1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tuân thủ dùng thuốc: Tầm quan trọng, phương pháp đánh giá và các biện pháp cải thiện

7 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 612,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuân thủ dùng thuốc (TTDT) là một vấn đề ngày càng được quan tâm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe vì nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị cũng như chi phí mà bệnh nhân (BN) phải bỏ ra. Trong bài tổng quan này, Nghiên cứu mong muốn cung cấp thông tin cho người đọc về khái niệm, vai trò, cách đánh giá cũng như biện pháp giúp cải thiện sự TTDT của bệnh nhân.

Trang 1

11 TQ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC: TẦM QUAN TRỌNG, PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN 1 Nguyễn Viết Ngọc * , Nguyễn Thắng ** , Nguyễn Hương Thảo * 1

Trang 2

TUÂN THỦ DÙNG THUỐC: TẦM QUAN TRỌNG, PHƯƠNG PHÁP

ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN

Nguyễn Viết Ngọc * , Nguyễn Thắng ** , Nguyễn Hương Thảo *

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuân thủ dùng thuốc (TTDT) là một vấn đề

ngày càng được quan tâm trong lĩnh vực chăm

sóc sức khỏe vì nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến

kết quả điều trị cũng như chi phí mà bệnh nhân

(BN) phải bỏ ra Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra

rằng, ở các nước phát triển, sự TTDT ở các bệnh

nhân mắc bệnh mạn tính chỉ khoảng 50%(3,12) Ở

các nước đang phát triển, mức độ và sự ảnh

hưởng của việc kém TTDT có thể còn nặng nề

hơn do sự thiếu hụt nhân lực y tế và sự mất cân

bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc

sức khỏe của bệnh nhân(11) Trong bài tổng quan

này, chúng tôi mong muốn cung cấp thông tin

cho người đọc về khái niệm, vai trò, cách đánh

giá cũng như biện pháp giúp cải thiện sự TTDT

của bệnh nhân

KHÁI NIỆM TUÂN THỦ DÙNG THUỐC

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sự tuân thủ điều

trị là mức độ hành vi của BN trong việc dùng

thuốc, tuân thủ chế độ ăn uống và/ hoặc thay đổi

lối sống phù hợp với khuyến cáo của nhân viên

y tế(11) Theo Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa

bệnh của Hoa Kỳ (Centers for Disease Control

and Prevention), TTDT là sự phù hợp, tương

thích của BN với khuyến cáo của nhân viên y tế

về thời điểm, liều lượng và tần suất dùng thuốc

trong suốt thời gian thuốc được kê đơn(16) Qua

đó có thể thấy, TTDT chính là một phần của tuân

thủ điều trị

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TUÂN THỦ

DÙNG THUỐC

TTDT đóng vai trò quan trọng trong việc

giúp BN đạt được mục tiêu điều trị và giảm

nguy cơ gặp phải các biến cố bất lợi trên lâm

sàng Tổ chức Y tế thế giới đã xác định TTDT là một yếu tố quyết định đến hiệu quả điều trị Ví

dụ như, các nghiên cứu về việc TTDT trên BN tăng huyết áp cho thấy khoảng 50 - 80% BN không TTDT Việc không TTDT là nguyên nhân hàng đầu khiến cho BN không đạt huyết áp mục tiêu Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ BN gặp phải các các biến cố như nhồi máu cơ tim, đột quỵ hay nhập viện sẽ tăng lên(4,5,11) Tại Hoa

Kỳ, không tuân thủ là nguyên nhân của khoảng

30 - 50% các trường hợp thất bại trong điều trị, 10% số ca nhập viện và 125.000 ca tử vong mỗi năm(16)

Ngoài việc ảnh hưởng xấu đến tình trạng của BN, việc kém TTDT còn tác động không nhỏ đến chi phí khám chữa bệnh mà BN phải bỏ ra, cũng như gánh nặng kinh tế do bệnh tật mà xã hội phải chịu Tại Hoa Kỳ, ước tính chi phí hằng năm mà BN phải bỏ ra do hệ quả của việc kém TTDT lên đến 100 - 289 tỷ đô la(16) Mối liên quan giữa kém TTDT và chi phí BN phải trả được thể hiện trong Hình 1(7)

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC

Đo lường chính xác sự TTDT rất cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch điều trị và theo dõi một cách hiệu quả, khả thi và đảm bảo rằng các thay đổi về kết cục lâm sàng là do chế

độ điều trị(11) Có nhiều phương pháp để đánh giá sự TTDT nhưng không có phương pháp nào được xem là tiêu chuẩn vàng Có thể chia các phương pháp thành 2 nhóm: trực tiếp và gián tiếp Mỗi nhóm đều có ưu và nhược điểm riêng (Bảng 1)(9,17)

*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh **Khoa Dược, Đại học Y Dược Cần Thơ

Tác giả liên lạc: DS Nguyễn Viết Ngọc ĐT: 01282105101 Email: nguyenvietngoc.pharm@gmail.com

Trang 3

Hình 1: Mối liên hệ giữa việc kém TTDT và chi phí chăm sóc sức khỏe (7)

Chú thích: CSSK - chăm sóc sức khỏe

Bảng 1: Các phương pháp đánh giá tuân thủ dùng thuốc (9,17)

Phương pháp gián tiếp

Bộ câu hỏi/Thang đo TTDT

hoặc BN tự báo cáo

Đơn giản, rẻ tiền Phù hợp nhất trong bối cảnh lâm sàng

Dễ sai, cần thời gian giữa các lần phỏng vấn

BN không thành thật làm sai kết quả

Đếm thuốc Khách quan, có thể định lượng được

Dễ thực hiện, khá chính xác

Kết quả dễ dàng bị thay đổi bởi BN (ví dụ: BN vứt bớt thuốc)

Không biết cách dùng thuốc của BN đúng hay sai

Tỷ lệ mua lại đơn thuốc Khách quan

Dễ lấy kết quả

Mua lại đơn thuốc không đồng nghĩa với dùng thuốc Đòi hỏi một hệ thống nhà thuốc chặt chẽ

Đánh giá đáp ứng lâm sàng

của BN Đơn giản, dễ thực hiện Nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến đáp ứng lâm sàng Theo dõi thuốc điện tử (dùng

bộ vi xử lý gắn với lọ thuốc để

ghi lại thời điểm lọ thuốc được

mở ra)

Chính xác, kết quả dễ dàng định lượng Theo dõi được cách thức dùng thuốc

Tốn kém, bất tiện, đòi hỏi phải gặp BN và lấy dữ liệu

từ thiết bị điện tử

BN mở lọ thuốc nhưng có thể không dùng hoặc dùng không đủ

Đo chỉ dấu sinh lý (ví dụ: nhịp

tim ở BN dùng chẹn beta giao

cảm)

nhân (ví dụ: tăng chuyển hóa, hấp thu kém, thiếu đáp ứng)

Nhật ký BN Giúp điều chỉnh lại cách dùng thuốc nếu

BN quên

Dễ bị thay đổi bởi BN Phỏng vấn người chăm sóc

Phương pháp trực tiếp

Quan sát trực tiếp liệu pháp

điều trị Chính xác nhất Không khả thi để đo sự tuân thủ việc sử dụng thuốc BN có thể giấu thuốc trong miệng và bỏ thuốc đi

hằng ngày của BN ngoại trú

Đo nồng độ thuốc hoặc chất

chuyển hóa trong máu

Tốn kém, bất tiện cho BN vì phải lấy mẫu máu Khó thực hiện trong thời gian dài hoặc số lượng BN nhiều hoặc sử dụng nhiều thuốc cùng lúc

Đo nồng độ chỉ dấu sinh học

trong máu

Khách quan Phù hợp với các thử nghiệm lâm sàng

Đòi hỏi trang thiết bị định lượng mắc tiền và phải lấy

mẫu dịch cơ thể

Trang 4

Với thực trạng tại Việt Nam (điều kiện cơ

sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống theo dõi

BN, nhân lực của cơ sở y tế còn hạn chế), khi

muốn đánh giá sự TTDT trên số lượng BN lớn

thì phương pháp sử dụng bộ câu hỏi/ thang đo

cho BN tự báo cáo là phù hợp và khả thi nhất

Những bộ câu hỏi/ thang đo TTDT hiện nay

thường được điều chỉnh và thẩm định với

nhiều phiên bản khác nhau Các phiên bản

này phù hợp với các bệnh lý/ đối tượng bệnh

nhân khác nhau, và đương nhiên là với nhiều

thứ tiếng khác nhau(15) Trong đó, thang đo

TTDT của tác giả Morisky thường được sử

dụng trong các nghiên cứu về TTDT tại Việt

Nam(8)

NGUYÊN NHÂN BỆNH NHÂN KHÔNG TUÂN THỦ DÙNG THUỐC

Việc nâng cao sự TTDT có ý nghĩa to lớn đối với kết cục về sức khỏe và kinh tế cho cả BN và

xã hội Muốn đưa ra biện pháp can thiệp hiệu quả để cải thiện sự tuân thủ, chúng ta cần phải biết được nguyên nhân của sự kém tuân thủ

Tổ chức Y tế thế giới đã chỉ ra rằng TTDT là kết quả của sự tác động qua lại giữa 5 nhóm yếu tố: bệnh nhân, tình trạng bệnh lý, điều kiện kinh

tế - xã hội, liệu pháp điều trị và hệ thống y tế/ đội ngũ chăm sóc sức khỏe Một cách khái quát hơn,

có thể phân 5 nhóm yếu tố này thành 3 loại: yếu

tố liên quan đến bệnh nhân - yếu tố liên quan đến bác sĩ - yếu tố liên quan đến hệ thống y tế (Bảng 2)(6)

Bảng 2: Các yếu tố làm giảm sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân (6)

Liên quan đến bệnh

nhân

Thiếu hiểu biết về bệnh Thiếu tham gia vào quá trình ra quyết định điều trị

Ít tin tưởng vào hiệu quả cũng như sự an toàn của thuốc Trải nghiệm của BN với các lần dùng thuốc trước đây không được tốt Điều kiện kinh tế và chất lượng cuộc sống kém

Chi phí thuốc cao Thiếu phương tiện di chuyển Kém hiểu biết về các hướng dẫn dùng thuốc Thiếu sự hỗ trợ của gia đình và xã hội Liên quan đến bác sĩ Sử dụng liệu pháp điều trị phức tạp

Quá trình giao tiếp, trao đổi với bệnh nhân thiếu hoặc không hiệu quả (không giải thích một cách hiệu quả các lợi ích và nguy cơ của thuốc, không xem xét đến khả năng tài chính của BN,…)

Liên quan đến hệ thống

y tế/ đội ngũ chăm sóc

sức khỏe

Khả năng tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe (hệ thống phân phối thuốc yếu kém,…) Thời gian chờ đợi lâu, thời gian tư vấn dùng thuốc cho BN ngắn

Khó khăn trong việc mua lại đơn thuốc Giáo dục và theo dõi BN không tốt Nhân viên y tế thiếu kiến thức về TTDT và các biện pháp can thiệp để tăng cường sự tuân thủ

CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN SỰ TUÂN

THỦ DÙNG THUỐC

Theo phân tích tổng quan hệ thống của Santo

K (2016), các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có

đối chứng sử dụng phối hợp nhiều biện pháp

can thiệp cho kết quả là làm tăng tỷ lệ tuân thủ

dùng thuốc có ý nghĩa thống kê(13) Một số biện

pháp can thiệp thường dùng được trình bày

trong Bảng 3(1,13)

Giáo dục BN là phương pháp đặc biệt quan

trọng Trong một nghiên cứu trên 1342 BN tăng

huyết áp, việc giáo dục BN đã giúp tăng tỷ lệ BN đạt huyết áp mục tiêu Một nghiên cứu khác trên

BN đái tháo đường cũng cho kết quả tương

tự(2,10) Trong quá trình thăm khám và kê đơn, bác

sĩ nên giải thích cho BN hiểu tại sao BN cần dùng những thuốc này và tại sao cần dùng thuốc theo đúng y lệnh, đặc biệt là trong trường hợp dùng nhiều thuốc cùng lúc Bên cạnh đó, việc hướng dẫn BN cách dùng thuốc đúng cũng như

tư vấn về các tác dụng phụ và cách hạn chế, xử trí nên được bác sĩ và các nhân viên y tế khác, đặc biệt là dược sĩ, chú trọng Đơn giản hóa liệu

Trang 5

pháp điều trị cũng là một cách cải thiện sự tuân

thủ (ưu tiên dùng thuốc ít lần trong ngày, dùng

viên phối hợp,…)

Bảng 3: Các biện pháp can thiệp trên sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân (1,13)

Giáo dục BN Cung cấp thông tin cho BN bằng cách thảo luận trực tiếp hoặc gửi tài liệu trong những

buổi thảo luận riêng hoặc thảo luận nhóm

Tư vấn BN Thảo luận với BN về tầm quan trọng của thuốc, tác dụng phụ, rào cản tuân thủ (hành vi

và nhận thức), phân tích cho BN hiểu được lợi ích và nguy cơ khi điều trị Chăm sóc BN tích cực Thường xuyên trao đổi với BN nhằm củng cố và theo dõi sự tuân thủ, có thể trao đổi

trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại Công cụ hỗ trợ sử dụng thuốc Cung cấp cho BN công cụ hỗ trợ sử dụng thuốc như cuốn sổ tay thông tin thuốc (tên

thuốc, liều dùng, thời gian dùng), hộp chia thuốc, bao bì chuyên biệt Đơn giản hóa liệu pháp điều trị Giảm liều, số lượng thuốc, số lần sử dụng thuốc trong 1 ngày

Kết hợp thời gian uống thuốc với hoạt động thường ngày của BN Nhắc nhở BN tuân thủ dùng thuốc Nhắc nhở BN qua mail, điện thoại hoặc tin nhắn tự động

Quan sát trực tiếp việc dùng thuốc Quan sát trực tiếp việc sử dụng thuốc của BN

Giảm chi phí điều trị Cung cấp thông tin BN cho những tổ chức từ thiện nhằm tạo cơ hội cho BN nhận được

sự hỗ trợ kinh tế Cán bộ y tế phối hợp với nhau trong

chăm sóc BN

Thường xuyên trao đổi, phối hợp với nhau trong chăm sóc BN (bác sĩ phối hợp với dược sĩ lâm sàng trong việc kê đơn thuốc hợp lý)

Quá trình giao tiếp, trao đổi giữa nhân viên y

tế và BN đóng vai trò không nhỏ trong việc gắn

kết BN với điều trị, giúp BN tuân thủ tốt hơn

Cần chủ động tạo cơ hội để BN tham gia vào quá

trình ra quyết định điều trị Một cách đơn giản

để làm điều này là bác sĩ nên nói với BN về các

lựa chọn điều trị kèm với lợi ích và nguy cơ của

từng lựa chọn Sau đó bác sĩ cùng BN cân nhắc

và đưa ra giải pháp phù hợp với BN Việc trao

đổi, giao tiếp cần lấy BN làm trung tâm, quan

tâm đến niềm tin, thái độ, quan điểm và điều

kiện kinh tế xã hội của BN khi đưa ra quyết định

điều trị Điều này có thể làm tăng sự tin tưởng

của BN, từ đó giúp nhân viên y tế dễ dàng hơn

trong việc đánh giá và xử trí các rào cản của sự

kém TTDT Việc tạo không khí thoải mái, thân

thiện, không phán xét cũng là một yếu tố quan

trọng giúp quá trình trao đổi, giao tiếp với BN

đạt hiệu quả(6,14)

KẾT LUẬN

Tuân thủ dùng thuốc là sự phù hợp, tương

thích của bệnh nhân với khuyến cáo của nhân

viên y tế về thời điểm, liều lượng và tần suất

dùng thuốc trong suốt thời gian thuốc được kê

đơn Tuân thủ dùng thuốc là một trong những

yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đạt mục

tiêu điều trị, kết cục sức khỏe và chi phí mà bệnh

nhân phải bỏ ra Có nhiều phương pháp để đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân, trong đó phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi/thang

đo thường được sử dụng nhất Nguyên nhân của việc kém tuân thủ có thể thuộc về bệnh nhân, về nhân viên y tế và về hệ thống chăm sóc sức khỏe Giáo dục - tư vấn bệnh nhân, tăng cường quá trình trao đổi, giao tiếp hiệu quả giữa nhân viên y tế và bệnh nhân và đơn giản hóa liệu pháp điều trị là những biện pháp được khuyến cáo áp dụng để tăng cường sự tuân thủ dùng thuốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atreja A, Bellam N, Levy SR (2005) Strategies to enhance

patient’s adherence: Making it simple MedGenMed, 7: 1-4

2 Balamurugan A, Ohsfeldt R, Hughes T, Phillips M (2006) Diabetes self-management education program for Medicaid

recipients: a continuous quality improvement process Diabetes

Educ, 32: 893-900

3 Haynes RB (2001) Interventions for helping patients to follow

prescriptions for medications Cochrane Database of Systematic

Reviews, 2001 Issue1

4 Ho PM, Magid DJ, Shetterly SM, et al (2008) Medication nonadherence is associated with a broad range of adverse

outcomes in patients with coronary artery disease Am Heart J,

155: 772-779

5 Kettani FZ, Dragomir A, Cote R, et al (2009) Impact of a better adherence to antihypertensive agents on

cerebrovascular disease for primary prevention Stroke, 40:

213-220

6 Marie TB, Jennifer KB (2011) Medication Adherence: WHO

Cares? Mayo Clin Proc, 86: 304-314

Trang 6

7 McGuire JM, Luga OA (2014) Adherence and health care

costs Risk Management and Healthcare Policy, 7: 35-44

8 Nguyen T, Nguyen HT, Pham TS (2015) Translation and

cross-cultural adaptation of the brief illness perception

questionnaire, the beliefs about medicines questionnaire and

the Morisky Medication Adherence Scale into Vietnamese

Pharmacoepidemiol Drug Saf, Volume 24, Issue S1 ( Abstract

accepted)

9 Osterberg L, Blaschke T (2005) Drug therapy: Adherence to

Medication N ENGL J MED, 353: 487-97

10 Roumie CL, Elasy TA, Greevy R, et al (2006) Improving

blood pressure control through provider education, provider

alerts, and patient education: a cluster randomized trial Ann

Intern Med, 145: 165-175

11 Sabaté E (2003) Adherence to Long-Term Therapies: Evidence

for Action Geneva, Switzerland, World Health Organization

12 Sackett D et al (1978) Patient compliance with

antihypertensive regimens Patient Counselling & Health

Education, 11: 18-21

13 Santo K, Kirkendall S, Laba TL et al (2016) Interventions to

improve medication adherence in coronary disease patients: A

systematic review and meta-analysis of randomised

controlled trials European Journal of Preventive Cardiology, 23:

1065-1076

14 Schroeder K, Fahey T, Ebrahim S (2004) How can we improve adherence to blood pressure-lowering medication in ambulatory care? Systematic review of randomized controlled

trials Arch Intern Med, 164: 722-732

15 Tan X, Patel I, Chang J (2014) Review of the four item Morisky Medication Adherence Scale (MMAS-4) and eight item

Morisky Medication Adherence Scale (MMAS-8) Innovations

in Pharmacy, 5: Article 165

16 Viswanathan M, Golin CE, Jones CD et al (2012), Medication Adherence Interventions: Comparative Effectiveness Closing the Quality Gap: Revisiting the State of the Science, Evidence Report No 208

17 Wai YL, Paula F (2015) Medication Adherence Measures: An

Overview BioMed Research International, 4: 1-12

Ngày nhận bài báo: 18/10/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2018

Trang 7

MEDICATION ADHERENCE: IMPORTANCE, METHODS OF MEASUREMENT

AND STRATEGIES FOR IMPROVING

Nguyen Viet Ngoc, Nguyen Thang, Nguyen Huong Thao 1

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w