thuốc thông qua tự báo cáo
của NB chứ chưa quan sát được thực tế khi NB
thực hành tại nhà, vì vậy đánh giá sự tuân thủ
điều trị có thể có sai số Do đó, cần có thêm các
nghiên cứu với quy mô lớn hơn và sâu hơn về
tuân thủ điều trị ở người bệnh ĐTĐ týp 2 để
có được cái nhìn toàn diện về vấn đề này trong
tương lai
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường týp 2 điều
trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Bệnh viện
Nội tiết Trung ương 2 cơ sở Ngọc Hồi tuân
thủ thuốc khá cao (87,7%) Trong tổng số 64
đối tượng quên thuốc có 71,9% đối tượng quên
uống thuốc; 4,7% đối tượng quên thuốc tiêm;
23,4% đối tượng quên cả thuốc uống và thuốc
tiêm Lý do chính khiến đối tượng quên thuốc
uống là: do bận và yếu tố chủ quan chỉ đơn giản
là quên Duy nhất chỉ có 1 đối tượng bỏ thuốc
Từ kết nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị cần
tăng cường hướng dẫn và tư vấn cụ thể về tuân
thủ điều trị cho người bệnh đái tháo đường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chen L, Magliano DJ, Zimmet PZ The worldwide
epidemiology of type 2 diabetes mellitus present
and future perspectives Nat Rev Endocrinol 2011; 8(4): 228 - 236.
2 International Diabetes Federation IDF Diabetes Atlas Brussels Belgium 2019.
3 Sở y tế Hà Nội Đái tháo đường không phải "bệnh nhà giàu"- Cổng thông tin Bộ Y tế Accessed 26/07/2021 https://soyte.hanoi.gov.vn/tin-tuc-su-kien/-/asset_publisher/4IVkx5Jltnbg/content/ thong-tin-y-te-tren-cac-bao-ngay-12-10-2020.
4 WHO, IDF Definition and diagnosis of diabetes mellitus and intermediate hyperglycemia Report
of a WHO/IDF Consultation 2006.
5 Lý Chí Thành, Đỗ Văn Mai, Hoàng Đức Thái Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân Đái tháo đường týp
2 Tạp chí Y học Cộng đồng 2020; 62(1): 46 - 51
6 Nguyễn Thị Hải Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh năm
2015 Luận văn Thạc sĩ Quản lí bệnh viện, trường Đại học y tế Công cộng 2015.
7 Nguyễn Trung Anh, Hoàng Thị Thảo, Nguyễn Thị Thu Hương Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân Đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Thiệu Hóa Tạp chí Nội Tiết và Đái tháo đường 2020; 38: 18 - 23
8 Đỗ Hồng Thanh, Nguyễn Khắc Hiền, Phạm Huy Tuấn Kiệt và cộng sự Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường týp 2 được quản lý tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Đa khoa Thanh Nhàn năm 2017 Tạp chí Y học dự phòng 2018; 28(1): 115 – 123.
9 Nguyễn Thanh Hà Mô tả thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2012 và một số yếu tố liên quan Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội 2013.
Trang 754 Tạp chí Y học dự phòng, Tập 31, số 8 - 2021
MEDICATION COMPLIANCE OF TYPE 2 DIABETES OUTPATIENTS TREATED AT THE DEPARTMENT OF MEDICAL EXAMINATION,
NATIONAL HOSPITAL OF ENDOCRINOLOGY,
NGOC HOI FACILITY IN 2021
Nguyen Thi Thu Ha 1 , Pham Hoang Anh 2 , Nguyen Trong Hung 3 , Kieu Thi Hoa 1
1 Hanoi Medical University
2 National Institute for Control of Vaccine and Biologicals, Hanoi
3 National Institute of Nutrition, Hanoi
A cross - sectional study on 220 patients
with type 2 diabetes treated as outpatients
at the Department of Medical Examination,
National Hospital of Endocrinology, Ngoc
Hoi campus in 2021 to describe the status of
medication compliance Results showed that
87.7% of outpatients with type 2 diabetes
adhered to medication Of the total 64 patients
who forgot to take the medicine, 71.9% of the
subjects forgot to take the medicine; 4.7%
of patients forgot the injection; 23.4% of
patients forgot both oral and injectable drugs The main reasons why subjects forgot to take their medication were: busyness and simply forgetting Only 1 patient quit smoking because
he switched to using functional foods From the research results, we recommend strengthening specific guidance and counseling on treatment adherence for people with diabetes
Keywords: Type 2 diabetes; medication
compliance; National Hospital of Endocrinology
- Ngoc Hoi facility