1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản

158 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Văn Hóa Xã Hội Nhật Bản
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU  Giáo trình Văn hóa – xã hội Nhật Bản được biên soạn dựa trên những nghiên cứu chuyên sâu của nhóm tác giả trong suốt 15 năm giảng dạy học phần “Văn hóa – xã hội Nhật Bản

Trang 2

MỤC LỤC



CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH NỀN VĂN HÓA NHẬT BẢN 1

GIỚI THIỆU CHƯƠNG 1

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY 1

NỘI DUNG BÀI HỌC 2

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 2

1.2 TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ 4

1.3 ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ 10

CÂU HỎI THẢO LUẬN 13

CÂU HỎI ÔN TẬP 13

BÀI TẬP VỀ NHÀ 13

CHƯƠNG II: CÁC THÀNH TỰU VĂN HÓA TIÊU BIỂU 14

GIỚI THIỆU CHƯƠNG 14

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY 14

NỘI DUNG BÀI HỌC 14

2.1 VĂN HÓA SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT 14

2.2 VĂN HÓA TRÌNH DIỄN 61

2.3 TÔN GIÁO 101

CÂU HỎI THẢO LUẬN 116

HOẠT ĐỘNG LÀM VIỆC NHÓM 116

BÀI TẬP VỀ NHÀ 116

CHƯƠNG III: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA – XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NHẬT BẢN 117 GIỚI THIỆU CHƯƠNG 117

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY 117

NỘI DUNG BÀI HỌC 118

3.1 VĂN HÓA – XÃ HỘI NHẬT BẢN VÀ TƯ TƯỞNG QUỐC GIA – DÂN TỘC 118

3.2 TƯ TƯỞNG ĐA NGUYÊN VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN NHẬT BẢN 123

3.3 TINH THẦN DÂN TỘC VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ TIẾP BIẾN CÁC GIÁ TRỊ 126

3.4 YẾU TỐ TÔN GIÁO TRONG VĂN HÓA – XÃ HỘI NHẬT BẢN 129

3.5 KHUYNH HƯỚNG THỰC TẾ TRONG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI NHẬT 140

3.6 TÍNH DUNG HỢP TRONG VĂN HÓA 142

3.7 ĐẶC TRƯNG TRONG GIAO TIẾP XÃ HỘI CỦA NGƯỜI NHẬT 143

HOẠT ĐỘNG LÀM VIỆC NHÓM 148

CÂU HỎI THẢO LUẬN 148

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG/CASE STUDY 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU



Giáo trình Văn hóa – xã hội Nhật Bản được biên soạn dựa trên những nghiên cứu chuyên sâu của nhóm tác giả trong suốt 15 năm giảng dạy học phần “Văn hóa – xã hội Nhật Bản” tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu với mục đích giúp người học nhận biết những nét riêng của dân tộc Nhật Bản (biểu hiện qua nhiều lĩnh vực khác nhau như văn hóa sáng tạo trong đời sống sinh hoạt, văn hóa sáng tạo trong nghệ thuật trình diễn, quy tắc ứng xử,…), từ đó dễ dàng định hướng khi tìm hiểu những nội dung chuyên sâu hơn, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu về Nhật Bản

Lấy đối tượng là sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật Bản (Ngành Đông Phương học) làm trung tâm, giáo trình Văn hóa – xã hội Nhật Bản được biên soạn xoay quanh các chuẩn đầu ra của học phần Cụ thể như sau:

CĐR

(CLOs)

Mô tả

Kiến thức

CLO1 Ghi nhớ các nội dung, kiến thức về quá trình hình thành, phát triển và

những đặc trưng nổi bật của nền văn hóa Nhật Bản;

CLO2 Hiểu bản chất văn hóa nhận thức, văn hóa sáng tạo và văn hóa giao tiếp –

trình diễn của người Nhật;

CLO3 Nắm vững các hiện tượng văn hóa – xã hội của Nhật Bản

Kỹ năng

CLO4 Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, khẳng định nhận thức

và năng lực bản thân qua tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực văn hóa – xã hội Nhật Bản;

CLO5 Có kĩ năng tự học và nghiên cứu các vấn đề Văn hóa – xã hội Nhật Bản

Mức độ tự chủ và trách nhiệm

CLO6 Có năng lực nghiên cứu độc lập và làm việc theo nhóm Biết tôn trọng sự

khác biệt giữa các nền văn hóa và tìm sự thống nhất ý kiến chung thông qua thảo luận các vấn đề văn hóa – xã hội Nhật Bản;

CLO7 Có tính kỷ luật, trung thực trong học tập và thói quen nhìn nhận, phân tích

Trang 4

sự việc theo đúng bản chất của vấn đề văn hóa – xã hội đã diễn ra theo từng giai đoạn lịch sử của Nhật Bản;

CLO8 Có đam mê với ngôn ngữ, văn hóa – xã hội Nhật Bản, tinh thần tự học cao

độ, luôn cập nhật thông tin và sáng tạo trong học tập thông qua các hoạt động học thuật, tọa đàm, giao lưu trong và ngoài trường, không ngừng học tập nâng cao kiến thức chuyên môn và am hiểu về văn hóa – xã hội Nhật Bản

Nhóm tác giả biên soạn ThS Lâm Ngọc Như Trúc – Trần Tuấn Kiệt

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH NỀN VĂN HÓA NHẬT BẢN



GIỚI THIỆU CHƯƠNG

Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định - một chủ thể của văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó

đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và con người với những thành tựu rực rỡ riêng của mình So sánh các nền văn hóa trên thế giới người

ta thấy chúng vô cùng đa dạng và phong phú Nội dung Chương I được biên soạn với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức nền tảng về đặc điểm tự nhiên, đặc điểm dân cư và tiến trình lịch sử của Nhật Bản để từ đó thấu hiểu một cách hệ thống nền văn hóa Nhật Bản Sinh viên sau khi học xong chương I có thể hiểu và biết cách lý giải về các

cơ sở hình thành của nền văn hóa này

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY

Với học phần “Văn hóa- xã hội Nhật Bản”, chúng tôi sẽ vận dụng mô hình dạy - học qua trải nghiệm vào việc thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên nhằm đạt được các mục tiêu đề ra

Về bản chất, mô hình học tập qua trải nghiệm là một phương pháp tiếp cận chính cho việc học tập vì một tương lai bền vững, lấy người học làm trung tâm Tác giả của phương pháp này - David Kolb khuyến khích trình tự của việc học theo mô hình học tập thực nghiệm cần tuân thủ trình tự của chu trình, nhưng không nhất thiết phải khởi đầu từ bước nào trong chu trình Do vậy, tùy theo mục tiêu của từng chương/bài học cụ thể, chúng tôi thiết kế và triển khai bài giảng một cách linh động theo những cách thức khác nhau (với những bước khởi đầu khác nhau) và tùy theo đối tượng sinh viên của từng lớp

Khi xây dựng các hoạt động giảng dạy cho Chương I, chúng tôi thấy rằng mục tiêu của chương phù hợp với giả định của Kolb về việc học, đó là tri thức khởi nguồn từ kinh nghiệm, tri thức cần được người học kiến tạo (hoặc tái tạo) chứ không phải là ghi nhớ những gì đã có Vì thế, các mô-đun dành cho chương này đi theo quy trình với các hoạt động cụ thể như sau: trải nghiệm cụ thể (sinh viên xem các videoclips về địa hình/khí hậu/tự nhiên Nhật Bản), quan sát phản ánh (đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận về nội dung

Trang 6

các videoclip đã xem), trừu tượng hóa khái niệm (giảng viên giảng bài, sinh viên nghe giảng và kết hợp đọc tài liệu khi cần), thử nghiệm tích cực (sinh viên vẽ sơ đồ tư duy tóm tắt nội dung bài học hoặc tạo các mô hình mô phỏng về các quần đảo/các khu vực địa lý của Nhật)

NỘI DUNG BÀI HỌC

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

Nhật Bản là một đảo quốc nằm ở phía đông của lục địa châu Á, gần với lãnh thổ của nước Nga, Trung Quốc và Triều Tiên, với gần 4000 hòn đảo xếp thành hình cánh cung, trải dài từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam Tuy nhiên đa số các đảo của Nhật Bản đều nhỏ và chỉ có 4 đảo lớn theo trình tự nhỏ dần về quy mô diện tích là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku với tổng diện tích là 377.834km2 Ở phía cực nam của Nhật Bản còn có đảo Okinawa nằm giữa đường kéo dài

từ mỏm phía cực tây của đảo Honshu tới đảo Đài Loan Hòn đảo Okinawa này tuy hiện nay thuộc chủ quyền của Nhật Bản nhưng trong lịch sử đã từng là lãnh thổ tranh chấp của các quốc gia cùng khu vực

Đông Á Do ở khá xa vùng

trung tâm của Nhật Bản nên

đảo Okinawa đã phát triển

được một kiểu văn hóa riêng

và một số điểm khác biệt với

nếp sống của dân cư trên bốn

hòn đảo lớn

Hình 1.1: Núi Phú Sĩ [34]

Là một quốc gia hải đảo nên Nhật Bản có đến gần 37000km bờ biển và có nhiều hải cảng tốt Đây được xem là sự nối dài cánh tay cho người Nhật về nhiều mặt hướng ra thế giới Từ rất sớm,người Nhật đã có khuynh hướng tận dụng ưu thế biển của mình

Tuy nhiên, phần lớn diện tích của Nhật là đồi núi và cao nguyên (chiếm khoảng 72% tổng diện tích lãnh thổ), trong đó ngọn núi cao nhất và chiếm vị trí quan trọng nhất trong tâm thức người dân Nhật Bản là núi Phú Sỹ với chiều cao 3776m nằm trên đảo

Trang 7

Honshu Núi lửa là một đặc điểm tự nhiên nổi bật ở đất nước này với tổng số lượng khoảng 200 ngọn Bản thân núi Phú Sỹ cũng là một núi lửa đã tắt mà những nhà nghiên cứu gần đây cho rằng vẫn có khả năng hoạt động trở lại

Do núi non chiếm phần lớn diện tích nên Nhật Bản là một vùng đất không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với khoảng 15% diện tích đất canh tác được Đồng bằng ở đây có diện tích hẹp và bị những mạch núi cắt xẻ thành nhiều mảnh nhỏ Tổng diện tích đất canh tác trên toàn đất nước Nhật Bản chỉ khoảng 25 triệu ha Vì vậy người Nhật thường trồng lúa trên những sườn đồi bằng cách tạo ra những thửa ruộng bậc thang Sông

ít và ngắn cũng là một bất lợi cho kinh tế nông nghiệp

Ngược lại với sự nghèo nàn về tài nguyên khoáng sản thì Nhật Bản lại có sự phong phú về mặt cảnh quan và hệ thống động thực vật trong cả nước do địa thế lãnh thổ trải dài 25 vĩ độ nên khí hậu mang tính chất đa dạng và có sự khác nhau về đặc điểm giữa các vùng miền trong nước

Mặt khác, vì nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương nên Nhật Bản thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần Mỗi năm ở đất nước này có hàng trăm dư chấn, và thỉnh thoảng lại có những trận động đất lớn gây tổn thất nặng nề Chẳng hạn như vào năm 1923, trận động đất lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản đã làm rung chuyển khắp vùng phía tây đảo Honshu kéo lên phía bắc Tokyo; số người chết do động đất và do hỏa hoạn xảy ra sau đó

là khoảng 100.000; thành phố Tokyo gần như bị san phẳng hoàn toàn Nếu động đất xảy

ra ngoài biển thì sẽ sinh ra tsunami là những ngọn sóng thần có khả năng cao đến 20-

30m có nguy cơ quét sạch cả một vùng bờ biển [24, Tr 14-15] Những cơn động đất xảy

ra thường xuyên trên cả nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiều hoạt động trong xã hội Nhật Bản Mọi công trình xây dựng lớn nhỏ trên nước Nhật đều phải chú ý đến kỹ thuật nhằm hạn chế thiệt hại về người và của trong trường hợp xảy ra động đất

Trang 8

và đặc biệt là được trang trí bằng hoa văn dây thừng Theo các nhà nghiên cứu, đồ gốm chủ yếu được sử dụng để làm vật dâng cúng thần linh trong các nghi lễ tôn giáo

Trong thời kỳ Jomon xã hội Nhật Bản tồn tại dưới hình thức công xã thị tộc mẫu

hệ, chưa có sự hình thành nhà nước Người Nhật thời kì này theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng ngẫu tượng, cùng một số tục lệ cổ như tục xăm mình, nhổ răng cửa dành cho người đã đến tuổi trưởng thành, tục chôn người chết trong tư thế nằm co (tục khuất táng)…

Trang 9

Vào năm 250 TCN, Nhật Bản bước vào thời kỳ văn hóa Yayoi với việc chuyển dần phương thức mưu sinh từ săn bắn, hái lượm sang dạng thức kinh tế nông nghiệp sơ khai Người Nhật đã biết trồng trọt một số loại cây lấy lương thực như lúa mì, các loại đậu, hạt dẻ… Đặc biệt là cây lúa nước đã được đưa vào Nhật Bản từ đại lục thông qua bán đảo Triều Tiên Sự xuất hiện của cây lúa nước đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển nhanh chóng và dẫn đến sự hình thành nhà nước sơ khai ở Nhật Bản

Công cụ lao động của con người cũng ngày càng tiên tiến hơn với sự xuất hiện của công cụ bằng đồng, và từ trung kỳ văn hóa Yayoi trở đi thì công cụ bằng sắt đã trở nên phổ biến Chủng loại công cụ trong thời kỳ này cũng phong phú hơn, gồm những loại như cuốc, cày, dao, rìu chủ yếu phục vụ cho canh tác nông nghiệp Chất lượng công cụ quyết định năng suất lao động nên sản phẩm lao động bắt đầu dư thừa và được tích lũy ngày càng nhiều trong xã hội

Thành tựu văn hóa nổi bật trong thời kỳ văn hóa Yayoi vẫn là các loại đồ gốm So với thời kỳ Jomon, đồ gốm Yayoi tinh xảo và có kỹ thuật nung tốt hơn, thường có màu nâu đỏ với hoa văn hình tam giác hoặc các đường kẻ ngang song song

Theo tài liệu khảo cổ học và các tác phẩm văn học dân gian thì bên cạnh nghề làm gốm, nhiều nghề thủ công khác (nghề dệt, nghề rèn, nghề mộc,…) cũng ra đời và phát triển trong giai đoạn này

Mặt khác, do hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính cộng đồng cao nên các thị tộc, bộ lạc nguyên thủy bắt đầu hợp tác với nhau để hình thành những liên minh bộ lạc Mặt khác, trong quá trình canh tác nông nghiệp còn nảy sinh những vấn đề như sự tranh giành đất đai trồng trọt, tranh giành nguồn nước tưới dẫn đến những cuộc chiến tranh công xã Các công xã liên minh với nhau trong chiến tranh đã hình thành nên các “tiểu quốc” bao gồm nhiều công xã nông thôn Các tiểu quốc này một mặt phát triển kinh tế nông nghiệp nội bộ, một mặt tăng cường quan hệ với Trung Quốc và Triều Tiên để tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài

Nhiều tài liệu lịch sử cho biết vào những thế kỉ trước và đầu công nguyên thì ở Nhật Bản đã hình thành hơn 100 nước nhỏ (theo Đông Di Truyện trong các sách Hán thư địa chí và Hậu Hán thư của Trung Quốc), trong đó Yamatai được xem là tiểu quốc hùng mạnh nhất Sự tồn tại của tiểu quốc này gắn liền với tên tuổi của nữ vương Himiko Tài liệu của Trung Quốc (Hậu Hán thư, Ngụy Chí) có ghi chép về sự mối quan hệ thường

Trang 10

xuyên giữa tiểu quốc Yamatai với Trung Quốc và Triều Tiên Tuy nhiên, sử liệu về các mối quan hệ này bị gián đoạn từ năm 266 đến năm 413 nên các nhà sử học không theo dõi được nguyên nhân và quá trình suy vong của tiểu quốc này

Vào cuối thế kỷ thứ IV, một quốc gia cổ đại thống nhất ở Nhật Bản đã được hình thành trên quy mô lớn tập trung ở vùng Yamato (Osaka và Nara ngày nay) Về sau lãnh thổ của nhà nước Yamato mở rộng, kéo dài từ miền Bắc đảo Kyushu đến trung tâm đảo Honshu Thủ lĩnh của vương quốc Yamato là tổ tiên của dòng họ Thiên hoàng (Tenno) ở Nhật Bản, bắt đầu từ Thiên hoàng đầu tiên là Ojin Tenno (270 - 310)

Trong thời kỳ có nhà nước, kinh tế Nhật Bản đã phát triển và đa dạng hơn về mặt loại hình Ngoài kinh tế nông nghiệp còn có các ngành nghề thủ công nghiệp như kỹ thuật làm muối, dệt vải, chế tác kim loại…

Nhà nước Yamato quản lý xã hội bằng chế độ “thị- tính” Chế độ này cho phép một thị tộc lớn sở hữu một số lượng nhất định nông dân và thợ thủ công phụ thuộc Ruộng đất do các hào tộc sở hữu gọi là điền trang Nông dân và thợ thủ công tự do thì sản xuất và cống nạp theo yêu cầu của triều đình

Trong thời kỳ nhà nước sơ khai, mô hình tổ chức Nhà nước ở Nhật Bản còn rất đơn giản, chỉ có một số chức quan như Đại vương, Đại thần, Đại liên thuộc các dòng họ quý tộc có thế lực Ngoài ra còn có các chức quan nhỏ thuộc về các dòng họ quý tộc cấp dưới ở địa phương

Từ thế kỷ VI, Nhật Bản bắt đầu du nhập một loại hình tôn giáo mới là Phật giáo đồng thời học hỏi và mô phỏng mô hình tổ chức nhà nước phong kiến của nhà Đường Người có công lớn trong lĩnh vực văn hóa- chính trị ở Nhật Bản thời kỳ này là Thái tử Shotoku (574 - 622) Ông đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa lớn, truyền bá Phật giáo trên

cả nước Trong lĩnh vực chính trị, ông có những đóng góp quan trọng như đặt ra chế độ

12 quan cấp, ban hành hiến pháp 17 điều Những thành tựu này đã bước đầu xây dựng nền tảng cho pháp luật Nhật Bản Đến năm 646 thì Nakanobe thực hiện cải cách Taika Nội dung chủ yếu của cải cách này là xóa bỏ chế độ điền trang, ban cấp thực phong cho các quan, định đô, lập hộ tịch, ban hành chế độ tô thuế theo ruộng đất

Đến khi Nara trở thành thủ đô Nhật Bản vào thế kỷ VIII thì bộ luật Ritsuryo được hoàn thành Trong suốt thời kỳ Nara (710 - 794) và thời kỳ Heian (794 - 1192), nhà nước

Trang 11

Nhật Bản được tổ chức theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, với cơ chế quyền lực tập trung vào tay Thiên hoàng Phật giáo được công nhận là quốc giáo, nhiều ngôi chùa được xây dựng trên cả nước và tầng lớp tăng sĩ có tầm ảnh hưởng chính trị rất lớn

1.2.2 Thời kỳ trung đại

Trong lịch sử chính trị Nhật Bản vốn có truyền thống duy trì sự ảnh hưởng của những dòng họ quý tộc đến vương triều phong kiến Vào cuối thế kỷ XII, hai dòng họ quý tộc có thế lực lớn nhất Nhật Bản là dòng họ Taira và dòng họ Minamoto xảy ra xung đột Kết thúc chiến tranh, dòng họ Minamoto giành được thắng lợi, lập ra một trung tâm quyền lực riêng ở Kamakura, thuộc miền đông đảo Honshu (nay thuộc Yokohama) Với trung tâm quyền lực độc lập với triều đình Nhật Bản đương thời đóng ở Kyoto, chế độ Mạc phủ (Bakufu) chính thức được thành lập khi Yoritomo (thủ lĩnh của dòng họ Minamoto) được Thiên hoàng phong danh hiệu Tướng quân (Shogun), người lập ra và đứng đầu cơ quan quyền lực Mạc phủ Từ thời điểm đó, chính quyền Mạc phủ tồn tại đồng thời với chính quyền vốn có của Thiên hoàng Hình thức này được duy trì cho đến thời điểm xảy ra sự kiện Minh Trị (Meiji) duy tân năm 1868, nhưng người giữ chức vụ Tướng quân đứng đầu Mạc phủ thì thay đổi từ dòng họ này sang dòng họ khác Với Tướng quân thuộc dòng họ Minamoto, Mạc phủ đóng ở Kamakura nên thường gọi là thời

kỳ Kamakura Bakufu (1192 - 1333)

Kế tiếp dòng họ Minamoto là dòng họ Hojo nắm giữ quyền lực ở Kamakura Dòng họ Hojo đã có công bảo vệ đất nước Nhật Bản trước sự xâm lược của quân Nguyên- Mông Cuộc xâm lược này đã được tiến hành 2 lần vào năm 1274 và 1281, đều

bị đánh bại Tuy nhiên, sự kiện này đã để lại hậu quả là sự suy yếu của chính quyền Mạc phủ Kamakura

Sau chiến tranh, Nhật Bản gặp khó khăn về kinh tế Về phía chính quyền Mạc phủ,

do chi phí nhiều cho chiến tranh nên không còn ngân sách để ban thưởng cho tầng lớp võ

sĩ thân tín (Gokenin) Về phía võ sĩ và chư hầu của dòng họ Hojo, sự thiếu thốn buộc họ phải cầm cố hoặc bán ruộng đất cho tầng lớp thương nhân Trước nguy cơ về sự suy yếu nền tảng của chế độ, Mạc phủ đã ra lệnh cấm bán ruộng đất Tuy nhiên, lệnh này chẳng những không có hiệu lực mà còn dẫn đến những cuộc xung đột giữa các lãnh chúa phong kiến với nhau

Trang 12

Trong tình hình đó, những Jito quản lý các trang viên (shoen) ở địa phương ngày càng phát triển và có khuynh hướng trở nên độc lập với chính quyền Mạc phủ Thực trạng này cũng là một nguyên nhân làm cho Mạc phủ Kamakura sụp đổ

Một nguyên nhân khác là sự phát triển vượt trội của các thế lực phong kiến ở vùng Tây Nam Nhật Bản, do khu vực này có điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương với Trung Quốc và Triều Tiên Điều đó tạo ra sự phân hóa Đông - Tây mang tính chất đối đầu và cuối cùng dẫn đến chiến tranh giành quyền lực

Nhận thấy nguy cơ suy yếu của chính quyền Mạc phủ Kamakura, Thiên hoàng Godaigo đã huy động các lực lượng để tiến hành chiến tranh khôi phục quyền lực nhưng cuối cùng thất bại, Ashikaga Takauji, người được Mạc phủ Kamakura cử đi chinh phạt cuộc nổi dậy, đã tuyên bố đứng về phía Thiên hoàng chống lại Mạc phủ và các lãnh chúa vùng Tây Nam Năm 1333, tập đoàn phong kiến Tây Nam do Yoshisada chỉ huy đã hạ được thành Kamakura, chấm dứt sự cầm quyền của dòng họ Hojo Mạc phủ Kamakura hoàn toàn sụp đổ

Sau sự kiện đó, Thiên hoàng Godaigo đã cố gắng khôi phục lại quyền lực Nhưng tầng lớp võ sĩ và nông dân do không được thỏa mãn về quyền lợi nên không ủng hộ chính quyền của Thiên hoàng và có khuynh hướng phục hồi chế độ Mạc phủ

Năm 1335, Ashikaga Takauji đã tập hợp lực lượng quân đội và tầng lớp võ sĩ chống Thiên hoàng Godaigo Thành Kyoto bị hạ vào năm 1336, Thiên hoàng Godaigo chạy xuống Yoshino lập nên triều đình riêng (Nam triều) Trong khi đó, Takauji lập Misuaki lên làm Thiên hoàng ở thủ đô Kyoto (Bắc triều) Đây là thời kỳ thường được gọi

là Nam - Bắc triều (Nanbokucho) trong lịch sử Nhật Bản, từ năm 1336 đến năm 1392

Năm 1338, Takauji đã nhận chức Tướng quân từ Thiên hoàng ở Bắc triều, thiết lập nên chế độ Mạc phủ của dòng họ Ashikaga ở Kyoto, bắt đầu giai đoạn Mạc phủ Muromachi (1338 - 1573) Trong thời gian này Nhật Bản liên tục xảy ra các cuộc nổi loạn và nội chiến Tuy đã có sự thỏa thuận giữa Nam triều và Bắc triều và cuối cùng quyền lực được chuyển giao cho Thiên hoàng ở Bắc triều nhưng quyền lực thực tế vẫn nằm trong tay các Tướng quân thuộc dòng họ Ashikaga Bên cạnh đó, chính quyền Mạc phủ thời kỳ này chỉ kiểm soát kinh đô và vùng phụ cận Những địa bàn còn lại thuộc về

sự quản lý của các lãnh chúa địa phương (Daimyo) Tình hình đó dẫn đến sự hình thành các tập đoàn phong kiến và sự đấu tranh giành đất đai, quyền lực giữa các tập đoàn trên

Trang 13

cả nước Năm 1441, Tướng quân Yoshinori bị ám sát Sau đó đã xảy ra cuộc nội chiến kéo dài từ 1467 đến 1477, thường gọi là loạn Onin

Tiếp theo loạn Onin là một thời kỳ loạn lạc và nội chiến kéo dài, gọi là thời chiến quốc (sengokujidai) Trong thời kỳ này, hỗn chiến và cát cứ xảy ra giữa các lãnh chúa, trong khi Thiên hoàng và Tướng quân đều chỉ tồn tại trên danh nghĩa Vào cuối thế kỷ XVI, quá trình thống nhất Nhật Bản được mở đầu bởi Oda Nobunaga - một lãnh chúa có tài về quân sự Ông đã tổ chức lực lượng quân đội, mở rộng lãnh địa, đánh bại nhiều lãnh chúa khác và chiếm trọn thủ đô Kyoto vào năm 1568 Sau khi lật đổ Muromachi Bakufu, Nobunaga tiếp tục mở rộng thế lực, đàn áp các phong trào chống đối và thực nhiện nhiều hoạt động nhằm củng cố và xây dựng đất nước Tuy nhiên, quá trình thống nhất Nhật Bản chưa hoàn chỉnh thì Nobunaga bị ám sát vào năm 1582

Một vị tướng thân cận của Nobunaga là Hideyoshi tiếp tục quá trình thống nhất đất nước Ông tiến hành chiến tranh chinh phục các lãnh chúa, đến năm 1590 về cơ bản

đã thống nhất được Nhật Bản và tiếp tục xây dựng đất nước về mọi mặt theo khuynh hướng mà Nobunaga đã tiến hành trước đó

Sau khi Hideyoshi qua đời, quyền lực thuộc về Tokugawa Ieyasu, một lãnh chúa cùng thời với Nobunaga và Hideyoshi, đã từng giúp Nobunaga trong các cuộc chinh phạt Trên thực tế, người thừa kế tước vị Tướng quân là con trai của Hideyoshi, nhưng Hideyori còn trẻ tuổi nên Ieyasu đã nắm giữ quyền lực Vì vậy, các lãnh chúa vùng Tây Nam đã tiến hành đấu tranh chống Ieyasu với danh nghĩa bảo vệ quyền lợi của Hideyori Cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến diễn ra tại Sekigahara vào năm 1600, chiến thắng thuộc về Ieyasu và tập đoàn phong kiến miền Đông Sau đó, Ieyasu nhận chức Tướng quân vào năm 1603, bắt đầu một giai đoạn mới được gọi là Mạc phủ Tokugawa kéo dài hơn hai thế kỷ (1603 - 1867)

1.2.3 Thời kỳ cận - hiện đại

Vào cuối thời kỳ Tokugawa, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt Bên cạnh mâu thuẫn giữa thực trạng phát triển thương mại và kinh tế thị trường trong nước với quan niệm Nho giáo không coi trọng tầng lớp thương nhân (mà lại dành nhiều đặc quyền cho giai cấp võ sĩ), giữa xu thế tìm kiếm thị trường mới, mở rộng quan hệ thương mại của các nước phương Tây ở châu Á và chính sách “đóng cửa” mà Mạc phủ Tokugawa thực hiện từ năm 1639, là những mâu thuẫn trong bản thân nội tại của các

Trang 14

chính sách cai trị của chính quyền Tokugawa (chính sách khống chế thân phận, nhóm 5 nhà,…) – đã khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và phong trào đấu tranh của dân nghèo thành thị liên tục nổ ra

Cải cách Minh Trị diễn ra vào năm 1868 là sự kiện tất yếu để giải quyết mọi khủng hoảng xã hội và mở đường cho Nhật Bản phát triển trong thời kỳ cận hiện đại Sau cải cách Minh Trị, Nhật Bản đã thực hiện tự do thương mại với các nước phương Tây, cấu trúc lại hình thái nhà nước theo kiểu quân chủ lập hiến, lập ra hiến pháp năm 1889 và

cử phái đoàn trí thức sang học hỏi văn minh phương Tây để canh tân đất nước Thời kỳ này được xem là giai đoạn Nhật Bản thực hiện hiện đại hóa đất nước lần thứ nhất

Nhờ tiếp thu văn minh phương Tây và phát triển kinh tế thị trường trong nước, Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành cường quốc đứng đầu trong khu vực Đông Á, vượt qua Trung Quốc đang khủng hoảng chính trị xã hội và bị xâu xé bởi các nước phương Tây Sau khi giành được thắng lợi trong chiến tranh Trung- Nhật và chiến tranh Nga - Nhật, Nhật Bản ngày càng mở rộng thế lực ở khu vực Đông Á và nhanh chóng tiến vào con đường quân phiệt hóa Hướng đi đó đã dẫn nước Nhật đến việc xâm chiếm lãnh thổ các quốc gia Đông Nam Á và sự kiện chiến tranh Thái Bình Dương trong chiến tranh Thế giới II Giai đoạn này đã kết thúc bằng sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt vào tháng 8/1945 khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện

Sau chiến tranh, Nhật Bản tập trung vào việc khôi phục, phát triển kinh tế trong nước và tham gia các tổ chức quốc tế cũng như quan hệ với các quốc gia khác theo khuynh hướng hòa bình, hợp tác và cùng phát triển

1.3 ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ

Từ sớm, trên quần đảo Nhật Bản đã có người cư trú Tuy nhiên, với nguồn sử liệu không rõ ràng và phụ thuộc vào các ghi chép từ bên ngoài (Trung Quốc, Triều Tiên) nên

đã có rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của người Nhật Bản

“Có thuyết cho là người Nhật đã sống trên các hòn đảo Nhật Bản từ thời kỳ đồ đá

Lại có thuyết quả quyết rằng từ trước thời kỳ đồ đá đã có các cuộc di cư từ lục địa châu

Á về phía đông, mà điểm xa nhất là Nhật Bản Khi Nhật Bản tách khỏi lục địa, chủng tộc Nhật Bản đã hình thành từ sự pha trộn giữa các giống người di cư từ Trung Hoa, Mãn

Trang 15

Châu và Triều Tiên Một thuyết khác lại cho rằng có thể có những cuộc di cư từ các vùng đảo Ocean hay Mã Lai” [14, Tr 53]

Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn nhất trí với nhau về sự có mặt của người Nhật trên quần đảo Nhật Bản từ thời kỳ đồ đá (khoảng 10 vạn năm đến 1 vạn năm cách ngày nay) thông qua những di chỉ khảo cổ học tìm thấy được

Một thực tế được nhìn nhận về người Nhật là hiện tượng đồng nhất về tộc người trong lãnh thổ quốc gia Tuyệt đại đa số người Nhật hiện nay đều cùng một chủng tộc, trừ

một tỉ lệ rất ít người Ainu hiện nay sinh sống ở phía Bắc Nhật Bản “Người Nhật chiếm

tới 99% số cư dân, còn sắc dân Ainu giờ chỉ còn chưa đến 20 ngàn người” [29, Tr 8]

Bên cạnh đó, sự tồn tại của người Ainu cùng với những đặc điểm về mặt nhân chủng và

xã hội của họ cũng là nguồn tư liệu để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về xuất xứ của dân tộc Nhật Bản

Về mặt sinh học, người Ainu khác với đa số người Nhật ở những đặc điểm thuộc

hình thể bên ngoài “Người Ainu rõ ràng không thuộc chủng tộc Mongoloid, họ có những

đặc điểm của người Caucase như da trắng, lông tóc rậm, mắt tròn và gò má phẳng Gần đây, thuyết cho rằng người Ainu thuộc chủng tộc Caucase đã bị bác bỏ khi người ta phát hiện ra rằng họ hoàn toàn không có những gene của người Caucase” [24, Tr.53 – 54]

Dựa vào sự tồn tại và phương thức sinh hoạt của người Ainu, có những nhà nghiên cứu cho rằng chủng người này vốn là cư dân bản địa trên quần đảo Nhật Bản, trước khi

có những cư dân từ miền khác đến Để hình thành nên dân tộc Nhật Bản như hiện nay, có thể đã diễn ra một quá trình hỗn huyết trải qua nhiều giai đoạn giữa người Ainu tiền trú

và các sắc dân di cư đến quần đảo này từ nhiều hướng khác nhau

Trang 16

Hình 1.3: Người Ainu [36]

“Theo giới Nhật học Xô viết, sắc dân Ainu là nền tảng cổ xưa nhất của toàn bộ cư

dân Nhật đương đại (…) Người Ainu trên đảo Hokkaido về sau đã hỗn huyết cùng các sắc dân từ duyên hải Đông Á di cư sang Còn tại Kyushu, Shikoku và Nam phần Honshu,

họ hỗn huyết và bị đồng hóa bởi các bộ tộc Nam Đảo (Austronesie) tràn lên

Vào giữa đệ nhất thiên niên kỷ trước CN, một dòng người nữa (vẫn được mệnh danh là các bộ tộc tiền Nhật) từ Nam phần Triều Tiên vượt qua eo biển Triều Tiên bắt đầu di trú tới các đảo lớn nhỏ trên đất Nhật Họ mang theo vào nhiều giống gia súc- ngựa, bò, cừu- và cả nền văn hóa lúa nước bản địa Quá trình phát triển và ảnh hưởng qua lại giữa nền văn hóa bản xứ (Ainu- austronesie) và nền văn hóa của các bộ tộc di trú

đó vẫn tiếp diễn tới đầu thế kỷ thứ V

(…) Thế kỷ thứ VIII là giai đoạn đánh dấu sự dồng hóa hoàn toàn các tàn tích Nam Đảo tại Nam phần Kyushu và mở đầu quá trình di dân lên Bắc phần đảo Honshu rừng rú bạt ngàn từ thời bấy giờ Người Ainu bản địa một phần bị đồng hóa bởi các bộ tộc di trú, một phần bị đuổi ngược trở lên mạn Bắc” [29, Tr.7 - 8]

Hiện nay người Ainu tập trung sinh sống trên đảo Hokkaido và vẫn giữ những nét đặc trưng về văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng Trong quá trình lịch sử, sự tiếp biến văn hóa giữa người tiền trú và dân nhập cư vẫn còn để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa Nhật Bản, chẳng hạn như Thần đạo (Shinto) được cho là có nguồn gốc từ nghi lễ tín ngưỡng của người Ainu [24, Tr.54]

Trang 17

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Câu hỏi 1: Tại sao Nhật Bản có sự đa dạng về cảnh quan?

Câu hỏi 2: Chế độ phong kiến Nhật Bản có những đặc trưng cơ bản nào?

CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu hỏi 1: Địa lý tự nhiên Nhật Bản có những đặc trưng cơ bản nào?

Câu hỏi 2: Trình bày khái quát về tiến trình lịch sử của Nhật Bản?

BÀI TẬP VỀ NHÀ

Vẽ sơ đồ tư duy tóm tắt nội dung bài học

Trang 18

CHƯƠNG II: CÁC THÀNH TỰU VĂN HÓA TIÊU BIỂU



GIỚI THIỆU CHƯƠNG

Nội dung Chương II rất phong phú và đặc sắc với nhiều nội dung kiến thức liên quan đến các thành tựu văn hóa Nhật Bản (văn hóa sáng tạo trong đời sống sinh hoạt, trong nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trình diễn,…) Chương II tập trung vào mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức về các thành tựu văn hóa của người Nhật để từ đó thấu hiểu một cách hệ thống văn hóa sáng tạo Nhật Bản

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY

Ở chương này, chúng tôi đã thiết kế hoạt động giảng dạy theo hướng chọn điểm khởi đầu quy trình bằng cách cho sinh viên quan sát phản ánh (đặt câu hỏi cho sinh viên – nội dung câu hỏi gắn liền với khả năng quan sát của các em trong quá trình tiếp xúc/gặp

gỡ người Nhật tại BVU nói riêng, Vũng Tàu nói chung, gợi ý cho các em cùng thảo luận, tranh luận về các vấn đề có liên quan), sau đó là trừu tượng hóa khái niệm (giảng viên giảng bài, sinh viên nghe giảng và kết hợp đọc tài liệu khi cần), thử nghiệm tích cực (mô hình/mô phỏng) và trải nghiệm cụ thể (trò chơi, đóng vai, video clips)

NỘI DUNG BÀI HỌC

2.1 VĂN HÓA SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT

2.1.1 Ẩm thực

Văn hóa ẩm thực của một dân tộc thường phản ánh điều kiện tự nhiên của đất nước mà dân tộc đó là chủ thể Nhật Bản là một đảo quốc trên Thái Bình Dương với đường bờ biển dài hơn 30.000km, nên thành phần chủ yếu của nguyên liệu chế biến thức

ăn ở đất nước này đến từ biển khơi Ngoài ra, ẩm thực Nhật Bản cũng có một số nét tương đồng với ẩm thực của các nước Đông Á khác như việc ăn cơm, dùng đũa, chế biến các món từ các loại thực vật

Lương thực chính ở Nhật Bản là hạt gạo có chứa tinh bột của cây lúa, trong tiếng

Nhật gọi là kome (米) Ngoài ra, còn có từ gohan (ご飯) để chỉ gạo đã được nấu chín,

Trang 19

hoặc ghép với những từ chỉ thời gian để chỉ những bữa ăn trong ngày (ví dụ: hirugohan

(昼ご飯) là bữa ăn trưa)

Bữa ăn truyền thống của người Nhật thường gồm cơm cùng với một món chính là thịt hoặc cá, một vài món ăn thêm (thường là rau được nấu chín), canh (thường là canh

miso), và rau ngâm dấm Gạo có tính kết dính khi nấu chín, vì vậy người Nhật cũng sử

dụng đũa khi ăn cơm Tuy nhiên, đũa của người Nhật có chiều dài ngắn hơn ở các nước như Trung Quốc hay Việt Nam, và đầu đũa dùng để gắp thức ăn cũng được vót nhọn hơn nhiều so với phần gốc

Hình 2.1: Kaiseki – Tinh hoa ẩm thực Nhật Bản [37]

Cách chế biến món ăn của người Nhật cũng đa dạng Có món nướng, có món hầm, món luộc, món rán vừa có chất béo vừa có nước, tương tự như món xào hay món kho ở Việt Nam Đặc biệt là người Nhật rất thích ăn hải sản tươi sống và rong biển Hải sản

tươi sống thường được ăn kèm với mù tạc (tiếng Nhật là wasabi- わさび) Rong biển thường dùng để quấn cơm thành những cuộn thon dài, gọi là norimaki (海苔巻き), ăn

kèm với những thức ăn khác

Ngoài những thực phẩm chính có nguồn gốc từ hải sản và nông sản, người Nhật

còn sử dụng các loại thức ăn phụ kèm theo như nước chấm shoyu, tương miso v v Ở

Trang 20

Nhật Bản cũng có nhiều món ăn được chế biến từ đậu phụ (豆腐)- một loại thực phẩm giàu đạm động vật và rất tốt cho sức khỏe

Trong xã hội Nhật Bản hiện đại, văn hóa ẩm thực cũng có nhiều thay đổi Người Nhật chịu ảnh hưởng của ẩm thực phương Tây về loại thực phẩm cũng như cách chế biến hay tác phong ăn uống Ở các đô thị lớn, có nhiều nhà hàng phục vụ các món ăn phương Tây xen kẽ với những nhà hàng phục vụ món ăn cổ truyền Trước đây, giới sinh viên, học sinh hay công chức người Nhật thường dùng cơm hộp mang theo cho bữa ăn trưa nhưng gần đây tập quán này đã bị thay đổi Nhiều cửa hàng bán thức ăn mọc lên ở những khu vực có nhiều công sở hay doanh nghiệp, phục vụ cả những loại thức ăn nhanh theo kiểu phương Tây và các món ăn truyền thống Giới thanh thiếu niên ở Nhật Bản ngày nay

cũng rất ưa chuộng những món ăn du nhập từ nước ngoài như curry (Ấn Độ), spagetti (Italia) và nhiều món ăn của người phương Tây như hamburger, xúc xích nên các món

này dần dần trở thành một phần quan trọng của ẩm thực Nhật Bản

Một số món ăn truyền thống

Sushi là một món ăn truyền thống của Nhật Bản được làm từ cơm kết hợp với hải

sản tươi sống hoặc nấu chín, với rau và một số gia vị (quan trọng nhất là wasabi nếu là

sushi hải sản) Sushi có nguồn gốc từ phương pháp bảo quản cá của người dân ở khu vực

Đông Nam Á bằng cách ủ cá vào trong cơm

Loại cơm trộn dấm để làm sushi được gọi là sumeshi (鮨飯)hoặc sushimeshi (寿司

飯) Loại dấm để nấu thứ cơm này không phải là dấm thông thường mà là dấm có pha

một ít muối, đường, rượu ngọt mirin, vì thế gọi là dấm hỗn hợp awasesu Dấm này chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu Cơm nấu xong (nấu không chín hoàn toàn như cơm bình thường) được đổ ra một cái chậu gỗ gọi là tarai rồi trộn

dấm vào, vừa trộn vừa dùng quạt tay quạt cho hơi nóng thoát bớt ra để giữ hương vị của dấm

Trang 21

Hình 2.2: Sushi [38]

Các loại hải sản dùng để làm sushi gọi là tane Đó có thể là cá ngừ, cá hồng, cá chình, cá cóc, cá thu, tôm (đặc biệt là loại tôm mà người Nhật gọi là sakuraebi), mực,

bạch tuộc, các loại ốc biển, cua biển, …

Có nhiều loại sushi, tùy theo cách chế biến

Loại thứ nhất là sushi nắm, gọi là nigirizushi Sushi nắm gồm có cơm sumeshi được đắp lên bằng một một miếng tane Ở giữa thường có một chút wasabi Phía trên miếng tane có thể có một chút gừng xay nhuyễn hoặc vài hạt hành xanh thái nhỏ Loại

sushi này phổ biến nhất

Hình 2.3: Nigirizushi [39]

Loại thứ hai là sushi cuộn, gọi là makizushi được cuốn như các đồ ăn cuốn của

Việt Nam, nhưng bên ngoài là lớp rong biển sấy khô

Trang 22

Hình 2.4: Makizushi [40]

Loại thứ ba là sushi gói/xếp các lớp như bánh, gọi là oshisushi

Hình 2.5: Oshisushi [41]

Loại thứ tư là narezushi, là món cá muối với gạo - được xem là một loại Sushi

nguyên thủy nhưng Narezushi lại khác hoàn toàn với các loại Sushi khác, nó có mùi khó chịu và giống như phô mai xanh

Hình 2.6: Narezushi [42]

Loại thứ năm là sushi cuốn đậu hủ, gọi là inarizushi

Trang 23

Hình 2.7: Inarizushi [43]

Mỗi địa phương ở Nhật Bản lại có những nét riêng trong chế biến sushi Có vùng không làm sushi từ hải sản và cũng không có sumeshi, mà lại dùng trứng trộn đường rồi rán lên Có loại sushi cuộn mà bên trong có natto, thứ đậu tương ủ cho lên men nổi tiếng

của Nhật Bản

Sukiyaki là món được nấu tổng hợp từ nhiều nguyên liệu gồm có thịt bò, đậu phụ,

nấm, rau củ, hành, mì sợi và các loại phụ gia Những nguyên liệu này được nấu chung hoặc riêng tùy theo phong cách ẩm thực của từng vùng Dụng cụ để nấu thường là xoong hoặc loại chảo sâu lòng để có thể đựng nhiều nước Thịt bò được cắt thành lát mỏng và nấu chín trước, sau đó cho thêm các nguyên liệu và phụ gia khác thành một hỗn hợp được nấu sôi lên, gần giống như cách ăn món lẩu ở Trung Quốc và Việt Nam

Hình 2.8: Sukiyaki [44]

Trang 24

Sashimi (刺身):

Sashimi là một món ăn truyền thống Nhật Bản mà thành phần chính là các loại hải

sản tươi sống được cắt thành từng lát mỏng, ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu,

tương, các loại gia vị như wasabi, gừng và một số loại rau thường là tía tô, bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc một số loại tảo biển Có thể giải thích nghĩa của từ sashimi là “cắt

thịt tươi sống ra để ăn”

Hình 2.9: Sashimi [45]

Một số loại hải sản mà người Nhật thường hay dùng làm sashimi là: cá hồi, cá ngừ,

cá thu, cá saba, cá cóc, mực, bạch tuộc, tôm biển Một số loại, chẳng hạn như bạch tuộc

phải được hấp qua cho đỡ dai Đôi khi, người Nhật còn dùng thịt ngựa, thịt gà, gan (tất

nhiên đều ở dạng tươi sống) và konyaku (một thứ thạch làm từ khoai) để làm sashimi Lúc đó sẽ có các món basashi (sashimi thịt ngựa), torishashi (sashimi thịt gà), rebasashi (sashimi gan) hay konyakusashi (sashimi konyaku)

Điều quan trọng nhất trong việc chế biến món sashimi là loại cá dùng để chế biến

phải là cá biển tươi, tuyệt đối không dùng cá nước ngọt, vì cá nước ngọt có thể mang theo những động vật ký sinh gây ngộ độc thực phẩm khi ăn sống

Món tempura được biết đến ở Nhật Bản từ thế kỷ XVI, khi người Nhật học hỏi

người phương Tây cách nấu những món rán trong văn hóa ẩm thực Tây Ban Nha, Bồ

Đào Nha (cách đọc tempura xuất phát từ chữ tempero trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa

là “nấu ăn”) Trong thời Edo tempura thường được bán ở những quán ăn nhỏ ven đường

Trang 25

nhưng ngày nay đã trở thành một trong các món ăn được phục vụ thường xuyên tại các nhà hàng lớn

Hình 2.10: Tempura [46]

Tempura là món tẩm bột rán được làm từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau

Nguyên liệu chính thường là các loại hải sản như cá, tôm, lươn… được nhúng vào một hỗn hợp gồm bột và trứng hòa tan với nước rồi chiên giòn Món này được ăn kèm với các

loại thực vật như tiêu xanh, nấm, ngó sen hoặc ăn kèm với các món có nước như soba,

udon

Là loại rượu cổ truyền của người Nhật Bản Sake nguyên chất - seishu (清酒) -

được chế tạo bằng cách cho lên men hỗn hợp gạo, mạch nha và nước Đầu tiên phải rửa sạch gạo để loại bỏ cám Sau khi để cho gạo hút nước xong thì phơi khô, sau đó hấp lên, sau đó trộn với mạch nha và nước và để lên men trong khoảng 20 ngày Thành phần thu

được sẽ được cô lại bằng máy và sản phẩm là sake và sakekasu Sau khi để một lát thì

sake sẽ tự phân chia ra thành seishu và ori Seishu sau đó được lọc và được chế biến thêm

với hương liệu và gia vị Được khử trùng bằng nhiệt, seishu được bảo quản ở nhiệt độ

dưới 20oC trong 6 tháng Sau đó nó sẽ lại được điều chỉnh lại trước khi khử trùng bằng

nhiệt thêm một lần nữa Cuối cùng, seishu được đóng chai và xuất xưởng

Trang 26

Hình 2.11: Rượu Sake [47]

Tính tỉ mỉ và tinh thần coi trọng cái đẹp của người Nhật được thể hiện rõ nét trong văn hóa ẩm thực Người Nhật Bản quan niệm rằng việc chế biến món ăn không chỉ mang lại giá trị vật chất mà còn phong phú về giá trị tinh thần Cụ thể hơn, trong văn hóa truyền thống Nhật Bản thì nấu ăn và phục vụ bữa ăn cũng được xem là một nghệ thuật, nghệ thuật chế biến kết hợp với nghệ thuật bài trí

Người Nhật truyền thống không tổ chức những bữa tiệc đông người như trong văn hóa phương Tây Họ cũng không sử dụng những bộ đồ ăn sáng loáng làm bằng những chất liệu đắt tiền Nét riêng của người Nhật là chú trọng về cách bài trí thức ăn khi dọn bữa Các món ăn phải được đựng trong những dụng cụ thích hợp và phải hài hòa về màu sắc khi được bày ra trên bàn ăn Chẳng hạn như món cơm quấn rong biển có lõi màu trắng và viền ngoài màu đen sẽ được xếp chung với những con tôm màu đỏ cam để các màu đều nổi bật Bên cạnh đó là đĩa rau xanh gợi cảm giác hài hòa và tươi mát

Do nét văn hóa này mà trong tiếng Nhật có cách nói “ăn bằng mắt” (目で食べる)

thể hiện tinh thần coi trọng yếu tố thẩm mỹ trong việc bài trí món ăn để mang lại cảm giác hài lòng, ngon miệng cho người dùng bữa

2.1.2 Trang phục

Người Nhật sử dụng vải may quần áo được làm từ nhiều loại chất liệu khác nhau

Có loại vải được dệt từ sợi gai, sợi bông hay sợi lanh Cũng có những loại tơ lụa được làm từ tơ tằm Nhiều loại vải có hoa văn tinh tế hay màu sắc rực rỡ đặc biệt là vải dành

để may quần áo dùng cho nữ giới

Trang 27

Hình 2.12: Kimono [48]

Trang phục truyền thống của người Nhật là kimono (着物) Chữ kimono trong

tiếng Nhật vốn có nghĩa là y phục nói chung, vì vậy trước đây từ này được dùng để chỉ tất

cả các loại trang phục truyền thống của người Nhật Dần dần, từ kimono được thu hẹp ý nghĩa để chỉ riêng loại trang phục dài còn được gọi là nagagi (長着) Loại trang phục này

ngày nay chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt như lễ tết, hội hè mang tính truyền thống

Người Nhật, dù là nam hay nữ, và ở mọi lứa tuổi đều có thể mặc kimono Tuy vậy,

kimono có nhiều loại khác nhau về chất liệu, hoa văn và thiết kế tùy theo giới tính, độ

tuổi hoặc địa vị xã hội của người sử dụng Chẳng hạn, kimono dành cho phụ nữ đã có chồng khác với kimono của thiếu nữ hay của trẻ em Nói chung, kimono dành cho nam

giới thường có màu sắc tối và hoa văn đơn giản, trong khi trang phục của nữ giới thì có

hoa văn phong phú với những màu sắc rực rỡ hơn Ở Nhật còn phổ biến loại kimono mỏng và nhẹ dùng để mặc trong mùa hè, được gọi là yukata (浴衣) Ngoài ra, tùy thuộc vào hoàn cảnh mặc kimono mà bộ áo này cũng được thiết kế thành nhiều kiểu với những tên gọi khác nhau Điển hình là trường hợp kimono đặc biệt dành cho cô dâu mặc trong lễ cưới Khi người Nhật tiếp thu văn hóa trang phục của phương Tây thì họ còn gọi kimono

là wafuku (和服) nghĩa là trang phục của người Nhật, để phân biệt với trang phục theo kiểu phương Tây là yofuku (洋服)

Khi người Nhật mặc kimono, cần phải sử dụng các phụ liệu kèm theo như sau :

Trang 28

- Thắt lưng (obi - 帯): Một cái obi dành cho kimono phụ nữ thường có chiều dài khoảng 4m và chiều rộng khoảng 60cm Obi được quấn 2 vòng quanh thắt lưng và thắt lại ở sau lưng Các phụ kiện kèm theo obi gồm:

Koshihimo (腰紐): là vòng dây đầu tiên quấn quanh thắt lưng Nó được làm từ

những sợi tơ nhuộm màu bện vào nhau

Datejime (伊達締め): Là sợi dây thứ hai buộc quanh áo kimono, phủ lên trên koshihimo

Obijime (帯締め): Là sợi dây thừng buộc phía trên bề mặt của obi Nó có nhiều

màu sắc khác nhau và màu được chọn thường làm nổi bật chiếc obi

Chocho (蝶々): Nơ bướm chocho là chiếc nơ được gắn ở đằng sau obi Nhìn thì có

vẻ phức tạp nhưng thực chất lại rất dễ mang Chocho gồm hai phần bản rộng và phần nơ Phần bản rộng có chiều dài 5 feet, chiều rộng là 6 inch Nó được quấn hai vòng quanh thắt lưng rồi nhét vào phía trong Phần nơ có một cái móc gắn để gắn vào obi

Hình 2.13: Chocho [48]

Kaku và heko là loại thắt lưng dành cho kimono của nam Kaku là obi dành cho

các bộ kimono nam thông thường, đươc may bằng vải cotton, có chiều dài là 3,5 inch

Heko là obi mềm dành cho các bộ yutaka

- Taiko-musubi (太鼓結び): Một dạng thắt lưng khác, được phát minh từ thời Edo, cũng được sử dụng như obi và rất được ưa chuộng

Trang 29

Hình 2.14: Dây cài lưng [49]

- Dây cài lưng: Vào thời đại Meiji, người Nhật chế tạo ra một vật gọi là dây cài

lưng Việc sử dụng những dây cài này với nhiều loại kiểu dáng và màu sắc khác nhau đã trở thành một cách để ăn mặc hợp thời trang của người Nhật

Hình 2.15: Trâm cài đầu [48]

- Trâm cài đầu: Vật này dành riêng cho phụ nữ Thời xưa, mỗi khi mặc áo kimono,

phụ nữ Nhật thường điểm tô cho mái tóc của mình bằng những chiếc trâm này Ngày nay, giới trẻ có thể thay thế chiếc trâm bằng nơ hay các loại dây buộc tóc

- Guốc gỗ: Guốc gỗ được sử dụng rất phổ biến tại Nhật cách đây một thế kỉ Guốc của đàn ông thường to, có góc cạnh và thấp Guốc của phụ nữ thì ngược lại, nhỏ nhắn và

tròn Thời xưa, người Nhật không đóng guốc mà “đẽo” guốc, tức là họ sử dụng những

súc gỗ to để gọt đẽo thành đôi guốc mộc

Trang 30

Vì kimono là loại trang phục đắt tiền và có giá trị cả về vật chất lẫn tinh thần nên người Nhật có thông lệ gìn giữ và truyền lại những bộ kimono qua nhiều thế hệ, như một

loại tài sản gia truyền

Một dạng y phục truyền thống khác là hakama Hakama là một loại trang phục ngoài, có thiết kế giống như quần dài hoặc váy, được mặc phủ ngoài áo kimono Ngày xưa, hakama được sử dụng như một trang phục đặc dụng giúp các võ sĩ không bị tuột khỏi ngựa Ngày nay, hakama được mặc trong các buổi lễ, các lễ hội truyền thống, khi tập võ và biểu diễn nghệ thuật Hakama của nam giới thường có màu đen hoặc xám

Hakama thường được xem là trang phục của nam giới nhưng cũng có loại hakama dành

cho phụ nữ Hình ảnh thường thấy là các cô Miko mặc hakama màu đỏ trong các đền thờ Thần đạo Nếp gấp của hakama (5 phía trước, 2 phía sau) là biểu tượng cho những đức tính cao quý của người quân tử Năm nếp gấp đằng trước tượng trưng cho nhân (人),

lễ (礼), nghĩa (儀), trí (知), tín (信) Hai nếp gấp phía sau là trung (忠) và hiếu (孝)

Hình 2.16: Hakama [48]

Từ khi Nhật Bản hiện đại hóa quốc gia theo khuynh hướng học hỏi phương Tây,

họ đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Âu Mỹ trong đó có một yếu tố quan trọng là trang phục Người Nhật ngày nay mặc Âu phục trong hầu hết mọi tình huống giao tiếp xã hội

Họ chỉ mặc yukata khi ở nhà và mặc kimono trong những dịp đặc biệt của gia đình hoặc những lễ hội truyền thống của dân tộc Tuy vậy, kimono cùng với hoa anh đào luôn là

hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp của truyền thống Nhật Bản

Một số loại kimono điển hình

Trang 31

Furisode (振袖):

Hình 2.17: Furisode [48]

Là loại áo chỉ dành riêng cho những cô gái chưa chồng Một trong những điểm đặc

biệt của furisode là ống tay áo rất dài và rộng (thường dài khoảng 95- 115 cm) Ngày xưa,

các cô gái thường vẫy vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với các chàng trai Những bậc

cha mẹ thường mua furisode cho con gái họ để kỉ niệm thời điểm bước sang tuổi trưởng thành Furisode là một loại kimono dùng để đi lễ, có màu sắc tươi sáng và thường làm bằng lụa chất lượng tốt Trong văn hóa Nhật Bản truyền thống, mặc furisode là một tín

hiệu cho biết rằng cô gái độc thân ấy đã sẵn sàng để kết hôn

Yukata:

Là một loại kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè

Yukata thường mang màu sắc cực kì sáng Cách thiết kế đơn giản của yukata là để các cô

gái Nhật có thể mặc mà không cần người giúp Ngày nay, yukata thường được dùng để mặc trong ngày lễ Obon (お盆- ngày Xá tội vong nhân) và trong các lễ hội mùa hè Ngoài ra, yukata còn được sử dụng rộng rãi trong các nhà trọ kiểu truyền thống của Nhật (ryokan- 旅館) Yukata được ưa chuộng bởi chất vải cotton nhẹ nhàng của nó Hoa văn

trên vải ngày nay được cách điệu từ loại vải kẻ sọc truyền thống Chiếc thắt lưng vải

bông của yukata cũng rất tiện dụng khi mặc vào ngày thường hay mặc đi ngủ ban đêm Trong những ngày hội và ngày kỉ niệm các sự kiện nói chung, yukata thường được mặc

cùng với một chiếc thắt lưng rộng hơn, quấn quanh eo và gấp lại ở đoạn cuối

Trang 32

Hình 2.18: Yukata [48]

Thông thường hơn, yukata được mặc với một thắt lưng obi (thắt lưng thêu), đi

cùng với một đôi guốc gỗ và một chiếc túi tròn nhỏ bằng lụa Những cô gái và phụ nữ

Nhật rất thích những dịp được mặc yukata Ngày nay, những cơ hội để mặc loại quần áo truyền thống sặc sỡ như vậy không còn nhiều nữa Thời xa xưa, áo yukata chỉ dùng để mặc ở nhà sau khi vừa tắm xong Nhưng ngày nay, áo yukata rất được ưa chuộng (cả đàn ông lẫn phụ nữ đều mặc được) Hầu hết các loại áo yukata đều được làm từ vải cotton Theo truyền thống xưa thì áo yukata thường chỉ có hai kiểu phối màu là trắng - xanh đen hoặc xanh đen- trắng, nhưng trong vài năm trở lại đây áo yukata đã được thiết kế với

nhiều màu sắc nổi bật hơn

Homongi (訪問着):

Khi một người phụ nữ Nhật Bản kết hôn thì sẽ được cha mẹ mua tặng một chiếc

kimono có tên gọi là homongi Homongi sẽ thay thế vị trí của furisode dành cho thiếu nữ

Đây là loại kimono để mặc vào những dịp lễ của phụ nữ đã có chồng Loại kimono này

thường được dùng khi tham dự một đám cưới hay tiệc trà nào đó Khi đón tiếp một cuộc

viếng thăm trang trọng, người phụ nữ cũng sẽ mặc áo homongi (áo kimono dùng để tiếp

khách)

Trang 33

Hình 2.19: Homongi [50]

Những người phụ nữ đã kết hôn sẽ không bao giờ được mặc áo furisode, cho dù

họ có li dị chồng đi chăng nữa Thay vào đó, họ sẽ mặc áo tomesode, một dạng áo kimono với ống tay áo ngắn hơn Áo tomesode thường có màu đen hoặc là nhiều màu khác Áo

tomesode màu đen thường được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc Đây là dạng áo kimono chỉ mặc vào các dịp lễ trang trọng (như là đám cưới hoặc đám tang của họ hàng)

Những áo tomesode nhiều màu khác cũng có thể được mặc vào các dịp lễ trang trọng trên (nhưng những chiếc áo này không được đính gia huy Vả lại, khi nhắc đến tomesode thì

đa số người Nhật đều cho rằng nó phải là màu đen) Tomesode có nền áo màu đen là để đối lập với màu trắng của chiếc shiromaku (kimono cưới) mà cô dâu mặc Tuy nhiên, chiếc thắt lưng thêu và nửa dưới của tomesode có màu sắc rất sặc sỡ và sáng để tỏ rõ rằng loại kimono này được mặc trong một dịp vui

Trang 34

Hình 2.20: Tomesode [51]

Loại áo này được trang trí theo dạng hoa văn chạy dọc theo thân và lưng áo rồi gắp nhau ở đỉnh vai Nó được mặc vào các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè

Hình 2.21: Tsukesage [53]

Trang 35

Hình 2.22: Mofuku [52]

Mofuku (喪服):

Chỉ được dùng để đi dự đám tang của họ hàng gần Toàn bộ chiếc kimono loại này

có màu đen Dù rằng tomesode và mofuku không đắt bằng một chiếc furisode, nhưng giá

mỗi chiếc cũng vào khoảng 8.000 USD

Shiromaku (白幕):

Một cô gái Nhật làm đám cưới theo truyền thống thì sẽ mặc loại kimono rực rỡ, tráng lệ nhất Loại kimono này được gọi là shiromaku Đa số mọi người chỉ thuê loại

kimono này bởi nó chỉ được sử dụng trong

một ngày Chiếc shiromaku thường rất dài,

dài đến chạm đất Những chiếc váy cưới

trắng truyền thống của phương Tây thường

có đuôi váy hay một tấm lụa rất dài rủ ra sau

Còn shiromaku thì không giống như vậy

Shiromaku dài và tỏa tròn xuống Chính vì

vậy, cô dâu phải có sự giúp đỡ của một người

đi kèm thì mới có thể đi lại trong chiếc

kimono này Màu trắng này tượng trưng cho

sự tinh khiết của cô dâu cả về thể xác lẫn tinh

thần Ngày nay loại áo này đã được cách tân

nên không còn dài chấm đất nữa

Hình 2.23: Shiromaku [48]

Trang 36

2.1.3 Nghệ thuật gấp giấy (origami- 折り紙)

Một trong những lợi thế của Nhật Bản là đã tiếp thu nhiều thành tựu của nền văn minh Trung Hoa ngay từ giai đoạn đầu tiên của lịch sử phát triển Khi kỹ thuật chế tạo giấy ra đời và được ứng dụng ở Trung Hoa từ thế kỷ II đến thế kỷ VIII, nó được du nhập vào Nhật Bản vào khoảng thế kỷ VII- thời điểm mà người Nhật tiếp thu nhiều giá trị quan trọng của văn hóa Trung Hoa

Ứng dụng kỹ thuật làm giấy được du nhập từ đại lục, người Nhật đã phát triển kỹ

thuật này và thành công qua việc chế tạo loại giấy washi (和紙) Loại giấy này được xem

là tinh hoa của văn hóa chế tạo vật dụng ở Nhật Bản, và là niềm tự hào của người Nhật cho đến ngày nay

Giấy washi có đặc tính nổi bật là bền chắc Giấy mềm nhưng rất dai, có thể gấp

mở nhiều lần mà không bị sờn rách Do đặc tính này, giấy washi trở thành nguyên liệu lý tưởng cho một loại hình nghệ thuật dân tộc của người Nhật, nghệ thuật origami

Mặc dù không xác định được lý do cụ thể và thời điểm bắt đầu chính xác của môn

nghệ thuật này nhưng có thể suy luận rằng origami bắt nguồn từ những hoạt động thường

nhật như việc xếp các phong thư, xếp giấy gói các đồ vật để làm tặng phẩm , vì thế

origami đã có mặt tương đối sớm trong nền văn hóa Nhật Bản truyền thống Trong thời

Heian, origami bắt đầu được xem là một hình thức giải trí Origami với kỹ thuật gấp giấy

mà không dùng thao tác cắt dán phổ biến trong thời kỳ Muromachi (1333- 1568) Sau đó, nghệ thuật này được bổ sung bằng các thao tác bổ trợ như cắt và nhuộm giấy, phát triển trong thời Edo (1600- 1868)

Hình 2.23: Sản phẩm origami [54]

Trang 37

Vào thời phong kiến trung đại, khi các nghi lễ giao tiếp xã hội được quy định tỉ mỉ hơn, nghệ thuật gấp giấy cũng chịu ảnh hưởng của khuynh hướng đó và có những bước phát triển nổi bật Những tạp chí hướng dẫn gấp giấy theo các hình mẫu phong phú xuất

hiện ngày càng nhiều hơn, đóng góp cho origami những hình ảnh sinh động, mới lạ và

tinh tế Từ những bức tranh cổ còn được lưu truyền thì vào những năm 1700, hạc và các loại thuyền là những vật phổ biến được gấp và trang trí Từ đó cho đến khỏang 100 năm

sau các cuốn sách chuyên môn về origami đã được in ấn và xuất bản, chứng tỏ một nền văn minh xếp giấy đã đạt được đến trình độ cao, đa dạng Vào thời điểm đó, origami đã

vượt khỏi phạm vi là trò chơi của trẻ em và trở thành thú vui của người lớn, và ngày càng

có nhiều tạp chí ra đời với những mẫu xếp giấy vô cùng phức tạp

Hình 2.24: Sản phẩm origami [55]

Trong thời kỳ Minh Trị duy tân, origami là một bộ môn nghệ thuật được giảng

dạy chính thức trong trường học ở Nhật Bản Đến thời Taisho (大正) thì bộ môn này không còn được coi trọng do ý kiến cho rằng việc gấp giấy theo những hình mẫu có sẵn

là thiếu tính sáng tạo Tuy nhiên, sau đó những giá trị nghệ thuật, sáng tạo và giá trị giáo

dục của origami lại được nhìn nhận và phát triển

Mặc dù ngày nay nghệ thuật gấp giấy đã được truyền sang nhiều nền văn hóa khác

và trở thành một bộ môn nghệ thuật phổ biến khắp thế giới, origami của người Nhật vẫn

được ghi nhận là một thành tựu nghệ thuật độc đáo của nền văn hóa Nhật Bản, nơi mà nó

đã được hình thành và phát triển đến đỉnh cao

Trang 38

Hình 2.25: Sản phẩm origami [56]

Trong văn hóa Nhật Bản truyền thống, origami thường được vận dụng để tạo ra

giá trị thẩm mỹ cho những món quà cần thiết cho việc giao tiếp trong những trường hợp thuộc về phong tục truyền thống như lễ cưới, lễ tang hoặc trong những dịp lễ hội thường niên Người Nhật Bản có thói quen gói quà rất tỉ mỉ và rất đẹp nên họ thường dùng nghệ

thuật origami để trang trí món quà, giúp làm tăng giá trị thẩm mỹ của quà tặng và tăng

tính tao nhã, lịch thiệp của hành vi giao tiếp

Một trường hợp ứng dụng đặc biệt của origami là khi tổ chức nghi lễ Thần đạo Nghệ thuật gấp giấy được dùng để tạo ra các hình nhân gọi là katashiro (方白) được xem

là biểu tượng của thần Katashiro còn xuất hiện trong số những búp bê giấy được trưng

bày trong lễ hội búp bê được tổ chức vào tháng 3 ở Nhật Bản [32, Tr.420]

2.1.4 SÁNG TẠO TRONG VĂN HỌC

Văn học thời Nara

Cũng như nhiều nền văn học khác, văn học Nhật Bản bắt đầu bằng những truyện

kể dân gian dưới dạng thần thoại Nội dung chủ yếu của những câu chuyện này là kể về

sự hình thành đất nước và dân tộc Nhật Bản, về cuộc đời và hành trạng của các thần linh

đã sáng lập ra nước Nhật

Vào đầu thế kỷ VII, khi hoàng gia Nhật Bản quyết định chọn Nara làm kinh đô, đất nước bắt đầu đi vào thời kỳ ổn định và xây dựng nhà nước phong kiến hoàn chỉnh Trong thời Nara, Nhật Bản tích cực tiếp thu các giá trị của nền văn minh Trung Hoa Những giá trị quan trọng của văn minh Trung Hoa được du nhập vào Nhật Bản, tiêu biểu nhất là Phật giáo và chữ Hán

Trang 39

Với khả năng tiếp biến văn hóa nội tại của dân tộc, người Nhật đã cải biến chữ Hán thành chữ viết dân tộc bằng cách giản lược hóa những nét tượng hình trong Hán tự

Với cách thức đó, người Nhật đã tạo ra hai loại chữ viết mới là chữ Katakana và

Hiragana

Khi có chữ viết, những thần thoại, huyền thoại trước kia được sáng tạo và lưu truyền bằng khẩu ngữ được sưu tập lại thành những bộ sách, theo chủ trương của triều đình Nhật Bản Trong thời trị vì của Thiên hoàng Genmyo (707 - 715), một tác phẩm sưu

tập quan trọng là “Cổ sự ký” (古事記) được hoàn thành vào năm 712 do Ono Yasumaro biên soạn Có thể xem sự ra đời của “Cổ sự ký” là sự khởi đầu của văn học viết Nhật Bản

“Cổ sự ký” là tác phẩm gồm có cả truyện kể và thơ ca Những câu chuyện trong

tác phẩm này kể lại việc hình thành đất nước và quá trình phát triển của dân tộc từ khởi thủy cho đến thế kỷ V sau Công nguyên Đây không phải là chính sử của Nhật Bản, cũng không phải là sử thi nhưng có thể được xem là một tác phẩm văn chương thời cổ đại, một thế giới của huyền thoại với nội dung phong phú và cách kể chuyện sinh động

Tiếp theo sự ra đời của “Cổ sự ký”, có một số tác phẩm khác cũng được biên soạn trong thời Nara như “Nhật Bản thư kỷ” (日本書紀) năm 720, “Phong thổ ký” (風土記),

“Nhật Bản linh dị ký” (日本霊異記) v v Những tác phẩm này vừa là tư liệu về lịch sử, địa lý nước Nhật vừa có chất văn chương, đặc biệt “Nhật Bản thư kỷ” là quyển sách có

ảnh hưởng rất lớn đến văn học Nhật Bản

Tác phẩm văn chương thuần túy ra đời trong thời Nara là “Vạn diệp tập” (万葉集),

một hợp tuyển thơ ca với người biên soạn chính là Yakamochi

Thơ ca Nhật Bản trong “Vạn diệp tập” chủ yếu là tanka (短歌) hay còn gọi là

waka (和歌) Một bài thơ tanka có 31 âm được sắp xếp thành 5 dòng Dòng thứ 1 và 3 có

5 âm, các dòng 2, 4 và 5 có 7 âm 3 dòng đầu được gọi là phần thượng cú, 2 dòng sau gọi

là hạ cú [19, Tr.38]

Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có thể loại choka (長歌), nghĩa là trường ca Loại

thơ này không giới hạn số câu, do đó có thể sử dụng khi tường thuật một câu chuyện dài

bằng thơ Thể thơ ít thông dụng nhất là sedoka (旋頭歌) là loại thơ 38 âm được chia

thành 6 dòng với số lượng âm theo các dòng lần lượt là 5, 7, 7, 5, 7, 7 [19, Tr.39 – 40]

Trang 40

Văn học thời Heian

Vào cuối thế kỷ VIII, kinh đô Nhật Bản được chuyển từ Nara đến Heian Trong khoảng bốn thế kỷ, Nhật Bản trải qua một thời kỳ phát triển văn hóa nói chung và văn

học nói riêng với đặc trưng là vẻ đẹp nữ tính và niềm bi cảm “Văn chương Heian, với hai

yếu tố “dân tộc” và “nữ lưu”, đã phát tiết một vẻ đẹp huy hoàng chưa từng có” [19,

Tr.63]

Trong thời kỳ này, sáng tác của các nhà văn nữ nổi bật cả về số lượng, về quy mô tác phẩm lẫn giá trị văn học Những nhà văn này đều là các phụ nữ sống trong cung đình

và sử dụng loại văn tự Hiragana để sáng tác Do tác giả chủ yếu là phụ nữ, thể loại văn

học phổ biến ở thời kỳ này là nhật ký, tùy bút và tiểu thuyết với đề tài tình yêu và cuộc

sống ở cung đình Đặc biệt thời Heian đã để lại tác phẩm “Truyện Genji” (源氏物語)

được xem là kiệt tác của văn học Nhật Bản và là một trong những tiểu thuyết ra đời sớm nhất của lịch sử văn học thế giới

Tác giả “Truyện Genji” là Murasaki Shikibu, một phụ nữ được sinh ra trong một

gia đình nổi tiếng về văn chương, sống và sáng tác trong thời trị vì của Thiên hoàng Ichijo (986- 1011) trong cung điện của hoàng hậu Akiko

“Truyện Genji” là một tiểu thuyết đồ sộ, dài khoảng 3000 trang gồm có 54 chương

Truyện được chia làm hai phần lớn với hai nhân vật chính khác nhau Phần thứ nhất kể về cuộc đời của hoàng tử Genji, về những mối tình và những người phụ nữ mà có quan hệ tình cảm với chàng trong bối cảnh là cuộc sống cung đình Phần thứ hai có nhân vật chính là Kaoru, con trai danh nghĩa của Genji và cuộc sống ở vùng Uji bên ngoài hoàng cung Cả hai phần đều tràn ngập niềm bi cảm và thấm đẫm vẻ đẹp nữ tính

Tuy là một tác phẩm được viết vào thế kỷ XXI nhưng bút pháp của “Truyện

Genji” không khác gì so với bút pháp của tiểu thuyết hiện đại, nên cho đến bây giờ tác

phẩm này vẫn làm say mê người đọc Nhật Bản nói riêng và thế giới nói chung “Câu

chuyện chịu sự chi phối của một cảm thức chung, một thế giới cảm xúc tinh tế (…) Không dò dẫm ngập ngừng, nó mở ra thế giới cỏ hoa của thiên nhiên thực và mọi khoảnh khắc thời gian của cuộc đời thực Với kiệt tác này, nữ sĩ thiên tài Murasaki đã chính thức khai sinh cho nhân loại một thể loại mới là “tiểu thuyết”” [19, Tr.111]

Ngày đăng: 06/07/2022, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Daisetz Teitaro Suzuki (1992), Thiền luận (2 tập), NXB Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền luận
Tác giả: Daisetz Teitaro Suzuki
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Diane Morgan (2006), Triết học và tôn giáo phương Đông (Biên dịch: Lưu Văn Hy), NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và tôn giáo phương Đông
Tác giả: Diane Morgan
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2006
3. Diderot (2006), Mỹ học (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Khoa học xã hội, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Tác giả: Diderot
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
4. Dương Ngọc Dũng (2008), Nhật Bản học, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản học
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
5. Dương Ngọc Dũng (2004), Tư liệu tham khảo Phật giáo Đông Á, NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu tham khảo Phật giáo Đông Á
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2004
6. Đoàn Nhật Chấn (1996), Truyện cổ nước Nhật và bản sắc dân tộc Nhật Bản, NXB Văn học, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ nước Nhật và bản sắc dân tộc Nhật Bản
Tác giả: Đoàn Nhật Chấn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1996
7. Ginal Barnes (2004), Trung Quốc- Nhật Bản- Triều Tiên, đỉnh cao văn minh Đông Á, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc- Nhật Bản- Triều Tiên, đỉnh cao văn minh Đông Á
Tác giả: Ginal Barnes
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
8. Grant Evans (Chủ biên) (2001), Bức khảm văn hóa châu Á, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức khảm văn hóa châu Á
Tác giả: Grant Evans (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
9. Hồ Hoàng Hoa (2001), Văn hóa Nhật- những chặng đường phát triển, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật- những chặng đường phát triển
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
10. Junjiro Takakusu (2007), Tinh hoa triết học Phật giáo (Tuệ Sỹ dịch), NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa triết học Phật giáo
Tác giả: Junjiro Takakusu
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2007
11. Lê Trần Đoan Trinh (2001), Người Nhật với văn hoá nước ngoài, LVTN, Trường ĐHKH Xã hội & Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Nhật với văn hoá nước ngoài
Tác giả: Lê Trần Đoan Trinh
Năm: 2001
12. Lê Văn Quang (1998), Lịch sử Nhật Bản, NXB Đại học quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Lê Văn Quang
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Tp.HCM
Năm: 1998
13. Lương Duy Thứ (chủ biên) (1998), Đại cương văn hóa phương Đông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương văn hóa phương Đông
Tác giả: Lương Duy Thứ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Murakami Shigeyoshi (2005), Tôn giáo Nhật Bản (Người dịch: Trần Văn Tình), NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo Nhật Bản
Tác giả: Murakami Shigeyoshi
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2005
15. Nguyễn Quốc Hùng (Chủ biên) (2007), Lịch sử Nhật Bản, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Động đất ở Nhật Bản năm 1995 [35] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 1.2 Động đất ở Nhật Bản năm 1995 [35] (Trang 8)
Hình 1.3: Người Ainu [36] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 1.3 Người Ainu [36] (Trang 16)
Hình 2.1: Kaiseki – Tinh hoa ẩm thực Nhật Bản [37] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.1 Kaiseki – Tinh hoa ẩm thực Nhật Bản [37] (Trang 19)
Hình 2.2: Sushi [38] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.2 Sushi [38] (Trang 21)
Hình 2.7: Inarizushi [43] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.7 Inarizushi [43] (Trang 23)
Hình 2.9: Sashimi [45] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.9 Sashimi [45] (Trang 24)
Hình 2.10: Tempura [46] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.10 Tempura [46] (Trang 25)
Hình 2.13: Chocho [48] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.13 Chocho [48] (Trang 28)
Hình 2.19: Homongi [50] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.19 Homongi [50] (Trang 33)
Hình 2.27: Tượng Phật thời Asuka [58] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.27 Tượng Phật thời Asuka [58] (Trang 54)
Hình 2.28: Kiến trúc chùa Horyuji [59] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.28 Kiến trúc chùa Horyuji [59] (Trang 54)
Hình 2.33: Vườn đá Ryoanji [64] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.33 Vườn đá Ryoanji [64] (Trang 59)
Hình 2.34: Tranh khắc gỗ thời Edo [65] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.34 Tranh khắc gỗ thời Edo [65] (Trang 60)
Hình 2.35: Lâu đài Himeji [66] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.35 Lâu đài Himeji [66] (Trang 62)
Hình 2.36: Đền Itsukushima [67] - Giáo trình văn hóa xã hội nhật bản
Hình 2.36 Đền Itsukushima [67] (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN