Tất cả nội dung lý thuyết Luật Hành chính Việt Nam 1. Quản lý hành chính nhà nước Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Quản lý nhà nước là hoạt động của nn lên các lĩnh vực lập pháp hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nn. Hay quản lý nn là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước Quản lý hành chính nn là quản lý nn trong lĩnh vực hành pháp. Là một hình thức hoạt động của nn đc thực hiện trc hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nn, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nn, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, vh xh và hành chính – chính trị. Nói cách khác quản lý hành chính nn là hoạt động chấp hành – điều hành của nn. (tính chất chấp hành điều hành thể hiện ở: mục đích quản lý hành chính nhà nước là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước, mọi hoạt động quản lý HCNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật) , (tính chất điều hành của quản lý HCNN thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của QLHCNN phải được tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền) trong quá trình điều hành CQHCNN có quyền nhân danh NN ban hành ra các VBQPPL để đặt ra các QPPL hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý có liên quan thực hiện. + Các chủ thể của quản lý hành chính nn sử dụng quyền lực nn để tổ chức và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lí, qua đó thể hiện một cách rõ nét mối quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa chủ thể quản lý và các đối tượng quản lý. Nhưng hoạt động QLHC vẫn mang tính chủ động sáng tạo đc thể hiện rõ nét trg quá trình các chủ thể đề ra chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp đối vs các đối tượng khác nhau, tạo đk cho họ lựa chọn cách thức tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ + Tất cả các CQNN đều tiến hành hoạt động QLHCNN nhưng hoạt động này chủ yếu do CQHCNN thực hiện, phản ánh chức năng cơ bản của CQHCNN + Chủ thể của QLHCNN là các CQNN (chủ yếu là các CQHCNN), các cán bộ nn có thẩm quyền, các tc và cá nhân đc nn trao quyền QLHC trg một số trường hợp cụ thể. + Khách thể của QLHCNN là trật tự quản lý HC tức là trật tự quản lý trg lĩnh vực chấp hành – điều hành. Trật tự QLHC do các QPPLHC quy định VD về hoạt động QLHCNN: Hoạt động cấp giấy chứng nhận kết hôn (hoặc giấy Khai sinh) của UBND cấp xã (Tính chấp hành và điều hành, Tính quyền uy phục tùng, Tính chủ động, sáng tạo, tính thường xuyên, liên tục) + Là hoạt động áp dụng pháp luật của UBND trong lĩnh vực hộ tịch + UBND căn cứ vào pháp luật Hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch để quyết định cấp hoặc không cấp + là hoạt động thể hiện rõ nét tính chấp hành điều hành trong quản lý hành chính NN 2. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo đảm bảo hoạt động quản lý hành chính nhà nước diễn ra đúng định hướng. Bao gồm: Nhóm những nguyên tắc chính trịxã hội + Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước; + Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước; + Nguyên tắc tập trung dân chủ; + Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; + Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
1 Quản lý hành chính nhà nước
- Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối
tượng quản lý Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy
- Quản lý nhà nước là hoạt động của nn lên các lĩnh vực lập pháp hành pháp và
tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nn Hay quản
lý nn là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước tới các đốitượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước
- Quản lý hành chính nn là quản lý nn trong lĩnh vực hành pháp
Là một hình thức hoạt động của nn đc thực hiện trc hết và chủ yếu bởi các
cơ quan hành chính nn, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháplệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nn, nhằm tổ chức và chỉ đạomột cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, vh- xh vàhành chính – chính trị
Nói cách khác quản lý hành chính nn là hoạt động chấp hành – điều hànhcủa nn (tính chất chấp hành điều hành thể hiện ở: mục đích quản lý hànhchính nhà nước là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật củacác cơ quan quyền lực nhà nước, mọi hoạt động quản lý HCNN đều đượctiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật) , (tính chất điềuhành của quản lý HCNN thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản phápluật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, cácchủ thể của QLHCNN phải được tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạotrực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền) trong quá trình điềuhành CQHCNN có quyền nhân danh NN ban hành ra các VBQPPL để đặt
ra các QPPL hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý cóliên quan thực hiện
+ Các chủ thể của quản lý hành chính nn sử dụng quyền lực nn để tổ chức vàđiều khiển hoạt động của các đối tượng quản lí, qua đó thể hiện một cách rõ
Trang 2nét mối quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa chủ thể quản lý và các đốitượng quản lý Nhưng hoạt động QLHC vẫn mang tính chủ động sáng tạo đcthể hiện rõ nét trg quá trình các chủ thể đề ra chủ trương, biện pháp quản lýthích hợp đối vs các đối tượng khác nhau, tạo đk cho họ lựa chọn cách thức tốtnhất để hoàn thành nhiệm vụ
+ Tất cả các CQNN đều tiến hành hoạt động QLHCNN nhưng hoạt động nàychủ yếu do CQHCNN thực hiện, phản ánh chức năng cơ bản của CQHCNN+ Chủ thể của QLHCNN là các CQNN (chủ yếu là các CQHCNN), các cán bộ
nn có thẩm quyền, các tc và cá nhân đc nn trao quyền QLHC trg một sốtrường hợp cụ thể
+ Khách thể của QLHCNN là trật tự quản lý HC tức là trật tự quản lý trg lĩnhvực chấp hành – điều hành Trật tự QLHC do các QPPLHC quy định
- VD về hoạt động QLHCNN:
Hoạt động cấp giấy chứng nhận kết hôn (hoặc giấy Khai sinh) của UBNDcấp xã (Tính chấp hành và điều hành, Tính quyền uy phục tùng, Tính chủđộng, sáng tạo, tính thường xuyên, liên tục)
+ Là hoạt động áp dụng pháp luật của UBND trong lĩnh vực hộ tịch
+ UBND căn cứ vào pháp luật Hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch
để quyết định cấp hoặc không cấp
+ là hoạt động thể hiện rõ nét tính chấp hành điều hành trong quản lý hànhchính NN
2 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước
Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là những tư tưởng, quan điểm
chỉ đạo đảm bảo hoạt động quản lý hành chính nhà nước diễn ra đúng địnhhướng
Bao gồm:
- Nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội
+ Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước;
Trang 3+ Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước;
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ;
+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
+ Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
- Nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật
+ Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ;
+ Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng.+ Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuấtkinh doanh
3 Đối tượng điều chỉnh phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những quan hệ xã hội đượcpháp luật điều chỉnh có chung tính chất (cùng loại), phát sinh trong lĩnh vực nhấtđịnh của đời sống xã hội Nhóm quan hệ xã hội mà luật hành chính điều chỉnh lànhững quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính được
chia thành ba nhóm, đó là:
Nhóm thứ nhất, những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều
hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước:
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hànhchính nhà nước cấp dưới (theo chiều dọc)
Trang 4+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính có thẩm quyền chung với cơ quanhành chính có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn cấp trênvới cơ quan hành chính có thẩm quyền chung cấp dưới trực tiếp
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn cùng cấpvới nhau
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị
cơ sở trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với đơn vị cơ sở trực thuộc.+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộcthành phần kinh tế ngoài quốc doanh
+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước lãnh đạo các tổ chức xã hội.+ Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân Việt Nam,người nước ngoài, người không quốc tịch
Nhóm thứ hai, những quan hệ xã hội mang tính chất quản lý phát sinh
trong quá trình các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội hoặc cá nhân đượcNhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Một số tổ chức xã hội cũng được Nhà nước giao quyền thực hiện quản lýhành chính nhà nước, hoặc là giao tham gia thực hiện một số quyền hạn quản lýhành chính nhà nước
Cá nhân có thể trở thành chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi đượcNhà nước trao quyền trong những trường hợp đặc biệt
Nhóm thứ ba, những quan hệ xã hội mang tính chất quản lý phát sinh
trong quá trình các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động hành chính nội bộ
Trang 5Có thể nói, đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính rất đa dạng, phongphú Việc phân tích, định danh các nhóm đối tượng điều chỉnh chỉ mang tínhtương đối và có ý nghĩa trước hết là trong công tác nghiên cứu khoa học.
4 Phương pháp điều chỉnh phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính
Trang 6Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là tổng thể những biện
pháp, cách thức mà ngành luật đó sử dụng để tác động đến ý chí, và thông qua ýchí đến hành vi của các bên tham gia các quan hệ xã hội do ngành luật đó điềuchỉnh
Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật hành chính là phương pháp
"mệnh lệnh - phục tùng" Phương pháp này khẳng định sự bất bình đẳng về mặt ýchí giữa các bên tham gia trong quan hệ là đối tượng điều chỉnh của ngành luậthành chính
Đặc trưng phương pháp điều chỉnh của luật hành chính xuất phát từ đối tượng điều chỉnh Trong quan hệ pháp luật hành chính cần thiết phải có một
bên có quyền áp đặt ý chí của mình đối với bên kia (ngay cả trong mối quan hệgiữa các cơ quan ngang cấp) Luật hành chính là ngành luật phục vụ lợi ích công(Nhà nước, tập thể, số đông) nên trong những trường hợp mà lợi ích công khôngthể được đảm bảo bằng sự thỏa thuận thì việc sử dụng cách thức điều chỉnh mangtính bất bình đẳng là cần thiết
Biểu hiện của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính.
Tính bất bình đẳng trong phương pháp điều chỉnh của luật hành chính thểhiện rõ trong quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên và cấpdưới; giữa các cơ quan hành chính nhà nước và công dân, giữa các cơ quan hànhchính nhà nước với các đơn vị, tổ chức cơ sở của Nhà nước mà một bên đượcgiao quyền hạn để ra các quyết định đơn phương, kiểm tra hoạt động của bên kia,
áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần thiết theo pháp luật Còn bên kia
có nghĩa vụ phải thi hành các quyết định, phục tùng các mệnh lệnh của bên kia.Cũng có những trường hợp, phía bên kia có quyền đưa ra yêu cầu, kiến nghị,song việc quyết định luôn thuộc về bên chủ thể mang quyền lực nhà nước
Phương pháp mệnh lệnh - phục tùng là phương pháp chủ đạo, điển hìnhcủa ngành luật hành chính Tuy nhiên, cũng có thể thấy trong một số quan hệ
Trang 7pháp luật hành chính tính áp đặt ý chí khá mờ nhạt, các chủ thể tham gia quan hệthống nhất ý chí với nhau và kết hợp, phối hợp với nhau cùng thực hiện chứcnăng quản lý Do đó, bên cạnh phương pháp mệnh lệnh - phục tùng, luật hànhchính còn điều chỉnh bằng phương pháp thỏa thuận, phù hợp với nhóm quan hệmang tính dịch vụ công Trong các quan hệ đó, các chủ thể tham gia vừa có tínhchất hành chính, vừa có sự thỏa thuận về ý chí (ví dụ; các hợp đồng đấu thầu xâydựng công trình công cộng, hợp đồng làm việc của viên chức ) Luật hành chínhcủa các nước trên thế giới đề cập đến khái niệm "hợp đồng hành chính" với nghĩatương tự như vậy Tất nhiên, trong khoa học pháp lý hành chính Việt Nam, kháiniệm này còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và còn nhiều tranh cãi.Song, sự tồn tại của phương pháp thỏa thuận là không thể phủ nhận trong ngànhluật hành chính.
5 Vai trò của Luật hành chính Việt Nam
Ngành luật hành chính đóng vai trò rất to lớn trong sự nghiệp thực hiệnnhững nhiệm vụ xây dựng phát triển của nước ta, đặc biệt trong điều kiện ViệtNam chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một là, hoạt động quản lý hành chính tác động toàn diện và trực tiếp tớimọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chínhtrị Luật hành chính điều chỉnh đối với loại hoạt động này và các quan hệ xã hộihình thành từ hoạt động này, cho nên sự tác động điều chỉnh của luật hành chính
sẽ có tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động hành chính trên thực tế
Hai là, vai trò của luật hành chính còn thể hiện ngay chính ở tầm quantrọng của những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hành chính Nhữnglĩnh vực như ngoại giao, an ninh - quốc phòng, hợp tác quốc tế là những lĩnhvực được điều chỉnh bởi những quy định của luật hành chính Đặc biệt, luật hànhchính có tác động chủ yếu đến việc tổ chức và thực hiện pháp luật trong phạm vi
Trang 8toàn quốc, thông qua hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, các công cụquản lý hành chính nhà nước để tác động đến đối tượng quản lý.
Ba là, luật hành chính có vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí pháp
lý của các chủ thể từ cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức xã hội cho đến cánhân, góp phần củng cố địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luậthành chính một cách rõ ràng, minh bạch
Bốn là, với nhóm quy phạm đặc trưng là quy phạm thủ tục của luật hànhchính sẽ giúp cho việc hiện thực hóa các quy định của luật vào đời sống xã hội,đặc biệt là hiện thực hóa một số quy phạm nội dung của ngành luật khác trong hệthống pháp luật Việt Nam như luật dân sự, luật đất đai, luật hôn nhân và giađình
6 Hệ thống ngành Luật hành chính
Luật hành chính Việt Nam là một hệ thống thống nhất, một chỉnh thể đồng
bộ bao gồm các quy phạm pháp luật có quan hệ hữu cơ với nhau theo những dấuhiệu nhất định, được chia thành hai phần; phần chung và phần riêng
Trong đó, phần chung là tổng hợp những quy phạm liên quan đến nhữngvấn đề lý luận cơ bản của luật hành chính như: Các nguyên tắc của hoạt độnghành chính; địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính; chế độ công vụ, côngchức nhà nước; địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội; địa vị pháp lý của cá nhân;các hình thức và phương pháp trong quản lý hành chính; trách nhiệm hành chính;các biện pháp bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và kỷ luật trong hoạt động hànhchính.ịm
Phần riêng bao gồm những quy phạm pháp luật chỉ điều chỉnh nhữngngành hoặc lĩnh vực cụ thể trong hoạt động hành chính nhà nước như: trong lĩnhvực kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại giao thông vận tải ), văn hóa
Trang 9- xã hội (văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế, lao động và bảo hiểm xã hội ) và hànhchính - chính trị (ngoại giao, quốc phòng, nội vụ, tư pháp )
7 Luật hành chính trong tương quan với các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam
a, Luật hành chính và luật Hiến pháp
Sự khác biệt cơ bản giữa luật hành chính và luật Hiến pháp trước hết ở đốitượng điều chỉnh Phạm điều chỉnh của luật Hiến pháp rộng hơn luật hành chính.Các quan hệ xã hội do luật Hiến pháp điều chỉnh là những quan hệ cơ bản, quantrọng nhất như: chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của hệ thống chính trị, các chính sách cơ bản về đối nội và đốingoại của Nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Có thể nói, Hiến pháp là nguồn cơbản của hệ thống pháp luật Việt Nam trong đó có ngành luật hành chính Hiếnpháp quy định những vấn đề có tính nguyên tắc, làm cơ sở, nền tảng cho hoạtđộng hành chính nhà nước
Luật hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của Hiến pháp và đặt
ra cơ chế bảo đảm thực hiện chúng Ví dụ: Chương 2, Điều 33 Hiến pháp năm
2013 quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trongcác lĩnh vực, chẳng hạn như: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm" Luật hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóacác quy định đó thông qua hệ thống quy định về thẩm quyền, điều kiện, trình tựthủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trên cơ sở đó, quyền tự dokinh doanh của công dân được quy định trong Hiến pháp mới được cụ thể hóa vàcăn cứ vào những quy định của luật hành chính, công dân mới thực hiện đượcquyền này
b) Luật hành chính và luật dân sự
Trang 10Sự khác biệt giữa luật hành chính và luật dân sự thể hiện ở cả đối tượngđiều chỉnh và phương pháp điều chỉnh Luật hành chính có đối tượng điều chỉnhrộng hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn luật dân sự Đó là các quan hệ quản lýhành chính trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Còn đối tượng điều chỉnh củaluật dân sự tập trung ở các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản Tuynhiên, cũng có những lĩnh vực cả hai ngành luật cùng điều chỉnh, chẳng hạn quan
hệ về tài sản Song mỗi ngành luật lại điều chỉnh bằng những phương pháp khácnhau: luật hành chính dùng phương pháp mệnh lệnh - phục tùng, còn luật dân sựdùng phương pháp thoả thuận, bình đẳng
Theo quy định của pháp luật thì các cơ quan hành chính thường điều chỉnhquan hệ tài sản một cách gián tiếp thông qua các quyết định về kế hoạch, tiêuchuẩn chất lượng, về cơ chế định giá, điều chỉnh giá Trên cơ sở các quyết địnhnày đối tượng quản lý ký kết các hợp đồng dân sự về sản xuất, mua, bán sảnphẩm, v.v Đó là sự kết hợp rất tinh tế của hai ngành luật trong việc điều chỉnhcùng loại quan hệ mà ranh giới nhiều khi rất khó phân định
c) Luật hành chính và luật lao động
Xét về đối tượng điều chỉnh, có thể thấy sự khác biệt rõ ràng giữa luậthành chính và luật lao động ở phạm vi điều chỉnh Quan hệ pháp luật lao động -giữa người sử dụng lao động và người lao động là nhóm quan hệ có phạm vì rấthẹp so với lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Ngay trong các quan hệ là đốitượng tiêu chỉnh của luật hành chính cũng có những quan hệ được thiết lập đểlãnh thành nên quan hệ lao động (tuyển dụng công chức, viên chức) Xét vềphương pháp điều chỉnh, nếu luật hành chính điều chỉnh bằng phương pháp đặcthù là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng thì luật lao động sử dụng đồng thời cảhai phương pháp: mệnh lệnh và thỏa thuận
Bên cạnh sự khác biệt trên, hai ngành luật này lại có quan hệ tác động lẫnnhau, thể hiện trong những trường hợp sau đây:
Trang 11- Các chính sách về lao động - tiền lương được quyết định bởi cơ quanhành chính nhà nước, đó là cơ sở cho các quan hệ lao động Ví dụ, mức lương tốithiểu trong các doanh nghiệp do Chính phủ quy định Việc ký hợp đồng lao động
và thỏa thuận về mức lương tối thiểu trong các quan hệ lao động dựa trên quyđịnh này Việc quản lý lao động trong hệ thống hành chính nhà nước thuộc về BộLao động - Thương binh và Xã hội và hệ thống cơ quan chuyên môn này tại địaphương (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc hoạt động, cơ chế kiểmsoát và bảo đảm an toàn lao động ) Luật lao động quy định các quy tắc về antoàn lao động, quản lý trực tiếp lao động trong việc tạo ra các sản phẩm, dịchvụ
- Mối tương tác giữa luật hành chính với luật lao động, trong nhiều trườnghợp, được thể hiện như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Ví dụ, trongquản lý lĩnh vực quan hệ lao động, trình tự bản hành các văn bản cá biệt của các
cơ quan hành chính do luật hành chính quy định, nhưng nội dung của chúng lại
do luật lao động quy định, Chẳng hạn, chế độ làm việc, nghỉ hưu, nghỉ ngơi, thaisản, quyền được trả lương phù hợp với thành quả lao động, trách nhiệm bồithường khi gây thiệt hại cho tài sản nhà nước do luật lao động điều chỉnh,nhưng trình tự thực hiện các vấn đề này thì do luật hành chính quy định
Một số trường hợp khác, lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước
mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thì thủ trưởng cơ quanhành chính sẽ thực hiện việc ký kết các hợp đồng lao động với những đối tượngnày theo pháp luật về lao động
d) Luật hành chính và luật tài chính
Luật hành chính có phạm vi điều chỉnh rộng lớn hơn luật tài chính Luật tàichính điều chỉnh chủ yếu nhóm quan hệ thuộc lĩnh vực tài chính Cả hai ngànhluật đều điều chỉnh quan hệ mang tính chất chấp hành và điều hành và đều sử
Trang 12dụng phương pháp mệnh lệnh - phục tùng Về thực chất, nội dung nhóm quan hệ
về tài chính là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính,nhưng do tính chất quan trọng đặc biệt của nhóm quan hệ này mà chúng đượctách ra thành một ngành luật riêng biệt Do đó, có những quy phạm pháp luật vừathuộc về luật hành chính, vừa thuộc về luật tài chính, chẳng hạn như quy định vềthẩm quyền của cơ quan quản lý công tác tài chính (ví dụ: Bộ Tài chính) Đểphân biệt thì quy phạm của luật tài chính là quy phạm xác định nội dung cácquyết định của các cơ quan tài chính; còn quy phạm của luật hành chính chủ yếuquy định vấn đề tổ chức, máy, thẩm quyền của các cơ quan quản lý tài chính;thẩm quyền và thủ tục ban hành các quyết định
đ) Luật hành chính và luật hình sự
Luật hành chính khác luật hình sự ở đối tượng điều chỉnh Luật hình sựđiều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực tội phạm, hình phạt, còn luật hành chính điềuchỉnh các quan hệ quản lý hành chính trên bình diện rất rộng lớn Tuy nhiên, ởnhững quan hệ xã hội mà cả hai ngành luật cùng điều chỉnh thì sự khác biệt làviệc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Theo
đó, tội phạm là loại vi phạm pháp luật có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hộicao hơn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính Luật hình sự có nội dungtrọng tâm là xác định hành vi tội phạm, hình phạt nào được áp dụng đối với tộiphạm ấy, điều kiện áp dụng các hình phạt Luật hành chính hướng đến việc xử
lý các vi phạm pháp luật
đ) Luật hành chính và luật hình sự
Luật hành chính khác luật hình sự ở đối tượng điều chỉnh Luật hình sựđiều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực tội phạm, hình phạt, còn luật hành chính điềuchỉnh các quan hệ quản lý hành chính trên bình diện rất rộng lớn Tuy nhiên, ởnhững quan hệ xã hội mà cả hai ngành luật cùng điều chỉnh thì sự khác biệt làviệc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Theo
Trang 13đó, tội phạm là loại vi phạm pháp luật có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hộicao hơn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính Luật hình sự có nội dungtrọng tâm là xác định hành vi tội phạm, hình phạt nào được áp dụng đối với tộiphạm ấy, điều kiện áp dụng các hình phạt Luật hành chính hướng đến việc xử
lý các vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như vi phạm quy
tắc giao thông, vệ sinh, phòng chữa cháy, lưu thông hàng hóa, văn hóa phẩm
e) Luật hành chính và luật đất đai
Luật đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ sử dụng đất giữa Nhà nướcvới người sử dụng đất Đối tượng điều chỉnh của nó là những quan hệ xã hội liênquan đến đất đai như quyền sử dụng đất, quyền của Nhà nước trong quản lý, bảo
vệ đất, sử dụng đất đúng mục tiêu, hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao
Luật hành chính có những mối liên quan mật thiết với luật đất đai Quan hệđất đai chỉ xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt khi có quyết định của cơ quan hànhchính nhà nước Ví dụ: để phát sinh quyền sử dụng đất, Nhà nước ban hành quyếtđịnh giao đất; để thu hồi đất, Nhà nước ra quyết định thu hồi đất Trong quan hệgiữa hai ngành luật này, luật hành chính là phương tiện thực hiện luật đất đai vì:Các cơ quan hành chính quản lý, giám sát người sử dụng đất đai nhằm bảo đảm
sử dụng đúng mục đích, hiệu quả kinh tế, giữ gìn độ phì nhiêu đối với đất trồngtrọt, v.v Trong một số trường hợp do luật định, Nhà nước có quyền đơn phươngthu hồi đất, xử phạt hành chính đối với người sử dụng vi phạm quy định của Luậtđất đai
8 Khái niệm, đặc điểm quy phạm pháp luật hành chính
a) Khái niệm
Quy phạm pháp luật được coi là tế bào, là chất liệu để hình thành nên mỗingành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Vì vậy, quy phạm pháp luật có vịtrí và vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện bản chất của ngành luật đó Lý luận về
Trang 14quy phạm pháp luật hành chính được xây dựng trên cơ sở lý luận chung về quyphạm pháp luật, hay nói cách khác là việc nghiên cứu về quy phạm pháp luậthành chính có nền tảng lý luận từ các quan niệm về pháp luật nói chung, về quyphạm pháp luật nói riêng.
Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bằng nhiều phương thức, dựatrên những công cụ, phương tiện khác nhau, đặc biệt là việc tạo ra hệ thống cácquy phạm pháp luật hành chính Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện
để điều chỉnh các quan hệ quản lý hành chính nhà nước, là căn cứ pháp lý để cácchủ thể quản lý hành chính nhà nước giải quyết các công việc cụ thể trong quátrình thực hiện chức năng chấp hành và điều hành Qua đó, có thể thấy rằng: quyphạm pháp luật hành chính có tầm quan trọng đặc biệt đối với điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
b) Đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính
Là một loại quy phạm pháp luật, quy phạm pháp luật hành chính có nhữngđặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quy phạm pháp luật hành chính là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, trong đó đặt ra những khuôn mẫu (chuẩn mực) của hành vi xử sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính Chúng quy định
rõ cho các đối tượng có liên quan được làm gì, không được làm gì, phải làm theo trình tự, thủ tục nào và trong giới hạn nào Quy phạm pháp luật hành chính dự
kiến những tình huống có thể phát sinh trong đời sống thực tiễn Khi các cơ quan,
tổ chức, cá nhân rơi vào tình huống đó sẽ phải xử sự theo quy định của quy phạmpháp luật hành chính
Xuất phát từ tính bắt buộc chung, quy phạm pháp luật hành chính cũng giống như các loại quy phạm pháp luật của các ngành luật khác, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn cuộc sống Những tình huống có thể xảy ra nhiều lần trong đời sống thực tế (vi phạm hành chính, đăng ký tạm trú, cấp phép xây dựng)
Trang 15nên các quy phạm pháp luật hành chính đương nhiên cũng được áp dụng nhiều lần, mỗi khi có các tình huống dự kiến phát sinh Việc thực hiện một quy phạm pháp luật hành chính trong một hoàn cảnh nhất định không dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực của nó trong một hoàn cảnh tương tự khác Ví dụ, quy phạm pháp
luật hành chính quy định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo, tổ chứcviệc tuyển dụng công chức cấp xã theo Quy chế tuyển dụng công chức của Ủyban nhân dân cấp tỉnh" (Khoản 3 Điều 13 Nghị định 114/2003/NĐ-CP, ngày 10-10-2003 của Chính phủ về cán bộ xã, phường, thị trấn) Quy định này được ápdụng đối với bất kỳ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nào,
Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật hành chính không nên được hiểu là vô cùng, không có giới hạn, vì hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính có giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng thi hành.
Thứ hai, nội dung điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, cụ thể là:
- Nội dung của quy phạm pháp luật hành chính gắn liền với đối tượng điềuchỉnh của luật hành chính Theo đó, các quy phạm pháp luật hành chính quy định
về các vấn đề như: tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính; địa vị pháp lý củacác cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước và cánhân; trình tự thủ tục để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trongquan hệ pháp luật hành chính cũng như giúp cho việc thực hiện các quyền vànghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật của ngành luật khác Ngoài ra, nộidung quy phạm pháp luật hành chính còn đề cập đến vấn đề khen thưởng và kỷluật trong quá trình thực thi các quy phạm pháp luật hành chính
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của đối tượng tác động của loại quyphạm này là quan hệ phát sinh giữa một bên là chủ thể đại diện cho quyền lựcnhà nước, nhân danh nhà nước với một bên là tổ chức, cá nhân phải chịu sự tácđộng của quyền lực đó, nên nội dung của quy phạm pháp luật hành chính thể hiện
Trang 16tính mệnh lệnh rất rõ nét Tức là, quy phạm pháp luật hành chính quy định cáchthức xử sự mà các tổ chức, cá nhân có liên quan bắt buộc phải thực hiện Trongcác quy phạm pháp luật hành chính, tính mệnh lệnh thể hiện ở những mức độkhác nhau, cụ thể là: Có loại quy phạm pháp luật hành chính bắt buộc tổ chức, cánhân phải hành động hoặc không được hành động theo cách thức nhất định, trongnhững điều kiện, hoàn cảnh nhất định; có loại quy phạm pháp luật hành chínhyêu cầu tổ chức, cá nhân muốn thực hiện hoạt động nào đó phải xin phép cơ quannhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục nhất định (điển hình trong trườnghợp thực hiện quyền cơ bản của công dân); có loại quy phạm pháp luật hànhchính cho phép tổ chức, cá nhân được lựa chọn một trong những phương án thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình do quy phạm pháp luật hành chính đó xác địnhtrước; có loại quy phạm pháp luật hành chính trao quyền cho tổ chức, cá nhânquyết định thực hiện hay không thực hiện những hành vi do quy phạm pháp luậthành chính xác định Như vậy, trong đại đa số các trường hợp, quy phạm phápluật hành chính thể hiện tính mệnh lệnh ở những mức độ khác nhau (trừ nhữngquy phạm pháp luật hành chính có nội dung là những quy định khuyến khích,khen thưởng) Tính mệnh lệnh này không hề làm hạn chế việc thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân ược lại, nó chính là yếu tố quantrọng góp phần vào việc hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện quyền và nghĩa vụcủa mình một cách thống nhất.
Thứ ba, quy phạm pháp luật hành chính được ban hành bởi các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền theo trình tự thủ tục do luật định.
Đối với hệ thống quy phạm pháp luật của nhiều ngành luật khác như hình
sự, dân sự, lao động… thường được tập trung trong một đạo luật, bộ luật (Bộ luậthình sự, Bộ lu dân sự, Bộ luật lao động ) do Quốc hội ban hành Còn đối vớiquy phạm pháp luật hành chính thì bên cạnh việc thể hiện trong hình thức vănbản luật do Quốc hội ban hành, còn được thể hiện cụ thể, chi tiết trong những vănbản khác như nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư do nhiều chủ
Trang 17thể khác nhau trong hệ thống cơ quan nhà nước ban hành Thẩm quyền và hìnhthức ban hành văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng quy phạm pháp luậthành chính được quy định tại Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luậtnăm 2015 Thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng quyphạm pháp luật hành chính được ban hành chi tiết trong Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật năm 2015 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 Hai luật này quy định cụ thể vềthủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước nhưQuốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân các cấp; của các cá nhân có thẩm quyền như Chủ tịch nước, Thủ tướngChính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dântối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.
Thứ tư, quy phạm pháp luật hành chính có số lượng nhiều và phạm vi điều chỉnh rộng Xuất phát từ những lý do sau:
- Lĩnh vực điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính là rất đa dạng,toàn diện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
- Do việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hành chính - thường xuyên thay đổitheo thực tế khách quan của lĩnh vực hành chính nên đòi hỏi sự điều chỉnh kịpthời để đảm bảo tính liên tục trong hoạt động hành chính nhà nước Do đó, quyphạm pháp luật hành chính thường xuyên được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hànhmới, tạo nên một số lượng quy phạm hành chính rất lớn
8 Vai trò của quy phạm pháp luật hành chính
Nhà nước quản lý xã hội trực tiếp bằng hệ thống quy phạm pháp luật Đểđiều chỉnh các quan hệ pháp luật hành chính, quy phạm pháp luật hành chínhđóng vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Trang 18- Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện tác - động lên nhận thức –hành vi của đối tượng quản lý Như trên đã phân tích, quy phạm pháp luật hànhchính đặt ra chuẩn mực, giới hạn của hành vi xử sự, đặt ra các quy định ngăncấm, cho phép, trao quyền để giáo dục, để mọi người tự giác thực hiện Mặtkhác, quy phạm pháp luật hành chính dự kiến các chế tài có thể áp dụng đối vớicác cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan Quy phạm pháp luật hành chính là
cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trách nhiệm củacác chủ thể tham gia quy phạm pháp luật hành chính
- Quy phạm pháp luật hành chính tạo thành nền tảng pháp lý cho việc tổchức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước cũng như cho quá trìnhthực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Đó cũng là cơ sở đểxem xét, đánh giá về tính hợp pháp trong quá trình hoạt động của các chủ thểnày Quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện quan trọng nhất để cơ quanhành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền tiến hành cáchình thức và phương pháp quản lý phù hợp
Quản lý nhà nước là một loại hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo và cũng làhoạt động đa dạng, phức tạp diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, liênquan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ hành chính của mọi tổ chức, cá nhân.Quy phạm pháp luật hành chính đã góp phần vào việc đảm bảo cho hoạt động đódiễn ra bình thường, nhịp nhàng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể quản
lý nhà nước Đối với đời sống xã hội, quy phạm pháp luật hành chính đóng vaitrò quan trọng trong việc duy trì trật tự quản lý nhà nước, góp phần tích cực vàoviệc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước
Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: hệ thống quy phạm phápluật hành chính là cơ sở để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa cơ quanhành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước khác; giữa các cơ quan hành
Trang 19chính nhà nước với nhau; giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, cánhân; đồng thời góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật từ phía các cơquan nhà nước, tổ chức và cá nhân.- Đối với cá nhân, quy phạm pháp luật hànhchính cũng chính là cơ sở pháp lý để tham gia vào quản lý nhà nước với nhữnghình thức ngày càng phong phú, như trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụcông dân hoặc thông qua các tổ chức xã hội với tư cách là thành viên của tổ chứcđó; hoặc tham gia các phong trào quần chúng ở cơ sở Quy phạm pháp luật hànhchính định ra những cơ chế để đảm bảo cho các quyền tự do dân chủ của nhândân trong quản lý nhà nước được thực hiện tốt trên thực tế.
9 Cơ cấu của quy phạm pháp luật hành chính
Cũng giống như quy phạm pháp luật nói chung, quy phạm pháp luật hành
chính cũng bao gồm ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài.
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước là hoạtđộng đa dạng, phức tạp, phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và làhoạt động mang tính chủ động sáng tạo, nên trong nhiều trường hợp, bộ phận giảđịnh chỉ mang tính xác định tương đối Nếu quy định cụ thể, chi tiết về các chủthể, điều kiện, hoàn cảnh thì đó sẽ là yếu tố làm hạn chế tính chủ động, sáng tạotrong công tác quản lý điều hành Ví dụ: "Trường hợp vi phạm hành chính về antoàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh;lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường thuế;chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậuquả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì " (Khoản 1 Điều 72 Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012)
Quy định là bộ phận đặc trưng nhất thể hiện ý chí của Nhà nước trong việctác động đến nhận thức, hành vi của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hànhchính Nếu thiếu bộ phận quy định thì các tổ chức, cá nhân không thể hình dungđược mình phải xử sự như thế nào mới phù hợp với ý chí của Nhà nước Đặc
Trang 20trưng của nội dung quy phạm pháp luật hành chính là tính mệnh lệnh, điều nàythể hiện rõ nét trong quy định của quy phạm pháp luật hành chính Ví dụ: "Người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạmhành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hànhchính " (Khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)
Chế tài của quy phạm pháp luật hành chính là những hậu quả bất lợi mà cánhân, tổ chức phải gánh chịu do không thực hiện đúng phần quy định của quyphạm pháp luật hành chính Trong đa số các trường hợp, chế tài quy phạm phápluật hành chính mang tính xác định tương đối, tức là quy phạm pháp luật hànhchính đặt ra giới hạn tối thiểu và tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính
cụ thể Trong một số ít trường hợp, chế tài quy phạm pháp luật hành chính mangtính xác định Đó là trường hợp vi phạm hành chính, theo quy định, chỉ bị ápdụng hình thức xử lý xác định
10 Hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính
Việc xác định hiệu lực của từng quy phạm pháp luật hành chính gắn liềnvới việc xác định với hiệu lực của văn bản chứa quy phạm pháp luật hành chính.Hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính được xác định bởi ba phương diện:thời gian, không gian và đối tượng áp dụng
a) Hiệu lực về thời gian
Hiệu lực về thời gian của quy phạm pháp luật hành chính là thời điểm phátsinh, thời điểm bị đình chỉ thị hành và thời điểm chấm dứt hiệu lực của quy phạmpháp luật hành chính Hiệu lực của văn bản thường được quy định ở chương cuốicùng của văn bản đó
Thời điểm phát sinh hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính: Việc quyđịnh thời điểm có hiệu lực của văn bản phải bảo đảm đủ thời gian để công chúng
có điều kiện tiếp cận các văn bản, các đối tượng thi hành có điều kiện chuẩn bị
Trang 21thi hành văn bản Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015quy định hiệu lực của văn bản như sau:
- Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực sau một khoảng thời gian kể
từ thời điểm nhất định Chẳng hạn như văn bản của Trung ương phải ghi rõ ngày
có hiệu lực nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký banhành; văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thì
có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày văn bản được thông qua, hoặc kể từ ngày Chủtịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký ban hành
- Một số quy phạm pháp luật hành chính được ban - hành trong nhữngtrường hợp khẩn cấp như chống thiên tai, dịch bệnh… thì thời điểm phát sinhhiệu lực của quy phạm có thể sớm hơn nhằm mục đích giải quyết kịp thời nhữngtrường hợp trên
Thời điểm bị đình chỉ, chấm dứt hiệu lực thi hành của quy phạm pháp luậthành chính:
Trong trường hợp quy phạm pháp luật hành chính bị đình chỉ thi hành thìquy phạm pháp luật hành chính đó sẽ ngừng hiệu lực thi hành, sau đó văn bảntiếp tục có hiệu lực nếu không bị huỷ bỏ, hoặc sẽ hết hiệu lực khi bị huỷ bỏ.Trong thời gian ngừng hiệu lực, không áp dụng các quy phạm pháp luật đã bịđình chỉ thi hành để giải quyết các quan hệ xã hội nằm trong phạm vi điều chỉnhcủa văn bản đó
b) Hiệu lực về không gian
Hiệu lực về không gian của quy phạm pháp luật hành chính là nói đếnphạm vi lãnh thổ mà văn bản đó tác động tới Nguyên tắc chung quy phạm phápluật hành chính do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành thì có hiệu lựctrong phạm vi toàn quốc, quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước ởđịa phương ban hành có hiệu lực trong phạm vi địa phương trên cơ sở địa giới
Trang 22hành chính Hiệu lực về không gian của quy phạm pháp luật hành chính có thểđược xác định trong từng văn bản cụ thể, giới hạn phạm vi hiệu lực áp dụng riêngcho văn bản đó.
c) Hiệu lực về đối tượng áp dụng
Hiệu lực về đối tượng áp dụng của quy phạm pháp luật hành chính là phạm
vi các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thi hành văn bản đó
Có những văn bản trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính có hiệulực đối với mọi đối tượng kể cả cá nhân và tổ chức, với công dân Việt Nam và cảngười nước ngoài (ví dụ quy định về quản lý hành chính trong lĩnh vực an toàngiao thông đường bộ, an ninh trật tự, an toàn xã hội, y tế, môi trường ) Cũng cónhững quy định chỉ áp dụng đối với một nhóm đối tượng nhất định như Luật cán
bộ, công chức; Luật viên chức; Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam Thông thường, các văn bản quy phạm pháp luật hành chính sẽ ghi rõ đối tượngtác động điều chỉnh ở những điều đầu tiên của văn bản
11 Hệ thống hóa nguồn của luật hành chính
Hệ thống hóa văn bản nguồn của luật hành chính được tiến hành bằng haicách thức sau đây:
Tập hợp hóa: là việc sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hành chính
vào trong một cuốn sách dựa trên cơ sở các tiêu chí nhất định, chẳng hạn như:căn cứ theo cơ quan có thẩm quyền ban hành, căn cứ theo hình thức (tên gọi) củavăn bản quy phạm pháp luật hành chính, căn cứ theo nội dung, căn cứ theo thờigian ban hành Trong quá trình tập hợp hóa, nội dung của các văn bản quy phạmpháp luật hành chính có thể được đăng toàn bộ, hoặc trích đăng những phần cầnthiết, phù hợp với yêu cầu, mục đích sử dụng và căn cứ tiến hành tập hợp hóa.Khi tiến hành tập hợp hóa, các chủ thể không được thay đổi về mặt nội dung,hình thức thể hiện của quy phạm pháp luật hành chính Tập hợp hóa chính thức
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật
Trang 23Tập hợp hóa không chính thức do tổ chức, cá nhân tiến hành, nhằm phục vụ chomục đích của mình Ví dụ: một cá nhân hoặc một tổ chức tập hợp các văn bản vềquản lý hành chính đối với tổ chức và hoạt động của công chứng; tập hợp các quyđịnh pháp luật về việc xử phạt vi phạm hành chính.
Pháp điển hóa: là việc thực hiện trên cơ sở tập hợp hóa, theo đó chủ thể
tiến hành pháp điển hóa giữ lại những quy định phù hợp, sửa đổi, bổ sung quyđịnh mới, bãi bỏ những quy định không còn phù hợp về một lĩnh vực nào đó vàđưa tất cả những quy định này vào một văn bản quy phạm pháp luật hành chínhmới có hiệu lực pháp lý cao hơn Ví dụ: Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức
là kết quả của quá trình pháp điển hóa những quy định của pháp luật điều chỉnh
về cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Khác với tập hợp hóa, chủ thể tiếnhành pháp điển hóa chỉ có thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền
12 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính
Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính là việc các chủ thể tham giaquan hệ pháp luật hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sởcác quy định nằm trong các quy phạm pháp luật hành chính
Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính có thể tiến hành thông qua cácphương thức sau: chấp hành quy phạm pháp luật hành chính và áp dụng quyphạm pháp luật hành chính
- Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng nội dung, đúngmục đích Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải hướng đến mục đích màcác quy phạm pháp luật hành chính xác định và tuân thủ đúng các quyền và nghĩa
vụ được quy định Không đặt ra những quyền và nghĩa vụ không thuộc phạm viquy định của văn bản cũng như không đi chệch mục đích chính trị, pháp lý, đạođức của quy định
Trang 24- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng thẩm quyền Đó làgiới hạn quyền lực mà Nhà nước trao cho cá nhân hoặc tổ chức để giải quyếtcông việc cụ thể nào đó Mọi trường hợp áp dụng quy phạm pháp luật hành chínhkhông đúng thẩm quyền đều là trái pháp luật và việc giải quyết như vậy sẽ vôhiệu.
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng trình tự, thủ tục phápluật quy định Thủ tục giải quyết các công việc trong quá trình quản lý gọi là thủtục hành chính Tương ứng với mỗi công việc, có một loại thủ tục được Nhà nướcxác lập Chủ thể có thẩm quyền phải thực hiện theo đúng trình tự đã quy định.Việc không tuân theo thủ tục có thể dẫn đến vô hiệu hóa kết quả áp dụng, hoặc cóthể sẽ làm cho công việc bị kéo dài, dẫn đến tình trạng khiếu kiện
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đảm bảo nhanh chóng, kịpthời, công bằng, công khai Mục đích hướng đến của yêu cầu này chính là đảmbảo tính minh bạch trong quản lý hành chính Cùng một công việc, một điều kiện,các đối tượng quản lý phải nhận được sự đối xử như nhau từ phía các chủ thểquản lý Các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền phải giải quyết công việc nhanhchóng, theo thời hạn pháp luật quy định và kết quả giải quyết phải được công bốcông khai để đảm bảo quyền giám sát của công dân đối với hoạt động quản lý củaNhà nước, tránh tạo ra sự bất bình đẳng và thiếu minh bạch Kết quả giải quyếtcông việc phải được thể hiện bằng hình thức văn bản (trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác) và đảm bảo được tôn trọng trong thực tế
Giữa chấp hành quy phạm pháp luật hành chính và áp dụng quy phạm phápluật hành chính luôn có quan hệ tác động lẫn nhau, là tiền đề của nhau Việc chấphành quy phạm pháp luật hành chính có thể là cơ sở dẫn đến việc áp dụng quyphạm pháp luật hành chính và ngược lại, việc áp dụng quy phạm pháp luật hànhchính có thể dẫn đến việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính
13 Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật hành chính
Trang 25Quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnhvực quản lý hành chính nhà nước, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luậthành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính là một loại quan hệ pháp luật, quy phạmpháp luật hành chính mang những đặc điểm chung giống như các quan hệ phápluật khác, như: là những quan hệ có tính ý chí, mang tính xác định, được điềuchỉnh bởi quy phạm pháp luật hành chính, có nội dung là tổng thể các quyền vànghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đó
Tuy nhiên, quan hệ pháp luật hành chính phát sinh trong lĩnh vực quản lýhành chính nhà nước nên có những điểm khác biệt so với quan hệ pháp luật khác
ở những dấu hiệu đặc trưng như sau:
- Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quy phạm pháp luật hành chínhluôn gắn liền với hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước Điều này xuấtphát từ đặc trưng của quan hệ quản lý hành chính nhà nước là loại quan hệ thựcthi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực chấp hành - điều hành
Một bên trong quan hệ pháp luật hành chính luôn là chủ thể nhân danh nhànước, thực hiện quyền lực nhà nước (được coi là chủ thể bắt buộc) Chủ thể bắtbuộc trong quan hệ pháp luật hành chính là: cơ quan nhà nước (chủ yếu là cơquan hành chính nhà nước), cán bộ, công chức nhà nước hoặc tổ chức xã hội, cánhân được trao quyền quản lý nhà nước trong một số trường hợp cụ thể Do vậy,khác với nhiều quan hệ pháp luật như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ phápluật về hôn nhân - gia đình , quan hệ pháp luật hành chính không thể phát sinhgiữa các công dân với nhau, giữa các tổ chức xã hội không được trao quyền quản
lý nhà nước với nhau, giữa các tổ chức xã hội không được trao quyền quản lý nhànước với công dân
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp củamột bên Sự thỏa thuận, sự chấp thuận của phía bên kia không phải là điều kiện
Trang 26bắt buộc Như vậy, nếu một bên chủ thể không mong muốn tham gia quan hệpháp luật hành chính, nhưng quan hệ pháp luật hành chính vẫn hình thành khiđầy đủ những điều kiện mà quan hệ pháp luật hành chính dự liệu Ví dụ: quan hệ
về kiểm tra giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chínhnhà nước cấp dưới; quan hệ giải quyết khiếu nại, quan hệ áp dụng cưỡng chếhành chính
Tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính được giảiquyết theo thủ tục hành chính, hoặc thủ tục tố tụng hành chính Ví dụ, trườnghợp công chức bị kỷ luật hình thức buộc thôi việc có thể thực hiện quyền khiếunại theo thủ tục hành chính được quy định trong Luật khiếu nại năm 2012, hoặctheo thủ tục tố tụng hành chính được quy định của Luật tố tụng hành chính năm
2015 Việc cá nhân, tổ chức khiếu nại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình không làm mất đi quyền khởi kiện của họ, nhưng có những trường hợp chỉ
có thể khởi kiện sau khi đã khiếu nại Quy trình khiếu nại và khởi kiện đều cónhững điểm tích cực và hạn chế của nó, song Nhà nước trao cho cá nhân, tổ chứcđầy đủ các quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranhchấp xảy ra
- Chủ thể vi phạm những quy định của quy phạm pháp luật hành chínhphải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước Các cơ quan nhà nước, cá nhân cóthẩm quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ bên nào viphạm những yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính
14 Cơ cấu quan hệ pháp luật hành chính
Cũng giống như mọi quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật hành chínhbao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung quan hệ
a) Chủ thể quan hệ pháp luật hành chính
Trang 27Là các bên tham gia vào quan hệ có năng lực chủ thể, mang quyền vànghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính Bao gồm: các cơquan nhà nước, các tổ chức và cả nhân.
Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính, cơ quan nhà nước,
tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ phải có năng lực chủ thể, bao gồm: năng lựcpháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính
Năng lực pháp luật hành chính là khả năng mà Nhà nước thừa nhận chocác cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có những quyền và nghĩa vụ pháp lýhành chính Đối với cá nhân, năng lực pháp luật hành chính là khả năng cá nhânđược hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ trong quản lý hành chính nhà nước
do pháp luật hành chính quy định Thông thường, năng lực pháp luật hành chính
là như nhau đối với những điều kiện cụ thể trừ trường hợp bị Nhà nước hạn chế
Năng lực hành vi hành chính là khả năng của các cơ quan nhà nước, tổchức và cá nhân được Nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình thực hiện cácquyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
b) Khách thể quan hệ pháp luật hành chính
Khách thể mà quan hệ pháp luật hành chính hướng tới là những quan hệhành chính phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành Do đó, hoạt độngquản lý nhà nước được thực hiện là nhằm hướng tới việc thiết lập, duy trì trật tựquản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân có thể thựchiện được các quyền cũng như các nghĩa vụ mà Nhà nước quy định Do vậy,khách thể của quy phạm pháp luật hành chính được xác định là trật tự quản lýhành chính nhà nước
c) Nội dung quan hệ pháp luật hành chính
Trang 28Nội dung quan hệ pháp luật hành chính bao gồm quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính Quyền chủ thể là khả năngcủa các chủ thể được xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật hành chính chophép, bao gồm: được làm, phải làm hoặc có thể không làm những công việc,những hành vi mà pháp luật hành chính cho phép Nghĩa vụ pháp lý của chủ thểquan hệ pháp luật hành chính thông thường là bắt buộc phải làm những côngviệc, thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính yêu cầu.
Đối với cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, quyền chủ thể cũng đồngthời là nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể Ví dụ: những quy định về nhiệm vụ vàquyền hạn của Thủ tướng, của Bộ trưởng cũng chính là nghĩa vụ, trách nhiệmcủa chủ thể trên
15 Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính
Một quan hệ pháp luật nói chung chỉ phát sinh trên cơ sở có quy phạmpháp luật, có sự kiện pháp lý và chủ thể có năng lực
Quan hệ pháp luật hành chính chỉ phát sinh, thay đổi hay chấm dứt khixuất hiện chủ thể cụ thể đã mặc định trong phần giả định của quy phạm pháp luậthành chính gắn với các sự kiện pháp lý hành chính Sự kiện pháp lý bao gồm: sựkiện thể hiện ý chí (hành vi) và sự kiện phi ý chỉ (sự biến)
Sự kiện thể hiện ý chí (hành vi) là những sự kiện xảy ra phụ thuộc vàonhận thức và sự điều khiển hành vi của con người (hành động hoặc không hànhđộng) Hành vi được coi là sự kiện pháp lý bao gồm hành vi hợp pháp và hành vịbất hợp pháp
Sự kiện phi ý chí (sự biến) là những sự kiện pháp lý xảy ra không phụthuộc vào ý chí của con người như thiên tai, dịch bệnh
Trang 29Như vậy, về nguyên tắc, để một quan hệ pháp luật hành chính phát sinh,thay đổi, chấm dứt cần có đủ ba điều kiện sau đây:
- Một là, cổ sự tồn tại của quy phạm pháp luật hành chính: quy phạm phápluật hành chính là điều kiện tiên quyết có tính chất làm phát sinh, thay đổi, chấmdứt quan hệ pháp luật hành chính Quy phạm pháp luật hành chính xác định rõnhững điều kiện, hoàn cảnh có tính giả định, làm cơ sở cho việc áp dụng Quyphạm pháp luật hành chính đặt quan hệ xã hội vào cơ chế điều chỉnh pháp luật
- Hai là, sự xuất hiện của chủ thể cụ thể tương ứng với chủ thể mà quyphạm pháp luật hành chính đặt ra
- Ba là, sự kiện pháp lý hành chính
16 Cơ quan hành chính nhà nước
Quyền hành pháp là một bộ phận hợp thành quyền lực nhà nước, được
"phân công" thực hiện chủ yếu bởi cơ quan hành chính nhà nước Vị trí, tổ chức,chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước tạo nên địa vị pháp lý của
cơ quan hành chính nhà nước trong quan hệ pháp luật hành chính và trong mốiquan hệ với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, cơ quan hành chính nhànước là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, có ý nghĩa chi phối, điều khiển,hướng dẫn hành vi của các chủ thể pháp luật hành chính khác Với vị trí đặc biệtquan trọng như vậy, cơ quan hành chính nhà nước có những đặc điểm và hìnhthức tổ chức mang tính đặc thù
Trang 30- Nhà nước thành lập cơ quan hành chính nhằm thực hiện một phần chứcnăng nhiệm vụ của Nhà nước Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước tuânthủ theo những quy định của pháp luật, nhân danh Nhà nước tham gia vào cácquan hệ pháp luật để thực thi chức năng, nhiệm vụ được giao.
- Nhân sự của cơ quan hành chính nhà nước được hình thành từ cơ chế bầu
cử hoặc tuyển dụng theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức
- Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyềnlực nhà nước cùng cấp
Như vậy, hoạt động chấp hành và điều hành là phương diện hoạt động chủyếu của cơ quan hành chính nhà nước Đây là đặc trưng cơ bản của cơ quan hànhchính nhà nước, là giới hạn hoạt động và dấu hiệu cho phép phân biệt cơ quanhành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước khác
Chức năng quản lý hành chính nhà nước là đặc trưng cơ bản nhất của cơquan hành chính nhà nước Từ đó, cho phép cơ quan hành chính nhà nước thamgia vào các quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể cơ bản và quantrọng nhất của luật hành chính Việt Nam
Hai là, cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống từ
Trung ương đến địa phương, tạo thành một chỉnh thể thống nhất có tính thử bậc,
có mối quan hệ lãnh đạo và phụ thuộc nhau về tổ chức, hoạt động và cơ chế phốihợp
Ba là, hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được tiến hành thường
xuyên, liên tục bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp Đặctrưng này xuất phát từ việc thực hiện chức năng quản lý hành chính và nhiệm vụ
của cơ quan hành chính nhà nước.
Bốn là, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực
thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Do vậy, về tổ chức và hoạt động của