1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Luật Hành chính

18 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương Luật Hành chính
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hành chính
Thể loại Đề cương học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 433,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐỀ CƯƠNG LUẬT HÀNH CHÍNH I TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1 1 Khái niệm Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí nhà nước, quản lý xã hội Ví dụ Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, tổ dân phố 1 2 Tầm quan trọng TCXH Hiện nay, ở V.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LUẬT HÀNH CHÍNH

I TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm

Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí nhà nước, quản lý

xã hội

Ví dụ: Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, tổ dân phố

1.2 Tầm quan trọng TCXH

Hiện nay, ở Việt Nam vai trò năng động của các tổ chức và phong trào xã hội ngày càng rõ rệt Các tổ chức này đã và đang đóng góp tích cực vào thực hiện “dân chủ cơ sở”, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội

Các tổ chức xã hội thực hiện chức năng đại diện cho quyền lợi của các nhóm công dân bị thiệt thòi khi đưa ra các khuyến nghị, tác động đến điều kiện chính trị và quá trình soạn thảo chính sách nói chung Như vậy, TCXH có một vai trò quan trọng trong việc đòi hỏi và thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của mình thông qua giám sát và phản biện chính sách

Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, các TCXH có các vai trò rất đa dạng, góp phần xây dựng kinh tế - xã hội thông qua những hoạt động như: là người đại diện cho các đối tượng cần sự trợ giúp; có thể hỗ trợ về mặt kỹ thuật; tập huấn và xây dựng năng lực; cung cấp dịch vụ; góp phần xác định vấn đề và giải pháp, mở rộng sự hiểu biết của công chúng

về các vấn đề phát triển; cung cấp thông tin; tư vấn, phản biện và giám định xã hội, thẩm định những chủ trương, chính sách, kế hoạch hoạt động của các cơ quan nhà nước; góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo vệ hội viên; tham gia xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các hoạt động từ thiện nhân đạo; thực hiện những dịch vụ xã hội không vụ lợi, phi lợi nhuận; tiến hành các hoạt động công tác xã hội hướng vào việc thực hiện an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; tham gia giám sát thực hiện luật pháp, chính sách,

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội(2), cả nước có hơn 9 triệu người nghèo, 7,5 triệu người cao tuổi, 5,4 triệu người khuyết tật, 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hơn 180 nghìn người nhiễm HIV, gần 170 nghìn người nghiện ma túy

Trang 2

Tính đến năm 2010 cả nước có 21,6 triệu trẻ em/85.789.573 người, chiếm 24,7% dân số trong cả nước, trong đó khoảng 40% dân số trẻ em hiện đang sống ở 2 vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Để tham gia bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng nêu trên rất cần có sự tham gia đóng góp của toàn xã hội Thực tế cũng cho thấy, hoạt động của các tổ chức xã hội thường tập trung vào bảo vệ quyền cho các đối tượng ở tầng thấp trong tháp phân tầng xã hội Đó là những người nghèo, những gia đình gặp rủi ro, những người thất nghiệp, có bệnh tật, hoàn cảnh sống khó khăn, có những thương tật hoặc khuyết tật bẩm sinh, những phụ nữ nghèo khổ v.v

1.3 Một số vấn đề khó khăn, thách thức

Trong quá trình hoạt động, có nhiều vấn đề mà các TCXH mong muốn được quan tâm như: được khẳng định vị trí, vai trò trong các văn bản pháp lý; được sự quan tâm của các cấp, các ngành; được nâng cao năng lực tổ chức; nguồn lực hoạt động Đặc biệt trong đó, các TCXH mong muốn được tạo điều kiện nhiều hơn nữa để tham gia vào các quá trình xây dựng chính sách, giám sát, đánh giá việc thực hiện luật pháp, chính sách và phản biện xã hội

Thực tế cho thấy, quá trình tham gia vào sự phát triển xã hội, vận động chính sách, giám sát xã hội, các TCXH đã có nhiều thuận lợi, Chính phủ ngày càng quan tâm các TCXH; mạng lưới các TCXH ngày càng rộng mở hơn

Tuy nhiên, có một số vấn đề khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với các TCXH:

Vị trí, vai trò hoạt động cùng với tính hiệu quả, trách nhiệm của các TCXH còn nhiều hạn chế Thiếu sự cộng tác tích cực để được tham gia xây dựng, giám sát chính sách Một số TCXH còn thiếu năng lực, thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, dữ liệu Bên cạnh đó, về mặt thể chế xã hội, có một số vấn đề khó khăn đối với hoạt động của các TCXH như:

Những quy định pháp luật hiện hành chưa tạo được một cơ chế pháp lý hữu hiệu cho các TCXH thực hiện quyền tư vấn và đóng góp xây dựng chính sách, giám sát, tham gia xây dựng kinh tế - xã hội

Việc chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế nảy sinh nhiều vấn đề mới, cả phía quản lý nhà nước và các TCXH đều tiếp cận những vấn đề mới

mẻ Nhận thức về vai trò của các TCXH đối với phát triển xã hội dân sự trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam chưa chuyển kịp với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và xu thế thời đại

Trang 3

Do chưa có Luật về hội nên hiện nay một số hội đã coi quy định nhiệm vụ trong Điều

lệ của mình đã được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền là điều kiện có tính pháp lý để triển khai hoạt động của TCXH Tuy nhiên, Điều lệ không phải là văn bản quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung nên sẽ không thuận lợi cho TCXH, hiệp hội khi tham gia các quan hệ xã hội có tác động ra bên ngoài Hơn thế, nếu mỗi hội có cách quy định riêng về phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện thì các hoạt động xã hội sẽ được tiếp cận có sự khác nhau trong các Điều lệ của các TCXH

Nhiều TCXH còn chậm đổi mới hoạt động, thụ động, ỷ lại vào Nhà nước, làm theo cách hành chính (hoặc nhà nước hóa), lúng túng trước những vấn đề mới và mối quan hệ mới Một số TCXH còn thiếu các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực liên quan để có thể làm việc hiệu quả với các cơ quan, tổ chức và đối tác tương ứng của Việt Nam và nước ngoài

Do yêu cầu bức thiết hiện nay, việc nghiên cứu ban hành Luật về hội để có cơ sở pháp

lý cao về quản lý nhà nước đối với hội và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của TCXH

là một việc làm quan trọng Đồng thời, các tổ chức hội phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng “nhà nước hóa”, “hành chính hóa”, thực sự gắn bó với hội viên, thành viên, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên và thực hiện được các nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn

1.4 Giải pháp

Một là, tăng cường tương tác giữa chính quyền trung ương, địa phương với các tổ chức xã hội

Hai là, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức xã hội

Ba là, xây dựng cơ chế tham gia giám sát của các TCXH

Bốn là, tiếp tục nâng cao trình độ chuyên và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức xã hội

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái niệm

- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước

- Phân cấp quản lý hành chính nhà nước là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Trang 4

2.2 Thực trạng vấn đề phân cấp quản lý hành chính nhà nước ở việt nam hiện nay

Trong những năm qua, việc phân cấp, phân quyền giữa Chính phủ với chính quyền địa phương ở Việt Nam đã được đẩy mạnh đáp ứng yêu cầu CCHC, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của Chính phủ và phát huy sự chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Tuy nhiên, việc phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền và CCHC thời gian qua vẫn còn những bất cập, hạn chế

Thứ nhất, chủ trương phân cấp, phân quyền giữa Trung ương với địa phương và giữa

các cấp chính quyền địa phương chưa được thực hiện đồng bộ, triệt để theo yêu cầu đặt ra(6) Việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương với chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương chưa thật hợp lý, thiếu nhất quán, chưa đáp ứng được

xu thế phát triển, chưa xác định được việc gì giao cho cấp nào thực hiện thì hiệu quả hơn

Ví dụ: Một số nội dung tuy đã phân cấp cho cấp dưới nhưng sau một thời gian ngắn thực

hiện thì cấp trên lại thu về như lĩnh vực đầu tư công, xây dựng hoặc việc đăng ký quyền sử dụng đất; Trong quản lý cán bộ, công chức, pháp luật quy định về quyền tự chủ của chính quyền địa phương các cấp còn hạn chế, thể hiện ở thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức hành chính chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh; cấp huyện thì mờ nhạt, còn cấp xã hầu như không

có thẩm quyền

Thứ hai, mặc dù đã có sự thay đổi, nhưng trong nhiều trường hợp, phân cấp, phân

quyền vẫn “từ trên xuống”, chưa phải “từ dưới lên”, vì vậy chưa tạo sự chủ động cần thiết cho các cấp địa phương, đồng thời làm cho cấp trung ương quá tải, khó kiểm soát, dễ xảy

ra tham nhũng, thất thoát Ví dụ: trong lĩnh vực quản lý ngân sách, đầu tư phát triển, cơ

chế huy động nguồn tài chính cho đầu tư phát triển, quản lý quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị, tổ chức bộ máy, biên chế, chủ yếu do cấp trên quyết định

mà thiếu sự tham của bên thụ hưởng nên nhiều trường hợp không đáp ứng đúng nhu cầu của địa phương

Thứ ba, phân cấp, phân quyền nhưng không kèm theo điều kiện bảo đảm, không được

tăng cường tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được phân cấp(7) Vì vậy, chính quyền địa phương khó có thể thực hiện được

“quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm”

Thứ tư, phân cấp, phân quyền mang tính đồng loạt và đại trà, không rõ ràng, cụ thể

cấp nào có thẩm quyền gì; thể hiện ở việc tỉnh, huyện, xã đều thực hiện nhiệm vụ luật định

Trang 5

gần giống nhau, chỉ khác về cấp độ và khu vực địa lý trong khi nguồn lực, năng lực khác nhau Điều này làm cho chức năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền địa phương có sự chồng chéo, trùng lắp

Thứ năm, nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân chưa được

phân cấp, phân cấp không rõ ràng, hoặc chậm, thiếu sự tập trung trong tổ chức thực hiện(10); ví dụ, việc tổ chức và hoạt động của các đơn vị cung ứng dịch vụ công như giáo dục phổ thông, dạy nghề, y tế Đặc biệt, trong giải quyết công việc cho người dân thông qua các thủ tục hành chính có nhiều việc cần được phân cấp sớm cho chính quyền cấp cơ

sở nhưng còn rất chậm trễ; người dân chưa được tiếp cận một cách thuận lợi, dễ dàng khi

có công việc như khai sinh, hộ khẩu, làm thẻ bảo hiểm y tế v.v

Thứ sáu, nhiều lúc, nhiều nơi, phân quyền, phân cấp quản lý nhà nước thiếu sự giám

sát, kiểm soát, trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng Việc phân cấp, phân quyền giữa Chính phủ với các bộ, ngành và chính quyền địa phương ở một số lĩnh vực chưa có cơ chế hiệu quả để kiểm soát quyền lực; thiếu kiểm tra, thanh tra, giám sát (quản lý số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố ) Điều này dẫn đến thể chế quản lý nhà nước bị phân tán, khả năng thực thi chính sách từ Trung ương tới các địa phương kém hiệu quả

Thứ bảy, hiện nay, số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh còn lớn, cơ

cấu tổ chức bên trong còn nhiều đầu mối, cồng kềnh, tổ chức thành nhiều chi cục, phòng

và tương đương; mất cân đối giữa số lượng người giữ chức danh lãnh đạo, quản lý và công chức tham mưu; còn tồn tại số lượng lớn các ban quản lý, ban chỉ đạo, hội đồng ở một số địa phương; thẩm quyền quản lý biên chế thiếu thống nhất, thiếu tập trung; việc giao và quản lý biên chế chưa khoa học, làm tăng biên chế, nhất là số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương trong giai đoạn 2011-2015; việc thực hiện quy định về quản lý biên chế ở một số bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm(11)

Thứ tám, các quy định về nguyên tắc phân cấp, phân quyền chưa có sự liên thông

giữa Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 chưa quy định về điều kiện, phạm vi của việc ủy quyền

từ Chính phủ đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và từ Bộ trưởng tới các đơn vị trực thuộc, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện

Trang 6

Các quy định của Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chưa tạo thành các nguyên tắc để pháp luật chuyên ngành điều chỉnh cách thức quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương, dẫn đến tình trạng các luật chuyên ngành tiếp tục giao nhiệm vụ cụ thể cho Chính phủ, các bộ, ngành và chỉ giao nhiệm vụ cho chính quyền địa phương cấp tỉnh hoặc UBND cấp tỉnh, hoặc chỉ quy định chung chung về nhiệm vụ của chính quyền địa phương các cấp Điều này gây khó khăn cho Chính phủ trong việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ, ngành và giữa các cấp chính quyền địa phương; gây khó khăn trong việc thực hiện nguyên tắc phân cấp, phân quyền, ủy quyền và việc sắp xếp,

bố trí tổ chức bộ máy, biên chế(12)

2.3 Một số giải pháp

Một là, cần tiếp tục đẩy mạnh việc phân quyền, phân cấp đảm bảo tính hợp lý, khoa học giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương nhằm tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành gắn với kiểm soát quyền lực

Hai là, cần làm rõ hơn nguyên tắc về phân định thẩm quyền (phân cấp, phân quyền); quy định cụ thể nguyên tắc và thẩm quyền ủy quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; các vấn đề liên quan đến phân quyền, phân cấp và ủy quyền, đặc biệt trong các

cơ quan của HĐND và UBND các cấp trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Ba là, cần bảo đảm điều kiện về ngân sách và nguồn nhân lực của các địa phương khi phân cấp, phân quyền; bảo đảm không chồng chéo nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan; đồng thời, tạo khung pháp lý để luật chuyên ngành phải quy định những nội dung không được ủy quyền trong cơ quan hành chính nhà nước Chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp

Bốn là, cần quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương cấp tỉnh và giữa các cấp chính quyền địa phương Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ, đồng thời thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Chính phủ,

Trang 7

Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Năm là, cần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa các bộ, ngành, các tổ chức trực thuộc các bộ, ngành, địa phương và cơ cấu tổ chức của các cấp chính quyền địa phương; khắc phục triệt để sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ theo hướng một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng một việc chỉ

do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính Hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của HĐND và UBND các cấp trên cơ sở các định hướng của Trung ương; tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương các cấp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

III THỰC TRẠNG THAM GIA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN

Khái niệm: nhân dân tham gia hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính nhà nước Ví dụ: Nhân dân góp ý vào các văn bản quy phạm pháp luật khi được công

bố hỏi ý kiến qua báo chí

Cơ sở pháp lý: Điều 28 Hiến pháp 2013

Hiện nay, tình trạng người dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Người dân ít có những ý kiến đóng góp với chính quyền và các

cơ quan nhà nước trừ khi có những vấn đề bức xúc của bản thân Khi có các văn bản xin ý kiến tham gia đóng góp đăng trên các cơ quan báo chí cũng chỉ có số ít những người có ý kiến Việc kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan và công chức nhà nước; thực hiện khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước của người dân cũng còn hạn chế

Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc tham gia quản lý nhà nước của nhân dân là do:

Trước hết, là từ nhận thức của xã hội, của những người quản lý Mặc dù hiện nay tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã được phổ biến trong xã hội, nhưng việc nhận thức đúng về tư tưởng này vẫn còn khoảng cách Những người quản lý vẫn còn thiếu tin tưởng ở người dân, vẫn coi việc quản lý nhà nước

là công việc riêng vốn có của Nhà nước mà không phải là nhiệm vụ của chính nhân dân trong việc quản lý xã hội Ngược lại, chính người dân cũng coi đó chỉ là nhiệm vụ của các

Trang 8

cơ quan nhà nước, mà không phải là của mình Vì lẽ đó, đã làm hạn chế sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước

Thứ hai, những quy định pháp lý chưa đủ mạnh và rõ để các cơ quan nhà nước, nhất

là các cơ quan đại biểu phải thực hiện các nhiệm vụ mà nhân dân ủy quyền và để nhân dân kiểm soát sự ủy quyền của mình, cũng như để nhân dân tham gia trực tiếp nhiều hơn vào các công việc của Nhà nước Cơ chế đại biểu phải gắn với cử tri bầu ra mình, cơ chế bắt buộc phải tiếp nhận và phản ánh các ý kiến, nguyện vọng của cử tri, hoặc cơ chế công khai, minh bạch vẫn còn chưa được quy định đủ rõ, đủ mạnh

Thứ ba, ảnh hưởng của văn hóa hành chính cũ còn khá nặng Đã có một thời gian dài

ở Việt Nam, bộ máy nhà nước được xây dựng và hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp Các cơ quan nhà nước được xây dựng theo một mô hình thống nhất chung, đứng ra làm tất

cả mọi việc cho nhân dân theo sự chỉ huy tập trung từ bên trên và đã mang lại nhiều kết quả cho người dân, vì thế nhân dân tin tưởng vào Nhà nước Nhưng cũng từ thực tế đó, lâu dần

đã hình thành nên tâm lý và văn hóa hành chính mà theo đó, các cơ quan, công chức coi việc xây dựng luật pháp, chính sách như là đặc quyền riêng của mình và vì thế các công việc của Nhà nước luôn khép kín, còn nhân dân ỷ lại, coi đó là công việc của Nhà nước, ít

có quan tâm chung tới hoạt động của Nhà nước và các chính sách, nếu không có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích cá nhân

Thứ tư, trình độ dân trí, nhất là trình độ về pháp luật, của người dân còn rất hạn chế Hiện nay không chỉ kiến thức pháp luật của người dân còn thấp mà sự chấp hành, ý thức, tinh thần pháp luật của người dân không cao Chính vì vậy, khi tham gia vào các công việc quản lý nhà nước, người dân rất lúng túng

Thứ năm, việc tổ chức các hình thức, phương thức tham gia của người dân được các

cơ quan nhà nước thực hiện cũng chưa thật sự khoa học Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được tổ chức xin ý kiến của người dân chưa thật sự hướng vào các đối tượng bị điều chỉnh Việc tiếp thu giải quyết các vấn đề mà nhân dân nêu ra chậm và luôn bị tránh, né làm giảm lòng tin và nhiệt tình của người dân

Thứ sáu, trình độ sử dụng công nghệ thông tin để tham gia góp ý cho các văn bản pháp luật của nhân dân còn thấp Sự phổ cập báo chí điện tử mới giới hạn ở các thành phố

và một số đối tượng - thường đã là cán bộ, công chức nhà nước

Để đẩy mạnh sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng luật pháp, chính sách, quản lý của Nhà nước trong thời gian tới, cần phải làm tốt các công việc chủ yếu sau:

Trang 9

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, có cơ chế huy động người dân tham gia vào quá trình quản lý của Nhà nước Cần sửa đổi cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sao cho những người được bầu phải gắn bó với người dân, phản ánh được ý chí nguyện vọng của người dân, không còn đại diện chung chung, hình thức Họ phải chịu sự giám sát của nhân dân, gắn trách nhiệm, lợi ích với sự tín nhiệm của nhân dân, khi không hoàn thành được vai trò đại diện quyền lợi và nguyện vọng của cử tri bầu cho thì họ phải

bị bãi miễn Mở rộng hình thức quyết định trực tiếp - trưng cầu dân ý, để toàn dân có quyền tham gia vào các công việc trọng đại của đất nước, của địa phương

- Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước Đổi mới cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước, mở rộng sự công khai, minh bạch, tạo cơ hội để người dân nắm được các công việc của Nhà nước để tham gia một cách chủ động, thiết thực, có hiệu quả Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và của công chức trong việc tiếp thu các ý kiến và nguyện vọng của nhân dân

- Tiếp tục mở rộng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Mở rộng sự hình thành

và tham gia của các hội, tổ chức phi chính phủ trong việc giải quyết các nhu cầu của nhân dân và tích cực tham gia vào công tác quản lý nhà nước Có các cơ chế và phương thức để phát huy và tiếp nhận được các ý kiến phản biện của nhân dân và của các tổ chức quần chúng

- Tiếp tục có biện pháp giáo dục nâng cao kiến thức, trình độ, nhất là ý thức chính trị, tinh thần pháp luật của người dân, làm cho người dân tự giác và có ý thức hơn nữa trong việc tham gia vào các công việc xã hội và các hoạt động quản lý nhà nước

- Nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức tham gia của người dân đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật

- Sử dụng tốt hơn các phương tiện thông tin đại chúng Mở rộng việc sử dụng các báo điện tử trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước và thu thập, phản ánh các ý kiến đóng góp, tham gia của nhân dân

IV MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH PHỦ VỚI UBND CÁC CẤP

Không thể thực hiện quyền hành pháp mà không bao gồm quyền lãnh đạo hành chính, nên mối quan hệ giữa Chính phủ với CQĐP là luôn tồn tại, kể cả có hay không việc quy định bổ sung thêm chức năng Chính phủ “thực hiện quyền hành pháp” Mối quan hệ này không nhất quán ở mọi quốc gia, cũng không giống nhau ở mọi thời kỳ Sự khác biệt dựa

trên nền tảng mức độ phân quyền (giữa trung ương và địa phương)

Trang 10

2.1 Vị trí của CQĐP

Địa vị của CQĐP phản ánh phần nào mối quan hệ giữa Chính phủ - CQĐP Cách gọi tên CQĐP thể hiện mối quan hệ đó Khá nhiều hiến pháp trên thế giới dùng khái niệm “tự quản địa phương” (Hiến pháp Nhật Bản); hoặc “tự trị địa phương” (Hiến pháp Liên bang Nga, Hiến pháp Hàn Quốc) trong chương về CQĐP Ngay cả khi không gọi là tự quản địa phương thì địa vị của CQĐP cũng được khẳng định rõ trong Hiến pháp, như trường hợp của Cộng hòa Pháp: “Các địa phương tự quản hành chính thông qua hội đồng dân cử và có quyền lập quy để thực thi các thẩm quyền của mình trong các điều kiện quy định bởi pháp

luật”[8]

Vị trí này cho phép nhìn thấy lát cắt giữa trung ương và địa phương, từ đó có thể hình

dung ranh giới quyền “lãnh đạo hành chính” của trung ương

Hầu hết các quốc gia có nền hành chính phi tập trung đều phân biệt hành chính trung ương và hành chính địa phương Ở Pháp, các học giả cho rằng, Chính phủ lãnh đạo hoạt động hành chính, nhưng chỉ trong phạm vi hành chính trung ương mà thôi Hành chính địa phương là hoạt động tự quản, bởi vậy sẽ không chịu sự lãnh đạo của Chính phủ Hành chính địa phương sẽ chịu sự chỉ đạo điều hành của các thủ trưởng hành chính địa phương và những thủ trưởng này do Hội đồng dân biểu địa phương lập ra, không lệ thuộc vào hành chính trung ương[9] Sự lãnh đạo của Chính phủ đối với CQĐP thể hiện thông qua việc

hoạch định các chính sách chung, chứ không thông qua điều hành cụ thể

Ngược lại, trong nền hành chính tập trung, vị trí độc lập của CQĐP không được thể hiện rõ trong pháp luật Ví dụ trong Hiến pháp nước ta, thuật ngữ “cơ quan hành chính của địa phương” còn chưa được sử dụng, mà thay vào đó là “cơ quan hành chính ở địa phương” -thuật ngữ phản ánh tính thống nhất của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương xuống địa phương Dường như CQĐP chưa có hệ thống hành chính riêng của mình Kiểu tổ chức nền hành chính tập trung và lệ thuộc vào trung ương chỉ phù hợp với một số mô hình địa phương đặc biệt; hoặc với các nước tập trung hành chính, hoặc mới tiếp cận với thời kỳ bắt đầu của phân quyền Trong các bản Hiến pháp trước năm 2013 của Việt Nam, tính chất hành chính tập trung còn thể hiện rõ rệt thông qua việc gọi tên các cơ quan địa phương là Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) Việc gọi tên “HĐND và UBND” dường như chỉ kể đến các cơ quan ở cấp địa phương và cùng với các chế định khác về các

cơ quan này có thể hiểu là chúng cùng với các cơ quan cùng hệ thống ở trung ương - sẽ tạo

ra một chỉnh thể thống nhất Ví dụ: HĐND các cấp và Quốc hội - tạo thành hệ thống cơ

Ngày đăng: 12/07/2022, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w