1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tiểu luận dân sự bảo lãnh

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Lãnh – Một Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Theo Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự Việt Nam
Tác giả Điêu Khánh Nam
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 208,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A MỞ ĐẦU Trong xã hội hiện đại đang dần phát triển như hiện nay, có thể thấy sự phân công lao động cũng ngày càng tăng lên theo đó rõ rệt Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra, đó là mỗi người chỉ có thể phu trách đảm nhiệm một mảng công việc nhỏ cho xã hội Năng lực của từng người không thể cùng lúc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau Trong khi đó, nhu cầu của con người về tinh thần cũng như vật chất ngày càng tăng lên rõ rệt, để đảm bảo đáp ứng đầy đủ những nhu cầu để sống, con người bắt buôc phải tham.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN: LUẬT DÂN SỰ 2

ĐỀ BÀI:

Bảo lãnh – Một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Họ và tên : Điêu Khánh Nam

Lớp : K7C

SSV : 193801010166

SBD :

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Khái quát vấn đề “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của BLDS 2015” 2

1 Các khái niệm 2

2 Đặc điểm 2

3 Phân loại 4

II Lý luận chung về “Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo quy định của BLDS 2015” 4

1.Khái niệm 4

2.Đặc điểm 5

3 Phân loại 6

4 Đối tượng, phạm vi bảo lãnh 8

5 Chủ thể trong quan hệ bảo lãnh 10

6 Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh 11

7 Nội dung quan hệ bảo lãnh 12

8 Chấm dứt bảo lãnh 12

III Hoàn thiện các quy định về bảo lãnh trong BLDS 2015 12

1.Hạn chế trong quy định về bảo lãnh trong pháp luật hiện hành 12

2 Kinh nghiệm của một số quốc gia khi quy định về biện pháp bảo lãnh 14

3.Yêu cầu hoàn thiện chế định bảo lãnh trong pháp luật dân sự hiện nay 14

C.KẾT LUẬN 16

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống, một trong những cách thức phổ thông nhất là xác lập các hợp đồng dân sự Hợp đồng dân sự quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên là nhân tố tạo dựng mối quan hệ giữa các chủ thể, xây dựng nên hệ thống các hành vi nhằm đem lại lợi ích cho bên có quyền Do vậy, việc thực hiện nghĩa vụ luôn được chú trọng, không chỉ buộc phải định hình về mặt hợp pháp mà còn bao gồm cả mặt hợp lý

Nhu cầu này trong thực tiến khách quan đặt ra đòi hỏi: Làm thế nào để tăng độ tin cậy và hiệu năng thực hiện nghĩa vụ dân sự đã được các bên thỏa thuận hay do pháp luật quy định cho bên có nghĩa vụ, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho bên có quyền? Các biện pháp bảo đảm xuất hiện và tồn tại do đòi hỏi khách quan đó Cho dù bản chất của việc xác lập các biện pháp bảo đảm là việc xây dựng một quan hệ nghĩa vụ phụ bên cạnh quan hệ nghĩa vụ chính cần được bảo đảm, song, vai trò hỗ động và tương trợ của các biện pháp bảo đảm là không thể chối cãi

Ngày nay, một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phổ biến nhất

là bảo lãnh Với những đặc thù cùng tính chất, chức năng riêng biệt, biện pháp bảo lãnh

trở thành một “công cụ” đắt giá, mang tầm quan trọng cao trong việc tăng độ tin cậy thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong các hợp động dân sự phổ thông nói chung và một

số hợp đồng dân sự đặc thù nói riêng

Để tìm hiểu hơn về biện pháp này em chọn để tài : “Bảo lãnh – Một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài

tiểu luận kết thúc học phần

1

Trang 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát vấn đề “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của BLDS 2015”

1 Các khái niệm

Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có

nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là các biện pháp do pháp luật quy định hoặc do

các bên thỏa thuận xác lập, nhằm thúc đẩy người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình

vì lợi ích của bên có quyền, đồng thời tạo điều kiện cho bên có quyền trực tiếp thực hiện quyền của mình trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, bằng cách dựa vào luật hoặc dựa vào sự thỏa thuận của các bên để sáp nhập thêm vào nghĩa vụ chính một nghĩa vụ bổ sung [1]

2 Đặc điểm

Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ sự thỏa

thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định.

Trong giao dịch dân sự, các biện pháp bảo đảm được lựa chọn và xác lập do sự lựa chọn của các bên, pháp luật dân sự không quy định cứng nhắc việc hợp đồng này phải dùng biện pháp bảo đảm này, hay với đối tượng của hợp đồng thuộc loại này phải dùng biện pháp bảo đảm kia Việc lựa chọn các biện pháp bảo đảm phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên trong phạm vi pháp luật quy định

Biện pháp cầm giữ tài sản là biện pháp duy nhất phát sinh do luật định, tám biện pháp còn lại, bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở

hữu, bảo lãnh, tín chấp, là những biện pháp phát sinh do thỏa thuận giữa các bên

Ví dụ: Biện pháp cầm giữ tài sản là quyền của bên có quyền trong hợp đồng song vụ1,

hay bảo lưu quyền sở hữu là quyền của bên bán trong hợp đồng mua bán tài sản2

1 Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, tức là quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và

ngước lại VD: Hợp đồng mua – bán

2 Điều 430 BLDS 2015 quy định: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu

tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

2

Trang 5

Một nghĩa vụ có thể có hoặc không có biện pháp bảo đảm thực hiện Tuy nhiên, trên

thực tế, vẫn phát sinh trường hợp giao kết hợp đồng buộc phải có biện pháp bảo đảm Ví

dụ: Bảo đảm tiền vay (hay còn gọi là bảo đảm tín dụng) là cho vay phải có tài sản để thế

chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh (tức là bảo đảm bằng tài sản), hay nói cách khác, đây là biện pháp mà các tổ chức tín dụng (ngân hàng…) áp dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thế xảy ra trong hoạt động cho vay của mình, cụ thể là cho việc bảo đảm thu hồi vốn và lãi suất vay [5]

Thứ hai, nghĩa vụ trong quan hệ bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính

Đặc điểm này phát sinh tầng hệ quả rằng, quan hệ bảo đảm không tồn tại một cách độc lập, nó chỉ tồn tại bên cạnh nghĩa vụ chính cần được bảo đảm, nghĩa vụ chính này, hoặc là đã tồn tại, hoặc là sẽ hình thành trong tương lai

Theo nguyên tắc chung, nếu hợp đồng chính vô hiệu thì hợp đồng phụ cũng vô hiệu

theo Thế nhưng, điều này không đồng nghĩa với nhận định: Nghĩa vụ được bảo đảm vô

hiệu thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ cũng vô hiệu căn cứ vào Khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm3 quy định về quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, tức là nhận định trên chỉ đúng trong trường hợp các bên chưa tiến hành thực hiện hợp đồng [4]

Thứ ba, biện pháp bảo đảm là các biện pháp mang tính dự phòng

“Dự phòng” là sự chuẩn bị sẵn sàng để phòng điều không hay có thể xảy ra4

Đặc điểm này xuất phát từ chức năng chính của các biện pháp bảo đảm, đó chính là

chức năng đảm bảo5 Việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ phát sinh và thay thế cho nghĩa

vụ chính khi nghĩa vụ chính được bảo đảm bị vi phạm (không được thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ) Nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện, các biện pháp bảo đảm sẽ không phát sinh hiệu lực Đặc điểm này là minh chứng cho tính bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm

Thứ tư, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là lợi ích vật chất

3 Khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định: Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực

hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4 Từ điển Tiếng việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb.Đà Nẵng, 2003, tr.269

5 Từ điển Tiếng việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb.Đà Nẵng, 2003, tr.38

3

Trang 6

Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Do đó, các biện pháp bảo đảm nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính được đảm bảo, cũng có đối tượng tương tự: tài sản và công viêc

Nếu đối tượng là tài sản, đương nhiên sẽ mang lại lợi ích vật chất

Nếu đối tượng là công việc thì chung quy cũng phải hướng đến lợi ích vật chất cho bên nhận bảo đảm

Vì xét cho cùng, theo quy tắc ngang giá, chỉ có lợi ích vật chất mới khấu trừ, bù đắp được những lợi ích vật chất bị thiệt hại do nghĩa vụ chính bị vi phạm

3 Phân loại

Căn cứ vào tính chất

So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã bổ sung thêm hai biện pháp bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ dân sự: cầm giữa tài sản và bảo lưu quyền sở hữu.

Nội dung chính của bài tiểu luận sẽ xoay quanh Bảo lãnh – biện pháp bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự.

II Lý luận chung về “Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo quy định của BLDS 2015”

1.Khái niệm

Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là

bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa

vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”

4

Các biện pháp bảo đảm thực hiện NVDS

Bảo đảm đối vật

Bảo đảm đối nhân

Cầm giữ tài sản

(mới)

Ký quỹ

Ký cược Đặt

cọc

Bảo lưu quyền sở hữu

(mới)

Thế chấp Cầm cố

Tín chấp

Bảo lãnh

Các biện pháp bảo đảm khác

Trang 7

Với tư cách là một biện pháp bảo đảm đối nhân – bảo lãnh, trong tiến trình phát triển của thế giới khách quan, viếc cải cách các quy định trong BLDS cũng phải phù hợp với sự thay đổi ấy So với giai đoạn phong kiến trước đây, pháp luật cho phép xác lập biện pháp bảo lãnh, hoặc là do thỏa thuận, hoặc là theo quy định của pháp luật, thì nay, pháp luật nước ta

thông qua BLDS 2015 đã nếu rõ chỉ thừa nhận thực hiện xác lập bảo lãnh do thỏa thuận.

2.Đặc điểm

Thứ nhất, là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân.

Đặc điểm này nêu bật được bản chất đặc thù của biện pháp bảo lãnh so với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác Nếu các biện pháp bảo đảm khác như cầm

cố tài sản, thế chấp, đặt cọc, dùng đối tượng là tài sản để thực hiện bảo đảm thì ở bảo lãnh, bên bảo lãnh – bên thứ ba bảo đảm bằng cam kết của mình trước bên nhận bảo lãnh – bên có quyền

Thứ hai, vừa là một biện pháp bảo đảm vừa là một giao dịch dân sự, tức là được xác

lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên

Thứ ba, bên bảo đảm luôn là bên thứ ba

Chưa xét đến tầng ý nghĩa phát sinh, ngay trong khái niệm bảo lãnh đã quy định bên thứ ba hay còn gọi là bên bảo lãnh (bên bảo đảm) luôn là phải là bên thực hiện cam kết với bên có quyền Trong quan hệ nghĩa vụ chính giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ,

áp dụng biện pháp bảo đảm là bảo lãnh, đồng nghĩa với việc xuất hiện một bên thứ ba – thay mặt cho bên có nghĩa vụ, thực hiện thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, hình thành nên quan hệ nghĩa vụ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

Thứ tư, bảo lãnh có thể làm tiền đề làm xuất hiện các biện pháp bảo đảm khác

Như đã đề cập ở đặc điểm thứ ba, khi bên thứ ba cam kết thực hiện thay nghĩa vụ

cho bên có nghĩa vụ trước bên có quyền sẽ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh Chính quan hệ nghĩa vụ mới phát sinh này là tiền đề cho việc xác lập một biện pháp bảo đảm khác nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh, có thể là cầm cố tài sản, thế chấp, đặt cọc,…

5

Trang 8

3 Phân loại

Căn cứ

Chủ thể

Bảo lãnh một người Chủ thể thực hiện bảo lãnh có thể là cả nhân hoặc

pháp nhân

Trường hợp phân định rõ phạm vi bảo lãnh của

từng người, gọi là bảo lãnh riêng rẻ, ngược lại nếu không phân định rõ, gọi là bảo lãnh liên đới.

Bảo lãnh nhiều người

Bên bảo lãnh gồm nhiều người6 Bên nhận bảo lãnh gồm nhiều người Tính

chuyên

nghiệp

Bảo lãnh chuyên nghiệp Xét bảo lãnh chuyên nghiệp, bên bảo lãnh là ngân hàng – chủ thể lấy bảo lãnh làm hoạt động kinh

doanh và có thu phí

Bảo lãnh không chuyên nghiệp Tính đền

bù Bảo lãnh có thù lao Thường áp dụng khi bên bảo lãnh là ngân hàng(bảo lãnh chuyên nghiệp)

Bảo lãnh không thù lao

Thường áp dụng khi bên bảo lãnh và người được bảo lãnh có mối quan hệ quen biết, thân cận, bên bảo lãnh sẽ không lấy phí tương trợ khi xác lập quan hệ bảo lãnh bên cạnh quan hệ nghĩa vụ chính

Cách thức

thực hiện

việc bảo

lãnh

Bảo lãnh đối vật

Như đã đề cập tại nội dung trước, bên bảo lãnh

dùng cam kết của mình trước bên nhận bảo lãnh để

thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, do vậy, bản chất của biện pháp bảo lãnh mang tính đối nhân Tuy nhiên, khi đề cập đến bảo lãnh đối vật, lập tức liên tưởng đến việc vật hóa nó lên: bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền như đã cam kết trước đó thì bên nhận bảo lãnh (bên có quyền) được phép xử lý tài sản bảo đảm

Bảo lãnh đối nhân

Quyền yêu

cầu của

người

nhận bảo

lãnh

Bảo lãnh liên đới Theo khái niệm, bên bảo lãnh thực hiện thay nghĩa

vụ cho bên được bảo lãnh khi đến hạn thực hiện

nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Xét ví dụ sau

để phân tích quyền liên đời hay không liên đới của bên bảo lãnh dựa vào yêu cầu của người nhận bảo lãnh: Anh B vay 100 triệu đồng từ anh A trong thời hạn là 6 tháng Sau 6 tháng anh B phải trả cả

nợ gốc và tiền lãi (theo thỏa thuận, mặc định là

6 Điều 338 BLDS 2015 quy định về Nhiều người cùng bảo lãnh: Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới

thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền

có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.

6

Trang 9

thỏa mãn các điều kiện của hợp đồng vay tài sản).

Để đảm bảo nghĩa vụ này được thực hiện, anh C đứng ra bảo lãnh cho anh B, cảm kết với anh A rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu anh A không thực hiện Đến hạn, anh B không trả nợ: hoặc là do anh B không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ (không còn tài sản), hoặc là anh B không muốn thực hiện nghĩa vụ (còn tài sản nhưng không muốn trả nợ) Dựa vào quyền yêu cầu của người nhận

bảo lãnh: 1 Anh A có quyền yêu cầu anh B hoặc

anh C phải thực hiện nghĩa vụ, tức là bảo lãnh liên

đới; 2.Anh A chỉ được quyền yêu cầu một người

thực hiện nghĩa vụ, tức là bảo lãnh không liên đới

Bảo lãnh không liên

đới

Trong các cách phân loại trên, cách phân loại bảo lãnh dựa vào cách thức thực hiện

việc bảo lãnh và quyền yêu cầu của người nhận bảo lãnh là hai phương thức phân loại

trọng tâm nhất

Hiện nay, luật Việt Nam đang thừa nhận việc định hướng xây dựng chế định bảo lãnh theo hướng bảo lãnh liên đới, nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền (bên nhận bảo đảm), còn bảo lãnh không liên đới chỉ phát sinh trong trường hợp có thỏa thuận Hay nói cách khác, trong trường hợp này, muốn bên bảo lãnh thực hiện nghĩa

vụ thay cho bên được bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh phải chứng minh bên được bảo lãnh

không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ (không còn tài sản hoặc không còn khả năng thực

hiện công việc) mới là là tiền đề phát sinh quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh Đây là đặc điểm nổi bật của luật dân sự Việt Nam so với luật dân sự của các nước khác, đi ngược lại với lối suy định của họ

Do vậy, với mỗi tư cách khác nhau, bảo lãnh liên đới hay không liên đới sẽ đem lại

lợi ích riêng: 1.Là người bảo lãnh, bảo lãnh không liên đới sẽ làm giảm thiểu tối đa rủi ro phát sinh trong quan hệ bảo lãnh; 2.Là người nhận bảo lãnh, rõ ràng, bảo lãnh liên đới sẽ

mở rộng quyền lợi hơn, giảm thiểu rủi ro do không có ai thực hiện nghĩa vụ với mình mà không cần phải chứng minh họ có hay không khả năng thực hiện nghịa vụ Điều này có ý

nghĩa quan trọng trong việc “khởi kiện” khi tiếp xúc với luật Tố tụng dân sự.

4 Đối tượng, phạm vi bảo lãnh

4.1.Đối tượng bảo lãnh

7

Trang 10

Đối tượng của bảo lãnh là các cam kết của người bảo lãnh đối với người nhận bảo

lãnh

Đối tượng của nghĩa vụ được bảo

Công việc

Phải thực hiện Công việc phải thựchiện Không được thực hiện Công việc phải thựchiện

Cam kết được đề cập có thể là thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc thực hiện nghĩa vụ

về công việc Nhấn mạnh rằng, đối tượng của bảo lãnh không thể là công việc không

được thực hiện Điều này cũng là phù hợp với đặc điểm chung là đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải là lợi ích vật chất Chung quy, cũng chỉ có thông qua một lợi ích vật

chất mới có thể đảm bảo một lợi ích vật chất Vì vậy, người bảo lãnh phải bằng tài sản hay thông qua thực hiện một công việc để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh [4]

4.2.Phạm vi bảo lãnh

Điều 336 BLDS 2015 quy định về Phạm vi bảo lãnh:

“Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.”

“Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy, phạm vi bảo lãnh gồm nhiều phần so với tổng giá trị nghĩa vụ chính, tùy thuộc vào sự cam kết, thỏa thuận của người bảo lãnh

a/ Bảo lãnh thấp hơn nghĩa vụ được bảo lãnh

Ví dụ: Anh A vay 100 triệu của anh B, lãi suất 1,2%/tháng với thời hạn vay là 6

tháng Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của anh A đối với anh B, anh C – với tư cách là người bảo lãnh – đứng ra cam kết với anh B rằng hết thời hạn vay nếu anh A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền lãi do chậm trả lãi trong hạn, thì anh C sẽ trả tiền nợ cho anh B, nhưng chỉ trả nợ gốc, hoặc là chỉ trả 70% nợ gốc b/ Bảo lãnh bằng nghĩa vụ được bảo lãnh

8

Ngày đăng: 07/07/2022, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia sự thật
2. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015, Nxb. Lao động, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015
Nhà XB: Nxb. Laođộng
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Năm tập 2, Nxb.Công an nhân dân, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Năm tập 2
Nhà XB: Nxb.Công an nhân dân
5. Bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng, ThS.Nguyễn Anh Sơn – Chuyên viên tổng cục hải quan, TS.Lê Thị Thu Thủy – Giảng viên Khoa luật ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng
6. PGS. TS. Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị quốc gia, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụdân sự - Bản án và bình luận bản án
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ban hành ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao 7dịch bảo đảm8 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ban hành ngày 22/02/2012 của Chính phủ Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao 7dịch bảo đảm"8 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ban hành ngày 22/02/2012 của Chính phủ Về"sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP" ngày 29 tháng 12năm 2006 của Chính phủ về
9. TS. Hồ Quang Huy, Bộ Tư pháp, Hoàn thiện các quy định pháp luật về biện pháp bảo lãnh https://www.luatvietphong.vn/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-bien-phap-bao-lanh-n9596.html?fbclid=IwAR1wLM3lq--YhzvXyBmvjQW2O4G4exTcq9v5nn_1dQoEA4Mkuno3mJHRpaM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định pháp luật vềbiện pháp bảo lãnh
3. Bộ luật dân sự năm 2005, số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w